Wednesday, February 8, 2017

*Tưởng Rằng...!



*Đứa bé.
Một trái bom đã nổ
Đứa bé đầy máu me
Bò bên hông xác mẹ
Tìm sửa bú no lòng!

Nầy bé ơi! Bé nhỏ,
Mẹ bé chết đi rồi
Bé nào đâu có biết
Bé là trẻ mồ côi!

Trên đường đi lánh nạn
Cố đào thoát chiến tranh
Lắm cảnh buồn da diết
Nào ai biết phận mình!

Đồ Ngông,
07-08-06.

 

*Kết quả!

Một trái đạn được bắn ra
từ nòng đại bác
Một hỏa tiển được phóng đi
Khi rơi xuống mặt đất:
Một khu vực trở thành tan hoang,
Có những thân người oằn oại
trên vũng máu đau thương.
Có thể có
những người chết chẳng còn đầu,
hoặc
xác tứ tung thành từng mảnh.
Tiền của, dựng xây nhiều năm
đã trở thành vô dụng.
Một số người tàn phế
lê lết đời còn lại trên hè phố.
Thêm một ít vòng tang
và đau thương cho những người thân thuộc.
Đó là chiến tranh
Chiến tranh từ sự hoang dại
Của những bộ óc của con người!...

Đồ Ngông,
05-08-06.



*Tưởng Rằng...!    
tặng: Trí thức "dổm"

Tưởng rằng trong cuộc đời nầy
Đã là trí thức ra tài giúp dân
Tưởng rằng thiên hạ qua phân
Làm thân trí thức trổ tài kinh bang
Tưởng rằng dân chúng hoang mang
Có người trí thức ra an dân lành.
Ai ngờ trí thức khôn lanh
Giành ăn như ... thể, làm banh xóm làng.
Ai ngờ học giỏi khôn ngoan,
Bày mưu, vạch kế, móc moi thật tồi.
Ai ngờ trí thức lại hôi,
Còn hơn cái đám suốt đời đi hoang.

Đồ Ngông,
28-01-04.






  

Tuesday, January 17, 2017

*Quê Người! (15)




Chiều hôm đó, tôi lại gặp một anh bạn cùng còn ở trong trại tiếp cư với chúng tôi tại căng-tin anh cho biết là hôm chủ nhật vừa rồi người ta đã đổi giờ. Tôi ngạc nhiên về vấn đề nầy và hỏi anh bạn: Vì sao? Anh bạn cũng chưa tường tận nên chỉ nói người ta kêu vặn đồng hồ thụt lại một giờ. Như vậy đổi giờ chỉ là vặn lại đồng hồ mà thôi. Ở nơi đây tôi gặp lại Lê Nguyên Tịnh người bạn đã cùng một chuyến tàu vượt biển với tôi ngày nào và cùng nhau tát nước khi nước biển tràn vào trong khoang tàu. Tịnh đến trước tôi một tháng và đang chờ vào lớp Tiếng Anh cho người mới tới. Tịnh vẫn còn ở trong trại Pennington nầy mà chưa dời ra ngoài. Ngoài Tịnh, còn có Lê Văn Hiệp, Trần Thanh Sơn là những người đi cùng một chuyến tàu vượt biển với tôi đến định cư tại Adelaide nầy, nhưng Hiệp và Sơn đã theo bạn bè ra mướn nhà ở bên ngoài. Tôi chưa gặp lại họ!
Ăn chiều xong, tôi và Thành trở về phòng của mình. Sau đó không lâu thì Bác Vỹ rủ chúng tôi sang phòng mấy bác chơi vì có anh bạn từ ngoài vào thăm. Anh bạn nầy làm ở hãng xe hơi Holden của Úc cũng gần đây. Hôm nay vào ngày cuối tuần nên rỗi rảnh anh vào trung tâm tiếp cư nầy để tìm coi có ai quen mới tới không cũng như để thăm hỏi nhau như tình người đồng hương. Trước thì thăm hỏi tình hình sức khoẻ, sau thì về hoàn cảnh, tư tưởng. Anh thì đã đến đây được khoảng vài năm trước. Anh kể những năm anh đến đây người Úc thương người tị nạn mình lắm, cuối tuần người ta thường hay đến đây để uỷ lạo, giúp đỡ, thậm chí người ta lại chỡ mình đi chơi đây đó; còn hãng xưởng thì có hãng đến hỏi mình có muốn làm không chứ không như những lúc gần đây người ta trở nên kỳ thị và tỏ ra “ghét” mình, nhất là phong trào bày Á Châu của ông giáo sư sử học Blainy nào đó. Anh cũng cho biết là ở đây có một băng thanh niên “tóc dài” nổi tiếng là quậy và có những lúc đụng độ với băng “mô tô, lòi tói” của Úc, từ khi băng tóc dài nầy đâm chết người Úc ở bãi biển Glenelg thì phong trào kỳ thị và sợ người mình càng nhiều. Anh bạn cũng cho biết là có một võ sư nổi tiếng đỡ đầu cho nhóm nầy! Mấy anh, mấy bác cũng nên cẩn thận vào ngày Thứ Năm khi mình lãnh tiền của xã hội cấp cho, băng nầy cũng thường hay tới để hỏi tiền lắm! Cuộc tâm tình khá lâu; Bác Vỹ, Bác Phương có nhiều câu hỏi thực tế để tìm hiểu đời sống nơi đất lạ quê người. Còn tôi chỉ nghe thôi chứ không biết mình sẽ phải làm gì trong giai đoạn nầy! Nghĩ lại mình còn nhiều vấn đề phải lo!
Sáng Chúa Nhật, sau khi ăn sáng ở căng-tin, tôi và Thành về phòng không bao lâu thì Trọng đã chỡ chị Yến đến rủ chúng tôi đi chơi. Trọng đưa cho tôi vài gói thuốc Winfield đỏ để hút. Phải nói tình cờ anh em tôi lại gặp Trọng, chị Yến trên đất khách quê người làm cho chúng tôi cảm thấy ấm lòng và rút ngắn thời gian cho nhiều vấn đề mà lý ra chúng tôi cần thời gian rất lâu mới học hỏi được. Trọng chỡ chúng tôi đến một chợ “secondhand” khác được mở vào ngày Chúa Nhật. Ngày Chúa Nhật đầu tiên trên quê người sao thấy tương đối là vắng lặng, trên đường phố xe chạy không nhiều, người vãng lai cũng ít. Nó không giống quê mình, ở quê mình ngày Chúa Nhật nghỉ ngơi người ta ra đường, ngồi ở các quán uống cà phê đấu láo, ăn nhậu xì xèo, mặc dù sau “Ngày Giải Phóng” mọi gia đình và đất nước đã lâm vào cảnh nghèo và khốn cùng hơn trong thời gian chiến tranh rất nhiều. Tôi ngạc nhiên hỏi Trọng. Trọng cho biết là cuối tuần, từ chiều Thứ Sáu là dân Úc đã lái xe ra ngoài vùng thôn quê hay vùng biển để chơi, câu cá, tới chiều Chúa Nhật họ mới trở về để sáng Thứ Hai bắt đầu đi làm trở lại, bắt đầu cho một tuần mới. Tôi lại nói: “Đây là xứ sở của Thiên Chúa Giáo tao tưởng ngày Thứ Bảy, Chúa Nhật các nhà thờ sẽ vang rân cho những người đi lễ, nhưng không ngờ vắng lặng như thế nầy, thật là khác xa với khung cảnh ở Việt Nam”! Xe đến chợ secondhand, Trọng trả tiền vào cổng rồi tìm chỗ đậu xe. Chúng tôi cùng nhau đi rảo các gian hàng. Các gian hàng kế tiếp nhau thành một dọc dài, có gian bày trên tấm bạt trải trên mặt đất, có gian thì có bàn, có gian thì có che nắng có gian không, nhưng đa số là đồ cũ cho nên người ta gọi chúng là “secondhand”. Dù là chợ bán đồ cũ nhưng các gian hàng bán cũng rất là đông kéo hàng chục dãy kế tiếp nhau trong cái rạp chiếu bóng ngoài trời nầy giống như cảnh ngày hôm qua nơi mà tôi đã gặp Trọng, nhưng lớn hơn nhiều!  Đi coi chơi cho biết chứ tôi không có mua gì. Trọng hỏi tôi muốn mua gì không, cứ mua đi nó có tiền đây nè, nhưng tôi chưa biết mình có gì cần phải mua, thôi thì từ từ vậy! Hôm nay trời tương đối nắng ấm nên người đi chợ khá đông. Chị Yến nói có những ngày mưa chợ rất vắng, người ta đi chợ nầy như là giải trí, còn những người cần mua vài thứ cần dùng, họ thường đến rất sớm để vào cửa và rảo các gian hàng để tìm mua như những thứ mà người đã xách ra cửa khi chúng tôi vừa đến mà chúng tôi đã thấy. Đi chợ nầy cũng có nhiều cái vui vui.
Trưa về tôi và Thành lại ăn cơm với Trọng và chị Yến, rồi Trọng đưa chúng tôi về phòng ở Pennington để chiều chúng tôi sẽ ăn chiều ở căng-tin. Khi chia tay Trọng còn cho biết, tối sẽ đến rước tới nhà người quen coi phim.
Sau khi ở căng-tin về phòng, tôi lo chuẩn bị viết thư về nhà để vợ tôi phải chuẩn bị mọi thứ giấy tờ gởi qua để tôi có chứng từ làm hồ sơ bảo lãnh theo kinh nghiệm Trọng đã làm. Mỗi lần viết thư, tôi lại có nhiều cảm xúc lẫn suy nghĩ nên viết được một bức thư thật là lâu có khi phải cần đến vài ngày, nhưng lần nầy tôi phải cố gắng viết xong sớm để Trọng gởi dùm về gia đình mà lo những giấy tờ cần thiết. Đây là bức thư đầu tiên báo về gia đình là tôi và Thành đã đặt chân lên đất Úc Đại Lợi để định cư và chọn nơi nầy làm quê hương. Thế là “Cuộc hành trình vượt biên” cùa hai anh em tôi đã hoàn tất và chúng tôi phải đi vào giai đoạn khác. Cái giai đoạn sau nầy mới thật là quan trọng: Vừa lo bão lảnh gia đình, vừa lo ổn định cuộc sống và thích ứng với hoàn cảnh nơi mà cuộc sống hoàn toàn xa lạ ở đất khách quê người!
Tôi viết bức thư chưa được bao nhiêu thì Bác Vỹ, Bác Phương đã báo tới giờ đi ăn chiều. Chúng tôi lại lục tục kéo nhau lên căng-tin xếp hàng để lấy thức ăn. Những ý nghĩ, nhận xét mới lạ được trao đổi với nhau ở đây; cùng những lo lắng, dự định trong tương lai được phát thảo mặc dù nó chưa đủ nhân tố để thành hình vì chúng tôi chỉ ở trên đất người mới được có vài ngày.
Ăn xong, tôi có dịp gặp lại Cô Giang và cô báo là ngày mai sẽ đi lên Sydney với bà con và ở luôn trên đó, cô chúc tôi được cuộc sống an lành, tôi cũng chúc cô sẽ được nhiều may mắn trong cuộc sống mới. Tôi cũng không quên hỏi vì sao cô bảo là “Đàn ông ở đây giống như là vô viện dưỡng lão”. Cô chỉ cười mà không trả lời! Điều ấy khiến tôi lại càng tò mò cái Thành phố Adelaide và Tiểu bang Nam Úc nầy nhiều hơn nữa! Nhưng có một điều tôi khá an tâm trong suy nghĩ vì cô Giang cũng như là chúng tôi thôi, chỉ nghe người ta nói chứ chưa hề từng trải, kiểm nghiệm chốn nầy nên những điều cô nói chỉ là nhắc lại nhận xét không đúng hẳn của người đi trước mà thôi!
Chiều vừa nhá nhem tối, Trọng đã đến rước tôi và Thành đi chơi. Tôi giới thiệu Trọng với Bác Vỹ, Bác Phương. Bác Vỹ nói: “Chú mày được may mắn rồi đấy nhé, lại gặp được người thân!”. Trọng, chị Yến đưa tôi và Thành đến nhà Huynh cũng không xa với trung tâm tiếp cư Pennington là bao nhiêu. Ở đây cũng có vài người nữa, đó là những người qua cùng chuyến bay với Trọng, Yến như gia đình của Huynh, anh Hiệp với hai đứa con; Mai, Trí. Họ cũng đến từ Sungai Bési vào tháng 7/1983, tức là trước tôi và Thành khoảng 8 tháng. Tối nay Huynh cho mọi người coi phim cao-bồi.
Trọng đã bàn tính với vợ chồng Huynh để tối nay vừa xem phim cùng ăn cháo coi như là đãi tôi và Thành trong bữa họp mặt tối nay. Cũng như bao nhiêu người đi trước, Huynh và Trọng cũng nhanh chóng được người ta rủ đi làm “farm”, tức là đi làm công cho các nông trại ở trên núi như táo, lê, dâu hoặc hái cải. Huynh thích coi phim nên đã bỏ tiền ra mua đầu máy chiếu phim, tức là máy hát băng video, thường cuối tuần nhằm ngày nghỉ ngơi nên xúm nhau coi phim. Tôi bắt đầu biết được vài người bạn cùng “list” (cùng chuyến bay từ trại tị nạn qua) với Trọng ở trong đêm nầy!
Huynh đi vượt biên với vợ và có hai con mướn nhà nầy và cho anh Sa cũng là người cùng quê ở Trà Vinh chia phòng để cho nhẹ tiền. Công việc nông thì không đều tùy theo mùa và công việc nhiều ít, nhất là trong thời gian nầy công việc cũng bắt đầu ít lại rồi vì thời tiết trở lạnh để vào Thu.
Khoảng hơn 10 giờ, phim hết, tiệc tàn và mọi người cũng tan hàng để ra về. Trọng đưa tôi, Thành về Pennington. Tôi cứ thao thức, khó ngủ, thế mà ở dãy phòng nối đàng sau có tiếng mở cassette (máy hát băng) tiếng quá lớn, tôi đành phải chịu lạnh mà đến nhờ mấy cô ấy vặn nhỏ lại. Mấy cô ấy không vừa ý, nhưng họ cũng chỉnh lại âm thanh. Người mình luôn là như thế, chỉ thích làm những gì mình thích mà không để ý đến người khác! Tôi trở về phòng nghe lành lạnh đành mở sưởi lên. Thành vẫn chưa ngủ còn lo soạn chút ít đồ.

Nguyên Thảo,
12/01/2017.



*Bài Ca Buồn!

* Thơ Đồ Ngông!



*Lời Ca Vô Vọng!
Trong chiến tranh tàn khốc
Có nhạc sĩ da vàng
Ngồi hát trên đổ nát
Lại tiếng gào vang vang:

"Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ
để lại cho con
gia tài của mẹ
Là nước Việt buồn!..."  
       (Nhạc Trịnh Công Sơn)

Chiến tranh nơi nầy qua
Chiến tranh vùng khác đến
Đoàn người đi khập khểnh
Hối hả bỏ cửa nhà!

Bàn tay nào dắt mẹ
Bàn tay nào cho con
Vượt qua đồi qua núi
Cố níu lấy sống còn!

Những lời ca vô vọng
Không ngăn nổi hận thù
Những nỗi hờn thiên thu
Cứ bừng lên đột cháy!...

Đồ Ngông,
07-08-06.

 

*Vì Đâu?

Chẳng Chúa, chẳng Trời khởi chiến tranh
Cùng nhau lấy máu để tranh giành
Gây bao tang tóc cho dân chúng
Phá nát đời êm, giết mộng lành.

Đâu phải Trời, cũng chẳng Chúa tôi,
Ai gây chinh chiến khổ cho đời
Con người vốn khổ, càng thêm khổ
Cũng lại do người hận mãi thôi!

"Nhất tướng công thành, vạn cốt khô!"
Bao nhiêu người lính đến bên mồ
Bao nhiêu mạng sống đời dân giả
Thoáng chốc đi về cõi hư vô!

Chẳng Chúa, chẳng Trời tạo chiến tranh
Loài người che đậy, lẫn nhân danh
Tự do, dân tộc, cùng Tổ quốc
Cũng chỉ là do ở "tranh giành"!

Đồ Ngông,
07-08-06.

 

*Bài Ca Buồn.

Có những chàng nhạc sĩ
Đang hát bài ca buồn
Trên hoang tàn đổ nát
Cho cuộc đời thân thương.

Đàn Guy-ta trầm trầm
Dưới trời mưa lâm râm
Trên trời mây màu xám
Trong nỗi đau âm thầm!

Trời sanh ra chiến tranh
Hay bởi dạ con người?
Đã bao nhiêu tàn phá
Với bao người chơi vơi!

Chiến tranh đi và đến
Đem lại những xe tang
Máu xương và nước mắt
Lớp lớp nối hàng hàng.

Nhân loại đầy đau thương
Trong kiếp sống bình thường
Lại con người thêm sức
Khổ trở thành đại dương!

Đồ Ngông,
 05-08-06.




Thursday, December 22, 2016

*Lòng Vòng trên "Bắc Úc". (4)



Cũng như hôm trước, chúng tôi phải dậy thật sớm để lo chuẩn bị chuyến đi ngày hôm nay vì xe buýt của Tour du lịch sẽ đến khách sạn đón vào lúc 6 giờ sáng. Mặc dù đêm hôm ngủ trễ sau một ngày đi xa mệt mỏi, mà dù có “uể oải” thế nào thì chúng tôi cũng phải rang dậy sớm thôi: Nghĩ cũng lạ, chỉ mắc tại “cái tò mò” của mình, cùng “cái sướng” của con mắt mà mình phải bỏ tiền ra và hành hạ thân xác đến như thế này! Nói thế, chứ đi chơi ai lại không thích! Như tôi đã từng đùa với bạn bè trong vài chuyến đi: “Sao đi chơi (du lịch) vừa tốn tiền vừa mệt, thế mà người ta lại thích mới chết chứ: Thân xác cũng mệt, ăn uống cũng mệt, sửa soạn cũng mệt…, cái gì cũng mệt hết nhưng chỉ có mỗi: “Cặp mắt là sướng thôi”; “Dòm cho đã con mắt” mà bao nhiêu người đều chấp nhận, mà lại mê nữa chứ!”.
Xe buýt đến đúng giờ, 6 giờ 5 phút chúng tôi lên xe và xe chạy vòng qua các khách sạn khác để đón thêm vài hành khách nữa rồi chạy về chỗ tập trung như ngày hôm qua. Sau đó, ai đi tour nào lên xe buýt đó để chuẩn bị khởi hành. Hôm nay chúng tôi sẽ vào tham quan Kakadu National Park, vì vậy chúng tôi phải đóng thêm tiền vào cửa của Park là 40 đô, tiền đóng liền cho người sắp xếp chuyến đi.
Xe rời trạm trong thành phố Darwin vào lúc cỡ 6 giờ 20 khi trời hưng hửng sáng. Khi ra ngoại ô thì mặt trời đã he hé ở chân trời. Chuyến đi nầy cũng theo đường Stuart Highway, xuôi về phương Nam như ngày hôm qua. Nhưng khi qua Coolalinga thì đến ngã ba của Stuart Highway với Arnhem Highway thì chúng tôi phải rời bỏ đường Stuart để đi về hướng Kakadu National Park. Theo như tính toán thì hôm nay chúng tôi sẽ đi đoạn đường ngắn hơn ngày hôm qua vì từ Darwin đến trung tâm Kakadu khoảng chừng 251 km.
Xe buýt xuôi theo đường Arnhem Highway tức đường mang số 36 theo hướng đông nam. Dọc đường có những vườn xoài khá rộng lớn. Rất tiếc là chúng tôi không được vào tham quan ở những vườn xoài nầy xem họ trồng như thế nào, mặc dù tôi cũng có vài ông bạn từ Adelaide lên mua đất và trồng xoài ở trên nầy. Theo cái nhìn từ xa ở ngoài đường những vườn xoài nầy trồng ngay hàng thẳng lối giống như các vườn cây ăn trái khác. Tuy nhiên vườn xoài ở đây hình như đều được xén ngọn cho nên thấy chúng không cao lắm, phía trên tương đối phẳng và thấp. Lúc nầy xoài đang trổ bông nên thấy cây có đầy bông. Xe đến dòng sông Adelaide. Ở đoạn nầy sông Adelaide rộng như nhiều sông khác chứ không nhỏ như ở thượng nguồn mà chúng tôi đã ghé qua ngày hôm qua sau khi ghé vào nghĩa trang chiến tranh Adelaide River War Cemetery. Nhưng khu vực đồng cỏ rộng lớn kế tiếp dòng sông được hướng dẫn viên kiêm tài xế cho biết đó là vùng đất ướt, khi mùa mưa nhiều nước dòng sông ngập tràn qua vùng đất thấp ấy nên gọi là những vùng đất ướt. Khi tôi xem lại bản đồ thì dòng Adelaide sau khi đi qua Djukbinj National Park thì đổ ra biển với những khúc sông uốn khúc ngoằn ngoèo thật nhiều thì lượng nước lớn làm sao chảy thông cho được nên phải ối lại tạo nên vùng đất ướt ở nơi thấp là đúng rồi. Con sông Adelaide có tiếng về cá sấu dữ. Trước khi lên đây khoảng thời gian không lâu, truyền thông đã đưa tin có một người phụ nữ bị cá sấu cắn chết ở trên sông nầy. Ven đường kế bên sông có một doanh nghiệp trưng bày để hình cá sấu đang nhảy lên và lấy tên là Crocodile Jumping.
Xe tiếp tục đi về hướng đông nam khoảng chừng 54 km thì đến sông Mary. Sông nầy liên kết với một National Park khác được mang tên của nó là Mary River National Park. Chúng tôi đi thêm vài cây số nữa thì đến Bark Hut Inn, xe ghé vào để cho mọi người đi vệ sinh, ăn uống trước khi xe từ đây xuôi về hướng đông.
Ở Bark Hut Inn mọi người chỉ ăn nhẹ, điểm tâm, uống cà phê. Còn chúng tôi thì ăn bánh mì sandwich kẹp vài miếng thịt nguội sơ sài rồi ngồi nói chuyện giải lao. Thời gian ở đây được chừng nửa tiếng thì cũng dư chán. Người Thổ dân hiện diện nơi nầy khá nhiều, không biết họ làm gì nhưng ăn mặc tương đối tươm tất. Tới giờ mọi người lần lượt lên xe để tiếp tục lên đường.
Dọc đường, thỉnh thoảng có vài ổ mối cao, màu trắng đục, nhưng không nhiều như đoạn đường đi về vùng Katherine ngày hôm qua, nhưng ở khu nầy các cây được gọi là “little palm” lại có chiều cao cao hơn nhiều, có nhiều cây chắc cao hơn 3 hay 4 m. Điều đó chứng tỏ các cây ở đây có tuổi hơn là những cây ở vùng bên kia.
Còn rừng thì nhìn qua người ta đã thấy sự thoáng đảng của nó, vì chúng được đốt từng khu vực thường xuyên để tránh đi cuộc cháy rừng khủng khiếp xảy ra khi nhiều lá khô và cỏ đầy trên mặt đất. Cho nên vào mùa nầy chúng tôi thường thấy khói đốt rừng được bốc cao lên trên dọc chuyến đi. Các thân cây bị cháy xém thường đen đúa, nhưng những khu vực cây cối được hồi phục có màu xanh mơn mởn rất tươi mát. Đi chừng gần 40 cây số xe chúng tôi vào địa phận của Kakadu National Park. Lệ phí vào “park” với người lớn là 40, trẻ con là 25 đô cho thời điểm từ tháng Tư cho đến tháng 10; nhưng từ tháng Mười Một  đến tháng Ba giá người lớn là 25 và trẻ con là 12.5 đô. Đường sá vào trong “vườn quốc gia” nầy vắng xe cộ, không biết là ít người đến hay đường quá xa với thành phố cho nên người đến đây thường mướn nơi trọ cho tiện hơn. Như chúng tôi đi vào ngày hôm qua thật là “oải” vì phải thức rất sớm và về đến khách sạn thì quá trễ. Và ngày hôm nay thì cũng thế thôi, nhưng vì mình muốn biết thì cũng đành ráng, chỉ ráng trong vài ngày, chứ nếu nhiều ngày, có lẽ sẽ không chịu nỗi! Cây cối ở trong Vườn Quốc Gia nầy với mật độ nhiều và dầy hơn ngoài khu vực, nhưng cũng được đốt theo khu nhỏ để bão vệ cháy rừng to lớn, nên sự hồi phục của cây từng nơi cũng khác nhau: Nơi thì cây cối trở nên rậm rạp hơn, nơi thì mới hồi sinh, nơi thì mới đốt có còn khói lên nghi ngút từ những thân cây cháy dang dỡ.
Tài xế kiêm Hướng dẫn viên không thuyết minh nhiều nữa chỉ khi nào cần thiết hoặc đến những nơi đặc biệt thì anh ta giải thích cho mọi người biết về một vài loại cây, hoặc nơi nầy thế nào, nơi kia ra sao vào mùa nào. Với tôi thì tiếng Anh chỉ bấp bõm nên tiếng nghe được tiếng không, do đó “cái hiểu” thật là mập mờ và mình phải vận dụng đến suy đoán, tất nhiên là sẽ sai nhiều hơn là đúng. Nghĩ thật cũng buồn cười và tréo cẳng ngỗng cho đời sống lưu vong!
Xe đi khoảng chừng hơn 100 cây số nữa thì đến phi trường Jabiru (vào lúc 10.05 giờ) là nơi các máy bay chỡ người đi tham quan cảnh trên không của vùng công viên quốc gia Kakadu, nhưng không có vị khách nào xuống ở đây, tất nhiên là chẳng có ai tham dự phương tiện nầy. Xe vòng trở ra và chạy dọc theo con đường 21 tức là con đưòng Kakadu Highway để đưa chúng tôi đến trung tâm văn hóa của người Thổ dân Bininj ở đây có tên là Warradjan Aboriginal Cultural Center. Xe đến trung tâm vào lúc 10.50 giờ. Trung tâm nầy có hình dáng của một con rùa, nhưng lại có cái mũi của con heo. Chúng tôi vào cửa, khung cảnh bên trong hơi tối chắc người ta muốn trưng bày theo kiểu mờ mờ ảo ảo để đưa người tham quan về một cảnh tượng xa xưa và không cho chụp hình hoặc quay phim. Nhìn những dụng cụ đồ vật dùng để săn bắn hay bắt cá nầy, tôi chẳng những không nghĩ đến người Bininj mà lại nhớ đến thời thơ ấu cùng bạn bè đi dọc theo suối, đồng ruộng để bắt cá hoặc săn bắt vài con thú vật nhỏ. Những dụng cụ sơ khai đều có nét giống nhau dù bất cứ ở nơi đâu, người ta đều tận dụng những cái sẵn có ở chung quanh hay của mình để tìm thức ăn trong sự sinh tồn. Hình thức bắt cá từ lấy bùn ngăn ụ rồi với hai bàn tay để tát nước ra rồi tìm cá mà bắt, hoặc với cây nhọn để chĩa cá rồi tiến xa hơn dùng những vật dụng để làm bẫy hay lưới hoặc câu. Thì đây là khu vực để trưng bày lại những gì mà người Thổ dân (Dân địa phương) ở đây đã sinh hoạt trong hàng ngàn năm. Thời gian tham quan không lâu nhưng ít ra cũng làm cho người ta hiểu về cách sinh hoạt trong đời sống thường ngày mà người dân ở đây đã sinh hoạt, cũng như tôi lại được nhớ về những kỷ niệm của thời ấu thơ. Qua khu bán những đồ lưu niệm, chúng tôi nhìn xem có gì để mua không nhưng không chọn được gì, đành ra ngoài để đợi lên xe. Tài xế đưa chúng tôi đến Ngurrunggurrudjba, tức là Yellow water theo tiếng Thổ dân Bininj để tham dự vào “lông bông” trên du thuyền trong khu vực nước vàng.
Đoàn xuống du thyền và ổn định xong xuôi, du thuyền rời bến đúng 11 giờ 30. Thuyền chỉ chạy từ từ ra khúc sông của sông South Alligator, theo dự kiến là cuộc đi sẽ kéo dài trong 2 tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, thuyền chỉ nhởn nhơ trên vùng đầm lầy để người hướng dẫn viên vừa thuyết minh vừa hướng dẫn cho du khách có thể quan sát lẫn nhận thức về vùng đầm lầy cùng những sinh vật, chim chóc, cây cối hiện hữu ở đây. Cá sấu cũng là đề tài được người hướng dẫn đề cập đến, lẫn phân biệt cá sấu vùng nước ngọt và cá sấu vùng nước mặn khi cá sấu hiện diện ở mép nước được mọi người ồ lên phát hiện. Những khóm hoa sen, hay hoa súng ven đường nước đều lạ với người Úc, còn đối với tôi không có gì là lạ cả, nhưng cái cảnh đầm lầy nầy còn hoang sơ chưa được khai phá thành những ruộng, vườn để canh tác cho nên chim cò, vịt nước và nhiều loài chim khác lớn nhỏ hãy còn ung dung lặn lội để kiếm ăn. Xa xa kia có vài con ngựa tha hồ gặm cỏ, không biết đó là ngựa hoang hay ngựa người ta nuôi. Có những cụm khói bốc lên cao ở nơi chân trời phía đông mà người hướng dẫn viên cho biết là nơi đó đang đốt rừng trong mùa nầy để tránh hỏa hoạn lớn vào mùa khô. Đó là bụi dứa dại, chắc cũng là lâu năm lắm, tuy nhiên dứa ở đây lá không có gai như dứa ở bên quê mình. Thuyền lênh đênh trên khúc sông mà trên bờ có nhiều loài giống như các con vịt nhỏ đang trú nắng và ầm ỉ kêu lên rối rít, mặc cho cá sấu nằm yên mà mồm luôn há hốc. Mọi người chụp hình lia lịa như để ghi lại hình ảnh lâu ngày mới thấy. Cánh đồng ở hai bên bờ sông hãy còn hoang sơ: Lau, sậy, đưng, lác, cỏ ống, rau dừa, sen súng… chen chúc đua nhau mà mọc. Thuyền đi qua đoạn rộn rịp đó thì cũng đã hơn tiếng rưỡi đồng hồ, nên người lái cho thuyền quay về đi vào một cái ụ khác để từ đó quan sát cánh đồng mênh mông hơn với nhiều loại chim đang tìm ăn, và nơi nầy thường có cá sấu xuất hiện. Có con chim đậu trên ngọn cây khô chết đã lâu mà hướng dẫn viên cho biết đó là loài chim quý hiếm của vùng Kakadu. Ở Kakadu nầy, người ta thống kê có một số lượng lớn về các loài như chim thì có hơn 280 loài; loài có vú khoảng 74, loài nước ngọt trên 50; khoảng hơn 10,000 loài côn trùng; với khoảng 117 loài bò sát, 25 loài ếch nhái cùng 1,700 loại cây cối. Đến hơn 1 giờ trưa hướng dẫn viên cho du thuyền quay về bến. Thuyền vừa quay ra đến bãi bùn mọi người thấy con cá sấu thật lớn vừa la lên vừa thích thú cùng chụp hình, quay phim lia lịa. Thuyền vào đến bến cũng không đến đỗi là trễ lắm. Mọi người lần lượt đi lên để vào căng-tin xếp hàng lấy thức ăn cho buổi ăn trưa.

Nguyên Thảo,
18/12/2016.


Sunday, December 11, 2016

*Nghĩ Ra...!


Nghĩ ra cũng thật là vui
Chuyện đời lên xuống như trâu về chuồng
Trâu nuôi cho béo kéo cày
Làm thân tôi mọi để thay cho người
Ách lên trâu cứ một đường
Đường đi tới trước, chớ sang bên nào
Mặc dù sóng động lao xao
Trâu luôn, lại vẫn, cũng là…thân trâu!

Đồ Ngông,
11/12/2016.



*Đường Trần!


Đường trần gian khó nói
Một thế giới lọc lừa
Đi tìm trong nhức nhối
Chỉ lại là lưa thưa!

Bao năm dài mòn mỏi
Lặn lội khắp nơi nơi
Trên bước đường dong ruổi
Chỉ thấy chán cuộc đời!

Cho tôi xin cuộc sống
Của một sớm bình yên
Làm chút quà bay bổng
Tặng đến khắp mọi miền!

Nguyên Thảo,
11/12/2016.


Thursday, October 20, 2016

*Quê Người. (14)



Sang ngày thứ bảy đầu tiên trên đất Úc, sau khi ăn sáng ở căng-tin xong, chúng tôi còn dư một lát bánh mì sandwich nên đem về phòng cho mấy con hải âu ăn. Tôi chỉ mới biết các con hải âu mấy ngày nay vì từ trước đến giờ chưa bao giờ thấy chúng mà chỉ nghe nói đến thôi. Loài chim nầy có bộ lông láng đẹp với hai màu trắng và xám, thân hình gọn gàng, chân có màng nối nhau như các ngón chân của vịt. Chúng lảng vảng đầy khu nầy nhất là khi người ta xé nhỏ miếng bánh mì quăng lên, chúng bay giành nhau la ỏm tỏi, trông cảnh nầy cũng vui. Giữa người và vật như có một sự thân thiện từ lâu. Cảnh nầy khó thấy được ở quê mình! Chim rất dạn dĩ, tôi bắt chước người ta xé một miếng bánh mì nhỏ cầm ở tay đưa lên cao, chim liền bay đến “xớt” một cánh nhanh nhẹn, làm cho mình cũng thấy hay hay. Tôi, Thành, Bác Vỹ, Bác Phương còn đứng bên ngoài phòng gần lộ nói chuyện với mấy người qua cùng chuyến thêm một lúc nữa thì định vào phòng để làm vài công việc, nhưng đúng lúc ấy thì có anh bạn lại đến. Anh bạn hỏi:
-Hôm nay ngày thứ bảy, có chợ “secondhand” có ai muốn đi không?
Chúng tôi ngơ ngác chẳng biết chợ “secondhand” là chợ gì? Bác Vỹ hỏi: “Chợ “secondhand” là chợ gì? Anh bạn trả lời: “Chợ secondhand là chợ bán ngoài trời, bán đồ cũ đó; đến thứ bảy người ta mới bán. Bữa nay có ai muốn đi không”? Bác Vỹ, Bác Phương nói mắc bận không đi. Thành hỏi tôi đi không? Tôi chần chừ không muốn đi vì mình đâu có tiền mà đi chợ, nhưng nghe nói đến chợ bán đồ cũ, ngoài trời thì nghe lạ cho nên cũng tò mò muốn đi cho biết. Ngày xưa khi còn ở Việt nam trước 30/4/75 có lần tôi và vợ tôi đi xuống Sài Gòn đến chợ Khu Dân Sinh Sài Gòn gần chợ Cầu Muối, là nơi bán đồ cũ để cho biết và mua chút ít đồ. Chỉ lần đó thôi, nay lại nghe đến chợ bán đồ cũ mà ở ngoài trời, nên sự tò mò của tôi lại thúc đẩy tôi muốn đi. Tôi hỏi anh bạn: “Chợ ở đâu, xa hôn?”. Anh bạn nói: “Gần đây, khoảng chừng một cây số”. Tôi, Thành quyết theo chân anh bạn đi chợ “secondhand”. Ngày thứ bảy ở nơi nầy xe không nhiều. Tôi thấy lạ quá nói: “Ủa Thứ Bảy mà xe cộ không nhiều he?”. Anh bạn chỉ cười: “Nơi nầy nó vậy!”. Chúng tôi đi băng qua các mấy ngã ba theo sự hướng dẫn của anh bạn. Cuối cùng chúng tôi cũng đến được chợ “secondhand”. Qua cổng thấy người ta ra vô nhanh nhẹn, người ra thì xách ít đồ, xe cũng ra vô đều đều. Anh bạn dẫn vào đầu hàng: “Rồi ai đi đâu thì đi nhen, nhớ đường về không?”, “Nhớ!”. Thế là mạnh anh bạn anh bạn đi, tôi và Thành cũng đi rảo lòng vòng. Một hồi, tôi thấy chán quá vì mình chỉ “dòm” thôi, chứ có mua được gì đâu, vì có tiền đâu mà mua, nên tôi đòi đi ra, thằng Thành còn muốn đi nữa. Tôi đành ra ngoài đứng nhìn xung quanh, khu chợ nầy lớn thiệt, nhiều hàng bày bán trên quầy có, trên đất có. Nhiều dãy như vậy. Đồ bán đa số đều là đồ cũ, có một số ít đồ mới, giá cả tương đối là rẻ, bình dân, nên người ta đến đây đông thiệt. Đứng một lúc, tôi nghe mỏi chân đành kiếm chỗ ngồi. Có anh bạn Việt Nam nhìn tôi đang ngồi trên đường viền của bồn bông. Như hiểu ý anh bạn rủ tôi đến ngồi chung: “Hình như anh mới qua phải không?”, “Ừ! Mới qua hôm thứ năm vừa rồi”. “Từ trại nào?”, “Mã Lai”. Thế là câu chuyện chúng tôi được tiếp nối của người tha hương với nhau. Anh bạn đến đây được vài năm trước, bây giờ đang làm ở “farm” dâu trên núi, có vợ là người Tây. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Ủa, cái chợ nầy sao có khu đất rất rộng, mà lại có cái màn gì lớn quá chừng ở đằng đó giống như cái màn chiếu bóng vậy mà đất thì không làm cho bằng?”. Anh bạn tôi giải thích: “Đây không phải là chỗ bán chợ mà là một cái sân chiếu bóng ngoài trời. Người đi coi ngồi trong xe hơi. Màn trắng lớn đó là màn ảnh. Người ngồi trong xe đậu trên những vòng mô, có cái loa ở mấy trụ gần đó để người coi nghe âm thanh. Người ta mượn chỗ nầy để bán đồ cũ vào ngày cuối tuần để vừa mua vừa bán cho vui”. Như vậy, tôi cũng hiểu được chút ít về sự sinh hoạt xứ nầy. Đúng là “học một sàng khôn”! Nói chuyện lai rai tôi đang ngồi nhóng thằng Thành.
Bỗng tôi ngạc nhiên, dụi mắt nhìn phía trước, không lẽ là thằng Trọng! Nó tiến gần đến tôi: “Mầy là thằng Thạch phải không? Ủa mầy tới hồi nào vậy? Mầy đi hồi nào? Đi với ai?”. Trọng hỏi dồn dập, tôi không kịp trả lời. Tôi chỉ nói tôi tới đây với thằng Thành, nó hỏi tôi thằng Thành đâu? Tôi chỉ vào trong chợ: “Nó còn lội kiếm cái gì đó, tao lội một hồi chán quá, ra ngồi ở đây đợi nó”. Tôi giới thiệu anh bạn mới quen với Trọng, rồi nói chuyện qua loa. Đúng vào lúc ấy thằng Thành lại ra tới. Trọng hỏi nó mua được gì? Nó nói: “Mua được cái đồng hồ ba đô, tiền ở Besi còn chút ít nên mua cái đồng hồ cho biết giờ”. Trọng nói: “Tao không ngờ gặp tụi bây ở đây?”, rồi câu chuyện xoay quanh tới chuyện vượt biên và những thằng bạn ở Việt Nam. “Thôi ra xe, tao chở về nhà tao chơi, xong chiều tao chở về Pennington”. Pennington ở đây là cách nói tắt của trại tiếp cư, vì nó nằm trong khu vực của khu Pennington. Tôi, Thành, Trọng từ giã anh bạn rồi đi đến chỗ đậu xe của thằng Trọng, cùng nhau lên xe nó đưa về nhà. Lên xe nó hỏi tôi vài điều về thời gian đi vượt biên và đi ở đâu? Rồi nó nói nó mướn nhà ở chung với người bạn, tôi hỏi ai? Nó nói: “Thì với bà Yến chứ ai?”. Yến cũng là cô giáo ra trường sau tôi chừng hai khóa, về Tân Khánh dạy, ở trọ nhà của Bác Tư tôi kế bên nhà tôi, nên cũng chẳng là lạ gì! “Nhưng hồi trước tao nghe nói bà Yến đi phía bắc nước Úc, còn mầy đi phía nam mà, tao lại tưởng mầy ở trên Melbourne, chứ đâu phải ở đây. Ai dè lại gặp mầy ở đây”. Chúng tôi cùng phá lên cười! Trọng nói: “Thôi để tao chạy vòng xuống đây mua vài bịt tép để đem về bà Yến làm bánh tráng ăn”. Nói xong nó lái xe chạy thẳng qua cầu rồi chạy đến một cái tiệm bán đồ câu cá. Tôi, Thành ngồi ngoài xe đợi nó. Khi trở ra nó bỏ mấy bịt tép lên xe rồi nói: “Tép ở đây tụi Tây nó bán để làm mồi câu cá, nhưng gặp mình mua về để kho hoặc làm bánh tráng cuốn ăn chơi” rồi mấy đứa xúm nhau cười!
Về đến nhà, Trọng đậu xe vào chỗ đậu, dẫn tôi, Thành vào một căn phố dưới tầng trệt, vừa vào cửa, thằng Trọng la lớn: “Em ơi! Ra coi ai nè!”. Bà Yến chạy ra: “Ủa, anh Thạch, thằng Thành nữa, qua hồi nào vậy?”. Câu chuyện chúng tôi xoay quanh những vấn đề hỏi han về chuyến vượt biên, lúc nào, ở đâu, đi như thế nào, bao lâu. Mọi chuyện chúng tôi cùng kể cho nhau nghe. Trọng chỉ mấy thùng khá lớn còn dang dở, rồi nói: “Hai bà mệt quá mầy ạ, cứ gởi bên nây một thùng là bên kia một thùng; bên kia một thùng thì bên nây một thùng” rồi tiếp theo “bên nây một thùng, bên kia một thùng; bên kia một thùng, bên nây một thùng”. Tôi nghe đến đây cảm thấy lùng bùng lỗ tai vì điệp khúc của nó, nhưng cũng là một sự rắc rối cuộc đời khi mình phải cưu mang. Không biết đó là điều hay hay là cái nghiệp chướng phải cân bằng khi có đến hai bà. Đây là lần thứ nhì tôi được nghe về trách nhiệm khi có hai vợ. Lần trước, cũng sau thời gian 30/4/75 khi ông Dượng Hai của tôi mất ở xã Bình Chuẩn, trong đêm đó tôi ở lại ngoài đám ma thì có vài ông thanh niên ngồi kể về một lái bò (mua bò để bán) không đẹp người, lại có tiếng nói khao khảo, thế mà cứ mỗi ấp thì ông ta có một bà vợ lại thêm ở xã kế bên có thêm hai ấp nữa, như vậy vị chi ông ta ở với sáu người đàn bà hay là sáu bà vợ. Mấy ông thanh niên khen đáo để. Ngồi trong bàn có ông Năm Đổi không nói gì. Hồi lâu, ông hỏi: “Vậy tôi hỏi mấy chú, ổng hay hay dở?”. Mọi người đều nói : “Hay, không hay làm sao được như vậy!”. Tôi ngạc nhiên khi ông Năm Đổi phân tích: “Tôi nói thiệt với mấy chú, không hay đâu. Mấy chú biết mà, tôi có hai vợ chứ. Một tuần tôi phải đạp xe xuống bà nhỏ một lần. Ở bên nây mấy ngày, sang bên kia mấy ngày, rồi còn nhiều chuyện khác mệt lắm. Tôi nói như vầy cho mấy chú biết. Giả sử như tôi có tiền mua được một kí thịt. Nếu đem về một bên hết thì không được, mà chia đồng hai bên thì mỗi bên chẳng được bao nhiêu. Khó xử lắm mấy chú à!”. Mấy ông thanh niên ngồi êm ru, bàn sang chuyện khác. Còn tôi được học bài học đầu tiên, hôm nay thằng Trọng dù không nói gì, nhưng qua câu chuyện khiến cho tôi có nhiều suy nghĩ. Tôi thương con thì tôi phải định được hướng mình sẽ đi trong tương lai!
Chị Yến đã luộc bún, tép, làm nước mắm xong xuôi. Trọng đi lấy bánh tráng để nhúng, rồi bọn chúng tôi cùng Cô Hường (vợ Kiệt) là gia đình qua chung một chuyến bay với Trọng cũng từ Sungai Bési sang, cùng chia phòng nhau khi mướn căn phố nầy. Phố lầu được gọi là “Flat”, căn nhà nầy gọi là “Unit”, có hai phòng ngủ. Vợ chồng Kiệt và đứa con một phòng; Trọng, Yến một phòng để cho nhẹ tiền. Ăn xong, chúng tôi còn ngồi lại tâm tình khá lâu vì lâu ngày không gặp lẫn nhau dù chưa đầy một năm, nhưng có rất nhiều chuyện biến đổi lớn trong cuộc đời! Trọng kể: “Sáng hôm nay thức dậy nghe mệt mỏi không muốn đi làm, cho nên tao nói với bà Yến bữa nay nghỉ. Không biết làm gì nên rảnh rang đi ra chợ trời mua vài con chim nuôi chơi”. Hèn chi, khi từ trong chợ trời ra, Trọng xách cái lồng có hai con chim nhỏ.
Mãi đến gần 5 giờ, Trọng chỡ tôi và Thành về Pennington để chúng tôi sửa soạn đi căng-tin ăn bữa ăn chiều. Ở đây, xã hội cấp tiền hàng tuần khoảng gần 62 đô nhưng ăn uống, tiền mướn người dọn dẹp phục vụ cho chúng tôi, tiền ở, điện nước sẽ khấu trừ vào số tiền phụ cấp, còn dư ở văn phòng sẽ phát cho chúng tôi sau, khi đúng được một tuần. Đó là giúp cho người mới tới trong tuần đầu tiên, chứ đúng ra phải là mỗi 2 tuần mới được lãnh tiền!

Nguyên Thảo,
20/10/2016.