Tuesday, April 25, 2017

*Buồn Cho Ông!



 *Chưa Gọi Rằng Lành!    

Bảy mươi chưa hẳn gọi là lành
Đã thế sao ông lại chẳng rành
Luôn cứ dúi đầu bươi móc mãi
Chắc gì ông đã hẳn hơn ai?

Cười người lại nhớ chớ cười lâu
Có chắc ngày mai thuở bạc đầu
Ông vẫn tốt lành như hiện có,
Hay là, mai đến sẽ ra sao?

Ông ạ! Ngày sau ai biết được!
Thì ông cũng chẳng khá hơn người
Ông suy, ông nghĩ; sao ông nhỉ?
Chẳng khéo tương lai chúng lại cười!

Đồ Ngông,
05-06-04.


 

*"Thức" Hay "Ngủ"!    

Tớ đã nghe ông người có "Trí"
Bằng nầy, chức nọ quả là cao
Sao ông không xứng theo danh phận?
Nẻo xấu, lăm le lại bước vào!

Không biết tỉnh hay còn mớ ngủ
Ông mê mê trận chiến tung hoành,
Ông nào biết lũ dân chê chán
Lại chẳng đem tài giúp lẫn nhau!

Mong ông nghĩ lại xem sao đã,
Công khó học hành của những năm
Mài nát đủng quần, nhầu sách vở
Mà đem vứt bỏ, lại cam đành..!

Đồ Ngông,
18-06-04.


 

*Buồn Cho Ông!  

Tớ đọc bài ông tớ thấy buồn
Chiều nay ngồi ngóng đám mưa tuôn,
Bên trời Tây ấy, người ôm hận
Ở cõi Nam nầy, kẻ thấy thương!
Không biết mũi tên xuyên đúng huyệt
Hay là viên đạn trúng vào tim
Ông luôn lải nhải điều thù hận
Tớ biết rằng ông "thấm" thật rồi!

Đồ Ngông,
29-06-04.




 

Friday, April 14, 2017

*Lòng Vòng Trên Bắc Úc. (6)




Tài xế đưa đoàn chúng tôi đến Qantas Hangar vào lúc 11 giờ 23 như vậy là chúng tôi chỉ di chuyển giữa hai nơi chỉ chừng khoảng 13 phút thôi. Xe vào cổng thì chúng tôi đã thấy dọc theo hàng rào là những mô hình, khung sườn cũ của những chiếc xe hơi kiểu xưa từ từng thời kỳ được trưng bày ngoài trời. Và khi đi vào bên trong thì những đời xe mới hơn để du khách “ngắm nghía” và “thưởng ngoạn” về hành trình lịch sử của loài xe, mặc dù trên cao của cái nhà chứa nầy vẫn để hàng chữ “Qantas Empire Airways Ltd”. Thì ra nơi đây ngày xưa nó là nhà chứa máy bay của doanh nghiệp Qantas được xây dựng từ năm 1934 và cái phi trường dân sự cũ ở chốn nầy đã là điểm đầu tiên mà mọi chuyến bay thương mại từ Âu sang Úc hay ngược lại đã dừng lại và đóng vai trò quan trọng trong lịch sử hàng không của Úc Đại Lợi. Cái phi trường xưa ở nơi nầy cũng đã chứng kiến thành tích của Ross và Keith Smith khi họ thắng được giải thưởng 10,000 bảng Anh trong cuộc đua đầu tiên từ Anh đến Úc về hàng không.
Năm 1942 trong cuộc dội bom của Nhật vào Darwin nó gần như bị phá hủy hoàn toàn, dấu vết còn lại bằng những lỗ đạn trên cây đà của khung sườn. Khi kế hoạch xây dựng sân bay mới cho Darwin khởi đầu vào năm 1937 thì từ năm 1946 mọi máy bay đều sử dụng phi trường mới và nhà chứa nầy được dùng vào vào việc sửa chữa các máy móc. Từ tháng 3/1954 Bộ Hàng Không Dân Sự đã mua đứt nhà chứa nầy với số tiền là 4500 bảng Anh. Đến năm 1980 Câu lạc bộ Motor Vehical Enthusiasts Club muốn mướn nhà chứa lại từ Bộ Hàng Không Dân Sự, nhưng không đạt được kết quả. Mãi đến tháng 1/1999 Câu Lạc Bộ Những Người Mê Xe nầy mới thuê lại nhà chứa từ Bộ Nghệ Thuật và Bảo Tàng để làm nơi trưng bày xe như chúng tôi đã thấy hiện nay và làm nơi du khách đến để xem và tìm hiểu, vì thế mà hàng chữ ở trên cao vẫn là về Hàng Không mà trong ruột lại là Xe Hơi.
Rời nơi đây vào lúc 11 giờ 40, tài xế lại đưa chúng tôi đến bãi biển gọi là Fannie Bay, bãi biển nầy rất đẹp, nước trong xanh xem thật là tươi mát với nhiều chiếc thuyền màu trắng nổi lên nền xanh của nước biển và bầu trời, lẫn gió nhè nhẹ từ biển thổi vào thật là nên thơ. Giờ nầy nếu được nằm trên bãi cỏ để “làm một giấc” thì là thật thú làm sao! Nhưng mặc dù vậy chúng tôi vẫn phải đi vào để thăm cái nhà tù ngày xưa, đó là nhà tù H.M Goal Labour Prison Darwin. Khác với khung cảnh thoải mái, tươi mát của bãi biển thì nơi chốn nầy lại là nơi giam giữ những người tù kể cả những người tử tội.
Không ngờ nhà tù nầy lại trở thành một nhà tù lịch sử để bây giờ cho du khách tham quan. Nó được thành lập từ năm 1883 cho mãi đến năm 1979 thì đóng cửa. Hiện nay thì không còn sử dụng chỉ để du khách đến tham quan. Chúng tôi đi qua những dãy phòng làm văn phòng hành chánh, nhân viên rồi người hướng dẫn của nơi nầy đưa chúng tôi vào những dãy khác nhau của nhà tù và giới thiệu nơi nầy là của khu vực nam, khu vực nữ, khu vực của những người tù biệt lập, phòng nhỏ, kín đáo khó đào thoát có người canh gát cẩn thận. Khu vực của tử tội được xây trên nền cao mà dưới là cái hầm để xử tử người gây tội. Tuy nhiên hai người tử tội cuối cùng bị xử chết  vào năm 1952 là Jerry Coci và Jonus Novotny, gốc người Tiệp Khắc khi họ giết chết một tài xế Taxi.
Chúng tôi được dẫn qua những khu khác dành cho đàn bà và có cả cho trẻ con và những khu vườn để người tù trồng trọt cho bớt thì giờ rỗi rảnh cũng như khu giải trí cho nam. Riêng khu  dành cho trẻ con thì ở đây có để bảng là những năm 70 là nơi giam giữ những người tị nạn Việt Nam khiến tôi phải suy nghĩ vì thứ nhất tôi chưa hề nghe đến việc bị giam giữ khi những người tị nạn đầu tiên đi tàu thẳng đến Úc và cập vào cảng Darwin vì tôi có quen nhiều người trong số đó. Thứ hai là họ kể được đối xử tử tế và người dân Úc lẫn chính quyền rất thương mến người tị nạn nên chỉ có “ở lều” chứ không có “ở tù”, rồi thời gian ngắn sau được đưa về các Tiểu bang khác để định cư. Cho nên điều nầy tôi phải “hỏi lại” mới được!
Người hướng dẫn đưa chúng tôi về khu nền trống với dấu vết của những trụ cột và cho biết đó là khu giặt giũ nhưng đã bị tàn phá do trận bão Tracy vào tháng 12/ 1974. Chúng tôi đã hoàn tất cuộc thăm viếng “nhà tù xưa” lịch sử nầy để có thể hiểu được một vài hình ảnh nào đó của con người gây nên tội cũng như hình phạt mà người ta dành riêng cho họ. Nhưng đối với tôi cái sự kiện “giam giữ những người thuyền nhân Việt trong nhà tù” nầy vào những năm cuối của thập niên 70 là một điều “hơi lạ” và tôi sẽ phải kiểm chứng để xác minh. (Điều nầy tôi đã hỏi kỹ lại và minh xác là không có, nhưng có thể vì theo luật pháp nên chính quyền phải để là như vậy. Vì với không gian nhỏ như thế thì làm sao chứa cho đủ một số lượng người trên vài chiếc tàu cập bến một lượt!).
Chúng tôi rời khu vực nhà tù vào lúc quá 12 giờ trưa, tài xế đưa chúng tôi về “Bảo Tàng Quân Sự ở Darwin” (Darwin Military Musium) mà nó được mang tên là “Defence of Darwin Experience” vào lúc 12 giờ 23 phút.
Đây là một tòa nhà được mở ra do Hội Kỵ Binh Hoàng Gia Úc Đại Lợi thiết lập thay cho Chính quyền Bắc Úc từ năm 2012 như là để kỷ niệm 70 năm Darwin bị Nhật không kích (vào ngày Thứ Năm 19/02/1942) trong trận Đệ Nhị Thế Chiến. Phía trước có ba trụ cờ cao với cờ Úc, cờ Mỹ và một lá cờ khác mà tôi không biết là cờ gì. Ngay bên cửa vào là trái đạn được để bên cạnh đường đi. Các hình ảnh được trưng bày trên các vách tường, trong phòng, nhiều du khách đang ngắm nghía, nghiền ngẫm về tranh ảnh ấy. Tôi chỉ nhìn qua loa rồi đi theo đoàn vào trong phòng được gọi là phòng chiếu phim vì cũng đã sắp đến giờ chiếu phim tài liệu tái dựng lại cuộc không kích của quân đội Nhật khi họ dùng 188 máy bay để dội bom Darwin trong 64 lần cùng sự tàn phá, hậu quả của nó.
Sau khi xem đoạn phim (cở 20 phút) xong, chúng tôi ra ngoài căng-tin để mua thức ăn trưa cùng với bao nhiêu người khác. Vợ chồng tôi với anh chị Thới, cô Hi, anh Quang đang ngồi nói chuyện thì có một cô mặc trang phục quân đội Úc đi ngang dáng người Á Châu nhìn chúng tôi một hồi; xong, cô hỏi chúng tôi bằng tiếng Việt: “Mấy Bác là người Việt hả?”, rồi cô nói chuyện với chúng tôi trong chốc lát. Thì ra cô đến Úc tị nạn với gia đình từ lúc còn nhỏ, gia đình đang hiện sống ở Thủ đô Canberra, còn cô tham gia vào quân đội Úc; hôm nay cô đến đây cùng với đơn vị để tham quan Viện Bão Tàng nầy. Xong buổi ăn trưa, chúng tôi kéo nhau đi xem các khí cụ chiến tranh được trưng bày ở đây. Từ những thùng phuy đựng xăng dầu thuở xưa cho đến súng Thần Công, cho đến các loại xe tăng, thiết giáp kể cả xe lội nước M113 cũng được trưng bày ở đây. Nào là súng pháo binh 115, 150 li, cùng loại pháo đầu bạc 175 li, rồi cùng các loại cao xạ trên đất liền lẫn của hải quân cũng được bày trí để cho du khách tham quan. Anh Thới nhìn chiếc xe Jeep lùn mà tôi thấy hình như anh đang suy nghĩ một điều gì, không biết anh có giống những người bạn mà tôi quen không vì chiếc xe nầy một thời gắn liền kỷ niệm của thời chiến tranh mà họ đã tham dự vào trong cuộc chiến tranh “Tương Tàn thảm khốc” để “thống nhất đất nước” hay là một cuộc chiến tranh “xuẩn động” của hai chủ nghĩa: Tư Bản và Cộng Sản mà Việt Nam chỉ là “Tay Sai”! Tôi chụp cho anh vài bức hình với chiếc xe kỷ niệm ấy!
Riêng tôi và anh Ba Quang còn đi vào các khu vực khác để xem các chiến cụ lạ lẫm mà mình chẳng biết để làm gì. Xong chúng tôi lại trở ra và rời Bảo Tàng vào lúc 1 giờ 30. Tài xế cần ghé vào tiệm Bánh gần đó để mua chút ít bánh, thế là nhiều người trên xe cũng mua vài thứ bánh mà họ thích. Xong, xe đưa chúng tôi đến Museum And Art Gallery Of The Northern Territory. Ở đây vì không cho phép thu phim lẫn chụp hình nên tôi đành lặng lẽ đi qua để nhìn không thôi.
Có một phòng dành riêng để trưng bày hình ảnh tàn phá của cơn bão mang tên Tracy vào ngày 24/12 năm 1974 như là những hình ảnh tai họa kỷ niệm lớn nhất của Thành phố Darwin. Nhiều khu vực bị thiệt hại toàn bộ trông thật thê thảm, mà phòng lại được trang trí có vẻ âm u nên làm cho tôi một cảm giác buồn buồn. Xem mà ngẫm nghĩ về thiên tai, về đời sống con người trên lớp võ cứng mỏng dánh của trái đất bên ngoài bao bọc một khối lửa nhão nhẹt ùng ục ở bên trong, rồi lại nghĩ về kiếp sống “Vô Thường” mà Đạo Phật đề cập đến. Nếu người ta cho là có một Ông Trời hay vị Thượng Đế nào đó thì mấy ông ấy chẳng là ác lắm ư?
Cơn bão Tracy xảy ra vào thời gian được gọi là Chrimas Eve của năm 1974, chỉ trong vài giờ với tốc độ là 217 đến 300 cây số giờ đã tàn phá phần lớn các vùng ở Darwin.
Bảo tàng nầy làm cho người ta thích thú với sự đa dạng của nó từ hình ảnh ảnh hưởng của cơn bão Tracy, những tranh sơn dầu, cây cối, hoa lá; những sưu tập về bướm, loài bò sát, loài cá, chim; những nghệ thuật và chất liệu văn hóa của người Thổ dân tại địa phương mà còn trưng bày về ngành biển của vùng Bắc Úc lẫn Đông Nam Á nữa. Tôi đi dọc hành lang trưng bày các bộ sưu tập vừa ngấm nghía, vừa thích thú có chút thỏa mãn vì được xem nhiều đề tài ở đây. Điều mà người ta nhớ nhiều nhất lại là chú cá sấu nước mặn dài 5 mét, nặng 780 kí đã làm thịt nhiều người đi trên những chiếc thuyền bé nhỏ tên là Sweetheart  ở trên sông Finniss, phía nam của Darwin.
Vi thời gian đi xem được ấn định có hạn nên tôi phải vội vàng thưởng thức, ngắm nhìn chứ không có được cái xem nhàn nhã, thong thả để nhởn nhơ quan sát mà cũng chẳng được quay phim hay chụp hình nên đành thoáng qua để hưởng cái đẹp của cảnh quan trang trí trưng bày bên trong cũng như cái tươi mát của khung cảnh bên ngoài cùng lần lần đi ra để tập họp lại phía trước trong gian hàng bán đồ lưu niệm. Chúng tôi rời nơi đây khoảng chừng 2 giờ rưỡi để lên đường về từng khách sạn nghỉ ngơi, rồi một ngày nữa lại qua đi.
Và rồi chúng tôi 6 người gồm vợ chồng tôi, vợ chồng anh chị Thới, anh Ba Quang, Cô Hi phải thêm một ngày lang thang ở Thành phố Darwin cho “đã cái chân” vì mãi đến tối chúng tôi mới đón máy bay để về Adelaide – Nam Úc. Giã từ vùng đất nắng nóng để trở về cái lạnh của mùa Đông nơi phương Nam và chúng tôi cũng không quên giã từ những chú cá sấu được gắn hình to tướng trên vách cao ở nơi làm thủ tục “check in” vì nơi đây là “vương quốc” của loài bò sát nầy!
Hẹn gặp nếu có lần sau! Giã từ Darwin, giã từ Darwin nhé!

Nguyên Thảo,
05/04/2017.

              




*Khiếu nại của loài chó.   (ngụ ngôn)

Có một lũ chó
Kéo nhau lên mãi tận Thiên Đình,
Đánh trống ầm vang
náo động cả Thiên Triều, Ngọc Đế.
Chúng sủa lên gấu ó,
Đồng lòng kiến nghị,
Khiếu nại một đám người
Giành mất độc quyền
Trời ban cho chúng nó:
"Bẩm Ngọc Hoàng,
Sao để loài người cướp mất đặc tính của chúng con
Mai kia trong loài chó
Có loài người lẫn lộn
Thì làm sao chúng con sống nỗi!
Chúng con vội
Đánh trống phân trần
Van nài Thượng đế
Đừng cho loài người xen vào loài chó
Để thế giới chó được an bình
Thoát khỏi cảnh điêu linh,
Vì loài người
Vốn không là loài chó!"

Đồ Ngông,
31-05-03.

 

*Chửi Nhau!    

Yên lặng mà xem họ chửi nhau,
Văn chương, chữ nghĩa tuôn ào ào
Tiếng thanh, tiếng tục đều lên báo
Quên mất rằng nay đã bạc đầu!

Cứ để người ta lại chửi nhau
Cho ai cũng thấy cái hung tàn
"Xưa kia, ta vốn người ăn học"
Nay thử đem xài, dáng nghênh ngang!

Thấy người chửi lộn, ta thêm tủi
Trí thức ra tài "đẹp" thế ư?
Nghĩ lại thân mình tuy dốt nát
Nhưng chưa có chuyện khiến người cười.

Nhìn tôi, nhìn bạn rồi nhìn anh
Một lũ chúng mình quá tuổi xanh
Nóng nảy, hung hăng quên hết cả
Có đàn con cháu: "Lạ! Cha, Anh...!"

Đồ Ngông,
01-06-03.



 

*Nghiệp Quả.

Ta chửi đời, người lại chửi ta
Ô hô! Như thế mới là quà!
Tặng nhau dăm chữ, mua ơn nghĩa
Dứt bạn ba tiền, bán xót xa
Thế sự muôn đời, đời vẫn thế!
Trần gian vạn lối, lối cùng qua!
Sinh sinh đã vốn là hư ảo
"Không", kiếp tâm linh mới thật nhà!

Đồ Ngông,
30-03-04.

 

*Đám Nào?   

Nực cười hai gã khùng khùng,
Buồn buồn ra giữa chợ đời mà chơi
Bốn tay mực tủa tơi bời,
Mặt mày, quần áo tả tơi đen xì
Thương thay! Dân chẳng can gì
Họa bay đành vướng, phận mình đành cam.
Chợ đời người hỏi: "Lạ thay!
Đám nào lại tới nơi này hung hăng?"

Đồ Ngông,
30-04-04.




Saturday, March 25, 2017

*Tay Sai.




*Ngỡ là...!  (Ngụ ngôn)

Ngỡ là không phải chó hùa,
Đâu ngờ bầy chó lại ùa chạy ra
Con nầy cắn, chó kia la
Om sòm một lũ nhào vô một người.
Thảm thương! Cho đám chó hùa!
Dù sao cũng chó một bầy xưa nay!...

Đồ Ngông,
27-01-04.

 


*Mài Sừng... (ngụ ngôn)

Con trâu kia đứng cạnh bờ,
Lui cui mài bén cái sừng chờ mai
Chém người lủng ruột, đau thay!
Nghinh người áo trắng, ghét ai sáng màu.
Nhưng mà thiên hạ có câu:
"Mài sừng cho lắm, loài trâu vẫn là!"

Đồ Ngông,
10-02-04.


 

*Tay Sai.   

Cái thuở tay sai đã "quá" rồi!
Bây giờ tớ muốn được an ngơi,
Cớ sao cứ muốn "chồm" lên tớ
Bắt tớ thi hành chuyện mãi thôi!

Áo xưa tớ bỏ từ lâu lắm!
Cung cách giờ đây tớ lại người,
Bạn bè thân thiết ta tìm đến
Vui vẻ cùng nhau khoảnh khắc thôi!

Thời ấy đến giờ lại quá xa,
Tóc xanh nay đã bạc trên đầu
Cái mơ, cái mộng còn đâu nữa,
Cái thuở tay sai đã "quá" rồi!

Đồ Ngông,
23-05-03.


 

*Thời Hung Hăng.

Một thuở hung hăng đã đi rồi!
Tớ ngồi uống nước nhớ lại chơi
Hung hăng chẳng được thêm gì nhỉ,
Chỉ khổ người, mình có thế thôi!

Thuở trước bất bình bao ức hiếp
Gian ngoa, lừa đảo, cố chèn người
Tớ quyết xen vào ăn thua đủ,
Chuyện mình cho tới tận nơi đâu.

Cũng có một thời không oanh liệt
Nhưng không hổ thẹn kiếp con người
Nghĩ lại ê chề thân trí thức,
Không xây, mà lại phá cho hôi.

Hung hăng cho lắm chẳng được gì,
Mà thêm cho chúng dễ khinh khi
Đưa mặt mày mo thiên hạ ngắm
Hung hăng cho lắm..! Chẳng được gì!

Đồ Ngông,
14-05-03.


 

*Mài Sừng  (2).    

Thiên hạ, nhân gian đã có câu:
"Mài sừng cho lắm cũng là trâu",
Cũng là tôi tớ người sai khiến
Cũng kẻ gia nô thuở bạc đầu.

Không bạc, không tiền vâng lệnh chủ
Lên đèo, xuống biển, đạp gai chông
Đem thân lót gạch cho người bước
Mà lại nghênh ngang thỏa ước mong.

Cứ ngỡ rằng ta là vũ trụ
Đem tài góp sức chuyển xoay đời
Giấc mơ chưa khỏi, chui vào mộng
"Cho lắm! Mài sừng cũng vẫn trâu"!

Đồ Ngông, 

26-05-03.



Tuesday, March 14, 2017

*Lòng Vòng Trên "Bắc Úc". (5)



Vào căng-tin sắp hàng để lấy thức ăn thì cũng hơi trễ, cho nên chúng tôi đành phải vội vàng. Thế mà vẫn còn chưa kịp. Đã quá 2 giờ trưa nên hướng dẫn viên kiêm tài xế lại ngõ ý nhanh kết thúc để cho kịp giờ. Thế là chúng tôi đành phải thu gọn nên không thể uống trọn vẹn một ly cà phê sau khi ăn. Xe buýt đưa mọi người vòng trở ra khoảng hơn 40 cây số để vào khu vực gọi là Anbangbang mà nơi đây có vùng núi đá Noulangie hay Burrungkuy (theo tiếng gọi của người Thổ dân) là nơi ở của người bản địa từ hàng ngàn năm trước.
Hình vẽ khoảng 4,000 năm
Hình thần thoại qua tranh.
Núi Noulangie

Hình vẽ chuyện Thần thoại

Trước khi đi vào khu vực, hướng dẫn viên tập họp, giải thích cho chúng tôi hiểu sơ qua về nơi nầy tại chỗ trưng bày các thông tin về những gì sẽ xem, quan sát, đồng thời yêu cầu giữ đúng những gì luật lệ quy định ở đây. Với đoạn đường đi không xa mấy thì đến nơi có những hình vẽ được vẽ trên vách đá. Người ta làm con đường bằng ván gỗ đóng ghép vào nhau đi vòng qua những hình vẽ để du khách có thể tham quan, quan sát các hình vẽ được dễ dàng hơn. Những máy ảnh, quay phim, điện thoại di động được sử dụng để chụp những “bôi” hình lưu niệm lia lịa. Hình vẽ con Kangaroo trên vách đá được cho là quan trọng nhất vì theo sự đo tính của các nhà khoa học và khảo cổ thì nó đã khoảng 4 ngàn năm tuổi, nên nó được bão tồn và gìn giữ cẩn thận. Rồi nối theo là những bức vẽ của những thời gian sau nữa để diễn tả thần thoại mà người dân ở đây đã tưởng tượng ra, đồng thời với những hình ảnh tương đối mới của thời kỳ gần đây khi mà người Âu đã đến, làm nên một nét chính về lịch sử và nghệ thuật của người bản địa.
Hình vẽ ở thời kỳ sau.

 Vì thế nơi nầy cũng là một nét chính để thành hình vùng Công viên Quốc gia Kakadu của Úc mà thế giới (thông qua Tở chức UNESCO) cũng đã công nhận.
Xem những hình ảnh nầy khiến tôi lại nghĩ về những thời gian còn bé bỏng của mình. Thuở ấy chúng tôi là một bầy con nít hay tụ tập đi từ đầu làng cuối xóm khi thì bắt dế, khi thì đi bắt cá lia thia, hay tát cá hay vào những vùng rừng chồi để hái trái giấy, cò ke, trái sim, mù cua hoặc táo gai để ăn. Xong rồi đi tắm, đến vài nơi mát mẻ nghỉ ngơi. Ngồi buồn chẳng biết làm gì, nên kiếm gì đó để vẽ bậy lên đất cát, vách đá, hay lấy đất nắn đồ chơi. Rồi tôi lại liên tưởng những hình ảnh nầy cũng là những hình ảnh của các sinh hoạt giống như vậy. Cái quý của chúng bây giờ là trong hàng trăm, hay cả ngàn năm vẫn còn tồn tại để đánh dấu một sự sinh hoạt, suy nghĩ của một vài bộ tộc nào đó trong quá trình lịch sử. Và ngày nay chúng tôi lại được đi “coi” và “suy nghĩ” về quá trình của vài bộ tộc ở nơi cái gọi là địa phương nầy!
Hình vẽ thời kỳ sau nữa.
Chúng tôi hoàn tất một cuộc tìm hiểu, nghiên cứu nhỏ, tất nhiên trong đầu óc của mỗi người chắc chắn sẽ có vài dư âm, suy nghĩ của mình về những điều mình đã thấy về những hình vẽ đó khi mà người hướng dẫn viên kêu gọi trở ra xe. Đoạn đường đi của vòng khảo sát nầy vào khoảng 1 cây số rưỡi, nhưng đã cho chúng tôi hiểu cái giá trị của nó vì sao người ta lại muốn bão tồn!
Đúng 4 giờ chiều xe lăn bánh để trở về. Đoạn đường về cũng còn là khá xa gần 200 km rồi còn gì. Trên đường xe còn đổ vài người ở những khách sạn khác như ở khách sạn gần sân bay Jabiru, và khách sạn cá sấu (vì hình dáng khách sạn nầy thiết kế theo hình dáng của con cá sấu và cũng là tên của nó) do các vị khách nầy ngày mai còn đi đến những nơi khác.
Xe chạy đến khu vực gần với cổng vào của Công viên Quốc gia thì mọi hành khách phải sang xe vì xe của anh Ben nầy ở lại và anh Dan sẽ chở chúng tôi về Thành phố Darwin. Đoạn đường dần chìm vào trong bóng tối. Ngồi nhìn qua của sổ xe tôi được dịp nhìn cảnh hoàng hôn qua vùng rừng và đồng rộng mênh mông. Màu đỏ khi mặt trời lặn sao tươi và hấp dẫn đến thế nầy! Nó khiến tôi cứ thỉnh thoảng để máy lên quay ghi lại hình ảnh ấy trong vài giây đồng hồ.
Đường dài lại không có nhiều xe nên nó trở nên vắng lặng hơn. Từ chuyến đi ngày hôm qua cho đến hôm nay khiến tôi nghe mệt mỏi nhưng không thể ngủ được chút nào, thôi thì ráng nhướng mắt lên để nhìn lại cảnh hai bên đường vào ban đêm. Chúng tôi về đến khách sạn vào khoảng chin giờ, sớm hơn ngày hôm qua nhưng lo tắm rửa, nghỉ ngơi cho nên đành ăn mì gói rồi đi ngủ. Đêm nay chúng tôi không phải vội vàng dậy sớm nữa vì ngày mai chúng tôi sẽ đi tham quan vòng quanh vài địa điểm đặc biệt của Thành phố Darwin nầy!
Được một đêm ngủ ngon, không phải vội vàng thức sớm nữa, trong người nghe tương đối thoải mái. Đến 8 giờ rưỡi chúng tôi đều hẹn nhau ở phòng tiếp tân của khách sạn để 8 giờ 45 xe buýt đến đưa chúng tôi đi một vòng tham quan vài địa điểm gọi là tiêu biểu của Thành phố Darwin. Xe đến đúng hẹn, trên xe đã có nhiều khách du lịch khác, đa số cũng là người già. Xe vòng trở lại đường Knuckey để chạy ra hướng biển tức là công viên War Memorial rồi tài xế kiêm hướng dẫn viên thuyết minh về nơi nầy, đồng thời xe chạy qua các tòa nhà Quốc Hội, Thư viện; Nhà Chính Phủ, The Old Town Hall, Christ Church Cathedral, ngân hàng ngày xưa để tài xế nói sơ qua về những nơi di tích lịch sử ấy cùng nói đến sự tàn phá của cơn bão Tracy vào ngày trước Christmas năm 1974. Sau đó thì xe đưa chúng tôi đến WWII Oil Storage Tunnel.
Oil Storage Tunnel.

Chúng tôi đến tại cửa vào của đường hầm số 5 và 6 vào lúc 9 giờ 45, vừa khi đó có một đoàn nhà sư Phật giáo hình như của Tích Lan thì phải đi từ trong hầm ra chứng tỏ họ đã hoàn thành cuộc thăm viếng. Tại đây đoàn chúng tôi được người thủ quản đường hầm thuyết minh về các đường hầm chứa dầu nầy, nhưng vì tiếng Anh “quá giỏi” cho nên tôi không thể hiểu được nhiều. Tôi chỉ biết ngay trong cuộc oanh tạc đầu tiên của máy bay Nhật đã phá hủy 7 trong 11 bồn chứa xăng dầu của hải quân Úc được thiết lập từ năm 1924 ở Stokes Hill, cho nên bên Bộ Chiến Tranh quyết định làm các đường hầm để chứa dầu. Từ tháng 4/1943 George Fisher bổ nhiệm người tiến hành xây dựng 11 đường hầm chứa dầu trong bí mật với số nhân công là 400 người, kinh phí dự trù là 220,000 bảng Anh và sức chứa là 20,000 tấn dầu. Trong thời gian oanh tạc máy bay Nhật đã không kích Darwin cả thảy là 64 lần. Khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt vào năm 1945 thì 6 đường hầm được hoàn tất. Mỗi đường hầm có chiều dài thay đổi nhưng chiều rộng là 4m5 và có chiều cao là 5m4.
 Chúng tôi lần lượt vào đường hầm bên cạnh đường ống thật lớn, chiếm gần phân nửa đường đi. Cuối đường nầy lại đến một khúc quanh co có bộ phận máy móc hình như hệ thống bơm thì phải, rồi đi vào đường hầm dài hơn, ở đây phải trang bị hệ thống đèn để du khách có thể nhìn thấy, bên cạnh đó trên vách còn treo những bức tranh vừa của Nhật, vừa của Úc để có tính cách trang trí cho vui mắt, đồng thời cũng có vài nét về lịch sử của thời kỳ chiến tranh. Tôi cố gắng đi hết đường hầm để xem cuối đường hầm là cái gì thì ra cuối đường hầm là ngõ thông ra ngoài. Tôi đưa máy quay phim, thu gần cái cửa đường hầm ấy vì khu vực nầy không được vào. Xong ngó trở lại thì thấy vắng tanh không còn ai nên tôi cứ ngỡ là trễ giờ nên lật đật chạy trở ra. Nhưng không trễ vì người trong đoàn vẫn loay hoay chung quanh phía trước, người thì đứng nhìn cảnh vật xung quanh, người thì đang tìm để mua đồ lưu niệm.
Đến 10 giờ 20, xe đưa chúng tôi rời Thành phố Darwin và chạy theo đường Stuart Highway để đến Australian Aviation Heritage Centre ở vùng Winnellie. Xe qua vùng sân rộng rồi vòng qua một khúc quanh có trưng bày phần đuôi của một chiếc máy bay cùng một trái bom bên cạnh, và xe đi vào chỗ đậu.
Phần đuôi máy bay và trái bom.

Chúng tôi vào cửa. Ngay cạnh cửa vào tôi lại thấy được vài hình ảnh quen thuộc mà tôi đã mất nó tự lâu rồi, từ cuối năm 2001. Đó là hình ảnh của một hãng hàng không bị phá sản “Ansett”, vì nó là kỷ niệm của vợ chồng tôi cùng ba tôi trong chuyến du hành sang Mỹ, Âu Châu để ba tôi gặp lại người thân (em chú bác, chị cô cậu ruột), còn tôi được gặp bạn bè, anh chị họ, và vợ tôi gặp đứa em út theo gia đình chồng ở Salt Lake City thuộc Tiểu bang Utah ở Mỹ. Ở trong bảo tàng nầy trưng bày nhiều loại máy bay nhỏ, lớn, cũ, du lịch, thể thao đều có kể cả vài động cơ máy bay của Nhật cũng có, nhất là những hình ảnh về các loại máy bay đã dự vào cuộc không kích Darwin trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Bảo tàng nầy được mở ra từ năm 1990 để tiếp nối bảo tàng trước đã bị tàn phá trong cơn bão Tracy vào năm 1974.
B.52 rải thảm bom


Máy bay B.52
 
Trong bảo tàng có trưng bày chiếc máy bay thả “bom thảm” (tức nhiều trái bom cùng lúc) là máy bay B52 mà khi tôi còn trong tuổi thanh niên đã từng nghe âm thanh của từng loạt bom ấy nổ và kéo thật dài khiến những mái tôn của nhà rung nhịp dập dồn theo chấn động. Ở đây có cả loại trực thăng cobra hình con cá dẹp, lẫn máy bay phản lực cánh xếp F111 mà ngoài Bắc lúc ấy gọi là máy bay “cánh cụp cánh xoè”. Đây là một trong hai bảo tàng được trưng bày thường xuyên máy bay B52 (ngoài Hoa Kỳ) được mướn từ Không Lực Mỹ. Chúng tôi rời viện bảo tàng vào lúc 11 giờ 10.

Nguyên Thảo,
03/07/2017.



*Thuộc Hàng Nào Đây?

 

 *Chán Ngán.        

"Thế sự thăng trầm quân mạc vấn
Yên ba thâm xứ hữu ngư châu..." (1)
Người xưa chán ngán từ lâu
Người nay chán ngán, lắc đầu chua cay!
Quê cha sanh bậc anh tài
Tìm đường vượt biển, mà hay tranh giành.
Cấp bằng, quan chức, mề đay
Ngôn từ, chữ nghĩa thẳng tay chẳng chùn
Chỉ thương cái đám dân hèn,
Đã "ngu" mà lại "cu đen", thật buồn!

Đồ Ngông,
07-02-04.

(1) Thơ Cao Bá Quát

 


*Thuộc Hàng Nào Đây?     

Dân ta có quá chục ngàn,
Vài người mà khuấy cả làng chơi vơi.
Dân ta cố ráng nín hơi,
Vài người mà đã trống kèn rình rang.
Bước đi giữa xóm, giữa làng,
Người người đứng ngó: "Thuộc hàng nào đây?"

Đồ Ngông,
07-02 -04.

 


*Chõ mỏ.       

Ông ở từ đâu chõ mỏ vào,
Hay ông phường lũ thuộc rêu rao?
Sơn đông mãi võ làm tôi tớ,
Hát thuật cò mồi phận nối dao.
Gia đạo, ông còn chưa sửa được,
Tu thân, mi chẳng biết ra sao?
Thế mà ông lại hay khua mõ
Không biết từ đâu chõ mỏ vào?

Đồ Ngông,
05-03-04.

 


*Lời Tạ Lỗi!    

Tôi là một tên già
Đứng ra nhận tội cùng lũ trẻ:
"Nếu mai nầy
Trên đất nước xứ xa
Có xảy ra điều chi không hay cho sắc tộc
Lỗi cũng tại lũ già,
Bi hay tranh giành, chửi bới thối tha
Tôi tạ tội vì không làm tròn nhiệm vụ".
Tôi muốn nói lên lời tự thú
Để mai nầy "gần đất, trời xa"
Tôi không phải ăn năn, hổ thẹn.

Lỗi không phải tại tôi,
Không phải: "Tại tôi mọi đàng!"
Mà vì
Do "Tâm" người ích kỷ,
Nhỏ nhoi, sân hận, oán thù
Trời không ban cho họ!

Con xin cầu ơn trên,
Ban cho họ sự sáng suốt, lìa khỏi u mê
Để họ trở lại con người thực tế:
"Họ biết có cộng đồng,
Còn biết có cả chục ngàn thân quen".
Để cùng nhau sung sướng
Và sát vai nhau hỉ hả!
Con chỉ cầu
Và cầu mong được điều như vậy!
Và chỉ mong
Một điều ấy mà thôi!

Đồ Ngông,
05-03-04.





Ghi chú: Đây là những bài thơ cũ mà Đồ Ngông đã sáng tác từ lâu và gởi về Trang Nhà 
CHS Trịnh Hoài Đức, nay Đồ Ngông muốn đem về blog để cho trọn vẹn, và độc giả 
xem chơi; nhất là để hiểu những sự biến chuyển trong Cộng đồng của mình ở nơi xa xứ
trong các thời gian đầu!


 
 

Wednesday, February 8, 2017

*Tưởng Rằng...!



*Đứa bé.
Một trái bom đã nổ
Đứa bé đầy máu me
Bò bên hông xác mẹ
Tìm sửa bú no lòng!

Nầy bé ơi! Bé nhỏ,
Mẹ bé chết đi rồi
Bé nào đâu có biết
Bé là trẻ mồ côi!

Trên đường đi lánh nạn
Cố đào thoát chiến tranh
Lắm cảnh buồn da diết
Nào ai biết phận mình!

Đồ Ngông,
07-08-06.

 

*Kết quả!

Một trái đạn được bắn ra
từ nòng đại bác
Một hỏa tiển được phóng đi
Khi rơi xuống mặt đất:
Một khu vực trở thành tan hoang,
Có những thân người oằn oại
trên vũng máu đau thương.
Có thể có
những người chết chẳng còn đầu,
hoặc
xác tứ tung thành từng mảnh.
Tiền của, dựng xây nhiều năm
đã trở thành vô dụng.
Một số người tàn phế
lê lết đời còn lại trên hè phố.
Thêm một ít vòng tang
và đau thương cho những người thân thuộc.
Đó là chiến tranh
Chiến tranh từ sự hoang dại
Của những bộ óc của con người!...

Đồ Ngông,
05-08-06.



*Tưởng Rằng...!    
tặng: Trí thức "dổm"

Tưởng rằng trong cuộc đời nầy
Đã là trí thức ra tài giúp dân
Tưởng rằng thiên hạ qua phân
Làm thân trí thức trổ tài kinh bang
Tưởng rằng dân chúng hoang mang
Có người trí thức ra an dân lành.
Ai ngờ trí thức khôn lanh
Giành ăn như ... thể, làm banh xóm làng.
Ai ngờ học giỏi khôn ngoan,
Bày mưu, vạch kế, móc moi thật tồi.
Ai ngờ trí thức lại hôi,
Còn hơn cái đám suốt đời đi hoang.

Đồ Ngông,
28-01-04.