Saturday, March 25, 2017

*Tay Sai.




*Ngỡ là...!  (Ngụ ngôn)

Ngỡ là không phải chó hùa,
Đâu ngờ bầy chó lại ùa chạy ra
Con nầy cắn, chó kia la
Om sòm một lũ nhào vô một người.
Thảm thương! Cho đám chó hùa!
Dù sao cũng chó một bầy xưa nay!...

Đồ Ngông,
27-01-04.

 


*Mài Sừng... (ngụ ngôn)

Con trâu kia đứng cạnh bờ,
Lui cui mài bén cái sừng chờ mai
Chém người lủng ruột, đau thay!
Nghinh người áo trắng, ghét ai sáng màu.
Nhưng mà thiên hạ có câu:
"Mài sừng cho lắm, loài trâu vẫn là!"

Đồ Ngông,
10-02-04.


 

*Tay Sai.   

Cái thuở tay sai đã "quá" rồi!
Bây giờ tớ muốn được an ngơi,
Cớ sao cứ muốn "chồm" lên tớ
Bắt tớ thi hành chuyện mãi thôi!

Áo xưa tớ bỏ từ lâu lắm!
Cung cách giờ đây tớ lại người,
Bạn bè thân thiết ta tìm đến
Vui vẻ cùng nhau khoảnh khắc thôi!

Thời ấy đến giờ lại quá xa,
Tóc xanh nay đã bạc trên đầu
Cái mơ, cái mộng còn đâu nữa,
Cái thuở tay sai đã "quá" rồi!

Đồ Ngông,
23-05-03.


 

*Thời Hung Hăng.

Một thuở hung hăng đã đi rồi!
Tớ ngồi uống nước nhớ lại chơi
Hung hăng chẳng được thêm gì nhỉ,
Chỉ khổ người, mình có thế thôi!

Thuở trước bất bình bao ức hiếp
Gian ngoa, lừa đảo, cố chèn người
Tớ quyết xen vào ăn thua đủ,
Chuyện mình cho tới tận nơi đâu.

Cũng có một thời không oanh liệt
Nhưng không hổ thẹn kiếp con người
Nghĩ lại ê chề thân trí thức,
Không xây, mà lại phá cho hôi.

Hung hăng cho lắm chẳng được gì,
Mà thêm cho chúng dễ khinh khi
Đưa mặt mày mo thiên hạ ngắm
Hung hăng cho lắm..! Chẳng được gì!

Đồ Ngông,
14-05-03.


 

*Mài Sừng  (2).    

Thiên hạ, nhân gian đã có câu:
"Mài sừng cho lắm cũng là trâu",
Cũng là tôi tớ người sai khiến
Cũng kẻ gia nô thuở bạc đầu.

Không bạc, không tiền vâng lệnh chủ
Lên đèo, xuống biển, đạp gai chông
Đem thân lót gạch cho người bước
Mà lại nghênh ngang thỏa ước mong.

Cứ ngỡ rằng ta là vũ trụ
Đem tài góp sức chuyển xoay đời
Giấc mơ chưa khỏi, chui vào mộng
"Cho lắm! Mài sừng cũng vẫn trâu"!

Đồ Ngông, 

26-05-03.



Tuesday, March 14, 2017

*Lòng Vòng Trên "Bắc Úc". (5)



Vào căng-tin sắp hàng để lấy thức ăn thì cũng hơi trễ, cho nên chúng tôi đành phải vội vàng. Thế mà vẫn còn chưa kịp. Đã quá 2 giờ trưa nên hướng dẫn viên kiêm tài xế lại ngõ ý nhanh kết thúc để cho kịp giờ. Thế là chúng tôi đành phải thu gọn nên không thể uống trọn vẹn một ly cà phê sau khi ăn. Xe buýt đưa mọi người vòng trở ra khoảng hơn 40 cây số để vào khu vực gọi là Anbangbang mà nơi đây có vùng núi đá Noulangie hay Burrungkuy (theo tiếng gọi của người Thổ dân) là nơi ở của người bản địa từ hàng ngàn năm trước.
Hình vẽ khoảng 4,000 năm
Hình thần thoại qua tranh.
Núi Noulangie

Hình vẽ chuyện Thần thoại

Trước khi đi vào khu vực, hướng dẫn viên tập họp, giải thích cho chúng tôi hiểu sơ qua về nơi nầy tại chỗ trưng bày các thông tin về những gì sẽ xem, quan sát, đồng thời yêu cầu giữ đúng những gì luật lệ quy định ở đây. Với đoạn đường đi không xa mấy thì đến nơi có những hình vẽ được vẽ trên vách đá. Người ta làm con đường bằng ván gỗ đóng ghép vào nhau đi vòng qua những hình vẽ để du khách có thể tham quan, quan sát các hình vẽ được dễ dàng hơn. Những máy ảnh, quay phim, điện thoại di động được sử dụng để chụp những “bôi” hình lưu niệm lia lịa. Hình vẽ con Kangaroo trên vách đá được cho là quan trọng nhất vì theo sự đo tính của các nhà khoa học và khảo cổ thì nó đã khoảng 4 ngàn năm tuổi, nên nó được bão tồn và gìn giữ cẩn thận. Rồi nối theo là những bức vẽ của những thời gian sau nữa để diễn tả thần thoại mà người dân ở đây đã tưởng tượng ra, đồng thời với những hình ảnh tương đối mới của thời kỳ gần đây khi mà người Âu đã đến, làm nên một nét chính về lịch sử và nghệ thuật của người bản địa.
Hình vẽ ở thời kỳ sau.

 Vì thế nơi nầy cũng là một nét chính để thành hình vùng Công viên Quốc gia Kakadu của Úc mà thế giới (thông qua Tở chức UNESCO) cũng đã công nhận.
Xem những hình ảnh nầy khiến tôi lại nghĩ về những thời gian còn bé bỏng của mình. Thuở ấy chúng tôi là một bầy con nít hay tụ tập đi từ đầu làng cuối xóm khi thì bắt dế, khi thì đi bắt cá lia thia, hay tát cá hay vào những vùng rừng chồi để hái trái giấy, cò ke, trái sim, mù cua hoặc táo gai để ăn. Xong rồi đi tắm, đến vài nơi mát mẻ nghỉ ngơi. Ngồi buồn chẳng biết làm gì, nên kiếm gì đó để vẽ bậy lên đất cát, vách đá, hay lấy đất nắn đồ chơi. Rồi tôi lại liên tưởng những hình ảnh nầy cũng là những hình ảnh của các sinh hoạt giống như vậy. Cái quý của chúng bây giờ là trong hàng trăm, hay cả ngàn năm vẫn còn tồn tại để đánh dấu một sự sinh hoạt, suy nghĩ của một vài bộ tộc nào đó trong quá trình lịch sử. Và ngày nay chúng tôi lại được đi “coi” và “suy nghĩ” về quá trình của vài bộ tộc ở nơi cái gọi là địa phương nầy!
Hình vẽ thời kỳ sau nữa.
Chúng tôi hoàn tất một cuộc tìm hiểu, nghiên cứu nhỏ, tất nhiên trong đầu óc của mỗi người chắc chắn sẽ có vài dư âm, suy nghĩ của mình về những điều mình đã thấy về những hình vẽ đó khi mà người hướng dẫn viên kêu gọi trở ra xe. Đoạn đường đi của vòng khảo sát nầy vào khoảng 1 cây số rưỡi, nhưng đã cho chúng tôi hiểu cái giá trị của nó vì sao người ta lại muốn bão tồn!
Đúng 4 giờ chiều xe lăn bánh để trở về. Đoạn đường về cũng còn là khá xa gần 200 km rồi còn gì. Trên đường xe còn đổ vài người ở những khách sạn khác như ở khách sạn gần sân bay Jabiru, và khách sạn cá sấu (vì hình dáng khách sạn nầy thiết kế theo hình dáng của con cá sấu và cũng là tên của nó) do các vị khách nầy ngày mai còn đi đến những nơi khác.
Xe chạy đến khu vực gần với cổng vào của Công viên Quốc gia thì mọi hành khách phải sang xe vì xe của anh Ben nầy ở lại và anh Dan sẽ chở chúng tôi về Thành phố Darwin. Đoạn đường dần chìm vào trong bóng tối. Ngồi nhìn qua của sổ xe tôi được dịp nhìn cảnh hoàng hôn qua vùng rừng và đồng rộng mênh mông. Màu đỏ khi mặt trời lặn sao tươi và hấp dẫn đến thế nầy! Nó khiến tôi cứ thỉnh thoảng để máy lên quay ghi lại hình ảnh ấy trong vài giây đồng hồ.
Đường dài lại không có nhiều xe nên nó trở nên vắng lặng hơn. Từ chuyến đi ngày hôm qua cho đến hôm nay khiến tôi nghe mệt mỏi nhưng không thể ngủ được chút nào, thôi thì ráng nhướng mắt lên để nhìn lại cảnh hai bên đường vào ban đêm. Chúng tôi về đến khách sạn vào khoảng chin giờ, sớm hơn ngày hôm qua nhưng lo tắm rửa, nghỉ ngơi cho nên đành ăn mì gói rồi đi ngủ. Đêm nay chúng tôi không phải vội vàng dậy sớm nữa vì ngày mai chúng tôi sẽ đi tham quan vòng quanh vài địa điểm đặc biệt của Thành phố Darwin nầy!
Được một đêm ngủ ngon, không phải vội vàng thức sớm nữa, trong người nghe tương đối thoải mái. Đến 8 giờ rưỡi chúng tôi đều hẹn nhau ở phòng tiếp tân của khách sạn để 8 giờ 45 xe buýt đến đưa chúng tôi đi một vòng tham quan vài địa điểm gọi là tiêu biểu của Thành phố Darwin. Xe đến đúng hẹn, trên xe đã có nhiều khách du lịch khác, đa số cũng là người già. Xe vòng trở lại đường Knuckey để chạy ra hướng biển tức là công viên War Memorial rồi tài xế kiêm hướng dẫn viên thuyết minh về nơi nầy, đồng thời xe chạy qua các tòa nhà Quốc Hội, Thư viện; Nhà Chính Phủ, The Old Town Hall, Christ Church Cathedral, ngân hàng ngày xưa để tài xế nói sơ qua về những nơi di tích lịch sử ấy cùng nói đến sự tàn phá của cơn bão Tracy vào ngày trước Christmas năm 1974. Sau đó thì xe đưa chúng tôi đến WWII Oil Storage Tunnel.
Oil Storage Tunnel.

Chúng tôi đến tại cửa vào của đường hầm số 5 và 6 vào lúc 9 giờ 45, vừa khi đó có một đoàn nhà sư Phật giáo hình như của Tích Lan thì phải đi từ trong hầm ra chứng tỏ họ đã hoàn thành cuộc thăm viếng. Tại đây đoàn chúng tôi được người thủ quản đường hầm thuyết minh về các đường hầm chứa dầu nầy, nhưng vì tiếng Anh “quá giỏi” cho nên tôi không thể hiểu được nhiều. Tôi chỉ biết ngay trong cuộc oanh tạc đầu tiên của máy bay Nhật đã phá hủy 7 trong 11 bồn chứa xăng dầu của hải quân Úc được thiết lập từ năm 1924 ở Stokes Hill, cho nên bên Bộ Chiến Tranh quyết định làm các đường hầm để chứa dầu. Từ tháng 4/1943 George Fisher bổ nhiệm người tiến hành xây dựng 11 đường hầm chứa dầu trong bí mật với số nhân công là 400 người, kinh phí dự trù là 220,000 bảng Anh và sức chứa là 20,000 tấn dầu. Trong thời gian oanh tạc máy bay Nhật đã không kích Darwin cả thảy là 64 lần. Khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt vào năm 1945 thì 6 đường hầm được hoàn tất. Mỗi đường hầm có chiều dài thay đổi nhưng chiều rộng là 4m5 và có chiều cao là 5m4.
 Chúng tôi lần lượt vào đường hầm bên cạnh đường ống thật lớn, chiếm gần phân nửa đường đi. Cuối đường nầy lại đến một khúc quanh co có bộ phận máy móc hình như hệ thống bơm thì phải, rồi đi vào đường hầm dài hơn, ở đây phải trang bị hệ thống đèn để du khách có thể nhìn thấy, bên cạnh đó trên vách còn treo những bức tranh vừa của Nhật, vừa của Úc để có tính cách trang trí cho vui mắt, đồng thời cũng có vài nét về lịch sử của thời kỳ chiến tranh. Tôi cố gắng đi hết đường hầm để xem cuối đường hầm là cái gì thì ra cuối đường hầm là ngõ thông ra ngoài. Tôi đưa máy quay phim, thu gần cái cửa đường hầm ấy vì khu vực nầy không được vào. Xong ngó trở lại thì thấy vắng tanh không còn ai nên tôi cứ ngỡ là trễ giờ nên lật đật chạy trở ra. Nhưng không trễ vì người trong đoàn vẫn loay hoay chung quanh phía trước, người thì đứng nhìn cảnh vật xung quanh, người thì đang tìm để mua đồ lưu niệm.
Đến 10 giờ 20, xe đưa chúng tôi rời Thành phố Darwin và chạy theo đường Stuart Highway để đến Australian Aviation Heritage Centre ở vùng Winnellie. Xe qua vùng sân rộng rồi vòng qua một khúc quanh có trưng bày phần đuôi của một chiếc máy bay cùng một trái bom bên cạnh, và xe đi vào chỗ đậu.
Phần đuôi máy bay và trái bom.
Máy bay rải bom B.52

Chúng tôi vào cửa. Ngay cạnh cửa vào tôi lại thấy được vài hình ảnh quen thuộc mà tôi đã mất nó tự lâu rồi, từ cuối năm 2001. Đó là hình ảnh của một hãng hàng không bị phá sản “Ansett”, vì nó là kỷ niệm của vợ chồng tôi cùng ba tôi trong chuyến du hành sang Mỹ, Âu Châu để ba tôi gặp lại người thân (em chú bác, chị cô cậu ruột), còn tôi được gặp bạn bè, anh chị họ, và vợ tôi gặp đứa em út theo gia đình chồng ở Salt Lake City thuộc Tiểu bang Utah ở Mỹ. Ở trong bảo tàng nầy trưng bày nhiều loại máy bay nhỏ, lớn, cũ, du lịch, thể thao đều có kể cả vài động cơ máy bay của Nhật cũng có, nhất là những hình ảnh về các loại máy bay đã dự vào cuộc không kích Darwin trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Bảo tàng nầy được mở ra từ năm 1990 để tiếp nối bảo tàng trước đã bị tàn phá trong cơn bão Tracy vào năm 1974.
B.52 rải thảm bom.

Trong bảo tàng có trưng bày chiếc máy bay thả “bom thảm” (tức nhiều trái bom cùng lúc) là máy bay B52 mà khi tôi còn trong tuổi thanh niên đã từng nghe âm thanh của từng loạt bom ấy nổ và kéo thật dài khiến những mái tôn của nhà rung nhịp dập dồn theo chấn động. Ở đây có cả loại trực thăng cobra hình con cá dẹp, lẫn máy bay phản lực cánh xếp F111 mà ngoài Bắc lúc ấy gọi là máy bay “cánh cụp cánh xoè”. Đây là một trong hai bảo tàng được trưng bày thường xuyên máy bay B52 (ngoài Hoa Kỳ) được mướn từ Không Lực Mỹ. Chúng tôi rời viện bảo tàng vào lúc 11 giờ 10.

Nguyên Thảo,
03/07/2017.



*Thuộc Hàng Nào Đây?

 

 *Chán Ngán.        

"Thế sự thăng trầm quân mạc vấn
Yên ba thâm xứ hữu ngư châu..." (1)
Người xưa chán ngán từ lâu
Người nay chán ngán, lắc đầu chua cay!
Quê cha sanh bậc anh tài
Tìm đường vượt biển, mà hay tranh giành.
Cấp bằng, quan chức, mề đay
Ngôn từ, chữ nghĩa thẳng tay chẳng chùn
Chỉ thương cái đám dân hèn,
Đã "ngu" mà lại "cu đen", thật buồn!

Đồ Ngông,
07-02-04.

(1) Thơ Cao Bá Quát

 


*Thuộc Hàng Nào Đây?     

Dân ta có quá chục ngàn,
Vài người mà khuấy cả làng chơi vơi.
Dân ta cố ráng nín hơi,
Vài người mà đã trống kèn rình rang.
Bước đi giữa xóm, giữa làng,
Người người đứng ngó: "Thuộc hàng nào đây?"

Đồ Ngông,
07-02 -04.

 


*Chõ mỏ.       

Ông ở từ đâu chõ mỏ vào,
Hay ông phường lũ thuộc rêu rao?
Sơn đông mãi võ làm tôi tớ,
Hát thuật cò mồi phận nối dao.
Gia đạo, ông còn chưa sửa được,
Tu thân, mi chẳng biết ra sao?
Thế mà ông lại hay khua mõ
Không biết từ đâu chõ mỏ vào?

Đồ Ngông,
05-03-04.

 


*Lời Tạ Lỗi!    

Tôi là một tên già
Đứng ra nhận tội cùng lũ trẻ:
"Nếu mai nầy
Trên đất nước xứ xa
Có xảy ra điều chi không hay cho sắc tộc
Lỗi cũng tại lũ già,
Bi hay tranh giành, chửi bới thối tha
Tôi tạ tội vì không làm tròn nhiệm vụ".
Tôi muốn nói lên lời tự thú
Để mai nầy "gần đất, trời xa"
Tôi không phải ăn năn, hổ thẹn.

Lỗi không phải tại tôi,
Không phải: "Tại tôi mọi đàng!"
Mà vì
Do "Tâm" người ích kỷ,
Nhỏ nhoi, sân hận, oán thù
Trời không ban cho họ!

Con xin cầu ơn trên,
Ban cho họ sự sáng suốt, lìa khỏi u mê
Để họ trở lại con người thực tế:
"Họ biết có cộng đồng,
Còn biết có cả chục ngàn thân quen".
Để cùng nhau sung sướng
Và sát vai nhau hỉ hả!
Con chỉ cầu
Và cầu mong được điều như vậy!
Và chỉ mong
Một điều ấy mà thôi!

Đồ Ngông,
05-03-04.





Ghi chú: Đây là những bài thơ cũ mà Đồ Ngông đã sáng tác từ lâu và gởi về Trang Nhà 
CHS Trịnh Hoài Đức, nay Đồ Ngông muốn đem về blog để cho trọn vẹn, và độc giả 
xem chơi; nhất là để hiểu những sự biến chuyển trong Cộng đồng của mình ở nơi xa xứ
trong các thời gian đầu!


 
 

Wednesday, February 8, 2017

*Tưởng Rằng...!



*Đứa bé.
Một trái bom đã nổ
Đứa bé đầy máu me
Bò bên hông xác mẹ
Tìm sửa bú no lòng!

Nầy bé ơi! Bé nhỏ,
Mẹ bé chết đi rồi
Bé nào đâu có biết
Bé là trẻ mồ côi!

Trên đường đi lánh nạn
Cố đào thoát chiến tranh
Lắm cảnh buồn da diết
Nào ai biết phận mình!

Đồ Ngông,
07-08-06.

 

*Kết quả!

Một trái đạn được bắn ra
từ nòng đại bác
Một hỏa tiển được phóng đi
Khi rơi xuống mặt đất:
Một khu vực trở thành tan hoang,
Có những thân người oằn oại
trên vũng máu đau thương.
Có thể có
những người chết chẳng còn đầu,
hoặc
xác tứ tung thành từng mảnh.
Tiền của, dựng xây nhiều năm
đã trở thành vô dụng.
Một số người tàn phế
lê lết đời còn lại trên hè phố.
Thêm một ít vòng tang
và đau thương cho những người thân thuộc.
Đó là chiến tranh
Chiến tranh từ sự hoang dại
Của những bộ óc của con người!...

Đồ Ngông,
05-08-06.



*Tưởng Rằng...!    
tặng: Trí thức "dổm"

Tưởng rằng trong cuộc đời nầy
Đã là trí thức ra tài giúp dân
Tưởng rằng thiên hạ qua phân
Làm thân trí thức trổ tài kinh bang
Tưởng rằng dân chúng hoang mang
Có người trí thức ra an dân lành.
Ai ngờ trí thức khôn lanh
Giành ăn như ... thể, làm banh xóm làng.
Ai ngờ học giỏi khôn ngoan,
Bày mưu, vạch kế, móc moi thật tồi.
Ai ngờ trí thức lại hôi,
Còn hơn cái đám suốt đời đi hoang.

Đồ Ngông,
28-01-04.






  

Tuesday, January 17, 2017

*Quê Người! (15)




Chiều hôm đó, tôi lại gặp một anh bạn cùng còn ở trong trại tiếp cư với chúng tôi tại căng-tin anh cho biết là hôm chủ nhật vừa rồi người ta đã đổi giờ. Tôi ngạc nhiên về vấn đề nầy và hỏi anh bạn: Vì sao? Anh bạn cũng chưa tường tận nên chỉ nói người ta kêu vặn đồng hồ thụt lại một giờ. Như vậy đổi giờ chỉ là vặn lại đồng hồ mà thôi. Ở nơi đây tôi gặp lại Lê Nguyên Tịnh người bạn đã cùng một chuyến tàu vượt biển với tôi ngày nào và cùng nhau tát nước khi nước biển tràn vào trong khoang tàu. Tịnh đến trước tôi một tháng và đang chờ vào lớp Tiếng Anh cho người mới tới. Tịnh vẫn còn ở trong trại Pennington nầy mà chưa dời ra ngoài. Ngoài Tịnh, còn có Lê Văn Hiệp, Trần Thanh Sơn là những người đi cùng một chuyến tàu vượt biển với tôi đến định cư tại Adelaide nầy, nhưng Hiệp và Sơn đã theo bạn bè ra mướn nhà ở bên ngoài. Tôi chưa gặp lại họ!
Ăn chiều xong, tôi và Thành trở về phòng của mình. Sau đó không lâu thì Bác Vỹ rủ chúng tôi sang phòng mấy bác chơi vì có anh bạn từ ngoài vào thăm. Anh bạn nầy làm ở hãng xe hơi Holden của Úc cũng gần đây. Hôm nay vào ngày cuối tuần nên rỗi rảnh anh vào trung tâm tiếp cư nầy để tìm coi có ai quen mới tới không cũng như để thăm hỏi nhau như tình người đồng hương. Trước thì thăm hỏi tình hình sức khoẻ, sau thì về hoàn cảnh, tư tưởng. Anh thì đã đến đây được khoảng vài năm trước. Anh kể những năm anh đến đây người Úc thương người tị nạn mình lắm, cuối tuần người ta thường hay đến đây để uỷ lạo, giúp đỡ, thậm chí người ta lại chỡ mình đi chơi đây đó; còn hãng xưởng thì có hãng đến hỏi mình có muốn làm không chứ không như những lúc gần đây người ta trở nên kỳ thị và tỏ ra “ghét” mình, nhất là phong trào bày Á Châu của ông giáo sư sử học Blainy nào đó. Anh cũng cho biết là ở đây có một băng thanh niên “tóc dài” nổi tiếng là quậy và có những lúc đụng độ với băng “mô tô, lòi tói” của Úc, từ khi băng tóc dài nầy đâm chết người Úc ở bãi biển Glenelg thì phong trào kỳ thị và sợ người mình càng nhiều. Anh bạn cũng cho biết là có một võ sư nổi tiếng đỡ đầu cho nhóm nầy! Mấy anh, mấy bác cũng nên cẩn thận vào ngày Thứ Năm khi mình lãnh tiền của xã hội cấp cho, băng nầy cũng thường hay tới để hỏi tiền lắm! Cuộc tâm tình khá lâu; Bác Vỹ, Bác Phương có nhiều câu hỏi thực tế để tìm hiểu đời sống nơi đất lạ quê người. Còn tôi chỉ nghe thôi chứ không biết mình sẽ phải làm gì trong giai đoạn nầy! Nghĩ lại mình còn nhiều vấn đề phải lo!
Sáng Chúa Nhật, sau khi ăn sáng ở căng-tin, tôi và Thành về phòng không bao lâu thì Trọng đã chỡ chị Yến đến rủ chúng tôi đi chơi. Trọng đưa cho tôi vài gói thuốc Winfield đỏ để hút. Phải nói tình cờ anh em tôi lại gặp Trọng, chị Yến trên đất khách quê người làm cho chúng tôi cảm thấy ấm lòng và rút ngắn thời gian cho nhiều vấn đề mà lý ra chúng tôi cần thời gian rất lâu mới học hỏi được. Trọng chỡ chúng tôi đến một chợ “secondhand” khác được mở vào ngày Chúa Nhật. Ngày Chúa Nhật đầu tiên trên quê người sao thấy tương đối là vắng lặng, trên đường phố xe chạy không nhiều, người vãng lai cũng ít. Nó không giống quê mình, ở quê mình ngày Chúa Nhật nghỉ ngơi người ta ra đường, ngồi ở các quán uống cà phê đấu láo, ăn nhậu xì xèo, mặc dù sau “Ngày Giải Phóng” mọi gia đình và đất nước đã lâm vào cảnh nghèo và khốn cùng hơn trong thời gian chiến tranh rất nhiều. Tôi ngạc nhiên hỏi Trọng. Trọng cho biết là cuối tuần, từ chiều Thứ Sáu là dân Úc đã lái xe ra ngoài vùng thôn quê hay vùng biển để chơi, câu cá, tới chiều Chúa Nhật họ mới trở về để sáng Thứ Hai bắt đầu đi làm trở lại, bắt đầu cho một tuần mới. Tôi lại nói: “Đây là xứ sở của Thiên Chúa Giáo tao tưởng ngày Thứ Bảy, Chúa Nhật các nhà thờ sẽ vang rân cho những người đi lễ, nhưng không ngờ vắng lặng như thế nầy, thật là khác xa với khung cảnh ở Việt Nam”! Xe đến chợ secondhand, Trọng trả tiền vào cổng rồi tìm chỗ đậu xe. Chúng tôi cùng nhau đi rảo các gian hàng. Các gian hàng kế tiếp nhau thành một dọc dài, có gian bày trên tấm bạt trải trên mặt đất, có gian thì có bàn, có gian thì có che nắng có gian không, nhưng đa số là đồ cũ cho nên người ta gọi chúng là “secondhand”. Dù là chợ bán đồ cũ nhưng các gian hàng bán cũng rất là đông kéo hàng chục dãy kế tiếp nhau trong cái rạp chiếu bóng ngoài trời nầy giống như cảnh ngày hôm qua nơi mà tôi đã gặp Trọng, nhưng lớn hơn nhiều!  Đi coi chơi cho biết chứ tôi không có mua gì. Trọng hỏi tôi muốn mua gì không, cứ mua đi nó có tiền đây nè, nhưng tôi chưa biết mình có gì cần phải mua, thôi thì từ từ vậy! Hôm nay trời tương đối nắng ấm nên người đi chợ khá đông. Chị Yến nói có những ngày mưa chợ rất vắng, người ta đi chợ nầy như là giải trí, còn những người cần mua vài thứ cần dùng, họ thường đến rất sớm để vào cửa và rảo các gian hàng để tìm mua như những thứ mà người đã xách ra cửa khi chúng tôi vừa đến mà chúng tôi đã thấy. Đi chợ nầy cũng có nhiều cái vui vui.
Trưa về tôi và Thành lại ăn cơm với Trọng và chị Yến, rồi Trọng đưa chúng tôi về phòng ở Pennington để chiều chúng tôi sẽ ăn chiều ở căng-tin. Khi chia tay Trọng còn cho biết, tối sẽ đến rước tới nhà người quen coi phim.
Sau khi ở căng-tin về phòng, tôi lo chuẩn bị viết thư về nhà để vợ tôi phải chuẩn bị mọi thứ giấy tờ gởi qua để tôi có chứng từ làm hồ sơ bảo lãnh theo kinh nghiệm Trọng đã làm. Mỗi lần viết thư, tôi lại có nhiều cảm xúc lẫn suy nghĩ nên viết được một bức thư thật là lâu có khi phải cần đến vài ngày, nhưng lần nầy tôi phải cố gắng viết xong sớm để Trọng gởi dùm về gia đình mà lo những giấy tờ cần thiết. Đây là bức thư đầu tiên báo về gia đình là tôi và Thành đã đặt chân lên đất Úc Đại Lợi để định cư và chọn nơi nầy làm quê hương. Thế là “Cuộc hành trình vượt biên” cùa hai anh em tôi đã hoàn tất và chúng tôi phải đi vào giai đoạn khác. Cái giai đoạn sau nầy mới thật là quan trọng: Vừa lo bão lảnh gia đình, vừa lo ổn định cuộc sống và thích ứng với hoàn cảnh nơi mà cuộc sống hoàn toàn xa lạ ở đất khách quê người!
Tôi viết bức thư chưa được bao nhiêu thì Bác Vỹ, Bác Phương đã báo tới giờ đi ăn chiều. Chúng tôi lại lục tục kéo nhau lên căng-tin xếp hàng để lấy thức ăn. Những ý nghĩ, nhận xét mới lạ được trao đổi với nhau ở đây; cùng những lo lắng, dự định trong tương lai được phát thảo mặc dù nó chưa đủ nhân tố để thành hình vì chúng tôi chỉ ở trên đất người mới được có vài ngày.
Ăn xong, tôi có dịp gặp lại Cô Giang và cô báo là ngày mai sẽ đi lên Sydney với bà con và ở luôn trên đó, cô chúc tôi được cuộc sống an lành, tôi cũng chúc cô sẽ được nhiều may mắn trong cuộc sống mới. Tôi cũng không quên hỏi vì sao cô bảo là “Đàn ông ở đây giống như là vô viện dưỡng lão”. Cô chỉ cười mà không trả lời! Điều ấy khiến tôi lại càng tò mò cái Thành phố Adelaide và Tiểu bang Nam Úc nầy nhiều hơn nữa! Nhưng có một điều tôi khá an tâm trong suy nghĩ vì cô Giang cũng như là chúng tôi thôi, chỉ nghe người ta nói chứ chưa hề từng trải, kiểm nghiệm chốn nầy nên những điều cô nói chỉ là nhắc lại nhận xét không đúng hẳn của người đi trước mà thôi!
Chiều vừa nhá nhem tối, Trọng đã đến rước tôi và Thành đi chơi. Tôi giới thiệu Trọng với Bác Vỹ, Bác Phương. Bác Vỹ nói: “Chú mày được may mắn rồi đấy nhé, lại gặp được người thân!”. Trọng, chị Yến đưa tôi và Thành đến nhà Huynh cũng không xa với trung tâm tiếp cư Pennington là bao nhiêu. Ở đây cũng có vài người nữa, đó là những người qua cùng chuyến bay với Trọng, Yến như gia đình của Huynh, anh Hiệp với hai đứa con; Mai, Trí. Họ cũng đến từ Sungai Bési vào tháng 7/1983, tức là trước tôi và Thành khoảng 8 tháng. Tối nay Huynh cho mọi người coi phim cao-bồi.
Trọng đã bàn tính với vợ chồng Huynh để tối nay vừa xem phim cùng ăn cháo coi như là đãi tôi và Thành trong bữa họp mặt tối nay. Cũng như bao nhiêu người đi trước, Huynh và Trọng cũng nhanh chóng được người ta rủ đi làm “farm”, tức là đi làm công cho các nông trại ở trên núi như táo, lê, dâu hoặc hái cải. Huynh thích coi phim nên đã bỏ tiền ra mua đầu máy chiếu phim, tức là máy hát băng video, thường cuối tuần nhằm ngày nghỉ ngơi nên xúm nhau coi phim. Tôi bắt đầu biết được vài người bạn cùng “list” (cùng chuyến bay từ trại tị nạn qua) với Trọng ở trong đêm nầy!
Huynh đi vượt biên với vợ và có hai con mướn nhà nầy và cho anh Sa cũng là người cùng quê ở Trà Vinh chia phòng để cho nhẹ tiền. Công việc nông thì không đều tùy theo mùa và công việc nhiều ít, nhất là trong thời gian nầy công việc cũng bắt đầu ít lại rồi vì thời tiết trở lạnh để vào Thu.
Khoảng hơn 10 giờ, phim hết, tiệc tàn và mọi người cũng tan hàng để ra về. Trọng đưa tôi, Thành về Pennington. Tôi cứ thao thức, khó ngủ, thế mà ở dãy phòng nối đàng sau có tiếng mở cassette (máy hát băng) tiếng quá lớn, tôi đành phải chịu lạnh mà đến nhờ mấy cô ấy vặn nhỏ lại. Mấy cô ấy không vừa ý, nhưng họ cũng chỉnh lại âm thanh. Người mình luôn là như thế, chỉ thích làm những gì mình thích mà không để ý đến người khác! Tôi trở về phòng nghe lành lạnh đành mở sưởi lên. Thành vẫn chưa ngủ còn lo soạn chút ít đồ.

Nguyên Thảo,
12/01/2017.



*Bài Ca Buồn!

* Thơ Đồ Ngông!



*Lời Ca Vô Vọng!
Trong chiến tranh tàn khốc
Có nhạc sĩ da vàng
Ngồi hát trên đổ nát
Lại tiếng gào vang vang:

"Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ
để lại cho con
gia tài của mẹ
Là nước Việt buồn!..."  
       (Nhạc Trịnh Công Sơn)

Chiến tranh nơi nầy qua
Chiến tranh vùng khác đến
Đoàn người đi khập khểnh
Hối hả bỏ cửa nhà!

Bàn tay nào dắt mẹ
Bàn tay nào cho con
Vượt qua đồi qua núi
Cố níu lấy sống còn!

Những lời ca vô vọng
Không ngăn nổi hận thù
Những nỗi hờn thiên thu
Cứ bừng lên đột cháy!...

Đồ Ngông,
07-08-06.

 

*Vì Đâu?

Chẳng Chúa, chẳng Trời khởi chiến tranh
Cùng nhau lấy máu để tranh giành
Gây bao tang tóc cho dân chúng
Phá nát đời êm, giết mộng lành.

Đâu phải Trời, cũng chẳng Chúa tôi,
Ai gây chinh chiến khổ cho đời
Con người vốn khổ, càng thêm khổ
Cũng lại do người hận mãi thôi!

"Nhất tướng công thành, vạn cốt khô!"
Bao nhiêu người lính đến bên mồ
Bao nhiêu mạng sống đời dân giả
Thoáng chốc đi về cõi hư vô!

Chẳng Chúa, chẳng Trời tạo chiến tranh
Loài người che đậy, lẫn nhân danh
Tự do, dân tộc, cùng Tổ quốc
Cũng chỉ là do ở "tranh giành"!

Đồ Ngông,
07-08-06.

 

*Bài Ca Buồn.

Có những chàng nhạc sĩ
Đang hát bài ca buồn
Trên hoang tàn đổ nát
Cho cuộc đời thân thương.

Đàn Guy-ta trầm trầm
Dưới trời mưa lâm râm
Trên trời mây màu xám
Trong nỗi đau âm thầm!

Trời sanh ra chiến tranh
Hay bởi dạ con người?
Đã bao nhiêu tàn phá
Với bao người chơi vơi!

Chiến tranh đi và đến
Đem lại những xe tang
Máu xương và nước mắt
Lớp lớp nối hàng hàng.

Nhân loại đầy đau thương
Trong kiếp sống bình thường
Lại con người thêm sức
Khổ trở thành đại dương!

Đồ Ngông,
 05-08-06.




Thursday, December 22, 2016

*Lòng Vòng trên "Bắc Úc". (4)



Cũng như hôm trước, chúng tôi phải dậy thật sớm để lo chuẩn bị chuyến đi ngày hôm nay vì xe buýt của Tour du lịch sẽ đến khách sạn đón vào lúc 6 giờ sáng. Mặc dù đêm hôm ngủ trễ sau một ngày đi xa mệt mỏi, mà dù có “uể oải” thế nào thì chúng tôi cũng phải rang dậy sớm thôi: Nghĩ cũng lạ, chỉ mắc tại “cái tò mò” của mình, cùng “cái sướng” của con mắt mà mình phải bỏ tiền ra và hành hạ thân xác đến như thế này! Nói thế, chứ đi chơi ai lại không thích! Như tôi đã từng đùa với bạn bè trong vài chuyến đi: “Sao đi chơi (du lịch) vừa tốn tiền vừa mệt, thế mà người ta lại thích mới chết chứ: Thân xác cũng mệt, ăn uống cũng mệt, sửa soạn cũng mệt…, cái gì cũng mệt hết nhưng chỉ có mỗi: “Cặp mắt là sướng thôi”; “Dòm cho đã con mắt” mà bao nhiêu người đều chấp nhận, mà lại mê nữa chứ!”.
Xe buýt đến đúng giờ, 6 giờ 5 phút chúng tôi lên xe và xe chạy vòng qua các khách sạn khác để đón thêm vài hành khách nữa rồi chạy về chỗ tập trung như ngày hôm qua. Sau đó, ai đi tour nào lên xe buýt đó để chuẩn bị khởi hành. Hôm nay chúng tôi sẽ vào tham quan Kakadu National Park, vì vậy chúng tôi phải đóng thêm tiền vào cửa của Park là 40 đô, tiền đóng liền cho người sắp xếp chuyến đi.
Xe rời trạm trong thành phố Darwin vào lúc cỡ 6 giờ 20 khi trời hưng hửng sáng. Khi ra ngoại ô thì mặt trời đã he hé ở chân trời. Chuyến đi nầy cũng theo đường Stuart Highway, xuôi về phương Nam như ngày hôm qua. Nhưng khi qua Coolalinga thì đến ngã ba của Stuart Highway với Arnhem Highway thì chúng tôi phải rời bỏ đường Stuart để đi về hướng Kakadu National Park. Theo như tính toán thì hôm nay chúng tôi sẽ đi đoạn đường ngắn hơn ngày hôm qua vì từ Darwin đến trung tâm Kakadu khoảng chừng 251 km.
Xe buýt xuôi theo đường Arnhem Highway tức đường mang số 36 theo hướng đông nam. Dọc đường có những vườn xoài khá rộng lớn. Rất tiếc là chúng tôi không được vào tham quan ở những vườn xoài nầy xem họ trồng như thế nào, mặc dù tôi cũng có vài ông bạn từ Adelaide lên mua đất và trồng xoài ở trên nầy. Theo cái nhìn từ xa ở ngoài đường những vườn xoài nầy trồng ngay hàng thẳng lối giống như các vườn cây ăn trái khác. Tuy nhiên vườn xoài ở đây hình như đều được xén ngọn cho nên thấy chúng không cao lắm, phía trên tương đối phẳng và thấp. Lúc nầy xoài đang trổ bông nên thấy cây có đầy bông. Xe đến dòng sông Adelaide. Ở đoạn nầy sông Adelaide rộng như nhiều sông khác chứ không nhỏ như ở thượng nguồn mà chúng tôi đã ghé qua ngày hôm qua sau khi ghé vào nghĩa trang chiến tranh Adelaide River War Cemetery. Nhưng khu vực đồng cỏ rộng lớn kế tiếp dòng sông được hướng dẫn viên kiêm tài xế cho biết đó là vùng đất ướt, khi mùa mưa nhiều nước dòng sông ngập tràn qua vùng đất thấp ấy nên gọi là những vùng đất ướt. Khi tôi xem lại bản đồ thì dòng Adelaide sau khi đi qua Djukbinj National Park thì đổ ra biển với những khúc sông uốn khúc ngoằn ngoèo thật nhiều thì lượng nước lớn làm sao chảy thông cho được nên phải ối lại tạo nên vùng đất ướt ở nơi thấp là đúng rồi. Con sông Adelaide có tiếng về cá sấu dữ. Trước khi lên đây khoảng thời gian không lâu, truyền thông đã đưa tin có một người phụ nữ bị cá sấu cắn chết ở trên sông nầy. Ven đường kế bên sông có một doanh nghiệp trưng bày để hình cá sấu đang nhảy lên và lấy tên là Crocodile Jumping.
Xe tiếp tục đi về hướng đông nam khoảng chừng 54 km thì đến sông Mary. Sông nầy liên kết với một National Park khác được mang tên của nó là Mary River National Park. Chúng tôi đi thêm vài cây số nữa thì đến Bark Hut Inn, xe ghé vào để cho mọi người đi vệ sinh, ăn uống trước khi xe từ đây xuôi về hướng đông.
Ở Bark Hut Inn mọi người chỉ ăn nhẹ, điểm tâm, uống cà phê. Còn chúng tôi thì ăn bánh mì sandwich kẹp vài miếng thịt nguội sơ sài rồi ngồi nói chuyện giải lao. Thời gian ở đây được chừng nửa tiếng thì cũng dư chán. Người Thổ dân hiện diện nơi nầy khá nhiều, không biết họ làm gì nhưng ăn mặc tương đối tươm tất. Tới giờ mọi người lần lượt lên xe để tiếp tục lên đường.
Dọc đường, thỉnh thoảng có vài ổ mối cao, màu trắng đục, nhưng không nhiều như đoạn đường đi về vùng Katherine ngày hôm qua, nhưng ở khu nầy các cây được gọi là “little palm” lại có chiều cao cao hơn nhiều, có nhiều cây chắc cao hơn 3 hay 4 m. Điều đó chứng tỏ các cây ở đây có tuổi hơn là những cây ở vùng bên kia.
Còn rừng thì nhìn qua người ta đã thấy sự thoáng đảng của nó, vì chúng được đốt từng khu vực thường xuyên để tránh đi cuộc cháy rừng khủng khiếp xảy ra khi nhiều lá khô và cỏ đầy trên mặt đất. Cho nên vào mùa nầy chúng tôi thường thấy khói đốt rừng được bốc cao lên trên dọc chuyến đi. Các thân cây bị cháy xém thường đen đúa, nhưng những khu vực cây cối được hồi phục có màu xanh mơn mởn rất tươi mát. Đi chừng gần 40 cây số xe chúng tôi vào địa phận của Kakadu National Park. Lệ phí vào “park” với người lớn là 40, trẻ con là 25 đô cho thời điểm từ tháng Tư cho đến tháng 10; nhưng từ tháng Mười Một  đến tháng Ba giá người lớn là 25 và trẻ con là 12.5 đô. Đường sá vào trong “vườn quốc gia” nầy vắng xe cộ, không biết là ít người đến hay đường quá xa với thành phố cho nên người đến đây thường mướn nơi trọ cho tiện hơn. Như chúng tôi đi vào ngày hôm qua thật là “oải” vì phải thức rất sớm và về đến khách sạn thì quá trễ. Và ngày hôm nay thì cũng thế thôi, nhưng vì mình muốn biết thì cũng đành ráng, chỉ ráng trong vài ngày, chứ nếu nhiều ngày, có lẽ sẽ không chịu nỗi! Cây cối ở trong Vườn Quốc Gia nầy với mật độ nhiều và dầy hơn ngoài khu vực, nhưng cũng được đốt theo khu nhỏ để bão vệ cháy rừng to lớn, nên sự hồi phục của cây từng nơi cũng khác nhau: Nơi thì cây cối trở nên rậm rạp hơn, nơi thì mới hồi sinh, nơi thì mới đốt có còn khói lên nghi ngút từ những thân cây cháy dang dỡ.
Tài xế kiêm Hướng dẫn viên không thuyết minh nhiều nữa chỉ khi nào cần thiết hoặc đến những nơi đặc biệt thì anh ta giải thích cho mọi người biết về một vài loại cây, hoặc nơi nầy thế nào, nơi kia ra sao vào mùa nào. Với tôi thì tiếng Anh chỉ bấp bõm nên tiếng nghe được tiếng không, do đó “cái hiểu” thật là mập mờ và mình phải vận dụng đến suy đoán, tất nhiên là sẽ sai nhiều hơn là đúng. Nghĩ thật cũng buồn cười và tréo cẳng ngỗng cho đời sống lưu vong!
Xe đi khoảng chừng hơn 100 cây số nữa thì đến phi trường Jabiru (vào lúc 10.05 giờ) là nơi các máy bay chỡ người đi tham quan cảnh trên không của vùng công viên quốc gia Kakadu, nhưng không có vị khách nào xuống ở đây, tất nhiên là chẳng có ai tham dự phương tiện nầy. Xe vòng trở ra và chạy dọc theo con đường 21 tức là con đưòng Kakadu Highway để đưa chúng tôi đến trung tâm văn hóa của người Thổ dân Bininj ở đây có tên là Warradjan Aboriginal Cultural Center. Xe đến trung tâm vào lúc 10.50 giờ. Trung tâm nầy có hình dáng của một con rùa, nhưng lại có cái mũi của con heo. Chúng tôi vào cửa, khung cảnh bên trong hơi tối chắc người ta muốn trưng bày theo kiểu mờ mờ ảo ảo để đưa người tham quan về một cảnh tượng xa xưa và không cho chụp hình hoặc quay phim. Nhìn những dụng cụ đồ vật dùng để săn bắn hay bắt cá nầy, tôi chẳng những không nghĩ đến người Bininj mà lại nhớ đến thời thơ ấu cùng bạn bè đi dọc theo suối, đồng ruộng để bắt cá hoặc săn bắt vài con thú vật nhỏ. Những dụng cụ sơ khai đều có nét giống nhau dù bất cứ ở nơi đâu, người ta đều tận dụng những cái sẵn có ở chung quanh hay của mình để tìm thức ăn trong sự sinh tồn. Hình thức bắt cá từ lấy bùn ngăn ụ rồi với hai bàn tay để tát nước ra rồi tìm cá mà bắt, hoặc với cây nhọn để chĩa cá rồi tiến xa hơn dùng những vật dụng để làm bẫy hay lưới hoặc câu. Thì đây là khu vực để trưng bày lại những gì mà người Thổ dân (Dân địa phương) ở đây đã sinh hoạt trong hàng ngàn năm. Thời gian tham quan không lâu nhưng ít ra cũng làm cho người ta hiểu về cách sinh hoạt trong đời sống thường ngày mà người dân ở đây đã sinh hoạt, cũng như tôi lại được nhớ về những kỷ niệm của thời ấu thơ. Qua khu bán những đồ lưu niệm, chúng tôi nhìn xem có gì để mua không nhưng không chọn được gì, đành ra ngoài để đợi lên xe. Tài xế đưa chúng tôi đến Ngurrunggurrudjba, tức là Yellow water theo tiếng Thổ dân Bininj để tham dự vào “lông bông” trên du thuyền trong khu vực nước vàng.
Đoàn xuống du thyền và ổn định xong xuôi, du thuyền rời bến đúng 11 giờ 30. Thuyền chỉ chạy từ từ ra khúc sông của sông South Alligator, theo dự kiến là cuộc đi sẽ kéo dài trong 2 tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, thuyền chỉ nhởn nhơ trên vùng đầm lầy để người hướng dẫn viên vừa thuyết minh vừa hướng dẫn cho du khách có thể quan sát lẫn nhận thức về vùng đầm lầy cùng những sinh vật, chim chóc, cây cối hiện hữu ở đây. Cá sấu cũng là đề tài được người hướng dẫn đề cập đến, lẫn phân biệt cá sấu vùng nước ngọt và cá sấu vùng nước mặn khi cá sấu hiện diện ở mép nước được mọi người ồ lên phát hiện. Những khóm hoa sen, hay hoa súng ven đường nước đều lạ với người Úc, còn đối với tôi không có gì là lạ cả, nhưng cái cảnh đầm lầy nầy còn hoang sơ chưa được khai phá thành những ruộng, vườn để canh tác cho nên chim cò, vịt nước và nhiều loài chim khác lớn nhỏ hãy còn ung dung lặn lội để kiếm ăn. Xa xa kia có vài con ngựa tha hồ gặm cỏ, không biết đó là ngựa hoang hay ngựa người ta nuôi. Có những cụm khói bốc lên cao ở nơi chân trời phía đông mà người hướng dẫn viên cho biết là nơi đó đang đốt rừng trong mùa nầy để tránh hỏa hoạn lớn vào mùa khô. Đó là bụi dứa dại, chắc cũng là lâu năm lắm, tuy nhiên dứa ở đây lá không có gai như dứa ở bên quê mình. Thuyền lênh đênh trên khúc sông mà trên bờ có nhiều loài giống như các con vịt nhỏ đang trú nắng và ầm ỉ kêu lên rối rít, mặc cho cá sấu nằm yên mà mồm luôn há hốc. Mọi người chụp hình lia lịa như để ghi lại hình ảnh lâu ngày mới thấy. Cánh đồng ở hai bên bờ sông hãy còn hoang sơ: Lau, sậy, đưng, lác, cỏ ống, rau dừa, sen súng… chen chúc đua nhau mà mọc. Thuyền đi qua đoạn rộn rịp đó thì cũng đã hơn tiếng rưỡi đồng hồ, nên người lái cho thuyền quay về đi vào một cái ụ khác để từ đó quan sát cánh đồng mênh mông hơn với nhiều loại chim đang tìm ăn, và nơi nầy thường có cá sấu xuất hiện. Có con chim đậu trên ngọn cây khô chết đã lâu mà hướng dẫn viên cho biết đó là loài chim quý hiếm của vùng Kakadu. Ở Kakadu nầy, người ta thống kê có một số lượng lớn về các loài như chim thì có hơn 280 loài; loài có vú khoảng 74, loài nước ngọt trên 50; khoảng hơn 10,000 loài côn trùng; với khoảng 117 loài bò sát, 25 loài ếch nhái cùng 1,700 loại cây cối. Đến hơn 1 giờ trưa hướng dẫn viên cho du thuyền quay về bến. Thuyền vừa quay ra đến bãi bùn mọi người thấy con cá sấu thật lớn vừa la lên vừa thích thú cùng chụp hình, quay phim lia lịa. Thuyền vào đến bến cũng không đến đỗi là trễ lắm. Mọi người lần lượt đi lên để vào căng-tin xếp hàng lấy thức ăn cho buổi ăn trưa.

Nguyên Thảo,
18/12/2016.