Thursday, August 17, 2017

*Đường Đến Băng Hà. (3)



Hôm nay là ngày đầu tiên chúng tôi khởi hành đi “Băng hà”, lòng tôi có nhiều háo hức và lâng lâng niềm vui, vì từ nhỏ cho đến bây giờ mình chưa bao giờ được tiếp xúc với băng hà, có chăng là qua phim ảnh đã được coi trên truyền hình, hay ở phim tài liệu hoặc sách vở. Những kiến thức trong các môn học vạn vật hay địa lý ở trường lại hiện về: “Băng hà” là tiếng Hán Việt để chỉ cho “dòng sông băng” mà chúng được kết tụ từ trong thung lũng ở trên núi cao do tuyết nén nhau tạo thành “băng” (nước đá), mỗi năm càng nhiều, rồi với trọng lực chúng theo đường hẽm núi mà di chuyển dần về phía dưới thấp với vận tốc rất chậm, mũi nhọn đi đầu được gọi là “lưỡi băng hà”; để rồi đến ngày nào đó “lưỡi băng hà” di chuyển đến nơi mà nhiệt độ cao khiến chúng tan chảy thành nưóc tạo thành những dòng đi ra sông biển vùng đó gọi là “vùng băng tan” để những đá sỏi nặng hơn mà chúng đã bào mòn, lôi cuốn trên đường đi nằm lại ở đó thành những bãi đá sỏi.
Chúng tôi được báo thức từ lúc 6 giờ sáng, nhưng tôi và anh Thới đã dậy sớm hơn cùng nhau uống cà phê tán gẫu, rồi đi ăn sáng ở phòng ăn của khách sạn. Đến 7 giờ 40 thì đem hành lý xuống để tài xế chất lên xe và đúng 8 giờ thì khởi hành.
Theo sơ đồ đường đi mà công ty du lịch cung cấp: Hôm nay chúng tôi sẽ rời Vancouver đi theo đường Quốc lộ 1 để sang Golden. Điều nầy Vincent có thuyết minh cho chúng tôi cả nửa tiếng đồng hồ trên xe. Nhưng với trình độ tiếng Anh “bấp bõm” mà tôi không thể hiểu được nhiều! Vincent là người đã có nhiều kinh nghiệm trong việc hướng dẫn du lịch, nên ông ta biết pha trò khiến mọi người cười thoải mái trên các khoảng đường xa. Lần đi nầy, do tập họp được nhiều nhóm người từ các tiểu bang, mà qua đó đoàn chúng tôi mới thấy tiếng Anh của đoàn mình không khá lắm, ngoại trừ anh Hiệp vì anh làm nghề Thông dịch trong nhiều năm, nên chúng tôi thường dựa vào anh ở nhiều phương diện. Còn các đoàn khác đa số thì họ trẻ và được kinh qua trường học, hoặc những người dù già nhưng đã có vốn tiếng Anh giỏi từ trước.
Tôi chỉ hiểu loáng thoáng về câu chuyện cá “Salmon” mà Vincent đã kể trên đoạn đưòng nầy, ông kể cuộc sống và sự sinh sản của cá “Hồi”, thật là ông đã đọc tài liệu rất nhiều khiến tôi cũng học được chút ít. Cá Hồi là loại được sinh sản từ trên vùng núi cao, nước cạn. Khi đẻ xong cá mẹ lại phải chết và cá con nở ra sống trong vùng nước ngọt, rồi theo dần dòng nước đi vào sông, lúc đó người ta chỉ gọi là “Trout”. Ra đến cửa biển chúng sống ở đó cả năm để làm quen với nước biển. Sau đó thì ra đại dương vùng vẫy đến những vùng thật xa của đại dương, có khi xa đến cả mấy ngàn cây số. Lúc ở đại dương người ta gọi chúng là “Salmon”.
Vincent kể đến đây thì xe đã đến Hope là một thị trấn nằm ở phía đông của Vancouver, cách khoảng 154 cây số, ở đây là hợp lưu của hai con sông Fraser và Coquihalla. Xe vào bến để chúng tôi xuống nghỉ ngơi và đi vệ sinh. Tôi cùng mọi người đánh một vòng quanh đó và thu được vài hình ảnh của Hope. Ở đây có nhiều trụ được gọi là Totem Poles đặt ở nhiều nơi để trang điểm cho đường phố cùng đánh dấu cái lịch sử của nó qua thời gian. Hope được xây dựng gần sông và núi nên có vẻ nên thơ, khí trời vào Xuân hãy còn lành lạnh đối với chúng tôi, nhưng vào mùa Đông chắc là buồn lắm. Tôi đi vào vườn Nhật và ở đây tôi thử “selfie” để xem thế nào.
Nghỉ nửa tiếng, rồi chúng tôi lại lên xe tiếp tục cuộc hành trình vào lúc 10 giờ 15 trên con đường mang số 5, chứ không phải số 1 nữa. Sau vài câu chuyện vui vui, Vincent lại tiếp tục chuyện cá hồi và xe đang trên đường số 5 để hướng về Kamloops.
Cá hồi lại vượt biển về lại cửa sông mà nó đã đi ra để làm quen với nước lợ, cũng cả năm trời; rồi lại vượt nước đi về nguồn nơi mà nó xuất phát, để rồi đẻ trứng và lại chết. Vincent kể chi tiết khá nhiều như là ông đã đọc, nghiên cứu tài liệu về cá hồi nhằm chia sẻ kiến thức với những người đi tour du lịch như chúng tôi. Nhưng cũng chính vì vậy mà chúng tôi không cảm thấy mệt mỏi trên những đoạn đường dài hay những đoạn đường nguy hiểm vì chúng tôi mãi mê theo dõi điều ông kể, đồng thời lại được hiểu biết thêm đôi điều. Đôi khi ông chỉ theo cái hướng của đồng hồ để ông giải thích ngọn núi, vùng gì đó mà mọi người cần nên biết như: 9 giờ là phía tay trái của chúng tôi, 3 giờ là phía tay phải, 11 giờ là phía tay trái xéo về phía trước chẳng hạn. Sau chuyện kể về cá hồi ông lại chiếu phim về đời sống của cá để chúng tôi theo dõi nhằm bổ sung kiến thức. Tại sao ông lại nói về cuộc sống của cá hồi? Vì Canada có hai biểu tượng mà đi đâu cũng thấy là “Gấu” bắt “Cá hồi” để ăn, ngoài “chiếc lá” của cây phong (maple) trên lá cờ của xứ ấy.
Trên đoạn đường nầy chúng tôi đã thấy có nhiều đỉnh núi có tuyết phủ cùng những vùng tuyết tuột xuống theo những eo hẹp của sườn núi mà người ta gọi là “avalanche”. Màu xanh của núi rừng, màu trắng của tuyết làm tương phản màu sắc của thiên nhiên và cảnh đầu núi đầy tuyết trắng cùng vách đá màu đen sẫm vươn lên nền trời xanh với những áng mây làm nên cảnh đẹp mà tranh ảnh đã thể hiện rất nhiều ở những nơi xứ lạnh. Đến đây rồi tôi mới cảm nhận được cái đẹp của nó!
Cảnh rừng, núi, tuyết, bầu trời, mây.

Ngồi trong xe mà tôi cứ ráng quay máy về những hướng ấy để thu lấy hình ảnh, nhiều người không hiểu tôi thu lấy để làm gì, có người gọi đùa tôi là phóng viên. Nhưng tôi đã thú thật với các bạn rồi: “Tôi thích quay các cảnh trên đường đi hơn”! Vì thế trong nhiều chuyến đi trước kia tôi cứ mãi mê cảnh bên ngoài, dọc đường; nên khi đến các di tích, hay cung điện chính thì máy đã hết “pin”. Từ đó tôi phải học lấy kinh nghiệm nên thường sau nầy tôi phải lo “đạn dược” đầy đủ cho dư chứ không thể thiếu. Có một lần tôi đi vòng đảo Đài Loan quay thật nhiều, nhưng khi về Hoa Liên thì máy bị hư hoàn toàn, thế nên trong chuyến ấy tôi bị mất hầu hết, chỉ trừ một số hình ảnh còn lại trong máy chụp hình! Thật là uổng công toi!
Cảnh núi tuyết hấp dẫn thật! Tuyết rơi đầy trong rừng thông, không biết đây là loại thông, tùng hay bách, nhưng dáng nhọn và cao thẳng lên, mà theo kiểu nầy, tuổi chúng chắc thật là cao, vì ở xứ lạnh có tuyết tất nhiên mỗi năm chúng chẳng lớn và được cao là bao nhiêu, nên với tầm cỡ như vậy chúng có thể lên đến hàng những trăm năm. Tôi cố nhìn thẳng vào trong rừng vẫn thấy tuyết đầy trên mặt đất, nhưng ngộ một điều là ở tại gốc nó không có tuyết, không biết là do tàng lá che chắn mà tuyết không đến được hay là trong gốc ấm hơn nên tuyết đã tan, ngay cả những cây nhỏ cũng vậy. Nơi nầy không xa với Hope, chỉ hơn độ nửa giờ xe chạy, chắc nơi đây là vùng Coquihalla Summit Recreation chăng?
Qua đoạn đường đó thì không còn thấy núi có tuyết nữa và có nhiều khoảng đồng bằng trống, tuy nhiên sự trồng trọt, canh tác không có nhiều. Đến khoảng 12 giờ 10, xe chúng tôi đến một thị trấn tương đối đông đúc, phồn thịnh nằm ở trong thung lũng kia. Vincent cho biết đó là Thành phố Kemloops là nơi hợp lưu của hai sông Nam, Bắc Thompson. Ở đây chúng tôi sẽ ghé thăm nơi bán và trồng sâm. Tức là một “farm” sâm!
Kamloops cách Vancouver vào khoảng 354 km đường xe chạy, có số dân hơn 90,000 người, là một Thành phố lớn với diện tích gần 300 km2. Chúng tôi băng qua thành phố và đến văn phòng của nhà máy chế biến sâm: “Ginseng Farm” để tham quan. Ở đây mọi người được cho uống thử nửa ly trà sâm, và được hướng dẫn đi đến những container đang sấy sâm cho khô, rồi sau đó mới vào trong “shed” để các người có trách nhiệm thuyết về cách trồng trọt, thời gian và thu hoạch sâm qua các bức tranh giới thiệu treo trên tường. Cuối cùng thì đi vào nơi bán để ai muốn mua thì mua từ kẹo sâm, râu, bột cho đến những củ sâm đắt tiền. Mua về để làm quà hay làm tốt cho sức khoẻ của người già. Một điều khiến tôi nghĩ đây là một công ty của người Trung Quốc hoặc sáng lập, hoặc họ mua lại vì toàn bộ nhân viên đều nói tiếng phổ thông Trung Quốc. Từ giã farm sâm chúng tôi lên xe đi ăn trưa ở một nhà hàng Tàu.
Sang đến 2 giờ 10 chúng tôi lại lên xe tiếp tục cuộc hành trình. Đường đi bây giờ không là đường số 5 nữa mà là đường 1 tức là nối trở lại đường Trans-Canada Highway để đi qua Salmon Arm  chạy dọc theo bìa hồ Shuswap rồi qua Sicamous để đến Craigellachie, mà nơi đó có một đài tưởng niệm 100 năm ngày đóng cây đinh cuối cùng cho việc hoàn thành đường rầy xe lửa xuyên Canada vào ngày 7 tháng 12 năm 1885. Ở đây có gian hàng bán đồ lưu niệm cùng với địa điểm, dấu hiệu hướng dẫn cây đinh đường rầy cuối cùng để cho du khách biết, và cây đinh đó được đóng xuống do nhà tài chánh của dự án đường rầy là Donald Alexander Smith qua hình ảnh còn lưu lại. Và chúng tôi vừa tham quan vừa nghỉ ngơi, vừa tránh cơn mưa nhỏ ở đây cho đến 4 giờ 45 thì lại lên xe buýt để lên đường tiếp tục.
Xe chạy dọc theo bờ hồ Three Valley. Cuối bờ hồ có một “Chateau” rộng lớn mái đỏ chót mà Vincent giới thiệu đó là một cái khách sạn lớn với 200 phòng ngủ. Rồi xe lại băng qua thành phố Revelstoke đi vào những khu rừng núi, lúc đó đã quá 5 giờ. Đến chừng 6 giờ đoàn chúng tôi đã đến nơi len giữa hai dãy núi mà Vincent cho biết đó là Roger’s Pass. Hai bên dãy núi nhiều núi cao và phủ tuyết khá nhiều. có những nơi tuyết đổ xuống cùng với đất trông rất dơ, có nơi lan ra tới ngoài đường.
Núi tuyết và tuyết tuột (avalanche)
                                                     
Vincent cho biết mấy hôm trước đất chuồi ở khu vực nầy và người ta mới dọn dẹp xong. Tôi mới nhớ ngay sáng sớm hôm sau ngày đặt chân đến Canada tôi muốn coi thời tiết nên mở truyến hình để xem thì có tin tức báo ở Québec bị lụt lội nước dâng lên đến mức báo động, còn ở Bristish Columbia thì có đất chuồi nhưng tôi chẳng biết nơi nào, thì ra lại là nơi nầy.
Hiện tượng đất chuồi (landslide)

Thế là chúng tôi hãy còn hên vì không bị trở ngại nào cả. Qua khu vực nầy Vincent nhắc mọi người lấy lại giờ của đồng hồ vì qua múi giờ khác của Tỉnh Alberta.
Đường xe lên cao nhìn sang bên phải một khung cảnh núi tuyết sáng rực lên và đẹp đẻ khiến mọi người đưa máy hoặc phone lên mà chụp lia lịa, còn tôi thì cứ thế mà quay, khi nào hứng chí thì chụp vài bôi hình. Rồi trên độ cao đó xe lần về hướng đông, núi có tuyết giảm dần để rồi chúng tôi về đến khách sạn Prestige ở Golden vào lúc hơn 8 giờ (giờ địa phương). Và sau đó chúng tôi đi ăn tối tại nhà hàng Kicking Horse Palace cũng gần đó.

Nguyên Thảo,
10/8/2017.



*Vịnh Thơ Ngông.



*Khích Bác.     

Có kẻ thường hay khích bác người
Muốn người "nổi trận" để coi chơi
Đôi khi đứng thủ ngoài vòng chiến
Đợi lúc người suy "đoạt món lời".

Có người thấy "Tưởng thế cô đơn"
Dùng trí đa mưu khích bác người,
Sẵn tánh anh hùng, người "nổi máu"
"Con cờ lợi dụng" khác gì hơn!

Lại lũ hèn kia chẳng dám làm
Đem lòng xui giục đứa lòng tham
Tham danh, tham vọng, tham tiền bạc
Mắc phải mưu thâm, thay hắn làm!

Ôi đời! sao lắm người gian thế!
Chỉ muốn mượn người để lợi ta
Lời ngọt, ý thâm luôn thúc đẩy
Lợi là y, chết lại là ta!

Đồ Ngông,
25-4-02.



 
*Ông Là Ai?    

Hỏi vậy, nhưng tôi đã biết rồi
Vì ông chưa tới, đã mùi hôi
Hầm cầu ông khuấy, vương hơi khói
Nhà cửa ông châm, lửa bắt mồi.
Cứ tưởng đem tài ra góp sức,
Ai ngờ nhân cách hóa ra tồi.
Ông về xem lại bao kinh Phật,
Kinh Thánh từng trang hối lỗi thôi!

Đồ Ngông,
12-08-02.

 

*Ông Là Gì?   

Ông tưởng dân ta: "Một lũ ngu?"
Tha hồ ông quậy đến chổng khu,
Hội đoàn ông móc ra từng lão,
Một nhóm người khen lại chống dù.
Lãnh đạo tinh thần ông chẳng kể,
Dân đen, viên chức coi như mù.
Tha hồ ông múa gậy vườn hoang,
Chỉ tội dân ta tại xứ người.

Đồ Ngông,
12-08-02.

 


*Vịnh Thơ Ngông.

Ngồi buồn viết bậy mấy thơ ngông,
Lấy chữ, danh từ chất khoảng không
Phản kháng, xấu người cùng xấu nết,
Xuôi theo, đẹp bóng lẫn đẹp lòng.
Tài hèn sức kém nên đôi chút,
Sự lớn, đời to cũng khó mong.
Thơ vạch thói đời bao cái xấu,
Quét người lại quét cả thằng ngông!

Đồ Ngông,
14-08-02.



Saturday, August 5, 2017

*Khi Hoa Anh Đào Nở! (4)



Dù lỡ rồi, nhưng sáng khi dậy sớm (từ lúc 5 giờ) tôi cũng cầm máy để quay một vòng cảnh gần nửa thành phố Osaka vào ban đêm với không nhiều ánh đèn, để gọi là kỷ niệm cái thành phố đầu tiên mình đến khi đặt chân lên đất Nhật. Xong, tôi sửa soạn chuẩn bị những gì cho chuyến đi ngày hôm nay. Rồi một lần nữa cũng không quên cầm máy quay lại cái góc độ có Thành Osaka đẹp đẻ ở phía công viên, vườn tược bên kia sông khi trời sáng. Từ phòng tôi nhìn xuống là dòng sông O (O river), có cầu cho những người đi bộ sang công viên để tập thể dục; kế bên đó là một sân vận động thì phải, vì nó có những trụ đèn của nhiều bóng đèn cực mạnh để chiếu sáng về ban đêm. Tiếp đó là những tàng cây che cả một vùng rộng lớn, mà trung tâm của nó là Thành Osaka. Dọc hai bên sông O, người ta trồng nhiều cây anh đào đến nay hãy còn nhiều bông. Từ cầu đi qua là Osaka Jo Hall, và phía sau trên gò cao đó là Thành Osaka. Nó đứng sừng sững duyên dáng, nhưng không kém hùng tráng, thanh tao.
Và rồi, mọi người lần lượt kéo nhau xuống phòng ăn để ăn sáng khá sớm, vì sau đó hầu còn có nhiều thì giờ lo vài chuyện nữa, trong đó có việc vệ sinh cá nhân và thủ tục trả phòng. Với thời gian chờ đợi sự kiểm phòng của nhân viên trong khách sạn hơi lâu, nên chúng tôi lần ra bờ sông đi dọc theo những hàng cây anh đào mà chụp vài bôi hình, hoặc quay những cảnh nào mình thấy ưng ý để sau nầy ngồi xem lại như kỷ niệm của một lần đi.
Xe buýt đến, chúng tôi chuyển hành lý cho tài xế chất lên xe. Đoàn bắt đầu lên đường từ lúc 8 giờ 15. Cái thú của tôi lại là quay phim những phong cảnh dọc đường để nhìn cảnh nơi xứ người và phỏng đoán cái cách sống của người dân. Xe chạy trên đường tốc hành (không có đèn dừng lại) và chắc là đường trên cao, nên hầu hết các đoạn đường đều có nhiều vách ngăn ở hai bên để giới hạn tiếng động cho những khu dân cư đông đúc. Xe cũng chạy phần đường bên trái giống như ở bên Úc. Ra đến ngoại ô, tầm nhìn hai bên đường mở rộng vì không còn có những vách ngăn nữa. Tới các nơi có nhà nilông, tôi biết nơi đó là vùng nông nghiệp nên thường chú ý hơn để xem nông nghiệp xứ người ra sao. Còn về công nghiệp thì xứ Nhật nầy chắc đã là tiến bộ lắm rồi!
Đến 9 giờ 15 xe vào bãi đậu xe bên đường, đoàn chúng tôi xuống để ghé thăm Nijo-jo Castle. Thành nầy có âm theo tiếng Hán Việt là Nhị Điều được xây dựng bắt đầu từ năm 1603 dưới thời Mạc Phủ Tokugawa thứ nhất là Ieyasu và hoàn tất vào thời Mạc Phủ Tokugawa thứ ba là Iemitsu vào năm 1626; và nó được liên kết với vài công trình của thành Fushimi được xây dựng vào thời Momoyama (1573-16140). Thành nầy được xem là một trong những khuôn mẫu tinh tế nhất về cách kiến trúc, tranh ảnh, và nghệ thuật chạm trỗ của thời kỳ Edo và Momoyama trong văn hóa Nhật Bản. Được biết toàn khu thành rộng hơn 28 mẫu với hai lớp tường đá, hào sâu. Còn các công trình kiến trúc chiếm khoảng 8,000m2 gồm có cung điện Honmarru, Ninomarru các nhà bảo vệ, nhà bếp và các khu vườn.
Chúng tôi đi qua cổng và vào một dãy dài có các kệ để giày dép, để cởi giày vì giày phải bỏ ngoài rồi mới được đi tham quan trên các hành lang theo lộ trình chỉ dẫn, vì các cung điện nầy đều bằng gỗ. Không được phép quay phim, chụp hình. Đa số những phòng trống trơn với những hình nhân sáp để tạo cảnh sinh hoạt trong phòng ấy như thế nào của ngày xưa. Nhưng đặc biệt nhất là sàn gỗ được thiết kế có những tiếng kêu khi có người đi trên đó như là để tránh kẻ lạ đột nhập hay thích khách. Đi một vòng và cuối cùng ta được ngắm những khu vườn theo cách riêng biệt của người Nhật trước khi bước đến các dãy nhà dài lấy giày dép để ra ngoài.
Thành nầy trở thành lãnh địa của Hoàng gia khi Mạc Phủ thứ 15 của dòng Tokugawa là Yoshinoku trở nên Hoàng Đế. Đến năm 1884 Thành được đổi tên là Dinh Thự Nijo. Đến năm 1939 nó được hiến cho Thành phố Kyoto quản lý và được đổi tên là Nijo-jo Castle. Và UNESCO công nhận là Di Sản Thế Giới vào năm 1994.
Lúc 10 giờ 15, xe buýt lại trên đường đi, bây giờ chúng tôi sẽ đến tham quan Nishijin Textile Centre.  Trung tâm nầy không xa với Thành Nijo-jo bao nhiêu chỉ chừng 5 phút đồng hồ đi xe thôi. Đến đây để xem Kimono show và mua sắm vài món hàng lưu niệm.
Người ta bày bán tơ lụa và những bộ đồ kimono cùng những tranh ảnh bằng lụa, những quà lưu niệm trên tầng lầu 2. Chúng tôi cùng nhau lên đó để chọn cho mình những gì ưng ý. Riêng tôi chẳng biết mua gì đành lựa chọn cho mình vài bức tranh cho ba đứa cháu gái, và một đứa cháu trai để coi như là món quà nho nhỏ. Rồi sau đó cùng nhau dự vào một show trình diễn kimono của các cô gái Nhật ở sàn diễn tầng dưới.
Kimono show
Kimono show

Trung tâm nầy được xem như là một bão tàng viện của ngành dệt may ở vùng Nishijin nầy. Kỹ thuật và nghệ thuật dệt tơ lụa Nishijin được nhiều người biết đến từ thời kỳ đầu của cố đô Kyoto. Lúc đó khoảng vào năm 794 khi một phần của gia tộc “Hata dan” đến đây sinh sống nuôi tầm và dệt lụa. Họ rất giỏi về nghề nầy nên từ đó nền kinh tế ở Kyoto được phát triển đến đỗi Hoàng Đế Kanmu quyết định dời kinh đô về đây. Vào thời đại Edo có chừng 5000 xưởng dệt tơ lụa đa số nằm trong vùng Nishijin, và từ đó khu nầy trở nên nổi tiếng nhất của Nhật về tơ lụa cùng những bộ kimono truyền thống.
Sau, đoàn chúng tôi lên xe và được Jennifer đưa đi ăn trưa. Không biết đối với những người khác như thế nào chứ tôi cứ làm lạ là hầu như các đường không thấy thùng rác ở đâu, vậy mà đường phố vẫn luôn sạch sẽ; nhất là những hàng cây dọc đường, chúng được cắt tỉa như thế nào mà giống những cây bonsai to lớn, không bao nhiêu cành nhỏ vào khoảng thời gian nầy cả. Bây giờ thời tiết mùa Xuân có nhiều cây đâm chồi nẫy lộc, nhưng vẫn còn nhiều loại cây chưa vuơn mình được, chúng sáng sủa, vén gọn do cắt xén. Nghĩ thật là kỳ công và công cắt tỉa nầy phải “lắm công phu” cho các đường phố dù các cây hai bên đường đó là lớn hay nhỏ, thấp hay cao.
Xe đi vào “car park” nơi có nhà hàng Arashiyama mà chúng tôi sẽ ăn trưa ở đây. Nhưng nhà hàng đó ở trên lầu mà vì chưa tới giờ hẹn của chúng tôi nên đoàn còn rảo trong các gian hàng bán đủ thứ bánh kẹo, mứt ở tầng dưới. Sau chừng gần 20 phút, chúng tôi lên nhà hàng để cùng nhau ăn trưa. Đây là nhà hàng “buffet” Nhật nên chúng tôi ăn tùy thích. Xong, mọi người xuống để đi thăm cái cầu được giới thiệu là có tuổi khoảng 400 năm. Đó là cầu Togetsu. Cầu ở khu vực Arashiyama về phía Tây của Thành phố Tokyo. Cầu được xây bắt qua sông Katsura dài 155m
Có người viết: Cầu được xây dựng từ thời Heian (794-1185) để người hai bên sông qua lại được dễ dàng mà lại gần chùa Pháp Luân nên gọi là Pháp Luân Kiều. Rồi một ngày, Thượng Hoàng Kameyama (tại vị 1259-1274) đi du lãm trên sông vào đêm trăng rằm nên ngài thấy “bóng trăng như chạy qua cầu” và từ đó cầu có tên là “Độ Nguyệt Cầu” (Togetsu). Cầu có dáng thanh nhã, đẹp nhìn mãi mê không chán. Nước sông lúc nầy không nhiều, có hai bờ đập phía trên và phía dưới cầu để điều tiết lượng nước mà bão vệ cây cầu lịch sử nầy chăng? Hai bên bờ sông được lót đá thoai thoải, và trồng nhiều cây anh đào để tạo sự hấp dẫn khi trời vào Xuân. Lại có người cho biết thêm: Cầu được xây dựng ban đầu do nhà sư Dosho, đệ tử của cao tăng Kuhai, vào thời Thừa Hòa (834-848 đầu thời kỳ Heian). Cầu ấy nằm ở phía thượng nguồn so với hiện tại, nhưng qua nhiều lần bị hư hại do thiêu hủy, lụt lội nên dời về vị trí hiện tại từ năm 1606.
Đến 12 giờ 50 đoàn lại lên xe để Jennifer hướng dẫn sang Chùa Vàng.

Nguyên Thảo,
18/07/2017.



*Háo Thắng.



*Lừa Dối.   

Thói đời lại thích lừa dối nhau,
Đem đến cho nhau những thảm sầu.
Cố ý bày mưu, giăng bẫy sập
Vô tình vướng mắc, dính cần câu
Người thua ấm ức, lòng như hoạn
Kẻ được hân hoan, dạ ước cầu.
Lừa bạc, lừa tiền, lừa ơn nghĩa,
Tình người, đồng loại sẽ về đâu?

Đồ Ngông,
 25-4-02.

 


*Tham Lam.   

Kẻ tham vốn sẵn lòng không đáy
Vơ vét thế nào, chẳng đủ đâu
Lúc chủ ngó lơ, lần tay bốc
Thơ thẩn người đi, chộp lấy liền.

Trong đời hàng khối kẻ gian tham,
Tham vật, tham tiền, tham cả danh
Không bỏ, không từ bao thủ đoạn
Mưu thâm, lấy vặt lẫn tranh giành.

Tham lam trang điểm đời thêm xấu
Thế giới an bình vứt bỏ đi
Nước quậy, sóng cồn, sao thấy đáy?
Lòng người như thế, nói năng chi...!

Đồ Ngông,
25-4-02.

 

*Háo Thắng.    

Háo thắng dù trẻ hoặc đã già
Cũng phường háo thắng, cũng do ta
Cũng ham ta thắng, người ra bại
Ta thích cười to: Thắng của ta!

Háo thắng, bao giờ cũng muốn được
Từ trong đời lẫn chuyện vu vơ
"Hơn người" là nết cần hơn cả
"Chẳng chịu thua ai, chẳng bẻ cờ".

Háo thắng nhiều khi thành lố bịch
Vô năng, thiếu trí lẫn không tài
"Nói đùa, nói đại" như ngang bướng,
Chẳng biết rằng mình: "Đúng hoặc sai"?

Đồ Ngông,
25-4-02.



Monday, July 17, 2017

*Khi Hoa Anh Đào Nở! (3)



Mọi người trở lại xe buýt vào lúc 11 giờ 10 và xe chạy ngược lại về hướng Thành phố Osaka. Nhưng sau khoảng 20 phút thì xe buýt dừng ở gần một ngã tư, tôi cứ tưởng là bị kẹt xe; nhưng không, mọi người xuống để vào một nhà hàng Nhật để ăn trưa. Nhà hàng không để tên tiếng Anh nên tôi chẳng biết là nhà hàng gì. Đoàn chia ra ngồi ở ba bàn dài trước mặt mỗi người có phần riêng biệt và có một cái lò, nồi nho nhỏ được đun nóng để nấu thịt cho chín hay luộc rau cải cùng với những dĩa, chén cũng không lớn cho từng phần của người ăn. Đây là điểm lạ lần đầu tiên mà chúng tôi học được về cách ăn uống của người Nhật. Tất nhiên là chúng tôi ăn không được đúng cách và cần phải học hỏi nhiều hơn nữa. Dù là lạ hoặc không đúng thì các thức ăn cũng được sử dụng theo từng cách riêng và “đâu cũng vào đấy”, và mọi người vẫn được no bụng để lên xe đi tiếp.
Hơn 12 giờ thì đến Osaka. Osaka là một Thành phố cảng sầm uất của Nhật ở đảo Honshu với khoảng 223 cây số vuông và số dân chừng 19 triệu rưỡi. Nhưng xe đưa chúng tôi đi thẳng về car park và Jennifer hướng dẫn đoàn đi lên trên Thành Osaka tham quan. Đoàn đi trên con đường tráng xi măng rộng rãi giữa các hàng anh đào. Bây giờ đã qua mùa anh đào nở rộ và qua hội “ngắm hoa”, nhưng tôi không tiếc điều ấy vì khi chúng tôi ghi tên vào tour thì thời gian bắt đầu đi vào ngày 11 tháng 4, tức là thông thường hơi trễ với mùa hoa anh đào nở. Mặc dù là tùy thời tiết từng năm, nhưng người ta ước tính là thường vào cuối tháng ba, đầu tháng tư thì hoa anh đào sẽ nở rộ, còn tour chúng tôi sau một tuần. Chính vì vậy mà tôi cảm thấy mình được may mắn hơn khi biết được lá của hoa anh đào và có khi cả trái non của nó. Quả thật theo tiếng Anh gọi nó là “cherry blossom” là đúng vì các cuống hoa giống như cuống của chùm trái “cherry” và lá cũng giống lá của cây ăn quả nầy. Dù hơi trễ nhưng đoàn chúng tôi vẫn thưởng thức được những cây cherry đầy bông trỗ muộn của khu vực nầy.
Tôi mãi mê với những bông, cành, hàng cây anh đào và cố thu lấy những cảnh ấy vào trong thẻ nhớ của máy quay nên khi nhìn lại đoàn đã đi xa, đành phải chạy theo mệt nghỉ. Và cuối cùng cũng chạy lên tới khu vực Thành Osaka.
Người ta bảo rằng: Đi Osaka mà không đến viếng Thành là một thiếu sót vì Thành Osaka là ngôi
Hoa Anh Đào, hào và vách thành.
thành tiêu biểu cho nét đặc trưng về kiến trúc, văn hóa của Nhật; nhưng nó cũng lại là một trong những thành nổi tiếng nhất cùng đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất nước Nhật vào thế kỷ thứ 16 dưới thời đại Azuchi Momoyama.
Thành Osaka gọi theo tiếng Hán Việt là Đại Phản Thành được xây dựng vào thế kỷ thứ 16 do lãnh chúa lừng danh Toyotomi Hideyoshi. Thành đã từng bị thiêu hủy, xây dựng lại nhiều lần, lần đầu vào năm 1620. Nhưng tòa nhà chính bị thiêu rụi vào năm 1665 sau khi bị sét đánh. Qua nhiều năm xao lãng, Thành được tu sửa, sửa lại do các Mạc Phủ quyên góp được tiền từ nhân dân vào năm 1843.
Sau các đợt tu sửa vào năm 1928, 1995 Thành được hoàn tất vào năm 1997 với chiều cao khoảng 40m trên nền có diện tích khoảng 60,000m2; bên ngoài là kiến trúc có 5 tầng, nhưng bên trong là 8 tầng. Từ tầng 1 đến tầng 7 là những nơi trưng bày các loại vũ khí, áo giáp và vật dụng dân gian của các thế kỷ trước. Riêng tầng 8 được thiết kế như một đài quan sát và ngắm cảnh. Nhiều người cho rằng bên ngoài Thành có kiểu cổ, nhưng bên trong rất hiện đại vì có cả thang máy để tiện lợi cho khách vãng lai.
Sau khi ngắm cảnh, nhìn những cảnh sinh hoạt ở đây, tôi và anh Ba Quang cùng chụp những bôi hình cho nhau. Riêng tôi còn sử dụng máy quay để lấy toàn cảnh khu vực nầy và cận cảnh của Thành Osaka như để thấm sâu vào từng mái ngói màu xanh lá cây duyên dáng của nó, cũng như những hoa văn, họa tiết được dát vàng nỗi bậc cái màu tương phản hùng tráng của ngôi thành. Rồi chúng tôi thả lần đi xuống, những cành hoa anh đào hay những bóng dáng thiếu nữ mặc bộ đồ kimono đều là những hình dáng để chúng tôi thu hình giống như những gì quý hiếm trên đất Nhật, dù người mặc đó là người Nhật hay du khách từ Trung Quốc sang làm duyên trong những sắc phục đặc trưng của người địa phương.
Lần xuống nầy chúng tôi có nhiều thời gian thong thả để quan sát các bông anh đào cũng như cái thành quách cổ xưa nầy. Hoa anh đào mà chúng tôi thấy ở đây cũng có nhiều loại: Có loại nhiều cánh, cánh dầy chắc là lâu tàn hơn vì xem ra cuống nó cứng rắn và bông sung mãn, chúng cũng có loại bông màu hồng, phơn phớt hay trắng. Còn loại dọc theo hai bên đường xi-măng thì lại cánh mỏng chỉ có năm cánh mà thôi. Từng cơn gió nhẹ thoảng qua cũng làm cho những cánh hoa lả tả rụng rơi; chúng nhẹ nhàng, lăng quăng theo chiều gió rồi từ từ rơi xuống đất. Có lẽ vì chúng dễ rụng nên người võ sĩ đạo Samurai ví chúng như cái chết của họ chăng? Có lẽ từ cái thú nằm trên sân cỏ để nhìn hoa đầy tràn trên cây rồi từng cơn gió thổi qua là bao nhiêu cánh hoa lại rụng đầy mà trở nên cái thú “ngắm hoa” (hanami) của người Nhật vào mùa Xuân có đầy hoa Anh Đào, và cũng như là để ăn mừng cho một năm mới lại vừa sang?
Suy luận để cho vui chứ chẳng là hẳn như vậy đâu vì chưa có sách vở nào kể đến cái khởi đầu của tập tục đáng yêu nầy. Nhưng xứ Nhật được xem là xứ sở của Hoa Anh Đào từ xưa, mặc dù sau nầy có những nước khác cũng dành phần hoa anh đào là của mình. Dù là của ai thì ngày nay du khách vẫn đến viếng thăm nước Nhật thật nhiều “Khi Hoa Anh Đào Nở”, trong đó có đoàn chúng tôi!
Cái thú của tôi là chụp hình hoa Anh Đào mà phải chụp trái sáng, hoặc từ phía trong chụp ra. Chính vì vậy mà tôi mới chú ý đến những vách thành bằng các khối đá chồng lên nhau mà không có đất hay hồ vữa gì xen vào mà hào cũng rất rộng như một dòng sông nhỏ. Ở góc thành có những tháp canh gác, còn độ sâu thì chẳng biết là bao nhiêu. Nhưng hào rãnh phía trên gần Thành Osaka chính thì không có nước.
Lần trở ra xe, và tất cả chúng tôi lên xe để khởi hành đi nơi khác vào lúc 2 giờ 15. Đến 2 giờ 50 thì đến khu mua sắm Shin Sai Bashi Suji.
Shinsaibashi là một trung tâm thương mại sầm uất, phổ biến của Osaka. Nó được xây dựng và hoạt động từ thời Edo cách đây khoảng 400 năm do những thương nhân mua bán quần áo, sau đó là những mặt hàng khác và phát triển cho đến ngày nay. Nó được mang tên của Shinsai Okada khi Shinsai xây cầu đầu tiên bằng gỗ (Shinsaibashi Bridge) băng qua kênh đào Nagahorigawa vào năm 1622. Sau đó, mặc dù cầu đã được thay đổi bằng cầu sắt (1873), và cầu đá (1909), nhưng đến năm 1964 vì nhu cầu làm đường nên kênh đào bị lấp thì cầu bị dỡ đi. Khu chính của Shinsaibashi là con đường đi bộ có mái vòm che ở trên mà chúng tôi đang tham dự vào tức là Shinsaibashi Suji nầy. Hai bên đường là những dãy cửa tiệm bán đủ thứ hàng kể cả bánh kẹo, quần áo, nữ trang, giày dép, thức ăn, cà-phê; từ những gian hàng bán đồ bình dân cho đến các cửa hàng sang trọng. Không biết là nó dài bao nhiêu vì chúng tôi không có thì giờ để đi cho suốt, nhưng Shinsaibashi suji không phải chỉ có một bên đường chính mà nó ở cả hai bên. Tôi và anh Nhi đi khá xa từ phía bên kia khi mỏi chân thì quay lại rồi đi về phía đối diện cũng chẳng hết, đành quay trở về để rủi lỡ chuyến xe hoặc trễ nải khiến mọi người đợi chờ. Nhưng theo thông tin thì nó dài khoảng 580m và có vào khoảng 180 cửa hàng. Người ta lượng ước ngày trong tuần thì có khoảng 60,000 người mỗi ngày, còn những ngày cuối tuần số người đi đến đây chừng gấp đôi.
Tất nhiên đàn ông chúng tôi không mấy người biết chọn hàng để mua vì thế mà nhóm đàn ông thường tụ tập lại để tán gẫu, nêu những thắc mắc về những điều lạ mà mình thấy. Còn mấy bà thì khá lỉnh kỉnh và quảng cáo nhau những món hàng mình mua được. Âu đó cũng là điều thú vị!
Đến 5 giờ 10 xe buýt đến, mọi người lên xe để xe đưa về nhà hàng ăn chiều. Từ giã Shinsaibashi Suji, chắc không hẹn gặp! Hai mươi phút sau ngồi vào bàn ăn ở một nhà hàng Nhật ở dưới tầng hầm mà không phải là ở những băng dài, bàn dài như lúc trưa, mà là bàn 4 người ở một ngăn có vách ngăn cách, ngăn nào rộng hơn thì cho 6 người. Thức ăn, chén dĩa thì cũng như ở nhà hàng trước. Xong, chúng tôi về đến khách sạn New Otani Osaka vào lúc khoảng 7 giờ chiều, tôi được ở trên tầng 10 phòng 31. Chính vì ở phòng nầy mà tôi có một sự hối tiếc không nguôi. Nguyên nhân là vì khách sạn nầy ở gần với Osaka Castle mà phòng tôi lại nhìn rõ về Thành Osaka hơn. Ban đêm Thành được đèn chiếu sáng thật rạng rỡ, hình dáng rất đẹp, tôi muốn quay cảnh ấy nhưng máy lại hết pin. Lúc đó, tôi lại không nghĩ đến chụp hình và tính gần sáng mình dậy sớm quay cũng không muộn. Nhưng điều ấy không đến vì đêm hôm những đèn chiếu lên Thành đã hoàn toàn tắt ngấm tự bao giờ, nên tôi phải đành lỡ cơ hội và chỉ có tiếc nuối mà thôi!

Nguyên Thảo,
17/07/2017.






Friday, July 14, 2017

*Đường Đến Băng Hà. (2)


 Hôm nay chúng tôi sẽ đến Victoria, là thủ phủ của Tỉnh British Columbia. Nó không nằm trong đất liền mà ở trên cái đảo nầy về tận phía nam. Theo tài liệu thì đảo được tạo thành do núi lửa và các loại đá trầm tích mà nên, nó là đảo được xếp hạng lớn hàng thứ 43 trên thế giới và là đảo lớn thứ 11 ở Canada. Vancouver Island có chiều dài 460km, nơi rộng nhất khoảng 100km, tổng diện tích chừng 32,134 km2 với số dân là 759,366 theo thống kê  điều tra dân số của năm 2011. Xe buýt đưa về Thành phố Victoria, để rồi chúng tôi cùng nhau ăn trưa ở nhà hàng Seafood Szechuan trong khu Chinatown. Khu Chinatown nầy tương đối lớn với nhiều nhà hàng cửa tiệm, thuở xưa nó được xem là khu Chinatown lớn thứ nhì ở Bắc Mỹ chỉ sau San Francisco. Theo như lời Vincent thì ngày xưa ở khu nầy cũng có nhiều tệ nạn hút sách, đàng điếm, cờ bạc, nhất là cái khu phố trong hẻm hẹp mục đích để giới hạn sự kiểm soát của chính quyền. Sau khi ăn xong, đoàn dẫn nhau đi bộ đến chỗ xe buýt để đón xe đi tham quan ở nơi khác. Tuy nhiên Vincent muốn chúng tôi đến cái hẻm lịch sử ấy cho biết, thế nên lại đi vòng qua cái hẻm có tên là Dragon Alley. Hẻm rộng chừng hai người đi lọt nhưng vì người Tây lớn con nên sự xoay sở có thể chật vật hơn vì thế mà người Tàu xưa kia đã làm những chuyện phi pháp ở các nhà nhỏ bên trong khu phố nầy để khi nào nhân viên chính quyền đến thì dễ dàng phi tang, tẩu tán. Nay thì những nhà nhỏ đó chỉ bán đồ chút ít thôi. Hẻm không sâu và dài, nên chúng tôi lại trở ra đường lớn để lên xe buýt. Vincent đưa chúng tôi về khu di tích lịch sử ở Victoria Habor. Xe buýt đậu ở khu gọi là War Museum để từ đó chúng tôi đi vòng qua các khu khác vừa tham quan vừa chụp hình phong cảnh đẹp. Ở tại đây có vài xe ngựa kiểu cũ để đưa người đi tour vòng quanh khu vực như để vừa thưởng thức vừa sống lại kiểu ngày xưa chăng. Băng qua đường thì đã đến khuôn viên của tòa nhà Quốc Hội, cảnh quan rất là đẹp, một sân cỏ rộng thênh thang tươi xanh, xen vào đó là những bồn bông trang điểm cho sân cỏ cùng tạo nên vẽ mỹ thuật của tòa nhà, khiến du khách không thể bỏ qua mà không chụp lấy vài bức hình để làm lưu niệm.
Legislative Buildings.
Empress Hotel

Gần ngoài đường phía trước có tượng Nữ Hoàng Victoria của nước Anh thuở trước như để đánh dấu vùng đất thuộc địa nầy và Thành phố cũng được mang tên Bà. Theo tài liệu thì Tòa nhà Quốc Hội nầy được xây dựng xong vào năm 1897 tức là sau khi người Anh định cư 54 năm với kiểu kiến trúc rất đẹp nhưng không kém sự hùng vĩ, cho nên ai cũng muốn có những tấm hình với kiến trúc ấy bên cạnh những bồn bông đầy hoa tulip. Đối xứng với tượng Nữ Hoàng Victoria là một trụ cây cao trên đó tạc những tượng người hay thú xen nhau tượng trưng nền văn hóa và người bản địa mà tiếng Anh gọi là Totem Pole.
Bên kia bờ của Inner Habor là khu của Empress Hotel, đây cũng là một tòa nhà cổ có cách kiến trúc vừa cổ kính vừa thanh nhã lại không kém phần sáng láng mà được biết là xây dựng và mở cửa từ năm 1908. Trong Inner Habor nhiều tàu thuyền đậu, nhưng ở đây cũng là nơi đỗ của nhiều chuyến phà đến từ Seattle hay Oregon.
Inner Habour

Với thời gian, chúng tôi được ở đây chụp hình và tham quan đến 2 giờ 30 thì lại lên xe buýt để đi sang vườn hoa nổi tiếng ở Victoria là Butchart Gardens được thiết lập từ năm 1904 và nay được xem là di tích lịch sử quốc gia của Canada.
Đoàn xuống xe và đi vào cổng, tất nhiên là phải có vé vào cổng, phần ấy Vincent lo cho chúng tôi. Vừa qua cổng tôi thấy màu sắc sáng chói của những hoa tulip. Ngày trước tôi chỉ thấy hoa tulip búp thôi chứ không để ý đến giai đoạn sau của nó, thì ra nó cũng nở rộ và bung cánh ra rực sáng như những loại hoa khác, có người nói rằng hoa tulip nở lâu hơn, điều đó có thể, vì nếu không người ta lại phải tốn công rất nhiều cho cái vườn hoa lớn như thế nầy. Qua cái sân rộng mà bên cạnh có để tượng một con heo rừng hình như bằng đồng thì phải (vì tôi không chú tâm lắm) miệng đang chảy nước. Theo Vincent cũng như cô Liên nói nếu ai hứng nước từ miệng con heo chảy ra rồi xoa lên mũi nó rồi xoa lên mũi mình thì được nhiều may mắn. Nhiều người làm theo như vậy rồi xúm nhau cười ồ. Âu đó cũng là một niềm vui! Tuy nhiên điều nầy làm tôi nhớ lại chuyện “Kỳ Hưu” trong chuyến đi sang Trung Quốc vào năm 2006, hướng dẫn viên đã kể con kỳ hưu chỉ có “ăn vào mà không ỉa ra” cho nên ai rờ con kỳ hưu mà rờ đến phía đít của kỳ hưu sẽ được nhiều may mắn. Thế là có một bà khi đến Thượng Hải gặp tượng con kỳ hưu bà ấy ráng mò cho đến nơi, tôi cảm thấy tức cười mà phải cười thầm trong bụng. Ôi cuộc đời nầy con người đã quá khổ, cho nên người ta mơ ước được sung sướng, không khổ; vì thế mọi người ai cũng mơ ước một cuộc sống sung túc, khỏe mạnh, đầy may mắn! Thế là niềm mơ ước ấy thể hiện lên mọi cây cỏ với cái tên hấp dẫn, lẫn những con thú mà người ta chưa hề thấy được hình bóng; không những thế mà ngay cả trong những tôn giáo không chân chính người ta cũng thêu dệt nên những viễn tượng thật là tốt đẹp để dễ dàng lợi dụng vào niềm tin của người khác. Các viễn tượng ấy chưa chắc người sáng lập ra đã cảm nhận được chút nào, vì chúng chỉ là để cho con người sau khi chết. Vậy thì sau khi chết ai đã vào được những nơi ấy chưa? Tại cũng bỡi cuộc đời nầy quá khổ mà nên!
Theo như thông tin thì The Butchart Garden chiếm hơn 22 trong tổng số 55 mẫu đất sở hữu của nhà Butchart sau sự khai thác đá vôi để làm xi-măng của Robert Pim Butchart đã cạn. Từ đó Jennie Butchart có ý tưởng làm đẹp khu đất bằng những cây, bụi rậm được sưu tầm nhiều nơi đem về trồng trọt ở đó kể từ năm 1904 cho đến sau nầy. Vào những năm 1920 vườn đã tiếp nhận hơn 50,000 người thăm viếng mỗi năm. Hiện nay Vườn vẫn thuộc quyền sở hữu của dòng họ Butchart và mỗi năm có hàng triệu lượt du khách thăm viếng. Năm 2004, Vườn kỷ niệm 100 năm và được xem là Di Tích Lịch Sử của Canada.
Mỗi người được Vincent và cô Liên phân phát cho một sơ đồ của vườn hoa để biết đường mà đi không bị lạc và giờ qui định tập trung ra xe để về là 5 giờ 30. Dù vậy, mọi người vẫn kéo nhau đi từng đoàn hơn là đi riêng lẽ hoặc nhóm, chỉ tách ra khi mà người thích xem hay chụp hình nơi nào nhiều ít. Đầu tiên là chúng tôi đi theo con đường dần lên đồi, để rồi nhìn vào một thung lũng: Ôi! Thật là đẹp! Những bông hoa, màu sắc chúng hài hòa rực rỡ mà trong sơ đồ gọi là Sunken Garden, nơi đây cũng có loại hoa anh đào của Nhật ; dù muốn hay không ai cũng chụp nơi đây vài bôi hình để xem như có một lần đã đến.
Sunken Garden

Đường đi có hai hướng, nhưng tôi lại chọn vòng ngoài đi thẳng về phía trước để rồi lại đến một cái phong-tên ở dưới hố sâu kia, vòi nước đang phun lên cao mà người ta gọi đó là Ross Fountain.Tôi lại đi con đường trên cao giống như bờ đê có nhiều cây anh đào mà phía bên phải là Sunken Garden và bên trái là những loại cây mọc xen trong những rừng cây lớn (Bog Garden). Cuối đường lại đến khu trống ít cây với cỏ nhiều là khu Concert Lawn & Stage. Kế tiếp là nơi có trồng hai cây Totem Poles. Chúng tôi lại tìm đường xuống và đến cái phông-tên có hình dáng mấy con cá xoắn vào nhau khá đẹp, không biết đó là loại cá gì hay đó là cá “salmon” mà ở Canada nầy người ta thường lấy làm biểu tượng! Thế nào cũng phải có một tấm hình ở đây! Rồi chúng tôi lại lặn lội qua vườn Nhật. Vườn Nhật ở đâu cũng vậy, cây cối, dòng nước, đá và kiểu cách bonsai, tạo nên một cảnh sắc rất riêng biệt, không cần nhiều bông hoa nhưng một khung cảnh trầm lắng, một không gian tĩnh lặng, thiên nhiên thư thái đầy mùi vị của Thiền cho nên ngày trước một anh bạn của tôi buộc miệng: “Vào đây tao ngỡ như mình đi tu được vậy!” khi thăm vườn Nhật ở Portland (Tiểu bang Oregon). Vì sợ đường xa mà ra xe có thể trễ giờ nên chúng tôi vội vàng đi qua vườn Hồng (Rose Garden) để vòng qua Italian Garden. Quả thật, những gian nhà ở đây làm theo cung cách của Ý với những khu vườn trồng trọt, bài trí theo kiểu Ý thiệt, nên Italian quả là như tên gọi. Tới đây thấy anh Hiệp đang ngồi trò chuyện với ông Vincent nên chúng tôi không ngại trễ giờ nữa mà thủng thẳng chụp nhiều bôi hình cho mấy bà để mấy bà ganh đua với hoa vào những giai đoạn sau của cuộc đời để đời thêm thắm đẹp!
Italian Garden.

Đúng 5 giờ 30 tất cả chúng tôi đều lên xe buýt để khởi hành trở về Vancouver. Ra đi thì háo hức nhưng bận về khá thấm mệt. Đi gần một tiếng sau mới tới bến phà. Nhưng phà chưa đến, nên phải đợi mãi đến gần 6 giờ 40 xe mới xuống được phà. Tất nhiên chúng tôi vẫn phải định được vị trí của xe buýt ở đâu trên phà và đến khi phà vào bến mà gấp rút lên xe để xe rời phà giống như bận đi.
Không biết phà vượt bao nhiêu cây số đường biển nhưng bận đi cũng như bận về, chúng tôi phải tốn chừng 1 giờ rưỡi cho mỗi bận. Nên khi xe rời phà đã là 8 giờ 45. Xe chạy thẳng về nhà hàng Thái để chúng tôi ăn buổi tối. Khi về đến Khách sạn Four Points by Shereton đã là 10 giờ tối. Vincent kịp dặn dò giờ giấc khởi hành cho chuyến đi ngày mai và đem theo mọi hành lý. Vì chúng tôi sẽ rời hẳn khách sạn để trên “Đường Đến Băng Hà”!

Nguyên Thảo,
09/07/2017.



*Tọc Mạch.



*Cùng Tao Ngộ.

Mình dân ở tứ phương
Xa rời nơi cố hương
Gặp nhau trên đất khách
Đều là phận tha phương!

Tôi, chị lại cùng anh
Đều xếp cả mộng lành
Dấn thân vào công việc
Cho con trẻ học hành.

Đầu bạc trắng tháng năm
Mình thân phận âm thầm
Cho đời sau hạnh phúc
Cũng một lần trăm năm!

Gặp lại cùng nhau vui
Ôn kỷ niệm ngậm ngùi
Những ngày năm tháng cũ
Đầy ấp buồn lẫn vui.

Đồ Ngông,
01-09-07.


 

*Tọc Mạch.   


Tọc mạch, tò mò tánh khó ưa,
Nhưng quen thì cũng khó hay chừa.
"Dòm qua khe cửa" nhìn thiên hạ
"Dán mũi vô rào" khít hoặc thưa.

Câu chuyện của người toan muốn biết,
Chuyện mình lại "kín mít như bưng".
Lăng xăng, lít xít tìm người hỏi
Tọc mạch, tò mò khó dửng dưng...

Thế gian cũng lắm tánh con người
Tạo hóa bày ra, để "ngắm" chơi.
Cứ thử ngồi xem người tọc mạch
Làm sao yên được chuyện nhà người.

Đồ Ngông,
16-4-02.




*Kẻ Lù Khù.    

Lù khù, lủ khủ, kẻ lù khù
Đội mũ, mang lu, có cả dù
Ít nói, hiền queo như cục đất
Trong lòng sôi động, nét âm u!

Nhỏ nhẻ, từ từ duyên thục nữ
Như không thèm ngó, cũng không màng...
Vương vương sóng động, lòng sôi sục
Canh cánh chạnh niềm, mắt xốn xang.

Thế gian đã bảo kẻ lù khù
Không khéo chạy đi vác cả lu
Nhủ mĩ, nhu mì là ngoại diện
"Cóc khi mở miệng, chuyển mây mù"..!

Đồ Ngông,
22-4-02.




*Lợi Mình Hại Người.   

Ruộng trên có nước
Tìm cách lấy về ta
Khi cần đất khô khan
Ta đưa nước
Xuống ruộng người.
Có lợi cho ta thì ta lấy
Hại cho người, cũng chẳng chết gì ta.
Thế mới có tranh nhau
Đánh lộn,
Rồi đâm chém
Tình huynh đệ, bạn bè
Chấm dứt
Chẳng ai nhìn tới ai...
Thế gian nhiều chuyện đời như thế
Trồng cây cạnh hàng rào,
Lấn ranh đất,
Đường chung nạnh hẹ
Sạch cho mình, vung vãi đến cho người
Giành nước,
Giành mối,
Giành hàng,
Tranh nhau đoạt lợi...
Chỉ biết lợi cho mình
Không đếm xỉa đến người khác,
Muôn rắc rối xảy ra
Cũng bỡi mình "chơi gác"...
Đời hơn nhau "Ý thức"
Già đã chẳng nên thân
Sao trẻ hơn đừng khi dễ
Hiểu người,
Hiểu ta
Coi dễ, nhưng mà khó.
Thói thường ưa suy nghĩ
Nếu như mình:
Mình có muốn hay không?
Hiểu ta,
Ta hiểu được người,
Lòng không vướng bận, cuộc đời an vui.

Đồ Ngông,
25-4-02.