Tuesday, June 20, 2017

*Đường Đến Băng Hà. (1)



Hôm vợ chồng tôi đến thăm anh chị Hiệp nhân lúc anh chị đi trốn lạnh từ Việt Nam mới về, anh có ngõ ý: “Ông Thạch à, bây giờ còn đi được hay là vợ chồng ông với vợ chồng tôi làm một chuyến đi xa nữa đi, để rồi mai mốt đi không được thì nằm nhà không phải hối tiếc”! Tôi hỏi: “Ý anh muốn đi đâu”. Anh trả lời: “Thì mình đi Canada, Alaska rồi về Hawaii theo tour của ông Chánh ở Melbourne đi”. Vợ tôi còn ngần ngừ vì chuyến đi quá xa, ngồi phi cơ chỉ có “mệt mà nghỉ”, nên chúng tôi còn đắn đo suy nghĩ, xin trả lời sau với anh. Thế rồi không lâu, vợ chồng tôi trả lời hai anh chị là “Đồng ý”. Từ đó chúng tôi tiến hành gọi điện thoại lên công ty lữ hành của anh Chánh ở trên Melbourne là công ty “Hữu Nghị” (Frienly Travel). Chúng tôi đã đi với anh chị Chánh trong tour Âu Châu vào tháng 5/2009 lúc đó anh chị dẫn đoàn. Hai anh chị là người dễ mến, nên chúng tôi cũng có nhiều cảm tình, nhưng với anh chị Hiệp thì còn đi một vài tour khác kể cả các vé đi về Việt Nam.
Hai cặp chúng tôi là hai trong những người “booking” sớm nên có vài “ân huệ” cho những người đầu tiên. Thế rồi tiếp theo là Cô Hi (em vợ tôi) cùng với anh chị Thới mà chị Thới là bạn học của Hi, nhưng anh Thới cũng không xa lạ gì, vì tôi đã biết anh từ những năm đầu mới cùng nhau sống trên đất Úc. Thế là đoàn chúng tôi gồm có 7 người.
Anh chị Hiệp, anh chị Thới, vợ chồng tôi và cô Hi.



 Thấm thoát qua nhiều thủ tục giấy tờ, cũng đã đến ngày khởi hành. Vì chúng tôi từ Adelaide lên mà tour đi khá sớm vì vậy chúng tôi phải trừ hao và tính phần cho chắc ăn, nên mọi người đồng ý là đi vào bữa trước và ngủ ở khách sạn tại sân bay Tullamarine một đêm chờ đến ngày hôm sau nhập tour.
Chiếc máy bay Qantas nội địa sẽ khởi hành vào lúc 11 giờ 15 nên chúng tôi phải đi trước từ lúc 9 giờ sáng và hẹn gặp nhau tại phi trường. Sau khi làm thủ tục “check in” và gởi hành lý, chúng tôi phải qua khu vực kiểm soát để vào trong phòng đợi. “Boarding” (vào máy bay) trước nửa giờ và máy bay ra phi đạo đúng giờ. Đến 1 giờ 15 địa phương thì máy bay đáp xuống phi trường Melbourne. Nhận hành lý xong, chúng tôi ra cổng đón xe buýt của khách sạn để về khách sạn “Holliday Inn” ở gần đó. Nhận phòng nghỉ ngơi đến chiều tối, mọi người rủ nhau đi ra ngoài kiếm gì ăn. Lại đến tiệm thức ăn nhanh “Mac Donald” gần đó. Đường từ phi trường ra có nhiều xe và chúng nối đuôi liên tục nên việc băng qua đường cần thời gian khá lâu.
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi thức dậy từ lúc 4 giờ 30 để uống cà phê, làm mọi chuyện vệ sinh cá nhân rồi xuống trả phòng vào khoảng 5 giờ rưởi để đến 6 giờ xe buýt đưa ra phi trường.
Đến 7 giờ thì gặp Cô Liên, người dẫn đoàn đưa đến khu vực “check in” để gởi hành lý, rồi qua khu vực làm các thủ tục hải quan (kiểm passport, chụp hình, nộp giấy ra nước Úc), bây giờ hầu hết các giai đoạn đều tự động nên không tốn nhiều thời gian. Tuy nhiên đối với những người không quen và dở tiếng Anh như tôi thì có nhiều khó khăn và chậm chạp, đôi khi phải nhờ đến người khác giúp.
Cả đoàn ngồi đợi chuyến bay ở cổng số 9 từ lúc 7 giờ 25 nhưng mãi đến 9 giờ 45 mới lên máy bay và hơn 10 giờ thì cất cánh.
Chuyến bay QF 093 nầy là máy bay đời mới A 380-800 gồm hai tầng. Có lẽ hạng Business và các hạng sang ở tầng trên, còn hạng “economy” như chúng tôi thì thấy đều đi vào tầng dưới. Theo bản đồ và chi tiết thì chuyến bay từ Melbourne đến Los Angeles có khoảng cách là 12,973 km, và thời gian bay dự trù là 13 giờ 40 phút.
Chuyến bay khởi hành từ Melbourne vào ngày thứ bảy, nhưng đi mãi đến sáng hôm sau khi đáp xuống phi trường Los Angeles cũng lại là sáng ngày thứ bảy vào lúc 6 giờ 40, vì chúng tôi đã bay qua đường sang ngày ở trên Thái Bình Dương.
Sau các thủ tục quá cảnh trên đất Mỹ, chúng tôi di chuyển đến nơi của phi trường mà các chuyến bay đi Canada khởi hành, đến đó cũng đã là 8 giờ 45. Ở đây đoàn chúng tôi mới tập họp lại đầy đủ vì trước đó những ngưòi đi từ Sydney không xuống Melbourne mà họ đi thẳng qua Los Angeles. Bây giờ tổng kết đoàn có 18 người ở Melbourne, 10 người từ Sydney, 7 người ở Adelaide, 4 người ở Perth, 2 người từ Cairn và 4 người Mã Lai. Như vậy vị chi là 45 ngưòi, nhưng không biết trong đó có tính luôn cô Liên và chồng là Vinh hay không, nếu chưa tính thì đoàn có tổng cộng là 47 người tất cả, cũng là lực lượng khá đông.
Chuyến bay đi Vancouver cứ dời giờ mãi (delay) đến 1 giờ 50 phút mới cho khách lên máy bay (boarding). Và rồi cất cánh sau đó khoảng gần 30 phút, và đến phi trưòng Vancouver vào lúc 3 giờ 45. Nhưng đoàn chúng tôi hoàn tất mọi thủ tục nhập cảnh, hải quan tương đối khá lâu, nên khi gặp được người nhà của hướng dẫn viên ở đây đến đón cùng đưa về khách sạn Four Points By Sheraton thì cũng đã là 6 giờ 25 chiều ngày. Sau khi nhận phòng, chúng tôi chỉ có một thời gian ngắn chừng nửa tiếng để bước qua nhà hàng Đại hàn (Korean) ăn tối cũng gần đó. Vị trí tạm thời được sắp theo nhóm và trong bữa ăn nầy ba của anh chàng ra đón ở phi trường xuất hiện: Đó là hướng dẫn viên lão thành, ông Vincent.
Cô Liên và Vinh, ông Vincent, vợ chồng tôi.

Chúng tôi vừa ăn vừa chuyện trò cho đến 9 giờ thì trở về khách sạn để lo tắm rửa, sửa soạn hành lý chuẩn bị cho ngày mai khởi hành đi sang đảo Vancouver Island.
Vừa đi xa, vừa thiếu ngủ, vừa mệt mỏi nên chúng tôi được một giấc ngủ tương đối khá ngon. Tuy nhiên vẫn ngủ không nhiều vì thế mà 5 giờ đã thức dậy, rồi hai anh em cùng nhau uống cà phê và trò chuyện. Đến 7 giờ sáng, đoàn chúng tôi hẹn nhau xuống phía dưới ăn sáng. Điểm tâm xong, chúng tôi trở lên phòng chuẩn bị đồ đạc, dụng cụ mang theo để Vincent hướng dẫn sang Vancouver Island tham quan thủ phủ của Tỉnh British Columbia là Victoria.
Xe buýt rời khách sạn vào lúc 9 giờ 35 và trên đường đi về bến phà sang đảo Vancouver. Dọc đường cây cối lá đã đầy vì thời gian nầy ở đây đã sang Xuân. Tuy nhiên lá vẫn còn nhỏ, chưa đủ sức lớn của nó vì xuyên qua đó chúng ta hãy còn nhìn thấy những nhánh và cành. Lại có nhiều cây vẫn chưa ra lá nào, chồi cũng chưa thấy. Cái màu xanh mơn mởn làm cho mình tưởng thành phố đang trỗi dậy sau một mùa Đông ngủ vùi. Nhưng có mấy anh bạn bảo rằng ở Vancouver nầy thời tiết tương đối ấm hơn vì nhờ dòng nước nóng của Thái Bình Dương từ xích đạo chạy dọc theo bờ biển lên nên ở đây rất ít tuyết. Điều đó tôi không biết chắc nhưng cứ nói đến Canada thì người ta cứ nghĩ đến cái tủ lạnh có không gian thật là vĩ đại. Ừ, thì mình cứ nghĩ là như vậy cho nên trong chuyến đi nầy tôi thấy gần như ai cũng trang bị cho mình quần áo đủ ấm, thế cho nên tôi đùa với những người trong nhóm rằng: Tiệm Kathmandu bán đắt cũng nhờ những người đi sang xứ lạnh của bọn mình, vì đa số đều mặc áo ấm của Kathmandu hơn là của Columbia.
Xe đến bến phà lúc 11 giờ. Bên dãy xe buýt, xe chúng tôi đứng hàng thứ nhì. Còn bên xe nhà, xe du lịch thì ba bốn hàng nối đuôi nhau thật là dài. Đó là phần phà bên phía đi sang đảo Vancouver gọi là bến phà Tsawwassen. Còn phía bên kia là xe của chuyến phà khác mà tôi chưa biết là nó đến đâu, thì ít xe hơn. Trong khi chờ đợi phà thì chúng tôi cùng nhau đi dạo khu buôn bán ở khoảng giữa các luồng xe đợi phà. Cũng rất nhiều gian hàng, nhưng phần lớn chúng tôi đi dạo, xem cho biết hơn là mua hàng. Vả lại, cũng vì là những ngày đầu, nên chưa cần thiết phải mua.
Đến 11 giờ 40 xe xuống phà, chúng tôi ngồi trên xe để xe chạy vào phà, Tầng dưới là những xe lớn, còn những xe nhỏ dường như ở mấy tầng trên, còn trên tầng 5 thì là nơi ăn uống, nghỉ ngơi của khách và tầng thượng là để khách ngắm cảnh, chụp hình. Rời xe buýt chúng tôi cố nhớ số cùng vị trí xe trên phà để khỏi bị lạc khi phà cập bến vì lúc đó mình phải gấp rút có mặt trên xe để xe chạy lên bờ.
Vì là những ngày đầu trên đất Canada nên mọi người tha hồ chụp hình trên sân thượng của phà với lá cờ có hình chiếc lá của Canada, một phần cảnh đẹp, một phần cũng là do kỷ niệm. Ôi, thật là vui vẻ cùng nhau. Đến 12 giờ 25 chúng tôi trở về xe, phà cập bến và các xe lần lượt nối đuôi nhau rời phà. Đây là Swartz Bay của đảo Vancouver Island.

Nguyên Thảo,
13/06/2017.





*Mừng Ông.



*Sân Hận.    

À! "No mất ngon, giận mất khôn"
Thế ông chưa giữ được tâm hồn
Sân hận khiến ông như lửa đốt
Xui người nóng hực, dạ bôn chôn.

Lửa bốc lên cao, lửa tới đầu
Tam tinh tá hỏa, mắt chìm sâu,
Tóc tai dựng đứng, hồn bay mất
Chỉ có oang oang, hực hực đầu.

Sân hận như là đám cháy to
Đốt thiêu công đức biến thành tro
Công lao hạn mã ngàn năm dựng
Chỉ thoáng một lần cháy cả kho.

Đồ Ngông,
30-08-07.

 

*Ngủ, Thức.

Tớ được nghe ông "Trí" đã lâu
Tớ mong gặp mặt để đê đầu
Nhưng không biết "ngủ" hay là "thức"
Tóc có còn xanh hoặc bạc đầu.

Tớ mới nghe danh, tớ khiếp rồi
Còn đâu... teo nữa, với than ôi!
Ông ơi! Ông nhớ thương dùm tớ
Vì sợ ông nhiều, nên hỡi ôi!

Đồ Ngông,
30-08-07.

 

*Mừng Ông.

Tớ muốn mừng ông, nhưng tớ buồn
Bởi vì phận tớ dở ương ương
Có đâu đỉa lại đeo chân hạc
Chúng sẽ cười cho kẻ quá đường.

Tớ đứng nhìn ông tớ lại thèm
Muốn ôm mừng đại, lại kỳ thêm
Người ta không hiểu: "Thằng ton hót
Muốn bắt quàng xiên, đúng phận hèn".

Đành xa đứng ngắm, mơn tà áo
Mà tưởng ra như dự đón Ngài
Tay bắt mặt mừng coi hớn hở
Trong mơ mình lại cũng như ai?

Đồ Ngông,
30-08-07.

 

*Hỉ Hả!

Hỉ hả cùng nhau, hỉ hả lòng
Tớ ông, ông tớ quả vui không?
Vài ly, vài cốc mình tâm hợp
Vui thú cùng nhau, ý lại đồng!

Chẳng mắc gì ai, ta cứ vui
Hai ta túy lúy lại say vùi
Mặc trời, mặc đất quay chong chóng
Mây có bay về, lại quá vui!

Đồ Ngông,
30-08-07.

 

*Cái Thứ Năm.

"Trên đời có bốn cái ngu,
Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu"        (Tục ngữ, Ca dao)
Nhưng mà chưa thấm vào đâu
Làm thân chửi mướn, còn sầu thảm thương
Nhất là thân lại viễn phương
"Xía vô, nhọn mỏ" coi thường người ta.
Nhập giang theo khúc, tùy gia
Đã thân trí thức mà ra "hồ đồ"
Mũi đâu lại dán vô rào
Biết chi mà lại xía vào "ăn hôi"
Rằng xưa đã nói "kẻ tồi!"

Đồ Ngông,
30-08-07.




Monday, June 5, 2017

*Khi Hoa Anh Đào Nở" ! (1)



Nói đến “Hoa Anh Đào” là nói đến sự mơ mộng và tưởng tượng của tôi rất nhiều trong thời còn nhỏ. Điều ấy không sai chút nào cả! Không phải tôi biết về nước Nhật hay hiểu về người Nhật mà chỉ vì trí óc non nớt của mình được in những hình ảnh đặc biệt rất Nhật trong tuồng hát “Khi Hoa Anh Đào Nở” của các soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng, cùng với cái tên hơi ngồ ngộ “Điền Sơn anh hỡi Điền Sơn hỡi!...”. Những bộ đồ Kimono, những chiếc dù xoay xoay, những thanh kiếm có tay cầm dài ra mà kiếm sĩ có thể cầm được hai tay; rồi đến sau nầy Hoa Anh Đào được gán ghép vào những loại hoa do những người không biết về hoa anh đào, kể cả người ta cứ nghĩ đến “hoa anh đào” trong bài hát gì đó có câu: “Ai lên xứ hoa đào” của tác giả Hoàng Nguyên. Tôi cứ nghĩ người ta biết nhiều về “hoa anh đào”, nhưng tại sao người lại nói hoa nầy, người khác nói là hoa kia, rốt cuộc tôi chẳng biết hoa anh đào là hoa như thế nào. Và đến đỗi tôi không còn để ý đến nó nữa trong một thời gian thật là dài.
Dù không để ý đến hoa anh đào, nhưng tôi lại được học hay đọc về những điều khác của người và nước Nhật. Tôi được học địa lý về bốn hòn đảo lớn, đọc về tinh thần võ sĩ đạo, Thiền Zen, thuật dưỡng sinh đến cả nghệ thuật xếp giấy, cắm hoa, trà đạo… ngoài cái được gọi là “phát xít Nhật” và trận “Trân Châu Cảng”.
Rồi nước Nhật chỉ được quyền phát triển về kinh tế, bị kìềm hãm về quân sự vũ khí để nước Nhật vươn lên thành nền kinh tế thứ hai trên thế giới sau chiến tranh. Ngày nay chắc người ta không còn nghi ngờ gì nữa về tinh thần và tính kỷ luật của người Nhật: Người Nhật đã nhặt rác chung quanh chỗ ngồi ở một vận động trường tại Nam Mỹ trong một cuộc tranh giải túc cầu thế giới. Một đứa bé đem phần quà dành riêng cho mình mà ngưòi khác đã cho đem bỏ lên thùng quà chung để được phân phát, và trong thảm họa kép vừa sóng thần vừa sự rò rỉ của nhà máy điện hạt nhân vẫn không có náo loạn, trộm cắp và mọi người vẫn cứ xếp nhau nối hàng để được nhận quà trợ cấp. Điều ấy có lẽ rất hiếm dân tộc nào làm được!
Đối với tôi chuyện kể sự tự sát của một kiếm sĩ “samurai” đã là một hình ảnh phải thán phục nhưng đội “Thần phong” lại làm cho người ta cúi đầu nhiều hơn. Họ chết cho Danh dự và Tổ quốc, chỉ muốn mình là một vị Thần trong không biết bao nhiêu là vị Thần trong Thần Đạo. Họ không cần một Thiên Đường với bao nhiêu là ân huệ của Đấng Tối Cao hoặc là những “gái trinh” đang chào đón. Quả thực dân tộc Nhật có nhiều điều đáng cho ta học tập!
Từ một đất nước đầy thiên tai thuộc vùng núi lửa trên vành đai Thái Bình Dương, không nhiều tài nguyên, nhưng nước Nhật đã phát triển vượt bậc về kinh tế, kỹ nghệ để chiếm lĩnh ưu thế trên thương trường thế giới, âu cũng là điều thế giới phải suy nghĩ. Tôi không hiểu từ ngữ “Phù Tang” để gọi nước Nhật xưa kia từ đâu vì từ Hán Việt đã là Nhật Bản hay là Nhật Bổn, nhưng chữ Phù Tang nó có vẽ nên thơ và mờ mờ ảo ảo giống như những đám mây trôi (phù vân) bay bay trên bầu trời, bay qua ngọn núi đẹp, oai hùng Phú Sĩ Sơn, là ngọn núi được xem là biểu tượng của nưóc Nhật và của cả một dân tộc mà họ tự coi như là hậu duệ, con cháu của Thái Dương Thần Nữ.
Tôi biết không nhiều về nước Nhật, nhưng nước Nhật đã gây cho tôi nhiều kỳ thú từ thuở ấu thơ và tôi chỉ mong đến một ngày nào đó được đặt chân lên đất Nhật để có thể nhìn được tận mắt những gì người Nhật đã sinh sống và đã làm!
Bây giờ tôi là một kẻ tha phương, lang thang trên đất người, cho nên đi đâu cũng là một kẻ lang thang. Lang thang đi tìm một đoá hoa “anh hùng” tượng trưng như cái chết của một kiếm sĩ, nó chỉ có “Khi Hoa Anh Đào Nở”, cánh hoa đào mỏng manh, bay lả tả trong gió như cái chết nhẹ nhàng, kiêu hãnh của một giới kiếm sĩ mà tiếng Nhật gọi là “Samurai”, nó khác hơn là “xem cái chết tựa lông hồng” để nói đến cái khí khái người quân tử, của người cầm kiếm trong những truyện Tàu hay kiếm hiệp mà đôi lần tôi đã được đọc!
Theo một tài liệu thì người ta ghi nhận rằng: Hoa Anh Đào trên đất Nhật nở rộ từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 5 tùy theo những vùng khi mùa Xuân đến sớm hay muộn từ Nam lên Bắc. Vào thời điểm ấy người Nhật tổ chức lễ hội “hanami” (hana: hoa; mi: ngắm). Tục nầy có từ khoảng 1300 năm trước. Vào thời đại Nara (710-794) hoa được ngắm là hoa Ume (Plum), nhưng đến thời Heian (794-1185) thì hoa Sakura (cherry blossom: Hoa anh đào) được chọn.
Hoa Sakura thời gian đầu chỉ là biểu tượng cho một “đời sống mới”. Nhưng khi giới samurai nắm giữ quyền lực chính trị, quân sự vào những năm 1100 thì nó lại được tượng trưng cho “những người đàn ông không sợ chết”; và đến ngày nay hoa tượng trưng cho: “Đời Sống Mới, Hi Vọng và Tình Bạn”.
Nếu “Hanami” sớm thì chỉ thấy những mầm, còn trễ thì chỉ dẫm bước chân lên những cánh hoa trơn trợt mà thôi. Thức ăn người ta đem theo trong hội “hanami” thường là thịt nướng, rau cải, cơm với các thứ đồ chua hoặc cá. Người ta cũng có thể mua thức ăn làm sẵn gọi là “Bento boxes” có rau cải, bánh bột gạo nhuộm hồng gói trong lá xanh, sushi và thịt chiên hay nướng. Để thời gian thưởng ngoạn hoa được lâu hơn người ta không đụng vào cây, bẻ nhánh hay kể cả ngồi gần các rễ cây.
Theo thời gian, nước và người dân Nhật là những gì khiến cho tâm hồn tôi có nhiều thắc mắc và tò mò để cần phải tìm biết và một ngày nào đó, nếu có dịp, thì nên đến đó một lần. Thuở xưa có lần tôi đọc được bài báo trên tập san Thời Nay hay Tiền Phong gì đó có đề cập đến một Đảng gọi là Hắc Long của những người Nhật ở hải ngoại, khi đọc cái tựa bài tôi cứ ngỡ đó là một Đảng dữ tợn chuyên gây những tai ương đến cho người khác, nhưng tôi không ngờ nội dung lại khác hẳn. Đó là tổ chức để trừng trị những hành vi không tốt của cộng đồng người Nhật ở nước ngoài, tức là Đảng ấy giống như hành động “thanh lọc” những thành phần xấu trong cộng đồng người Nhật và thi hành “trừ gian diệt bạo”. Rồi đến, ngưòi dân nước Nhật ở hai thành phố Nagasaki và Hiroshima (Trường kỳ, Quảng Đảo) phải chết dưới hai trái bom nguyên tử để kết thúc chiến tranh mà chính phủ Nhật đã mở ra trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai. Đó là dân tộc đầu tiên, duy nhất trên thế giới phải nếm mùi của “bom nguyên tử” cho đến tận bây giờ. Nước Nhật “Bonsai”, “Trà Đạo”, “Nghệ Thuật Cắm Hoa”, “Zen”, “Dưỡng Sinh”, “Origami”, “Võ Sĩ Đạo”, “Thần Đạo”, “Ninja”, “Geisha”, “Sumo”… Và bên cạnh “Núi lửa, Sóng Thần, Động đất và sự tiến bộ về kỷ thuật, khoa học” cùng nhiều điều khác nữa đã làm cho tôi “khao khát” để tìm hiểu về nước và người dân Nhật! Tôi hi vọng có đến một ngày…!

Nguyên Thảo,
04/06/2017.

              

*Pháo Nổ Xuân Nầy!



*Thuộc về ai?   

Trách nhiệm bây giờ thuộc ở ai:
Tai to mặt lớn hoặc ăn mày?
Bàng dân thiên hạ hay ăn học?
Chiếu trước chiếu trên hoặc lũ cày?
Thuở bé học hành chi cho uổng
Nên già quan chức chẳng giống ai!
Giành nhau gấu ó tuồng chai mặt
Xấu hổ chưa? Sao mãi thế này!

Đồ Ngông,
13-07-04.



 
*Xin cáo với người dân.

Tớ xin nghiêng nón, cáo người dân
Bọn chúng hung hăng phá xóm làng
Chúng quậy mấy năm không chịu dứt,
Họ còn ra dáng, tỏ nghênh ngang.

Bọn chúng là ai? Quan sát kỹ
Theo từng chi tiết sẽ ra ngay
Bên ngoài chúng tỏ điều nhân đức
Tâm địa hơn "trâu xéo, ngựa cày".

Bọn chúng bây giờ quá lắm thay!
Họp bè họp đảng tận phương này
Xúm nhau mà quậy mà bêu xấu
Để nắm toàn quyền, mặc múa may!

Đồ Ngông,
15-07-04.





*Đón Tết Và Xuân.

Xuân nầy thấm thoát đã hai mươi
Hưởng Tết bao năm ở xứ người
Pháo Tết, bánh chưng chừng tẻ nhạt
Nắng chiều bóng ngã: Nhớ Xuân xưa!

Đón Xuân quê mẹ, cõi phương Nam
Lửa Hạ như thiêu, bỏ việc làm
Trốn nắng ở nhà nghe máy lạnh
Ồn ào như cảnh đón xuân sang!

Tết đến, năm qua! Cũng bạn bè
Cùng nhau chúc tụng, lắng nhau nghe
Dư âm ngày Tết quê hương cũ
Cùng lớn thanh âm thế hội hè!

Mừng anh, mừng chị lại mừng tôi
Tuổi nữa gắn lên tóc... bạc rồi!
Cứ chúc cùng nhau nhiều sức khoẻ
Để còn hưởng Tết với nhau thôi!

Đồ Ngông,
12-10-04.

 


*Pháo Nổ Xuân Nầy!

Tớ tính năm nay với bạn bè
Cùng nhau pháo nổ xúm nhau nghe
Tiếng de, tiếng nút kêu canh cách
Âm trống, âm thùng dộng chẻ tre
Cứ nói, cứ la vang trời đất
Lại đùa, lại xạo bể "bô" xe.
Người người ngạo nghễ như ra trận
Chẳng chết thằng Tây, chẳng chém vè!

Đồ Ngông,
11-11-04.






Sunday, May 28, 2017

*Đi Cruise! (2)



 Trời hừng sáng tàu vào cảng của Melbourne, ánh đèn khu cảng hãy còn, và thành phố mờ mờ chắc là do sương. Coi vậy mà tàu chuẩn bị cặp bến cũng thật là lâu. Từ lúc vào cho đến khi tàu yên vào vị trí phải mất mấy tiếng đồng hồ, đủ thời gian để chúng tôi đi lên bờ vào thời điểm những quán hàng mở cửa.
Bến cảng và Thành phố Melbourne.

Mọi hành khách lần lượt đi qua “hành lang” (gangway) và cầu thang đi vào chính giữa tàu nơi tầng 4 để đi ra cầu thang rời tàu. Vì đông người nên thời gian khá lâu. Mấy bà thì đi theo vợ chồng Thoa để đi “shop” mua hàng, còn đàn ông chúng tôi thì đi riêng. Rời tàu người ta chỉ đưa ra cái thẻ của tàu và đi ra vào một khu vực để mua một vé đi xe buýt, xe lửa, xe lửa điện (tram) trong ngày với giá mười mấy đô, nhưng tôi thuộc loại người già cho nên chỉ trả 7 đô rưỡi thôi. Cầm vé và bản đồ, lịch trình trong tay, tôi, anh Nhi, anh Bảy Gàng muốn đi xe “tram” ra thành phố cho nên tìm đường ra đón xe “tram”, chứ không ngó ngàng gì đến những chuyến xe buýt con thoi (Shuttle bus) đưa người tới lui ở đây. Đường đi ra trạm “xe tram” khá xa, tuốt ở công viên ngoài kia. Ba người chúng tôi lên xe “tram” để vào thành phố. Tôi dự trù đưa hai ông đến nhà Bưu Điện thành phố thì phải, nơi mà có ga xe điện ngầm để đón chuyến xe “tram” chạy vòng quanh thành phố Melbourne để hai ông tham quan cho biết. Nhưng vì lạ đường nên không định được vị trí mà lại chạy huốt vào giữa thành phố. Còn đang loay hoay tìm lại đường đi nào để đón chuyến xe đó thì anh Bảy Gàng lại muốn đi ăn phở, nên chúng tôi quyết định: Thôi thì đi vào khu Richmond vậy, vì khu Footcray quá xa so với ở đây.
Tôi muốn nói một điều khá lạ là khi chúng tôi chưa rời tàu thì điện thoại di động không hoạt động được, nhưng vào lúc nầy điện thoại hoạt động lại bình thường, không lẽ trên du thuyền người ta đã chặn mọi làn sóng điện thoại của chúng tôi hay là vì trên tàu không có trụ để tiếp vận?
Xe “tram” đến khu Richmond là khu vực gần city nhất mà người Việt định hình những cơ sở buôn bán sớm. Vào những năm giữa 1980 tôi đã theo anh Hải (Bảo Liên) đi lên đây để anh lấy vải và hàng hóa về cho tiệm tạp hóa và tiệm vải của anh. Bây giờ khu nầy có cổng cho khu vực mà người ta đã làm những mô hình nón lá để ở trên cao như đánh dấu một khu vực sinh hoạt có đông người Việt. Vì giờ mở cửa chưa đến nên các tiệm vẫn còn đóng. Ba chúng tôi đi dọc theo con đường để nhìn ngắm cảnh sinh hoạt vào thời điểm nầy. Chỉ hơn mười phút sau các cửa hàng bắt đầu dọn hàng ra và cửa đã mở.
Chúng tôi vào phở “Hiền Vương 2” kêu mỗi người một tô cùng thức uống. Tất nhiên là có những lời bình luận, nhận xét như những cuộc ăn thường tình. Tôi chỉ cười mà không đưa ra ý kiến của mình. Đã đến đây rồi thì tôi cũng muốn biết công ty du lịch “Friendly Travel” của anh Vương Chánh mà tôi đã tham dự vào chuyến đi Âu châu năm 2009 ở đâu vì anh đã dời văn phòng từ North Melbourne về đây từ lâu. Tôi hỏi thì bà chủ tiệm phở Hiền Vương 2 chỉ cũng ở gần đây. Sau khi trả tiền, chúng tôi thả dọc theo đường để đi đến văn phòng du lịch của anh Chánh. Nhưng tìm mãi không gặp. Tôi muốn tìm đến văn phòng để hỏi thăm vài chi tiết về chuyến đi “Canada, Alaska và Honululu” sắp tới vào tháng 5 này. Thôi không gặp thì thôi! Cũng chẳng sao!
Chúng tôi lại đón xe “tram” trở ra thành phố, vừa đi không xa tôi lại nhìn thấy bảng hiệu của công ty “Friendly Travel” của anh Chánh, lúc nãy chúng tôi có đến chỗ đó, nhưng vì cửa đóng và dơ dáy giống như một nơi bỏ hoang nên tôi không để ý. Tôi tự nghĩ: “Không lẽ công ty của anh Chánh dời đi nơi khác?”, thôi để khi về đến nhà sẽ gọi điện thoại hỏi sau!
Xe “tram” đưa ba chúng tôi về đến công viên Port Melbourne cũng đã là 1 giờ rưỡi, tức còn dư giờ chán! Tuy nhiên như vậy vẫn tốt hơn, chứ nếu đi lang thang mà lên tàu trễ giờ mới là vấn đề lớn. Lòng vòng bên ngoài thêm chừng tiếng đồng hồ sau chúng tôi mới trở lên tàu. Vẫn là trình diện cái thẻ đi tàu vì nó là cái chính yếu ở trên tàu: Thẻ ấy xác định danh tính của mình, nó cũng là chìa khóa cửa phòng, đồng thời lại thay thế cái “credit card” khi mua hàng, chi phí ở trên tàu. Thật là tiện dụng, nhưng chắc cũng “lắm phiền hà” khi bị mất vì thế mà nhiều người luôn đeo nó trên một sợi dây choàng qua cổ như một nhân viên làm việc trong một cơ quan quan trọng. Chúng tôi cũng phải đi qua sự kiểm soát cá nhân, hành lý qua máy thăm dò, quan sát giống như đi vào một phi trường. Xong xuôi, chúng tôi rã nhau về phòng nhưng không quên hẹn trên nhà ăn buffet “all you can eat”.
Ngồi ăn bên cạnh cửa kính, chúng tôi vừa ôn lại chuyện biển, chuyện vượt biên gay go của ngày nào, chuyện vượt qua các khó khăn trên đất khách, quê người. Đến nay mọi việc như là “ổn định” thì mình cũng “đã là già”. Thế hệ chúng tôi là thế hệ đầu tiên “phải bỏ nước ra đi” mà “tha phương” tìm đất sống chỉ vì “Một chủ nghĩa tốt đẹp” mà “chẳng tốt đẹp một chút nào”. Nói như vậy có người sẽ cho rằng: “Chúng tôi là những kẻ Bi quan cách mạng, nhưng cách mạng đến bao giờ mới tạo được “Thiên Đường hạ giới” trong một “Thế giới Đại Đồng” hay chỉ là một ảo tưởng mông lung để cho nước lớn lợi dụng nước nhỏ biến thế giới nầy trở thành lệ thuộc dưới quyền cai trị của họ. Ôi! Cuộc đời cũng lắm phong ba!
Theo ấn định là đúng 4 giờ mọi người phải lên đủ trên tàu, sau đó tàu sẽ chuẩn bị rời bến vào lúc 6 giờ để làm cuộc hành trình trở về Port Adelaide. Đến giờ xuất hành, tôi cứ tưởng tàu tự vận hành để ra khỏi bến chứ không ngờ lại cần đến hai tàu nhỏ xíu nhưng máy rất mạnh kéo ra ở hai đầu: Một chiếc trước, một chiếc sau mà người ta gọi là “tàu hoa tiêu”. Không biết Tuấn chồng Thoa có dữ liệu từ đâu mà cho biết, mấy tàu đó kéo như vậy ăn một lần khoảng 7,000 đô. Như vậy thì mắc quá. Trên tàu người làm đã nhiều, chi phí rất lớn; thức ăn, nhà hàng phủ phê, lại thêm các phương tiện giải trí khác thì làm sao có lời. Ba chúng tôi cứ mãi thắc mắc, nhưng chỉ thắc mắc mà chơi, như để thoả mãn trí tò mò của mình, chứ chưa được nghe sự giải thích thỏa đáng nào.
Tàu hoa tiêu đang kéo Du thuyền ra bến.

Tàu rời bến có sự yễm trợ đi theo của một chiếc tàu hoa tiêu, nhưng cũng không xa lắm thì chiếc hoa tiêu quay trở về bến. Tàu ra khơi càng lúc càng xa, đại dương càng trở nên mông mênh. Càng về khuya con tàu bị lắc lư hơi nhiều, những cánh cửa cứ kêu kèn kẹt. Lần nầy tôi đổi phiên với anh Bảy Gàng nằm giường trên cao. Theo chiều lắc lư tôi cứ tưởng chừng như xương sống của mình dài ra, thu lại theo chiều lắc của tàu. Tôi nghĩ chắc là gió to lắm, gió thổi tạt vào thân tàu mới làm cho tàu lắc nhiều hơn là do sóng biển, vì chiếc tàu nầy tuy không hẳn là quá lớn, nhưng với sức nặng hiện hữu của nó cũng đủ cho nó đứng vững vàng trên vùng nước của đại dương. Vợ tôi và chị Bảy Gàng chịu đựng không thấu với cái bệnh gọi là “say sóng”, đành nằm yên lặng mà chịu đựng!
Đến sáng, hai bà đờ đẫn chẳng đi ăn sáng được, còn chúng tôi đi lấy thức ăn mà phải chuẩn bị tư thế “bám víu” vào cạnh bàn hay thành vách nào đó. Ngồi nhìn vào sóng đại dương cuồn cuộn tôi lại nhớ đến sự sống mong manh ngày nào còn lênh đênh trên biển cả. Ngày ấy ngồi trên boong tàu cây nhỏ bé thấy sóng vươn cao như một nóc nhà rồi lúc thì đưa tàu lên đầu sóng, lúc lại ngụp xuống vùng trũng sâu. Nhìn sóng biển thoi thóp như cái bụng của người sắp chết mà nhiều suy nghĩ mông lung. Nay ngồi trên cao nhìn sóng biển bên dưới đang cuồng nộ với con tàu sắt lớn lao, nặng ký trong cảnh lắc lư!
Về đến phòng thì anh chị Nhi đến cùng nhau tâm sự, nhưng ý kiến chung của mấy bà là: Nếu biết như thế nầy thì mua vé máy bay đi về sướng hơn! Nhưng nào ai biết được chữ “ngờ”, thế nên bây giờ đành nằm chịu trận! Quả thật từ Adelaide đi lên Melbourne nếu đi máy bay chỉ hơn tiếng đồng hồ, còn đường bộ xe buýt thì khoảng 9 tiếng cộng với một tiếng nghỉ hai chặng giữa đường, vị chi là 10 tiếng, nhưng với chiếc du thuyền nầy phải đi đường vòng trên biển đành phải mất khoảng 36 giờ đồng hồ cho mỗi lượt. Do đó cả ngày hôm nay chúng tôi vẫn phải lênh đênh trên đại dương và đến sáng ngày mai tàu mới cập bến.
Theo ý kiến chị Nhi tôi và anh Nhi đi lên nhà hàng lấy thức ăn cho vợ tôi và chị bảy Gàng. Khi mang thức ăn vào trong thang máy mấy bà Úc cười và kháo nhau: Chồng mầy có làm như vậy cho mầy không?
Nằm chịu trận hoài thì cũng chán, chiều mọi người đi lên lấy thức ăn và ngồi nhìn ra biển để giải khuây, và cũng chẳng tha thiết gì với những giải trí ở trên tàu. Không biết làm gì tôi lấy điện thoại di động chụp vài tấm hình hoàng hôn trên đại dương để làm kỷ niệm của những ngày xa xưa khoảng 34 năm về trước. Tàu vẫn lắc, cửa vẫn kẽo kẹt vào ban đêm nhưng mức độ có giảm đi, mọi người cứ mong đến sáng để tàu vào bến, hoàn thành một chuyến đi.
Trời chiều trên đại dương.

Thời gian trôi nhanh. Tàu cập bến con cháu đưa xe ra rước. Về đến nhà tôi mở truyền hình ra xem. Thì hỡi ôi, trong chuyến đi du thuyền đầu tiên của chúng tôi đã bị ảnh hưởng cơn bão Debbie là cơn bão rất mạnh đang tàn phá và làm ngập lụt nhiều nơi mà mấy nơi nặng nhất là vùng Logan village của Tiểu bang Queenland, cùng Lismore thuộc Tiểu bang New South Wales và đang đe dọa vùng Rockhampton của Queenland. Có người nói cho tôi biết là sức gió của cơn bão ấy có lúc đến 240 cây số giờ tức là cơn bão rất mạnh.
À! Thì ra thế! Du thuyền chúng tôi đi lắc lư là do vậy, nhưng dù gì cũng khiến cho mấy bà ngại ngần khi chọn cho cách “Đi du thuyền”. Vợ tôi lại càng lo hơn khi nghĩ đến chuyến đi “Du thuyền ở Alaska” sắp tới đây. Mấy đứa con cứ trấn an: “Mẹ đừng lo ở đó ít bão và tàu lớn hơn, sẽ không sao đâu”. Dù vậy, chúng tôi cũng phải rút kinh nghiệm và chuẩn bị đối phó thật sẵn sàng để không phải tái diễn cảnh “bèo nhèo say sóng” lần thứ hai!

Nguyên Thảo,
29/05/2017.

              

*Tháng Bảy!



*Tháng Bảy Vu Lan:

Tháng Bảy Vu Lan ngày của Mẹ
Mà bao năm tháng bẵng quên đi
Đến nay sực nhớ thì mẹ đã
Đã quá già nua, yếu hẳn rồi!

Một chiều nhạt nắng, nhìn lên tóc
Tóc trắng vương vương bóng áng mây
Dưới đất, trên trời cùng một sắc
Nương che gương mặt đã hao gầy.

Con ngồi bên mẹ, lòng hối lỗi
Muốn nói lên lời: "Hỡi, Mẹ ơi!
Bây giờ mới nhớ tình thương Mẹ
Mẹ đã cho con cả cuộc đời!"

Đồ Ngông,
11-07-04.



 


*Tháng Bảy Siêu Hồn.

"Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân"     (ca dao)
Cũng nhờ Tăng, Chúng lo nhau tụng
Nguyện độ Cô hồn các đẳng siêu
Không làm ma quỷ luôn vất vưởng
Gây rối cho người ở thế gian.
Đức Phật chỉ đường mau cứu giúp
Cùng nhau họp mặt tụng cầu an
Mong cho hồn phách người lỡ bước
Biết nẻo quay về thế giới yên!

Đồ Ngông,

11-07-04.

 


*Tháng Bảy Mưa Ngâu:

Tháng Bảy mưa Ngâu khóc sụt sùi
Mắt nàng Chức Nữ lệ tuôn rơi.
Thương chàng cô độc tròn năm chẵn,
Tủi thiếp lẽ mình năm trọn y
Ô Thước bắt cầu đầu chịu sói
Sông Ngân ngăn trở cách đôi bờ
Trời đày bởi thiếp không canh cửi
Chàng để trâu ăn cả lúa trời.

Đồ Ngông,
11-07-04.

 


*Tháng Bảy Nhân Gian:  

Tháng Bảy nhân gian mùa "chó động..."
Đực, cái ngoài đường "nhảy tùm lum"
Giữa sá, giữa đường coi chướng mắt
Mấy bà "mắc cỡ" vội đi nhanh!

Một cặp trước nhà đang "vướng mắc"
Xung quanh, một lũ lại ầm vang
Ông bực xách cây xua đuổi mãi
Đánh nhiểu, chúng lại sủa càng hăng.

Bà bực mắng rằng: "Đồ lũ chó!
Xấu hổ không? Sao lại giữa đường
Lại lũ chó hùa thêm nhốn nháo,
Tạt nước cho mầy, biết tay tao!"

Nói đoạn bà bưng thau nước lớn
Tạt ào vào lũ chó hung hăng
Cả đám hoảng lên lo nhảy thoát
Cái, đực "quên vui" chạy mất hồn!

Đồ Ngông,
11-07-04.




Thursday, May 4, 2017

* Đi Cruise. (1)




Được tin anh chị Chín Thôi cho hay là có chuyến Cruise đi lên Melbourne và trở về Adelaide trong bốn ngày với giá đang “save” rẻ khoảng hai trăm cho mỗi người. Anh chị Bảy Gàng vội cho chúng tôi hay cùng rủ anh chị Nhi để làm một chuyến. Thực ra chỉ có vợ chồng tôi chưa đi Cruise thôi chứ anh chị Bảy Gàng cùng với anh chị Nhi đã đi một lần với Cruise P&O từ trên Sydney, họ đi trong chuyến đó đã đi sang Vanuatu và New Caledonia thì phải, nên họ rất thích và thường hay ca ngợi về chuyện đi cruise. Vài tháng nữa vợ chồng tôi cũng sẽ có một chuyến đi Cruise trong chuyến hành trình sắp tới vào tháng đầu tháng 5, nên tôi cũng muốn làm một chuyến ngắn nầy để làm quen với thể thức trên cruise xem như thế nào mặc dù công việc trong khoảng thời gian nầy khá là bận rộn. Vì phòng đòi hỏi tới bốn người một phòng cho nên cần thêm hai người nữa nên Cô Hi (em vợ tôi) chị Thới cũng tham dự vào chuyến đi. Đến ngày hẹn chúng tôi cùng đón xe hoặc gia đình đưa ra Outer Habour để lên chiếc Cruise của công ty P&O. Khi vào cổng trước khi đi vào cruise, chúng tôi phải giao hành lý cho nhân viến để họ đem lên phòng cho mình chứ mình không phải đem, tất nhiên là hành lý ấy phải được gắn bảng đề tên, số phòng đầy đủ kể cả số điện thoại di động của mình. Trước khi vào cầu thang để lên Cruise mọi người đi qua phòng kiểm soát vé và ở đây phát cho mỗi người một cái thẻ để sử dụng trên tàu. Xong chúng tôi lần lượt qua hành lang di chuyển vào tàu bằng một cầu thang bắt ngang qua. Trình thẻ lên tàu cho nhân viên kiểm soát đứng bên đầu cầu thang, chúng tôi lại đi qua một máy kiểm soát hành lý và người giống như ở phi trường. Rồi từ đó kiếm tầng nào có phòng ngủ của mình bằng đi thang máy hay cầu thang và tìm cái số của phòng. Xong, dùng cái thẻ ấy để mở cửa phòng vì cái thẻ ấy cũng là chìa khóa để mở, cho nên mỗi người đều có cái thẻ riêng có tên họ, chuyến hành trình lẫn thời gian từ ngày nào (27/03/2017) đến ngày nào (31/03/2017). Đây là chuyến cruise của hãng P&O có tên là Pacific Eden khởi hành từ Port Adelaide lên Port Melbourne.
Theo lời anh chị Bảy Gàng, cũng như anh chị Nhi thì chiếc Cruise nầy nhỏ hơn chiếc kỳ trước mà các anh chị đã đi. Tôi đùa: “Đây là máy bay nội địa tất nhiên là nhỏ hơn máy bay đi quốc tế rồi, vì đây là chiếc Cruise đi trong nước chứ không phải là chiếc đi nước ngoài. Nhưng tôi thấy từ giờ phút nầy mình giống như ở tù: Đố ai dám đi ra khỏi tàu”. Đi làm sao được, đi ra khỏi tàu chỉ có xuống biển thôi, vậy thì ai dám đi!
Đại dương mênh mông.

Vợ chồng tôi ở chung một phòng với anh chị Bảy Gàng, ở phía trong tàu chứ không có cửa sổ để nhìn ra ban-công (balcon) nên được rẻ hơn. Phòng trang trí giống như phòng ở trong một khách sạn, nhưng chỉ nhỏ hơn mà thôi và giường cho bốn người thì ba giường kê vừa khoảng không gian ngoài cái bàn và tủ quần áo, nhưng riêng một giường được chồng lên trên. Một người phải ngủ trên đó. Tôi và anh Bảy sẽ thay phiên nhau trong vài ngày. Anh chị Nhi và hai đứa cháu ngoại ngủ ở phòng khác của tầng 4. Tôi không để ý rõ là bao nhiêu tầng có phòng ngủ, nhưng những tầng có phòng ngủ thì các phòng ngủ được đặt dọc theo tàu, hai dãy đâu mặt nhau, đường đi ở giữa mà tiếng Anh gọi là “gangway”, phân nửa tàu bên trái nơi có phòng của chúng tôi mang số chẵn, hai dãy phòng đâu mặt ở nửa bên phải tàu mang số lẽ. Tất cả có lẽ là 11 tầng vì khi đi thang máy lên tầng ăn gọi là “Pantry” thì nó ở tầng 11 (deck 11).
Dãy hành lang (gangway)

Theo số liệu mà tôi tra cứu theo điều mới thắc mắc thì được biết chiếc tàu Pacific Eden nầy có sức chứa hành khách là 1,260 người, chia 9 tầng chắc là không kể đến Thủy thủ đoàn và những người phục vụ trên đó, chỉ nói đến “guests” thôi. Tàu có chiều dài là 219 mét, trọng tải 55,820 tấn vận tốc tối đa là 20 knots đăng ký ở UK (Anh quốc).
Theo giờ quy định thì đến 4 giờ chiều tàu mới khởi hành, tuy nhiên hành khách phải đến sớm trước từ 2 giờ để làm thủ tục và nhập tàu. Đến 3 giờ 15 chúng tôi lại được gọi lên ban-công mang theo áo phao để thực tập ứng xử khi cần cấp cứu. Tôi thuộc đội 12 (Lifeboat 12). Đứng đợi khá lâu, chắc đợi mọi người lên đầy đủ và đúng giờ mới được hướng dẫn. Sự hướng dẫn chẳng là bao lâu, xong thì mọi người tản hàng ra về trở về phòng của mình. Đúng 4 giờ tàu rời bến ra khơi.
Tôi đứng trên boong cao để nhìn trở vào bến cũng như thấy toàn vùng của khu Outer Harbor của Port Adelaide, quả là đẹp thật. Tàu càng lúc càng đi xa, trời chiều mặt trời xuống dần khiến tôi lại hồi tưởng trên chiếc tàu cây nhỏ bé lênh đênh trên biển của những ngày “phải bỏ nước ra đi”. Tôi, anh Nhi ngồi trong phòng ăn, nhìn ra biển mà nhắc lại chuyện xưa, còn mấy bà thì đi lấy thức ăn ngồi ở chỗ khác.
Biển tương đối bình yên với tàu lớn như thế nầy, với sức nặng và lớn nên sóng biển cũng chẳng lay động nó là bao nhiêu, nhưng đến đêm thì tàu càng lúc càng chao mạnh hơn, các cửa tủ rung động và kêu tiếng kẽo kẹt, tôi hơi ngạc nhiên chắc tàu đi về hướng nam, nên thường đi vào vùng gió mạnh của khu vực đông nam Nam Úc khi chiều gió từ Nam Cực thổi về. Tàu lắc lư khiến vài người chịu không nổi nên đành phải “ói” vì “say sóng” trong đó có vợ tôi. Trong suốt đêm cũng nhiều khó ngủ, đến sáng hôm sau tình trạng cũng chẳng tốt hơn mấy, ngồi trên “pantry” ăn nhìn xuống biển thấy sóng không cao lắm, nhưng cũng làm cho tàu đủ chao đảo. Tôi lại nghĩ chắc mình nhìn từ trên cao quá nên thấy sóng nhỏ, còn ngày xưa mình đi tàu nhỏ quá thấp nên thấy sóng trở nên cao và mới thấy cái nguy hiểm của nó. Nhưng tôi lại có một cái suy nghĩ khác nữa vì thân tàu lớn nên bị ảnh hưởng của gió to mà lắc lư nhiều. Tàu lênh đênh trên biển cả ngày hôm sau. Đến chiều anh Bảy Gàng hỏi người phục vụ ở nhà hàng “Pantry”, chừng nào tàu đến và đến nơi nào ở Melbourne? Tàu sẽ đến vào sáng hôm sau và cập ở Port Melbourne. Nhìn vùng nước mênh mông trên biển, những hình ảnh ngày xưa lại hiện về, nhất là khi tôi phát hiện ra nước biển theo từng cơn sóng tràn qua khe hở để rót vào khoang tàu cây nhỏ bé. Thoa con anh chị Nhi cho biết chiều nay “book” ăn ở nhà hàng Angelo. Tôi hỏi: “Tại sao mình biết?”, Thoa mới nói nó để giấy trong phòng cho mình để mình biết chỗ nào để ăn, ngày nay ở chỗ nào có chương trình gì? Lúc đó tôi mới chú ý đến điều đó, chứ từ hồi xuống tàu đến bây giờ tôi không hề để ý đến những miếng giấy ấy vì điều đơn giản là không đủ tiếng Anh để hiểu.
Trên tàu có mấy nhà hàng như “Plantation”, “Angelo”, “Dragon Lady”, “Waterfront”, nhưng chúng tôi thường đến nhà hàng Pantry cho những bữa ăn của mình. Ngoài Pantry, Plantation, và Waterfront là những nhà hàng mà cước phí đã tính luôn trong tiền vé. Tuy nhiên, Thoa cho biết những nhà hàng Ý “Angelo” và “Dragon Lady” cũng khỏi phải trả tiền, nhưng những người Tây họ biết nên đã “book” từ sớm thành ra không còn chỗ nữa. Đúng là dân dốt như chúng tôi nên chỉ làm những điều “đơn giản nhất” để không sợ bị sai.
Bình minh trên biển cả.

Đêm đến không khí tương đối yên tĩnh hơn, tàu không còn lắc lư nhiều nữa. Tôi cứ trông trời sáng để được đến bến thay đổi không khí, sinh hoạt trong một khoảng thời gian ngắn nào đó xem sao!



Nguyên Thảo,
05/05/2017.