Monday, April 23, 2018

*Thiên Đường!



Tôi tự hỏi: Đâu là Thiên Đường?
Và Thiên Đường là gì hỡi anh?
Em có biết thì cho tôi biết với
Tôi cần biết, và muốn biết về một Thiên Đường.

Người ta nói
Về một Thiên Đường: Không khổ đau và ngập tràn hạnh phúc
Tôi cũng mơ và đầy mơ ước
Một Thiên Đường trong cuộc sống lầm than
Tôi đi tìm trên những bước trần gian
Sao khốn khổ, những con người vào cõi thế
Sao họ chẳng rời xa cái chết
Lánh cái già, và những căn bệnh nan y
Họ tranh giành quyền chức để làm chi,
Họ muốn cưỡi trên đầu vạn dân thiên hạ
Họ muốn đem tài
Biến thế giới và người, ai cũng đều thế cả
Đi về đâu? Về đâu? Ở một Thiên Đường!
Một Thiên Đường nơi cõi xa xăm
Tôi mơ ước, nhưng không biết bao giờ chứng thật
Mà tôi vẫn mơ
Và mãi mơ cho đến ngày tôi mất
Dù xuôi tay, tôi vẫn lảm nhảm: Thiên Đường!

Đồ Ngông,
23/04/2018.



Sunday, April 22, 2018

*Đường Đến Băng Hà! (10)



 Chúng tôi được một đêm ngủ ngon lành có lẽ do nơi ban ngày bận rộn với việc di chuyển lung tung và nhiều căng thẳng của việc làm thủ tục để lên tàu cũng như hải quan. Hôm nay biết là mình chẳng có gì để làm, nên tôi và anh Thới vẫn nằm “nướng” trên giường mà kể chuyện đời xưa. Những kỷ niệm của những năm đầu trên xứ người được ôn lại dần qua ký ức. Tôi mãn nguyện vì tôi đã đến được bến bờ dù là nơi xứ người, nhưng lý lịch của tôi không còn luôn in dấu hay ảnh hưởng đến con cháu đời sau. Chúng có thể vươn lên cao nếu chúng có nhiều tài năng, chứ ở trên quê hương biết bao giờ chúng có thể cất đầu lên nổi dù chức phận của tôi chỉ là một giáo viên quèn nơi làng quê. “Hồng” cho cả “ba đời” chứ không là một ngày một buổi, thì có “Chuyên” bao nhiêu cũng đều phải “bó tay”. Chúng tôi trao đổi cho nhau rất nhiều về những tìm hiểu, chứng kiến trong cuộc sống của một xã hội mới gọi là mẫu hình tốt đẹp mà chẳng tốt đẹp bao giờ. Nó chẳng qua là “Sự bảo vệ tối đa của quyền lực thống trị” để tránh đi một “sự lật ngược trở lại”, còn một xã hội bình đẳng, sung sướng, ai cũng như ai trong một thế giới Đại Đồng nó còn quá xa, vì thành phẩm sản xuất cung ứng cho mọi người trong xã hội nó chẳng là bao nhiêu. Sự thiếu thốn mọi thứ khiến người ta sống về với bản năng sinh tồn. Muốn được sống thì trộm cắp, cướp bốc, giành giật, gây tội ác… đầy dẫy tệ nạn xảy ra. Những con người đạo đức hơn thì sầu đời quên trong men rượu, bi quan. Mãi rồi thì người ta cũng quen đi, trở nên lì lợm, vô cảm. Muốn công việc làm ăn dễ dàng để có tiền sinh sống thì tình trạng hối lộ, mua chuộc tràn lan, rồi tiến đến lạm dụng quyền hành để đòi được đút lót, sạch hách hoặc “mở treo” trước miệng thì làm sao “mèo nhịn đói” thế là “tham nhũng” khắp nơi. Cho nên “diệt kẻ thù” dễ hơn là chống lại “nội thù”. Muốn an toàn thì phải có “phe nhóm, bao che” từ trên xuống dưới. Tốt đâu chưa thấy mà đã thấy đầy khốn khổ đến với người dân!
Trong lúc đang “hứng thú” để phân tích tình hình, hoàn cảnh cùng nhau thì đã có điện thoại của anh chị Hiệp gọi đến rủ đi ăn sáng. Mấy bà đã lên boong tàu tự bao giờ. Sáng sớm nơi đây trở nên lành lạnh. Chúng tôi lại khép nép vào những tấm kính để bớt lạnh, nhất là gió dù không là gió mạnh. Nhìn ra xa toàn là biển vì tàu đã đi ra vùng đại dương, xa bờ. Những luồng sóng rộng ra và trôi dạt về phía sau, khiến tôi lại nhớ về những ngày lênh đênh trên biển trên chiếc tàu cây nhỏ nhoi và mong manh.
Vào phòng ăn, không khí được ấm hơn. Dù đông người nhưng không ồn ào lắm như ở bên mình. Người ta đến từ nhiều nơi trên thế giới nhưng ai cũng tôn trọng người chung quanh, thế nên họ nói chuyện cũng không lớn tiếng gây cho người khác phải chú ý đến mình, hoặc mình làm phiền hà đến người khác, đó chẳng qua là “sự lịch sự cơ bản” ấy mà!
Tren boong Cruise.

Trước khi bước qua cửa để vào những gian hàng hay quầy thức ăn, mọi người đều phải dùng nước sát trùng thoa vào tay kỹ lưỡng, rồi mới lấy dĩa để lấy thức ăn mà mình muốn. Xong, về bàn mình ngồi. Nước, cà phê thì mình tự lấy, thỉnh thoảng có nhân viên đem đến. Kiểu ăn “buffet”, hay “All you can eat”, hoặc “tự chọn” được áp dụng cho nhà hàng nầy. Nhà hàng nầy được coi như là nhà hàng phổ thông, bình dân và giờ giấc kéo dài hơn là những nhà hàng khác; nên nó được người ta ưa chọn, nhất là vị trí nó ở trên cao, thông thoáng tầm nhìn mà người ta có thể vừa ngồi ăn, vừa phóng tầm mắt ra xa để nhìn trời, mây nước và tán gẫu, nhiều chuyện với nhau. Nhưng kiếm chỗ tốt không phải là dễ trong giờ cao điểm, đông người, có khi cả bọn không thể ngồi chung một bàn. Ăn xong phần ăn chính buổi sáng, chúng tôi quay lại lấy phần đồ ăn ngọt, bước đến cổng cũng phải sử dụng đến nước sát trùng. Kỹ thiệt! mà không kỹ lỡ trên tàu mà cả ngàn người lây bệnh nhau ở giữa biển cả, đại dương thì sao?
Mot phan boong tau, nha ga va chiec Cruise khac.

Sau buổi điểm tâm, chúng tôi rủ nhau đi vòng vòng trên tàu để tìm hiểu một phần nào về nơi chốn mà mình cần phải biết để khi cần, biết mà đi. Mặc dù tôi đã đi trên du thuyền P&O một lần từ Adelaide lên Melbourne và trở về, nhưng tôi vẫn chưa mường tượng được cái cấu trúc tổng quát của nó. Lần nầy chúng tôi có khoảng 7 ngày trên chiếc Cruise nầy, cũng là dịp để tôi tìm hiểu được phần nào để giúp cho cái hiểu biết ban đầu của mình về “Du Thuyền”. Đầu tiên, có lẽ là cái hình dáng to lớn, vĩ đại trước sự trầm trồ của nhiều người, rồi đến đội ngũ tổ chức để phục vụ cho hàng ngàn người sinh sống trên tàu, với đầy đủ các phương tiện giữa không gian biển cả. Lèo lái, tổ chức cho một chuyến đi chắc phải là vất vả lắm!
Trong chuyến đi du thuyền lần trước, vì chỉ là đi trong nước nên tàu nhỏ hơn, mà chuyến đi ấy lại ra khơi nhằm những ngày bão lớn nên tôi đã không đi tìm hiểu được nhiều trên chiếc tàu ấy. Có những lúc đi lấy thức ăn còn phải cẩn thận do sợ té ngã vì tàu lắc lư, nên tôi đành lười biếng đi chơi, xem qua trên tàu cho thỏa mãn óc tò mò. Do đã bị bão, say sóng ấy, nên lần đi nầy vợ tôi cứ mãi lo sợ, nhưng còn hi vọng là chiếc tàu lớn và vùng biển, khí hậu ở đây hiền lành hơn: Chắc là không gặp bão! Bởi thế, tôi cũng cần cám ơn nàng Pandora đậy nắp hộp lại kịp thời để giữ lại cái “Niềm hi vọng để mà sống” như trong chuyện Thần thoại của Hi Lạp xưa đã kể.
Trong sơ đồ chiếc du thuyền Emerald Princess nầy mà chúng tôi được phân phát cho biết là tàu có tất cả là 19 tầng với những tên gọi riêng để phân biệt. Trong đó từ tầng 9 đến tầng 14 là những tầng phòng ngủ cho du khách gồm 4 dãy đâu mặt nhau qua 2 hành lang dài suốt từ đầu tới đuôi. Những phòng có tầm nhìn ra biển thì đắt giá hơn những phòng ở phía bên trong. Ngoài ra có những phòng đặc biệt dành cho khách hạng sang hơn. Khuôn khổ phòng ngủ tương đối đầy đủ phương tiện, tiện nghi như những phòng ở khách sạn, nhưng nhỏ hơn thôi; Tuy nhiên, người ở cũng cảm thấy thoải mái dễ chịu. Tất nhiên là chúng tôi chỉ chọn phòng bên trong nầy cho rẽ tiền. Nhưng riêng 3 bà (chị Thới, vợ tôi và cô em vợ) ở chung một phòng thì hơi chật, một người phải ngủ ở giường phía trên. Ba bà thì ở tầng 9, anh chị Hiệp tầng 10, tôi và anh Thới ở tầng 14. Trong tập sơ đồ ấy cũng có những thông tin, chỉ dẫn những nơi ăn uống, làm việc, giải trí, gian hàng buôn bán lẫn những nơi phục vụ cho khách hàng về sức khỏe, làm việc kể cả việc tổ chức đám cưới trên tàu.
Không biết là bao nhiêu phòng thì có hai người phục vụ việc làm sạch hay dọn dẹp, cung cấp đồ đạc cho khách hàng mỗi ngày về các phương tiện, nước uống, và mỗi ngày phòng luôn được cung cấp một bản thông tin về các sự kiện, cùng lịch trình của ngày hôm sau. Điều nầy rất thuận lợi cho những người biết Tiếng Anh, còn như chúng tôi thì chỉ làm những cái gì “quen thuộc” và “nghe người ta nói” nên có phần “quả thật là ngù ngờ”!
Hôm nay là ngày thứ 9 của chuyến đi, với lịch trình là chúng tôi sẽ có cả ngày đi trên biển cả, đại dương. Thế là chúng tôi chỉ có ăn, ngủ, nghỉ trên tàu, hoặc đi vòng vòng để tìm hiểu, quan sát về chiếc tàu hay cùng nhau ngồi tán gẫu. Ôi! Nếu chỉ là nghỉ dưỡng thì quả thật là tuyệt vời!
Nhớ lần trước khi đi chuyến Cruise của P&O, tôi cứ nghĩ là mình đi Cruise cho biết thế nào mà anh chị 7 Gàng cũng như anh chị Nhi về khen quá: “Vui quá mà lại rẽ”. Nhưng không ngờ chuyến đi ấy “bị bão lớn” dằn vặt khiến tôi và vợ tôi khá chùn bước. Nay mới khám phá được vài điều cũng “tạm gọi là hay hay” vì “ăn uống, vui chơi, nghỉ ngơi, du lịch” đều có trong chuyến đi mà nhất là “hít thở không khí trong lành”, nhưng cần có nhiều thì giờ là điều kiện tiên quyết!
Riêng tôi cứ ngẫm nghĩ với số tiền tôi bỏ ra nhiêu đó thì tiền phòng, tiền ăn uống, người phục vụ, rồi đến những bữa ăn trong nhà hàng tương đối sang trọng ở trên tàu thì chắc là không đủ vào đâu. Vậy người tổ chức làm sao có lời? Đó là chưa nói đến một số tiền nhỏ được tàu cho không bỏ vào trong trương mục của mình như là khuyến khích mình nên mạnh dạn “xài”, nếu không xài thì khi rời tàu người ta sẽ thu hồi số tiền ấy!
Tôi và anh Thới, ngoài những bữa ăn thì đi lang thang trên tàu tìm hiểu để biết về con tàu mình đang đi: Lúc thì lên boong ngắm nhìn đại dương, hay chụp vài bôi hình làm kỷ niệm, lúc lạnh thì xuống phía dưới tránh gió xem phim, còn tắm ở hồ tắm thì chẳng mặn mà. Hay đi xuống các tầng khác để xem coi có những gì, nhất là ở những nơi nào có nhà vệ sinh để cần thiết khi bất trắc. Lúc nào chán thì trở về phòng “đấu láo” cho thỏa mãn “cái mồm”! Nằm đã, thì lại đến bữa ăn rồi điện thoại cùng nhau hẹn gặp ở nhà hàng. Sáng, trưa ăn ở “buffet Horizon Court” ở tầng cao trên boong; chiều xuống tầng 6 ăn ở nhà hàng “Botticelli Dining Room” vì nhóm chúng tôi đã ghi tên ở nhà hàng đó, mặc dù còn có vài nhà hàng khác nữa.
Chương trình tối nay, chúng tôi được kêu gọi đến tầng 6 gần Văn phòng của tàu vào lúc 6 giờ rưỡi để làm quen và chụp hình với Thuyền trưởng, nhưng người quá đông, nên bọn chúng tôi chỉ đứng lấn quấn rồi cùng nhau chuyện trò, chứ không chụp hình được với ông Thuyền trưởng; để rồi đến 7 giờ 45 đến ăn bữa ăn tối ở nhà hàng Botticelli. Xong, lại về phòng tắm rửa, nghỉ ngơi. Được biết sáng mai phải vặn đồng hồ lui lại một giờ vì đi sang múi giờ khác của Tiểu bang Alaska.
Trong mọi lúc thì tàu vẫn cứ đi dù chúng tôi có ngủ hay thức!

Nguyên Thảo,
19/04/2018.



Monday, April 9, 2018

*Tôi Đi.



Tôi đi trên con đường ngõ cụt
Mà trong đầu cứ mang mãi ước mơ
Mơ một mai thiên hạ sang giàu
Như tất cả, không ai hèn, bốc lột.

Đời quá khổ, nên người ta vọng tưởng
Cứ tranh giành, hiếp đáp để lấy hơn
Bức nhau thêm, gây những nỗi căm hờn
Đời vốn khổ, lại càng thêm khốn khổ!

Tôi vẫn mãi đi trên con đường ngõ cụt
Mà cứ là tôi tưởng tôi hơn
Tôi thông minh, trình độ vẫn hơn người
Tôi đang chuyển một xã hội dần sang tốt đẹp.

Nhưng con người là một nguồn ý thức
Luôn bao giờ cũng tâm niệm là “Ta”
Sung sướng, giàu sang, thụ hưởng, lụa là
Không ai muốn bước vào gian khổ.

Kể cả những con người trong hàng trong ngũ
Cũng không qua cái sống của con người
Cũng không qua ý thức tự nhân gian
Sự sa đọa vẫn là điều tất yếu.

Tôi vẫn đi, đi trên đường ngõ cụt
Đi trái chiều, trái ngược với dòng trôi
Tôi vẫn tưởng tôi thay đổi cuộc đời
Cứu thiên hạ qua rồi niềm đau khổ.

Tôi vẫn tưởng tôi dùng thiên binh vạn mã
Lùa nhân gian vào sách lược ngày xưa
Ép khuôn cho tất cả nên thuần
Nhưng tất cả chỉ mang điều “mộng tưởng”!

Tôi vẫn đi, đi trên con đường ngõ cụt
Vẫn loay hoay, không định được hướng cần
Bao nhiêu năm lao khổ lẫn trần thân
Mà tôi vẫn là “loay hoay trong ngõ cụt”!

Đồ Ngông,
01/04/2018.



Thursday, March 29, 2018

*Đường Đến Băng Hà! (9)


Theo kế hoạch hôm nay chúng tôi sẽ chuyển lên du thuyền Emarald Pricess để làm chuyến du hành lên vùng băng hà của Tiểu bang Alaska. Vợ tôi cứ mãi sợ trong chuyến du thuyền nầy, vì lần trước chúng tôi đã dự chuyến du thuyền từ Adelaide lên Melbourne và trở về, tàu đã gặp thời tiết bão nên lắc lư khá nhiều cùng làm cho vợ tôi lã người. Lần ấy, khi về tới nhà mới thấy trên tin tức là cơn bão đó đã làm cho các vùng ở Tiểu bang New South Wales và Queenland bị lụt lội nặng nề. Trên tàu chúng tôi chẳng biết gì cả vì mọi liên lạc bằng điện thoại hay internet không thể thực hiện được.
Do vì chỉ di chuyển ra du thuyền không thôi nên thời gian không gắp, và sáng này mọi người được thoải mái nghỉ ngơi, không cần phải thức sớm nữa. Chuông báo thức từ khách sạn là 7 giờ rưỡi, nhưng đến khoảng 8 giờ mới kéo nhau đi ăn sáng để rồi về phòng soạn lại đồ đạc, hành lý chuẩn bị trả phòng, ra xe.
Xe đi trong vòng nửa tiếng đồng hồ đã đến bến tàu. Nhưng vì hôm nay có đến ba chuyến du thuyền đón khách cùng lúc nên xe kiếm chỗ đậu không phải là dễ. Người rất đông, chúng tôi phải xuống xe và kéo hành lý đi khoảng khá xa. Một phần sợ lạc, một phần lỉnh kỉnh nên phải vội vàng thật là mệt. Mệt nhất là phải chú ý đến phần bảng hướng dẫn để đi theo luồng mà đến tàu của mình và làm mọi thủ tục hải quan vì đây là phần đất của Canada, nhưng đi Alaska là lãnh thổ của Mỹ nên phải trải qua các thủ tục nhập cảnh mặc dù chỉ là ở trong không gian của building nầy thôi. Có lẽ người bận rộn hơn cả là vai trò hướng dẫn đoàn của cô Liên và ông chồng.
Qua thủ tục hải quan rồi đến thủ tục nhập tàu cũng khá là bận rộn nên chúng tôi khi về đến phòng cũng đã là 1 giờ. Hành lý đã được người chịu trách nhiệm khu vực đem để trước cửa phòng rồi, nên chúng tôi chỉ đem vô và đi tìm phòng nhau để cùng đi ăn trưa.
Cũng nhờ chuyến đi “cruise” trước với công ty P&O từ Adelaide lên Melbourne rồi trở về trong bốn ngày cho nên tôi không còn bỡ ngỡ. Trong 7 người thì chúng tôi đã có đến bốn người quen với du thuyền rồi, nên chuyện ăn ở hay cách thức không còn khó khăn. Vì muốn giảm nhẹ chi phí cho nên chúng tôi chọn những phòng bên trong, không nhìn ra biển, dù nó có nhiều ngột ngạt nhưng lại cũng ở toàn trên tàu không thôi.
Ở đây, khi vào phòng ăn để lấy thức ăn, người ta kiểm soát vệ sinh kỹ hơn. Nơi cửa vào mọi người phải xịt nước sát trùng vào tay rồi mới lấy dĩa để lấy thức ăn. Hình thức “buffet” hay “all you can eat” được sử dụng cho nhà hàng phổ quát nầy. Cứ mỗi lần đi vào để lấy thức ăn thêm đều phải thoa nước sát trùng vào hai bàn tay. Người ta kỹ như vậy cũng phải thôi, vì nếu bệnh mà lây trên tàu nầy thì không biết bao nhiêu là khổ cực, nhất là tàu đang lênh đênh trên biển với số người lên đến cả mấy ngàn. Phòng trên tàu không lớn lắm, tuy nhiên sự bày trí cũng gọn gàng, thuận tiện cho hai người, nhưng với ba bà chung phòng thì hơi chật. Trong chuyến đi du thuyền lần trước bọn chúng tôi ở phòng tới bốn người, ba người ở giường dưới có một người phải lên giường trên cao.
Du thuyen sau bong duong pho.

So với du thuyền lần trước thì chiếc Cruise “Emeral Princess” lớn hơn nên chúng tôi cũng hi vọng nó không bị lắc lư nhiều do thời tiết quá xấu, và cũng mong là không bị bão lớn.
Du thuyen Emeral Pricess

Chúng tôi chỉ lo vậy thôi chứ đối với khu vực của Canada nầy mấy khi có bão to như ở những vùng nhiệt đới gió mùa, nhất là đối với những vùng gần xích đạo của Tây Thái Bình Dương hay là Tây Đại Tây Dương, còn lần trước tôi đi “Cruise” bị ảnh hưởng của bão đó là chuyện “hi hữu” thôi, chắc khó kiếm được lần thứ hai.
Sau khi ăn uống xong và “đấu láo” thì chúng tôi kéo nhau đi về phòng, phòng cách nhau cũng khá xa nên đành lấy số điện thoại phòng cho dễ liên lạc. Về đến phòng thẻ tàu cũng là chìa khoá phòng của tôi không thể mở cửa được nên anh Thới phải dùng đến thẻ chìa khóa của anh. Vì thẻ đi trên tàu vừa xác định danh tánh, lý lịch của mình, vừa là chìa khóa phòng, đồng thời cũng là thẻ tiêu xài, tín dụng của mình khi cần mua, hay trả tiền chi phí riêng tư ở trên tàu cho nên tôi cần phải có một thẻ khác, nhưng chuyện đầu tiên là cần đến sự nghỉ ngơi sau một buổi sáng mệt nhọc và căng thẳng. Thế là chuyện ổn định chỗ ngủ, ăn đã xong. Vừa nằm xuống đã nghe thông báo là khoảng bốn giờ rưỡi kéo nhau đến tụ họp ở “nơi tập trung” (muster) cùng đem theo áo phao để thực tập.
Đến giờ, khi nghe thông báo và tín hiệu, tất cả mọi người từ các phòng và các tầng đều ra ngoài hành lang để đi theo phương hướng về địa điểm tập trung của mình theo số trên áo phao. Chính vì vậy mà người đi xuôi kẻ đi ngược trên hành lang tấp nập, hoặc ở các cầu thang người thì đi lên kẻ đi xuống. Tất nhiên với số đông người nên giờ giấc tập trung không thể hoàn tất nhanh được, cho nên đến nơi tập trung thì mọi người tha hồ tán gẫu và chuyện trò trong thời gian khá lâu. Sau đó thì tất cả được hướng dẫn sử dụng áo phao trong những trường hợp cấp cứu hoặc cần thiết. Mất cả giờ đồng hồ chỉ có vậy thôi, nhưng nó lại là bước quan trọng nhất cho người đi du thuyền giống như bước căn bản mà các tiếp viên hàng không hướng dẫn cho hành khách khi đi trên máy bay.
Xong, chúng tôi về phòng để cất áo phao và tôi với anh Thới kéo nhau lên boong tàu để nhìn ngắm, quan sát sơ qua để biết các thiết kế du thuyền nầy ra sao cho thỏa mãn tính tò mò đối với con tàu mình đang dự vào một cuộc hành trình.
Tren boong tau.

Chắc chắn là chúng tôi chỉ nhìn thấy sơ qua cái khái quát còn cái dáng của nó cũng như cách thiết kế còn phải có nhiều tìm hiểu nữa mới có thể biết được. Tôi đứng trên boong tàu, đưa máy quay quay vài cảnh trí trên boong rồi lại quay một vòng cảnh trí của cảng biển cùng thành phố Vancouver như là những hình ảnh gắn kết cùng chuyến đi.
Du thuyen khac

Vừa lúc đó thì anh chị Hiệp cũng lởn vởn trên boong, thì ra anh chị cũng tò mò như tôi và anh Thới, rồi thì ba bà (vợ tôi, cô Hi và chị Thới) cùng xuất hiện. Đó là sự đồng điệu hay là một tâm lý chung cho cái sự “muốn biết và tìm hiểu” theo sự thôi thúc của óc “tò mò”. Chúng tôi tha hồ mà bình luận, nhận xét, thán phục đối với những công trình thiết kế, tổ chức ở trên tàu cho cả mấy ngàn du khách.
Du thuyen khac.

Bây giờ đứng trên boong con tàu nầy nên tôi không thể quay hình ảnh của nó được mà chỉ chỉa máy sang những du thuyền khác với hình dáng vĩ đại của chúng mà chẳng biết du thuyền của mình to lớn ra sao. Hôm nay tới ba chiếc du thuyền cùng đón khách và ra khơi nên bến cảng nhộn nhịp vì vậy mà tôi có dịp thu hình ảnh các con tàu khác trên bến cho nó có vẽ rộn ràng.
Cang va Thanh pho Vancouver tu tren Cruise.

Gần đến 7 giờ, nên chúng tôi cần tìm đường đi về nhà hàng Ý: Botticelli ở tầng 6 để ăn chiều theo sự dặn dò của cô Liên, người hướng dẫn đoàn chúng tôi vì đoàn đã “book” trước ở nhà hàng nầy cho những buổi ăn tối ở trên tàu. Để tìm đường chúng tôi đã phải lật sơ đồ của tàu mà tìm đường đi, và sự định hướng cũng không là dễ khi mình ở trên tàu: Đâu là đầu và đâu là đuôi? Xuống ở cầu thang hay thang máy nào? Và đây là tầng thứ mấy? Cuối cùng chúng tôi quyết định đi vào cầu thang giữa tàu để đón thang máy đi xuống và nhận định được mình đang ở tầng thứ mấy trên sơ đồ, và cứ nghĩ đi về hướng nào số phòng nhỏ hơn tức là lên đầu tàu vì chúng tôi nghĩ các phòng được đánh số từ nhỏ đến lớn bắt đầu từ đầu tàu đến cuối tàu. Nhưng oái oăm thay! Đường đi ở tầng 6 nầy không thông đến nhà hàng Boticelli mà bị đóng ngang do một văn phòng của cơ sở khác, cho nên chúng tôi phải đi lên tầng trên nữa rồi mới thả dài theo hành lang để xuống cầu thang khác mà đi đến nhà hàng. May mắn là chúng tôi đến nhà hàng vào lúc nhà hàng chưa mở cửa nên mọi người còn tụ tập xếp hàng ở phía trước. Nhóm chúng tôi cũng tương đối đầy đủ ở đây. Cô Liên hướng dẫn cho biết đi vào cửa qua phía trái, sau khúc quanh là những bàn ăn của nhóm mình; cứ mỗi buổi chiều là đến đó, đó là những bàn cố định nơi nhà hàng nầy suốt trong chuyến hành trình ở trên tàu. Còn hôm nào có thay đổi nhà hàng khác cô Liên sẽ thông báo cho đoàn sau.
Đúng giờ nhà hàng mở cửa. Mọi người thứ tự theo vị trí xếp hàng qua người kiểm soát. Nhưng trước khi qua đó phải đưa tay vào lọ nước sát trùng lấy chút nước xoa vào hai bàn tay như là “một quy luật vệ sinh” để an toàn sức khoẻ chung cho mọi người trên tàu.
Đoàn chúng tôi chiếm khoảng bốn bàn. Kiểu cách của nhà hàng sang trọng đang được áp dụng ở đây. Mình thích món gì thì cứ theo “Thực đơn” mà chọn với người bồi bàn ghi nhận. Thế là ngày hôm nay chúng tôi đã được hai bữa ăn trên tàu: Một là buổi ăn trưa theo kiểu “buffet” hay “all you can eat” ở nhà hàng trên tầng trên cao có tên là “Horizon Court” và tối nay ở nhà hàng thực thụ là nhà hàng “Boticelli” nầy. Cô Liên có dặn người trong đoàn mỗi chiều ăn ở đây, nếu ai không thích lắm thì có thể ăn ở trên kia theo tùy thích, không nhất thiết phải ăn ở nơi nào!
Trong khoảng thời gian đang ăn ở nhà hàng thì tàu bắt đầu rời bến. Sau khi ăn xong, chúng tôi kéo nhau lên boong để nhìn cảnh tàu bỏ thành phố lại sau lưng mà lần ra cửa biển. Rồi lại kéo nhau về bàn làm việc chính của tàu để bỏ tiền vào trong trương mục hầu có thể chi phí hoặc mua gì ở trên tàu và được tàu tặng cho 48 đô trong trương mục tiêu xài. Trong khi chờ đợi tôi có nói đến việc thẻ trương mục cũng là chìa khóa phòng của tôi đã bị hư không thể mở cửa phòng thì cô Liên và những người am hiểu ở Melbourne có hỏi tôi để chung thẻ cùng với điện thoại phải không, thì tôi “xác nhận” có. Họ cho biết trường hợp đó xảy ra rất nhiều rồi vì sóng điện thoại phá từ tính của thẻ nên dễ dàng bị hư, cho nên “đừng để thẻ chung với điện thoại mobile”, không khéo phải làm thẻ khác như tôi bây giờ. Đó là bài học mà tôi học được ở trên chuyến du thuyền.
Xong mọi việc, tôi với anh Thới về đến phòng thì đã là 10 giờ lo tắm rửa và trải qua đêm trên vùng cực đông bắc của Thái Bình Dương nơi miền Vancouver của xứ lạnh Canada nầy!

Nguyên Thảo,
30/03/2018.



Giả!



*Chú Cuội

Cuội ơi, sao giữ gốc đa
Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời!   (ca dao)
Sao không cưỡi dạo khắp nơi
Nhìn trong dương thế, cuộc đời đông vui
Làm chi mà phải ngậm ngùi
Xuống đây nhập bọn, nếm mùi trần gian.



*Trung Thu Hỏi Chị Hằng


Em hỏi chị rằng: Chị có buồn không?
Hàng tỉ năm chị đẹp cứ chưa chồng
Tại sao chị lại ưa như thế,
Chị ở một mình, chị có buồn không?

Chị ơi! Mỗi năm em cứ nhìn trông chị
Vào giữa mùa thu, ngắm chị cười
Chị tròn vành vạnh, ánh sáng mềm luôn tỏa
Em cứ tưởng rằng: Nụ cười chị thật tươi!

Chị Hằng ơi! gọi "chị" chị có buồn không?
Hàng tỉ năm nhân thế mong chị có chồng
Cớ sao chị lại đi đơn lẽ
Trong suốt hành trình, chị lại thấy: Có buồn không?


 
*Trung Thu

Nghĩ thương chú Cuội vô cùng
Tỉ năm bên cạnh chị Hằng dửng dưng
"Tội" gì nặng quá không chừng
Gốc đa cứ giữ, chị Hằng nhởn nhơ
Hèn chi Cuội đúng Cuội khờ
Tỉ năm riêng cõi, chị Hằng cũng không
Hai người lại chẳng chung lòng
Hèn chi chú Cuội, chị Hằng đơn côi
Mỗi người riêng một góc trời
Tỉ năm lẽ bóng, tiếng cười thế gian.
Cho nên cứ mỗi từng năm
Mùa thu thiên hạ nhìn trăng, lắc đầu!



*Gởi Chàng Thủy Tinh

Thủy Tinh bỗng nỗi cơn khùng
Bàng dân ta thán, các vùng nước dâng
Sá gì chỉ một Mỵ Nương
Bao nhiêu dân chúng, người thường khổ đau.
Mùa màng của cải, hoa màu
Chìm trong biển nước, xiết bao nhọc nhằn.
Tại mình mà chẳng biết thân
Đã ra bê trễ, mất phần vợ con
Lại còn sân hận dập dồn
Gieo thêm tang tóc, tai ương khó lường
Hai người chỉ một Mỵ Nương!



*Ông Hà-Bá

Nhân gian cứ gọi tên: Hà-Bá
Coi nước, coi sông nguồn lạch cả
Một cõi giang sơn, ngài quán xuyến
Ngàn nơi lãnh địa, ông bương bả.
Thiếu con thiếu vợ, nhiều buồn bực
Không bạn không bè, lắm vất vả
Lắm lúc nỗi sùng (giận dữ), ông thả (dâng) nước
Thế gian lắm người tiêu tan cả!



*Vận Nước

Mỗi năm bão lụt cứ dăm lần
To nhỏ không chừng, lại khổ dân
Thời vụ, mùa màng trong biển nước
Nhân gian, tài vật bị sông dâng.
Công lao hạn mã bao ngày cũ
Sức lực tiện tằn những tháng năm
Vận nước, khung trời, dân tộc ấy
Trời rèn, thử lửa, đất xoay vần!



*Ông Trời


Ông Trời ăn ở bất nhân
Thiên tai bão lụt người dân khốn cùng
Ông Trời bỗng nổi cơn khùng
Sóng to gió lớn cuốn tung cửa nhà
Ông Trời chẳng nết khi già
Gieo bao tang tóc khóc la cho người
Cuộc đời thiếu hẳn vui tươi
Vì Trời hạn hán lại thời lầm than!



*Giả!

Đạo đức đây nầy ta một bụng
Nói năng hiền thục chưa rơi rụng
Oang oang đức độ luôn nhuần nhuyễn
Lấp lửng ngôn từ chưa lúng túng
Ngoại diện có thừa riêng đạo mạo
Nội tâm không thiếu niềm nhân dụng
Bên ngoài được dáng thì ăn chắc
Giả, thiệt cuối hồi: Sai với đúng!

Đồ Ngông.



Saturday, February 24, 2018

*Hẹn hò.



*Ngập ngừng!

Tớ muốn làm quen nhưng ngập ngừng
Mấy lần ngoe nguẩy lại thôi ngưng!
Lòng sao chộn rộn luôn suy tính
Dạ cứ bồn chồn mãi "lửng lưng"   (lưng lửng, không dứt khoát, nửa chừng)
Muốn lắm, nhưng mà hay ái ngại
Sợ rằng, lại phải cái lừng khừng
Gặp sang hay bắt quàng làm họ
Nhân thế cười cho, đành dửng dưng.

Đồ Ngông,
20-09-07.



*Hẹn hò.

Bây giờ ta lại hẹn hò
Gặp nhau ta lại nhỏ ta thì thầm
Đi rong cho hết tháng năm
Thảnh thơi ôn lại hàng trăm vui buồn.
Cuộc đời thấm thoát mưa tuôn
Tuổi già mà lại cứ luôn hẹn hò
Thể như lúc trẻ nhỏ to
Tình nhân lén lút hẹn hò ái ân.
Tuổi già một đám đàn ông
Hẹn hò "điểm hẹn" tính gần tính xa
Trăm năm có mấy khi mà!

Đồ Ngông,
23-09-07.



Ông Cháu.

Một trẻ một già, lại một nơi
Vui vui, hai thế hệ đều cười
Nhăn răng hai miệng như nhau hệt
Há mỏ hở môi cũng một lời
Trẻ mới mọc răng đâu mấy cái,
Già còn chỉ lợi những năm rồi!
Mọc răng, răng rụng ông với cháu
Cứ thế mà cười, mãi mãi thôi!

Đồ Ngông,
23-09-07.



*Cảnh nhà.


Tuổi xế giờ đây tôi với bà,
Bước lui, bước tới vào cùng ra
Vườn sau trong nắng ngồi đôi lát
Sân trước cành hoa tỉa một hồi.
Mắt ngó ra đường xe vẫn chạy,
Lại trông đầu ngõ trẻ có về?
Cùng nhau thơ thẩn nhìn theo với
Rồi lại là tôi....cũng với bà!

Đồ Ngông,
23-09-07.




*Tha Hương.

Tha hương từ buổi đầy nhiều khó
Xã hội tốt chi?... Đâu chẳng có!
Nheo nhóc đàn con không vải mặc
Lăng xăng cha mẹ đành chịu bó.
Người nay rối rít bao công việc
Kẻ trước lao xao vào trong xó
Đất nước tang thương thù với hận
Nát tan, một cõi đời gian khó!

Đồ Ngông,
24-09-07.



*Đường Đến Băng Hà. (8)



Cầu treo Capilano nằm trong công viên Capilano Park thuộc Quận North Vancouver, tỉnh British Columbia. Nó có tên tiếng Anh là Capilano Suspension Bridge. Xe qua cầu Lions Gate rồi xuôi theo đường Capilano để về Capilano Park.
Cau Lions Gate.

Xuống xe, chúng tôi đi vào cổng với tấm vé trên tay do Vincent trao cho. Khỏi cổng, một khoảng không gian được dựng lên “nhiều cột linh vật” (Totem poles) tượng trưng cho văn hóa của người dân bản địa nhằm giới thiệu đến du khách tham quan, rồi tiến dần về cầu treo Capilano.
Người trên cầu khá đông, nhóm thì đi qua, nhóm đi lại, cầu lắc lư liên tục. Vincent dặn dò giờ giấc rồI mạnh ai nấy đi. Nhiều người trong đoàn không dám đi, đành ở lại đi vòng vòng quanh đó, trong đó có vợ tôi. Còn tôi thì có nhiệm vụ phải quay lấy hình ảnh trong chuyến đi nầy để cho mình, cho mấy đứa cháu có thể biết nên dù sợ hay không sợ thì tôi cũng phải vượt qua. Thế là tôi mạnh dạn “dấn bước”.
Cau treo Capilano.

Xuống cầu chừng vài thước thì đi vào phần cầu dễ bị lắc lư vì cầu giống như là một chiếc võng hẹp bắt ngang qua vực sâu, và dưới kia là dòng sông Capilano đang chảy xiết không ngừng. Đầu tiên tôi tập bước theo sự lắc lư và không dám nhìn xuống dòng sông sâu mà nhìn ngang vào những đầu ngọn cây, cùng vin vào dây cáp. Có nhiều người sợ đứng lại chần chờ, chắc đang suy nghĩ là nên đi hay quay trở lại, sau đó có vài người đành bỏ cuộc không tiếp tục cuộc hành trình. Tôi lại nghĩ và ngẫm cười: Cầu lắc thì ít mà chính du khách trên cầu mới là người làm cho cầu lắc nhiều vì do sợ mà người thì nghiêng qua phía nầy người chạy qua phía kia làm cho cầu không yên vị trí và lắc lư, đó là chưa nói đến những người “đáng mắc” lắc cầu để làm cho mọi người la ó lên vui chơi. Tôi lại tưởng tượng đến câu chuyện mà ngày trước đã được nghe kể, câu chuyện nói rằng: Nếu một đoàn quân đi qua cầu như người ta đi bình thường thì cầu không hề hấn gì, nếu họ đi cùng một nhịp điệu thì dễ làm cho cầu sập do cái chấn động cùng lúc, thế là tôi lại nghĩ nếu mọi người trên cầu nầy mà cùng nhau nhảy lên và rơi xuống cùng một nhịp điệu thì chiếc cầu nầy sẽ ra sao? Nghĩ thế cho vui, chứ cầu với dây cáp treo lớn như thế nầy, lưới sắt thành cầu an toàn và người đi đông thì cao lắm cầu chỉ lắc lư làm cho những người “nhát gan” sợ thôi, chứ mình tìm được “cái thế” thì cũng chẳng có gì để lo. Rồi ra giữa cầu tôi vẫn tì mình vào thành cầu để quay được cảnh dòng sông bên dưới dù gió hay người làm cầu lắc mạnh. Xong tôi vẫn theo đoàn người đi đến đầu bên kia lẫn vào khu rừng già.
Tôi nói là khu rừng già vì nó già thật, những cây ở đây rất lớn, tất nhiên là nó không lớn như những khu rừng già của vùng nhiệt đới, vì sự tăng trưởng còn ảnh hưởng do thời tiết băng giá của mùa đông làm cho nó “khựng” lại, nhưng với độ lớn như thế nầy thì tuổi của nó cũng chắc phải là cao “vời vợi”.
Theo tài liệu thì khu vực nầy được mang tên là Capilano Suspension Bridge Park là một công viên hấp dẫn khách du lịch thuộc về bậc nhất ở Vancouver. Ở đây, du khách có thể nhìn và tham dự vào nhiều việc.
Đầu tiên là với chiếc cầu treo Capilano, tức là chiếc cầu giống như chiếc võng mà tôi vừa đi qua, bắc ngang hẻm sâu của sông Capilano để nối liền hai bờ. Nó được xem là cái cầu treo với 3 cái nhất trên thế giới: Cao nhất, xưa nhất và dài nhất; hàng năm có khoảng 800,000 người đến đây thăm và đi qua cầu. Cầu có chiều dài là 140m, cao 70m được xây dựng từ năm 1889 do một kỷ sư công chánh người Tô-Cách-Lan làm việc ở Vancouver. Ông nầy mua khu rừng rậm ở North Vancouver nhưng lại nằm ở hai bên bờ sông Capilano, nên ông quyết định làm cây cầu treo bắc qua sông bằng dây thừng gai dầu (hemp ropes) và mặt cầu bằng gỗ tuyết tùng (cedar) với sự giúp đỡ của hai người bản địa. Đến năm 1903 cầu được thay bằng dây cáp chắc chắn hơn.
Năm 1910 cầu được bán lại cho Edward Mahon và Mahon bán lại cho MacEachran vào năm 1935 và ông nầy mời những người dân bản địa dựng các cột Totem vào trong công viên. Đến năm 1945 cầu lại được bán cho chủ mới là Henri Aubeneau và được xây dựng lại hoàn tất vào năm 1956. Rồi tới năm 1983 cầu bán qua cho Bà Nancy Stibbard làm chủ cho đến ngày nay.
Tháng 5 năm 2004 bảy đoạn cầu đi trên cao giữa các cây cao lớn trong rừng được mở ra để đón du khách đến tham gia gọi là “Treetops Adventures” có độ cao khoảng 30m so với mặt đất ở đây. Và “Cliffwalk” được mở ra vào năm 2011 với ban-công treo ra ngoài vách đá, đường vừa một người đi được treo bằng 8 sợi cáp nhỏ để thử sự can đảm của người tham dự. Và đến thời gian Giáng Sinh người ta treo rất nhiều đèn để làm cảnh trí thu hút du khách đến chiêm ngưỡng.
Đó là những sự kiện mà trong tài liệu cho biết, chứ riêng tôi sau khi đi qua cầu thì đến khu rừng già với những cây to và tôi được Vincent chỉ lên các bậc cao để lên các đoạn cầu được xây dựng nối với các cây ở độ cao “khoảng giữa các cây cao”, nhưng lại trên ngọn của những cây thấp. Điều ấy chắc chắn là chúng tôi đã được dự tính cho tham gia với “trò chơi” nầy. Qua các đoạn cầu đi thì ở mỗi thân cây đều có khoảng để nghỉ ngơi hay làm chỗ để du khách có thể dừng chân tận hưởng cái khung cảnh ở nơi nầy mà không phải sợ rơi xuống đất. Quả thật không khí thật trong lành mà gần gũi với thiên nhiên nghe được chim kêu khắp nơi hay tiếng gió thì thầm qua khe lá, hoặc tiếng nước róc rách của dòng nước ở gần đây. Đi rồi thì cũng hết đoạn đường, đành quay về cầu đi trở lại bờ bên kia. Ôi, đã “đáo bỉ ngạn” được rồi! Lên khỏi cầu mà tôi còn nhiều luyến tiếc nên đành quay lại chụp vài bôi hình cùng quay một vài đoạn phim cho cái cầu đầy hấp dẫn nầy để làm kỷ niệm.
Xong tôi trở ra tìm cái gì để mua ăn trưa. Còn đang lang thang thì vợ tôi đã chạy đến và kêu tôi đến cái bàn gần căng-tin để mua đồ ăn mà anh chị Hiệp cùng em vợ tôi đã ngồi ở đó. Chúng tôi ngồi vừa ăn, vừa tán gẫu các thứ chuyện trong chuyến đi, cũng như chuyện đâu đâu. Rồi thì cũng đến giờ ra xe, chúng tôi tập hợp và đi theo sự hướng dẫn của Vincent để lên xe buýt đi đến nơi khác. Xe về đến Prospect Point của Stanley Park vào lúc 4 giờ 10. Đứng ở đây để nhìn về cầu Lions Gate mới thấy được cái cấu trúc đẹp của nó và cảnh bên kia Thành phố West Vancouver dựa vào núi cảnh thật đẹp. Ở đây tôi xin được chụp hình với Vincent, vợ chồng cô Liên, Vinh (dẫn đoàn) để làm kỷ niệm mà tôi đã Post lên ngay từ đầu!
Chup hinh ky niem o Prospect Point.

Đây cũng là một công viên đẹp được cắt xén trồng tỉa khéo léo ở 3 tầng: Trên đồi, lưng chừng và thung lũng; khiến du khách mãi mê ngắm nhìn, chụp hình hay quay phim. Tất nhiên tôi cũng phải thu một vài cảnh để sau nầy xem lại và nhớ mình đã đến đây!
Đến 4 giờ 30 đoàn rời nơi đây để về ăn chiều ở nhà hàng Shusi trong khu Richmond và sau đó về khách sạn vào lúc 6 giờ, tắm rửa, nghỉ ngơi. Và một ngày nữa lại qua đi!

Nguyên Thảo,
13/12/2017.