Saturday, February 24, 2018

*Hẹn hò.



*Ngập ngừng!

Tớ muốn làm quen nhưng ngập ngừng
Mấy lần ngoe nguẩy lại thôi ngưng!
Lòng sao chộn rộn luôn suy tính
Dạ cứ bồn chồn mãi "lửng lưng"   (lưng lửng, không dứt khoát, nửa chừng)
Muốn lắm, nhưng mà hay ái ngại
Sợ rằng, lại phải cái lừng khừng
Gặp sang hay bắt quàng làm họ
Nhân thế cười cho, đành dửng dưng.

Đồ Ngông,
20-09-07.



*Hẹn hò.

Bây giờ ta lại hẹn hò
Gặp nhau ta lại nhỏ ta thì thầm
Đi rong cho hết tháng năm
Thảnh thơi ôn lại hàng trăm vui buồn.
Cuộc đời thấm thoát mưa tuôn
Tuổi già mà lại cứ luôn hẹn hò
Thể như lúc trẻ nhỏ to
Tình nhân lén lút hẹn hò ái ân.
Tuổi già một đám đàn ông
Hẹn hò "điểm hẹn" tính gần tính xa
Trăm năm có mấy khi mà!

Đồ Ngông,
23-09-07.



Ông Cháu.

Một trẻ một già, lại một nơi
Vui vui, hai thế hệ đều cười
Nhăn răng hai miệng như nhau hệt
Há mỏ hở môi cũng một lời
Trẻ mới mọc răng đâu mấy cái,
Già còn chỉ lợi những năm rồi!
Mọc răng, răng rụng ông với cháu
Cứ thế mà cười, mãi mãi thôi!

Đồ Ngông,
23-09-07.



*Cảnh nhà.


Tuổi xế giờ đây tôi với bà,
Bước lui, bước tới vào cùng ra
Vườn sau trong nắng ngồi đôi lát
Sân trước cành hoa tỉa một hồi.
Mắt ngó ra đường xe vẫn chạy,
Lại trông đầu ngõ trẻ có về?
Cùng nhau thơ thẩn nhìn theo với
Rồi lại là tôi....cũng với bà!

Đồ Ngông,
23-09-07.




*Tha Hương.

Tha hương từ buổi đầy nhiều khó
Xã hội tốt chi?... Đâu chẳng có!
Nheo nhóc đàn con không vải mặc
Lăng xăng cha mẹ đành chịu bó.
Người nay rối rít bao công việc
Kẻ trước lao xao vào trong xó
Đất nước tang thương thù với hận
Nát tan, một cõi đời gian khó!

Đồ Ngông,
24-09-07.



*Đường Đến Băng Hà. (8)



Cầu treo Capilano nằm trong công viên Capilano Park thuộc Quận North Vancouver, tỉnh British Columbia. Nó có tên tiếng Anh là Capilano Suspension Bridge. Xe qua cầu Lions Gate rồi xuôi theo đường Capilano để về Capilano Park.
Cau Lions Gate.

Xuống xe, chúng tôi đi vào cổng với tấm vé trên tay do Vincent trao cho. Khỏi cổng, một khoảng không gian được dựng lên “nhiều cột linh vật” (Totem poles) tượng trưng cho văn hóa của người dân bản địa nhằm giới thiệu đến du khách tham quan, rồi tiến dần về cầu treo Capilano.
Người trên cầu khá đông, nhóm thì đi qua, nhóm đi lại, cầu lắc lư liên tục. Vincent dặn dò giờ giấc rồI mạnh ai nấy đi. Nhiều người trong đoàn không dám đi, đành ở lại đi vòng vòng quanh đó, trong đó có vợ tôi. Còn tôi thì có nhiệm vụ phải quay lấy hình ảnh trong chuyến đi nầy để cho mình, cho mấy đứa cháu có thể biết nên dù sợ hay không sợ thì tôi cũng phải vượt qua. Thế là tôi mạnh dạn “dấn bước”.
Cau treo Capilano.

Xuống cầu chừng vài thước thì đi vào phần cầu dễ bị lắc lư vì cầu giống như là một chiếc võng hẹp bắt ngang qua vực sâu, và dưới kia là dòng sông Capilano đang chảy xiết không ngừng. Đầu tiên tôi tập bước theo sự lắc lư và không dám nhìn xuống dòng sông sâu mà nhìn ngang vào những đầu ngọn cây, cùng vin vào dây cáp. Có nhiều người sợ đứng lại chần chờ, chắc đang suy nghĩ là nên đi hay quay trở lại, sau đó có vài người đành bỏ cuộc không tiếp tục cuộc hành trình. Tôi lại nghĩ và ngẫm cười: Cầu lắc thì ít mà chính du khách trên cầu mới là người làm cho cầu lắc nhiều vì do sợ mà người thì nghiêng qua phía nầy người chạy qua phía kia làm cho cầu không yên vị trí và lắc lư, đó là chưa nói đến những người “đáng mắc” lắc cầu để làm cho mọi người la ó lên vui chơi. Tôi lại tưởng tượng đến câu chuyện mà ngày trước đã được nghe kể, câu chuyện nói rằng: Nếu một đoàn quân đi qua cầu như người ta đi bình thường thì cầu không hề hấn gì, nếu họ đi cùng một nhịp điệu thì dễ làm cho cầu sập do cái chấn động cùng lúc, thế là tôi lại nghĩ nếu mọi người trên cầu nầy mà cùng nhau nhảy lên và rơi xuống cùng một nhịp điệu thì chiếc cầu nầy sẽ ra sao? Nghĩ thế cho vui, chứ cầu với dây cáp treo lớn như thế nầy, lưới sắt thành cầu an toàn và người đi đông thì cao lắm cầu chỉ lắc lư làm cho những người “nhát gan” sợ thôi, chứ mình tìm được “cái thế” thì cũng chẳng có gì để lo. Rồi ra giữa cầu tôi vẫn tì mình vào thành cầu để quay được cảnh dòng sông bên dưới dù gió hay người làm cầu lắc mạnh. Xong tôi vẫn theo đoàn người đi đến đầu bên kia lẫn vào khu rừng già.
Tôi nói là khu rừng già vì nó già thật, những cây ở đây rất lớn, tất nhiên là nó không lớn như những khu rừng già của vùng nhiệt đới, vì sự tăng trưởng còn ảnh hưởng do thời tiết băng giá của mùa đông làm cho nó “khựng” lại, nhưng với độ lớn như thế nầy thì tuổi của nó cũng chắc phải là cao “vời vợi”.
Theo tài liệu thì khu vực nầy được mang tên là Capilano Suspension Bridge Park là một công viên hấp dẫn khách du lịch thuộc về bậc nhất ở Vancouver. Ở đây, du khách có thể nhìn và tham dự vào nhiều việc.
Đầu tiên là với chiếc cầu treo Capilano, tức là chiếc cầu giống như chiếc võng mà tôi vừa đi qua, bắc ngang hẻm sâu của sông Capilano để nối liền hai bờ. Nó được xem là cái cầu treo với 3 cái nhất trên thế giới: Cao nhất, xưa nhất và dài nhất; hàng năm có khoảng 800,000 người đến đây thăm và đi qua cầu. Cầu có chiều dài là 140m, cao 70m được xây dựng từ năm 1889 do một kỷ sư công chánh người Tô-Cách-Lan làm việc ở Vancouver. Ông nầy mua khu rừng rậm ở North Vancouver nhưng lại nằm ở hai bên bờ sông Capilano, nên ông quyết định làm cây cầu treo bắc qua sông bằng dây thừng gai dầu (hemp ropes) và mặt cầu bằng gỗ tuyết tùng (cedar) với sự giúp đỡ của hai người bản địa. Đến năm 1903 cầu được thay bằng dây cáp chắc chắn hơn.
Năm 1910 cầu được bán lại cho Edward Mahon và Mahon bán lại cho MacEachran vào năm 1935 và ông nầy mời những người dân bản địa dựng các cột Totem vào trong công viên. Đến năm 1945 cầu lại được bán cho chủ mới là Henri Aubeneau và được xây dựng lại hoàn tất vào năm 1956. Rồi tới năm 1983 cầu bán qua cho Bà Nancy Stibbard làm chủ cho đến ngày nay.
Tháng 5 năm 2004 bảy đoạn cầu đi trên cao giữa các cây cao lớn trong rừng được mở ra để đón du khách đến tham gia gọi là “Treetops Adventures” có độ cao khoảng 30m so với mặt đất ở đây. Và “Cliffwalk” được mở ra vào năm 2011 với ban-công treo ra ngoài vách đá, đường vừa một người đi được treo bằng 8 sợi cáp nhỏ để thử sự can đảm của người tham dự. Và đến thời gian Giáng Sinh người ta treo rất nhiều đèn để làm cảnh trí thu hút du khách đến chiêm ngưỡng.
Đó là những sự kiện mà trong tài liệu cho biết, chứ riêng tôi sau khi đi qua cầu thì đến khu rừng già với những cây to và tôi được Vincent chỉ lên các bậc cao để lên các đoạn cầu được xây dựng nối với các cây ở độ cao “khoảng giữa các cây cao”, nhưng lại trên ngọn của những cây thấp. Điều ấy chắc chắn là chúng tôi đã được dự tính cho tham gia với “trò chơi” nầy. Qua các đoạn cầu đi thì ở mỗi thân cây đều có khoảng để nghỉ ngơi hay làm chỗ để du khách có thể dừng chân tận hưởng cái khung cảnh ở nơi nầy mà không phải sợ rơi xuống đất. Quả thật không khí thật trong lành mà gần gũi với thiên nhiên nghe được chim kêu khắp nơi hay tiếng gió thì thầm qua khe lá, hoặc tiếng nước róc rách của dòng nước ở gần đây. Đi rồi thì cũng hết đoạn đường, đành quay về cầu đi trở lại bờ bên kia. Ôi, đã “đáo bỉ ngạn” được rồi! Lên khỏi cầu mà tôi còn nhiều luyến tiếc nên đành quay lại chụp vài bôi hình cùng quay một vài đoạn phim cho cái cầu đầy hấp dẫn nầy để làm kỷ niệm.
Xong tôi trở ra tìm cái gì để mua ăn trưa. Còn đang lang thang thì vợ tôi đã chạy đến và kêu tôi đến cái bàn gần căng-tin để mua đồ ăn mà anh chị Hiệp cùng em vợ tôi đã ngồi ở đó. Chúng tôi ngồi vừa ăn, vừa tán gẫu các thứ chuyện trong chuyến đi, cũng như chuyện đâu đâu. Rồi thì cũng đến giờ ra xe, chúng tôi tập hợp và đi theo sự hướng dẫn của Vincent để lên xe buýt đi đến nơi khác. Xe về đến Prospect Point của Stanley Park vào lúc 4 giờ 10. Đứng ở đây để nhìn về cầu Lions Gate mới thấy được cái cấu trúc đẹp của nó và cảnh bên kia Thành phố West Vancouver dựa vào núi cảnh thật đẹp. Ở đây tôi xin được chụp hình với Vincent, vợ chồng cô Liên, Vinh (dẫn đoàn) để làm kỷ niệm mà tôi đã Post lên ngay từ đầu!
Chup hinh ky niem o Propect Point.

Đây cũng là một công viên đẹp được cắt xén trồng tỉa khéo léo ở 3 tầng: Trên đồi, lưng chừng và thung lũng; khiến du khách mãi mê ngắm nhìn, chụp hình hay quay phim. Tất nhiên tôi cũng phải thu một vài cảnh để sau nầy xem lại và nhớ mình đã đến đây!
Đến 4 giờ 30 đoàn rời nơi đây để về ăn chiều ở nhà hàng Shusi trong khu Richmond và sau đó về khách sạn vào lúc 6 giờ, tắm rửa, nghỉ ngơi. Và một ngày nữa lại qua đi!

Nguyên Thảo,
13/12/2017.




*Chúng Mình.



*Chúng Mình.

Tớ nhớ ra rồi tớ với ông
Ngày nào còn kiếp sống long đong
Lang thang vất vả nơi quê lạ
Thấp thỏm ưu tư rời chợ đông.
Tâm trí nặng nề hàng khối chuyện
Nỗi niềm tha thiết bấy nhiêu lòng
Lui lui tới tới buồn trăm mối
Mình lại nhìn nhau: Tớ với ông!

Đồ Ngông,
18-09-07.




*Con Mắt.

Con mắt tròn xoe nhìn thế gian
Con ngươi lay láy cái xuênh xang
Linh hồn cửa sổ đang chơm chớp
Cái ngõ tình yêu sẽ sẵn sàng.
Ánh mắt sáng lên bao ước muốn
Sóng lòng xao động nhiều mênh mang
Mắt ưa, nhìn thích, hay ham được
Ái dục mà sanh khổ ngập tràn!

Đồ Ngông,
19-09-07.





*Hiếp Đáp!

Hiếp đáp thói thường trong cõi người
Mạnh hơn, lớn ép, đời chơi vơi
Giành nhau, tranh lợi càng o ép
Ước muốn, phần to mất tánh người!.

Hiếp đáp không chừa kẻ lớn già
Vì ham, vì lợi, vì phần ta
Không còn nhân nghĩa trong tâm tưởng
Chẳng thiết là ai: Lạ hay nhà!

Hiếp đáp thường trên những kẻ hiền
Không nguy không hại lại được thêm,
Ngu gì đi chọc vào người dữ
Chẳng khéo thì sanh mọi thứ phiền!

Đồ Ngông,
19-09-07.




*Ông Chớ Cười!

Cái mặt tèm hem, ông chớ cười
Thập thò e thẹn với ông thôi
Đừng trêu đừng ghẹo đau lòng tớ
Lại thấp lại cao xót dạ người
Lủi thủi qua ngày thân khốn khó
Lai rai năm tháng phận tôi đòi
Lỡ dơ cái mặt vì công việc
Chưa rửa tèm hem, ông chớ cười!

Đồ Ngông,
20-09-07.



Saturday, January 13, 2018

*Khi Hoa Anh Đào Nở. (13)



Chùa Asakusa Kannon hay còn gọi là chùa Senso-ji nầy được coi là ngôi chùa cổ kính nhất của Tokyo. Được xây dựng vào năm 628 do trưởng lão ngôi làng Hajino Nakamoto cống hiến một phần ngôi nhà khi biết sự linh thiêng của bức tượng Quan Âm, mà hai anh em nhà Hinokuma là Hamanari và Takenari vớt được khi lưới cá ở sông Sumida: Tượng cứ trở lại với họ, mặc dù nhiều lần họ thả tượng trở về sông.
Chanh dien chua Senso-Ji.

Chính điện lớn của chùa là Kannondo (Điện Quan Âm) được xây dựng năm 1649 được xem là di sản quốc gia. Tuy nhiên nó bị dội bom tàn phá trong Chiến tranh Thế giới thứ II, rồi nó được xây dựng lại bằng bêtông cốt thép như là một bản sao vào năm 1958, và chia làm hai phần: Phía ngoài là nơi tín đồ viếng chùa, hành hương, còn phía trong là nơi đặt tượng Phật Quan Âm, khách không được vào.
Tôi chỉ đứng bên ngoài Chánh điện đưa máy quay quay về phía trong mà không vào vì sợ không có nhiều thì giờ, xong tôi đi ra ngoài nơi trống trải giữa hai giao lộ từ ngoài vào trong và từ phía bên phải sang đến Tháp Năm Tầng rồi quay cảnh Tháp cũng như những cây Anh Đào còn nhiều bông bên đối diện, và vội gấp rút đi trở ra.
Thap 5 tang.

Tháp năm tầng có cách kiến trúc riêng biệt của Nhật, nhìn thấy lạ, tuy nhiên nó cũng rất hài hoà. Theo tài liệu thì tháp cao 53m là nơi đặt tro của Đức Phật ở đó, và nó được xây dựng vào năm 942, nhưng qua nhiều lần bị tàn phá rồi được xây dựng lại vào năm 1648, nhưng nó lại bị cháy trong trận không kích vào thời Đệ Nhị thế chiến. Hình dạng và kiến trúc hiện nay là từ cuộc tu sửa vào năm 1973.
Dọc đường tôi lại gặp chị Nhi và vợ tôi đang tìm mua vài món đồ, rồi tôi cũng đi tìm vài bức tranh có nét vẽ riêng biệt theo kiểu Nhật, hay được in trên lụa, nhưng tìm mãi không ra theo kích cỡ mình muốn. Cuối cùng, đành mua vài tấm hơi nhỏ để làm kỷ niệm. Chẳng bao lâu nữa, mọi người tập trung lại bên cổng Thần Sấm để Jennifer dẫn đi ăn trưa (đã 12 giờ 30). Nhà hàng mà chúng tôi đến cũng gần, nó ở tầng trên với không gian không rộng lắm nên có vẽ chật chội so với đoàn đông người cộng thêm một số thực khách khác.
Xong, Jennifer đưa đoàn đi bộ ra bờ sông Sumida để đi “du thuyền” (cruise) về vườn Hama-Rikyu. Vườn không xa lắm với vị trí của chùa Senso-ji, nhưng vì đi bằng đường thủy cho nên chúng tôi cũng mất khoảng nửa tiếng đồng hồ. Vườn khá rộng, cái ấn tượng đầu tiên nhất đối với du khách lại là cây thông bonsai có 300 tuổi. Nó rất lớn, người ta phải chống chỏi những nhánh để giữ được hình dáng và bảo vệ khỏi gãy đổ.
Cay thong Bonsai 300 tuoi.

Theo tài liệu thì vườn nầy có diện tích khoảng 250,000m2 tọa lạc ở cửa sông Sumida. Khu phía Nam được xây dựng từ thời Edo, có ao Shioiri là ao được lấy từ nước biển vào cho nên có nhiều loài cá nước mặn sống ở đây. Còn phần phía Bắc được xây dựng từ thời đại Minh Trị (Meiji). Vào Thế kỷ 17, vườn thuộc về sở hữu của dòng họ lãnh chúa Tokugawa. Năm 1871, vườn thuộc về Hoàng gia Nhật và được trùng tu thành công viên công cộng, mở cửa ra cho công chúng từ 01/04/1946.
Đi theo những con đường trải đá để đi vào những khu vườn khác, nhưng tôi và anh Nhi chỉ lòng vòng phía ngoài, ngắm nhìn những cây thông với hình dáng được cắt tỉa như là những cây cảnh và cần đến cây chống chọi để bảo vệ cho nó. Thật là công phu! Cạnh bên khu vườn là những tòa nhà cao ốc, đứng trong nầy nhìn ra cũng thật là thú vị và đây mới là khung cảnh an bình trong lòng một thành phố đông người đầy sinh động.
Đến 2 giờ 30 mọi người tập trung lên xe buýt để đi đến Tháp Tokyo, nhưng theo ý kiến một số người đề nghị với Jennifer đưa đến tiệm điện để mua ít đồ điện. Jennifer phải hỏi ý kiến với số người Úc. Họ đồng ý, thế là chúng tôi được dịp vội vàng để đi đến tiệm bán đồ điện để mua đồ điện hiệu Nhật. Người ta nghĩ rằng đồ điện của Nhật được mua trên đất Nhật thì thế nào cũng được bảo đảm chất lượng hơn. Tôi cũng tìm nhưng xem ra giá cả cũng chẳng rẻ lắm, lại có nhiều món sản xuất ở Trung Quốc, cho nên cuối cùng chẳng có mấy người mua! Nhưng ít ra mọi người vẫn được thỏa mãn phần nào trong lòng!
Xe đưa đến Tokyo Tower vào lúc 3 giờ 40. Mọi người lại lục tục kéo nhau lên trên cao bằng thang máy để có thể ngắm được cả Thành Phố Tokyo từ trên cao.
Thap Tokyo Skytree.

Tháp Tokyo nầy có tên là Tokyo Tower để phân biệt với tháp mới xây có tên là Tokyo Skytree. từ khi có tháp mới Tháp Tokyo nầy là Tháp cao thứ nhì trên đất Nhật với chiều cao là 332.9m. Sự xây dựng của Tháp khởi từ Tháng 6/1957 đến 1958 thì xong và khánh thành vào ngày 23/12/1958, được sử dụng cho ngành truyền thông và mục đích nhìn ngắm, tham quan. Tháp có màu đỏ và trắng được xây giống với hình dáng Tháp Eiffel của Pháp ở Paris. Nó có hai tầng quan sát: Tầng chính ở độ cao 150m, tầng cao với độ cao 249.6m. Cứ 5 năm sơn lại một lần, mỗi lần tốn cả năm mới xong.
Từ ngoài vào chúng tôi phải đánh một vòng qua cửa chính phía trước, đi ngang cái sân rộng treo đầy những con cá bằng vải sơn sặc sỡ, rồi mới qua cổng kiểm soát vé để vào thang máy. Chúng tôi được lên đến tầng cao: Tầng Quan sát Đặc biệt ở độ cao 250m. Tôi cố gắng đi cho trọn một vòng và đưa máu quay thu từng góc của Thành phố Tokyo sao cho đủ ráp lại một vòng để về khi nào rảnh rang coi lại: “Hồi tưởng một chuyến đi”!
Chính vì thế mà tôi lạc mất đoàn vì ngõ xuống không là ngõ lên, tôi phải vòng lại đi xuống một tầng để lấy thang máy xuống dưới. Thang xuống cũng chẳng xuống tới dưới mà ở trên một tầng để rồi tôi phải đi bộ xuống tầng dưới là tầng các cửa hàng bán quà lưu niệm. Thôi thì cứ tha hồ lựa chọn. Đây là giây phút cuối ở Tokyo: Ai muốn mua gì thì mua đi nghen! Coi chừng lỡ cơ hội! Nhưng tìm, xem mãi lại chẳng biết phải mua gì, dù mua cho mình hay cho con cháu!
Đã đến giờ mọi người lên xe buýt để đi ăn chiều, và về đến khách sạn Marroad International Narita vào khoảng 6 giờ 30 để ngủ qua đêm để sáng hôm sau đi ra phi trường.
Ngày sau, sau khi ăn sáng xong, mọi người vẫn lẩn quẩn trong khách sạn để tới giờ Jennifer đưa ra phi trường, rồi lại cám ơn lẫn nhau, quyến luyến trước khi chia tay. Và chúng tôi cùng đón chuyến bay Cathay về lại Hồng Kông. Một số thì chơi ở Hồng Kông vài ngày, còn một số người Úc thì đi nơi khác, và đoàn chúng tôi đợi đến giờ lấy chuyến bay Cathay Pacific trở lại Adelaide hoàn tất một chuyến đi đầy học hỏi và ngắm nhìn!

Nguyên Thảo,
23/10/2017.



*Buồn tình!


*Tại sao?

Tớ nghĩ vì sao tớ phải buồn
Trong đời này, khổ tới luôn luôn
Bao nhiêu người đói, người đang khổ
Hàng khối kẻ nghèo, kẻ thảm thương.
Những đám tranh giành gieo chết chóc
Nhiều cơn tai ách đến không lường
Lại còn nhân loại không ngưng giết
Tớ vẫn nhiều may, sao phải buồn?

Đồ Ngông,
17-09-07.

 

*Bươi Móc

Quá lắm à ông, quá lắm rồi!
Ở không bươi móc để coi chơi
Bao nhiêu cái xấu sao không móc
Hàng khối sự tồi lại lặng hơi.
Nhưng móc vừa vừa thì mới phải
Đừng moi dữ dội trở nên tồi
Khéo chơi thì chuyện đời nên ích
Thong thả rồi đi giữa cuộc đời!

Đồ Ngông,
17-09-07.




*Buồn tình

Buồn tình lấy giấy quạch thơ chơi
Ngẫm nghĩ mà xem mấy sự đời
Quan lớn vênh vang trời chót vót
Kẻ hèn khép nép phận chơi vơi.
Người giàu phe phẩy tiêu như nước
Dân khốn than van chết nửa vời
Xã hội nhân quần luôn nói đẹp
Nhưng mà...riêng nói...để mà chơi!

Đồ Ngông,
18-09-07.





*Trách Phận

Thân phận khác gì hơn mõm chó
Đen thui đen thủi: Nhà ra ngõ
Xập xình lên xuống qua thời vận
Lóc cóc leng keng hồi khốn khó.
Ngước mặt nhìn trời chưa ngó lại
Đê đầu trông đất còn hơi gió
Trăm năm thoáng chốc bao lâu nữa
Oán trách sầu đời to với nhỏ.

Đồ Ngông,
18-09-07.



Friday, January 5, 2018

*Ganh Ghét.


*Phừng Phực

Phừng phực máu sôi, máu lại sôi
Bưng bưng đầu óc, hỏa lên rồi
Ngàn sao lấp lánh dâng trong mắt
Vạn lửa reo vui tới đỉnh đầu.
Tức giận nỗi buồn: Không ngủ được,
Căm gan da diết: Cố hằn sâu
Thù chi giận dữ đưa lên mặt
Người ngó nhìn ra: Lại tới đầu!

Đồ Ngông,
13-09-07.

 

*Ganh Ghét

Ganh ghét làm gì, thế hỡi ông?
Có hơn thì hãy cố ra công
Góp tài góp sức, vui nhân thế
Thêm của thêm công, rạng cộng đồng.
Đứng dậy cùng nhau vươn sức lớn
Vùng lên đồng hợp, tiếp non sông.
Một mai rạng rỡ ta vui thú
Sánh bước năm châu dáng Lạc Hồng.

Đồ Ngông,
14-09-07.

 

*Cái Gương

Phản ảnh cho người có cái gương
Làm duyên trang điểm cuộc đời thường
Rọi soi khắp nẻo cần quan sát
Sáng chiếu muôn chiều phải vấn vương.
Lắm lúc lại cần nhưng thiếu vắng
Đôi khi không thiết vẫn hay chường
Soi soi ngắm ngắm duyên ra hẳn
Khổ nỗi trái chiều hiện ở gương.

Đồ Ngông,
15-09-07.

 

*Phải Khen

Tớ phải khen ông quả rất hay
Kiếm đâu được những kẻ tay sai
Tung tiền lên được bao nhiêu cắc
Vấy bạc văng ra hao tốn tài.
Thuở trước phương Tây hùn chửi ké
Bây giờ Đông hướng chịu tay sai
Chỉ thương những kẻ xưa ăn học
Bán chữ, danh hư, xấu mặt mày.

Đồ Ngông,
16-09-07.

 

*Chửi Nữa Đi Ông!

Tớ muốn nghe ông chửi nữa đây
Chửi thằng, chửi đổng, chửi y bầy
Mấy năm chưa đả, nay còn chửi
Lôi cả Đông, Tây ráp cả bầy.

Tớ tưởng rằng ông chửi thật hay
Ai ngờ "tục tiểu" khác gì ai
Thế mà cũng lại đưa lên báo
Chửi nát tanh banh, loạn cả bầy!

Năm năm chưa lặn, gió không dừng
Bè bạn ngày xưa nay dửng dưng
Chia nhóm, chia phe chơi "thấu cấy"
Cái trò con nít, già lại "bưng".    (hai tay đỡ lấy)

Chửi nữa đi ông, tớ muốn xem
Tài năng, bản lĩnh, đứa ưa "hèm"   (bả nấu rượu)
Lại hay nhốn nháo "bình thiên hạ"
Đón gió, chiếu trên, đợi trống kèn.

Đồ Ngông,
16-09-07.





*Khi Hoa Anh Đào Nở. (12)




Qua một ngày tự do vừa nghỉ ngơi vừa “đi dạo”, cho nên hôm nay tôi thức dậy có hơi sớm. Tuy nhiên, cũng đi ăn sáng vào lúc 6 giờ 30, để rồi về phòng thu dọn đồ đạc, xuống trả phòng và đợi chờ Jennifer, xe buýt đến đưa đi.
Đoàn khởi hành đi sang Meiji Shrine vào lúc 8 giờ 15. Chừng gần nửa tiếng sau thì đã đến nơi. Jennifer đưa mọi người qua cổng của khu building để vào khuôn viên vườn ngôi đền Minh Trị (Meiji). Cảnh nơi đây thật là yên tịnh. Trên con đường đi vào đền, có đoạn người ta xây hai dãy mái hai bên đường, một bên chứa các thùng rượu nho, một bên là những bình mà theo Jennifer cho biết đó là những thùng chứa rượu sake mà các hãng rượu đã cung tiến cho nhà vua hàng năm thuở trước. Đó chỉ là những thùng không được trưng bày cho mọi người biết thôi chứ chẳng còn rượu. Qua đoạn đường nầy thì đến một cổng Torii cao, không sơn phết làm cho nó có vẻ cổ kính ở nơi không gian rừng rú âm u của công viên, mặc dù công viên nầy nằm ở giữa Thủ đô Đông Kinh của đất Nhật. Có đội nhân công đang gom lá cây, dọn dẹp đường sá cho sạch. Chúng tôi lại qua một Torii khác nhỏ hơn và bước vào cổng để vào khu vực chính của Đền. Chính giữa là sân rộng, hai bên là các gian tả, hữu. Và dãy giữa là ngôi Đền to lớn. Bên dãy hông phía trái có trồng hai cây mà người ta gọi đó là cây vợ và cây chồng, không lẽ tượng trưng cho vợ chồng vua Minh Trị Thiên Hoàng đó chăng?
Đây quả thật là một ngôi Đền theo Thần Đạo, người ta làm những thủ tục cầu nguyện giống như khi đi vào một ngôi đền, có bài viết rằng:
“Nằm liền kề công viên Yoyogi, đền Meiji Shrine góp phần tạo nên khu rừng lớn trong thành phố đông dân sở hữu diện tích lên đến 70 ha. Trong khu rừng có khoảng 100.000 cây tạo nên rừng Meiji Jingu rậm rạp và xanh tốt, nó được hiến từ các khu vực trên quốc gia. Du khách và người dân đến với đền thờ để tận hưởng không khí trong lành, tốt cho thư giãn, tách biệt hoàn toàn với sự nhộn nhịp của thành phố Tokyo.
Đền được thành lập vào năm 1920, sau 8 năm hoàng đế ra đi và 6 năm hoàng hậu qua đời. Thế chiến thứ 2, gặp phải những công kích lớn, ngôi đền bị phá hủy nhưng nhân dân nơi đây đã xây dựng lại theo nguyên gốc ban đầu. Có hai cách di chuyển vào đền thờ: Đi từ phía nam gần ga Harajuku và lối vào phía bắc gần ga Yoyogi. Để vào đền trong, du khách cần đi qua cổng Torii cao 12m được làm từ cây trắc bá 1.500 năm tuổi. Bước vào cổng, một không gian hoàn toàn tĩnh mịch, hướng con người tới sự tôn kính với vị vua uy nghiêm nhất Nhật Bản. Từ cổng đi vào mất khoảng 10 phút, du khách cần rửa tay, mặt để bước vào trong đền cúng.
Khi bước tới chính điện, bạn có thể cúng bái, bày tỏ lòng thành kính đến với ngôi đền này. Ngoài ra, bạn cũng có thể viết những lời nguyện cầu lên mảnh giấy nhỏ và treo lên bức tường gần đó hoặc viết vào những phiến gỗ ema và treo lên bảng cầu nguyện trước cây long não lớn. Tại đền, bạn cũng có thể dùng đồng xu mình đổi để quăng vào hộp ước, vái 2 lần, vỗ tay 2 cái, vỗ lại lần nữa và bỏ tiền vào hộp.
Vào đầu năm mới, ngôi đền đón đến hơn 3 triệu khách du lịch ghé thăm. Đây là con số khác biệt hẳn so với những ngôi đền, chùa trong toàn nước Nhật. Ngoài ra, các đám cưới Shinto truyền thống có thể được tổ chức trong đền.
Đi về phía bắc ngôi đền, du khách sẽ bắt gặp Meiji Jingu Treasure House, được xây dựng một năm sau khi ngôi đền được mở ra. Ngôi nhà này có chứa đựng các đồ đạc cá nhân của vị hoàng đế và hoàng hậu. Ở phía đông có xây dựng một bảo tàng cho những buổi triển lãm tạm thời. Ở phía nam, bạn phải mua vé để vào vườn Nội tham quan. Đặc biệt vào giữa tháng 6, khu vườn này đặc sắc với những cánh hoa tỏa ngát hương thơm, một chiếc giếng nhỏ nằm trong khu vườn”.
Nhân tiện tôi cũng xin trích dẫn một đoạn viết ở tài liệu khác để quý độc giả hiểu phần nào thủ tục cầu nguyện ở một Đền Thần Đạo của người Nhật mà nhiều lần tôi đã thấy, thắc mắc nhưng vẫn chưa hiểu được bao nhiêu:
“Cũng giống như bất cứ đền thờ Thần Đạo trên khắp đất nước Nhật Bản, trước khi bước vào chính điện, du khách phải thực hiện lần lượt các nghi thức rửa tay và súc miệng theo tinh thần thanh tẩy thân tâm của Thần Đạo tại giếng nhỏ Temizuya. Tôi để ý thấy Noriko cầm lấy gáo nước bằng tay phải, hứng nước từ trong bể, dùng nước đó để rửa tay trái trước rồi sau đó đến tay phải. Tiếp đến, cô cho nước vào lòng bàn tay trái và thực hiện động tác súc miệng. cuối cùng, cô cẩn thận dựng gáo nước theo chiều thẳng đứng để nước còn sót lại trong gáo chảy ra hết bên ngoài trước khi úp nó lại vào vị trí ban đầu. Trong lúc cùng nhau đi đến chánh điện, Noriko còn giải thích thêm cho tôi một số điểm quan trọng khi thực hiện nghi lễ chào tại đây. Chẳng hạn như trước khi cầu nguyện thì cúi chào 2 cái, vỗ tay 2 cái. Sau khi cầu nguyện xong thì lại cúi chào 1 cái nữa. Nếu muốn, khách có thể cho vài đồng xu vào thùng lễ vật Saisenbako trước khi cầu nguyện. Những đồng tiền lễ vật dâng lên thần linh này được tin rằng sẽ giúp được con người giảm được phần nào những tội lỗi của mình”.
Nhìn ngắm, quan sát hồi lâu, tôi và anh Ba Quang lại lần ra. Tại cổng vào khuôn viên của Đền có một đội quét rác đang làm. Tôi nghĩ đây chắc là những người thiện nguyện vào làm công việc nầy và có tính cách trình diễn, thực hiện lại phong cách ngày xưa vì họ mặc bộ kimono màu trắng, mang dép với vớ trắng đang cầm cây chổi để quét dọn lá dọc theo hàng rào cây. Còn ở xa xa về phía tay trái của cổng những thợ chụp hình đang dàn cảnh chụp hình cho cô dâu, chú rễ của một đám cưới mới vừa xong.
Lần trở ra chúng tôi không còn quan sát nhiều nữa, một phần vì đã quen với nó rồi, một phần sợ trễ giờ. Nhưng khi ra đến building nơi kiểm soát ra vào nhiều người còn tìm mua đồ lưu niệm ở đây nên tôi cũng nán lại để “dòm” thêm chút nữa. Đến 9 giờ 30, đoàn lên xe buýt di chuyển sang Asakusa Kannon Temple.
Chúng tôi kéo đến cổng đầu tiên của chùa ở kế bên đường vào lúc quá 10 giờ. Ở đây được Jennifer dặn dò đôi điều và hẹn giờ tập trung; Xong, rồi mạnh ai nấy đi hay đi theo từng nhóm riêng.
Cổng nầy có treo cái lồng đèn lớn ở gian giữa, ở hai bên là hai tượng mà theo tài liệu đó là tượng của Thần Sấm (Thần Raijin) và Thần Gió (Thần Fujin) nên cổng nầy được gọi là Cổng Sấm (Kaminarimon) với lồng đèn màu đỏ cao 4m, chu vi 3.4m, nặng 670kg. Cổng được xây dựng vào năm 942.
Qua cổng ta đi vào một con đường đi bộ mà hai bên đầy hàng quán bán đồ lưu niệm và thức ăn trên một đoạn đường dài 250m được thành hình từ năm 1685, người ta tính có khoảng 90 gian hàng và gọi con đường nầy là Nakamise hay còn gọi là con đường mua sắm kéo đến cổng Thứ hai của Chùa là Cổng Kho Báu (Hozomon). Hàng cột của các gian hàng đều được sơn màu đỏ và phía trên đều có treo cờ Phật giáo.
Sở dĩ cổng thứ hai được gọi là Cổng Kho Báu vì có nhiều báu vật của chùa được cất giữ tại đây. Cổng được xây dựng đồng thời với cổng ngoài, nhưng bị cháy nhiều lần nên cổng được xây dựng lại bằng bêtông vào năm 1964. Bước qua cổng là đến sân Chùa với khu Chánh điện ở trên nền cao với những bậc thềm đi lên. Chùa rộng lớn và uy nghi, du khách và khách viếng chùa đông đảo, khói hương nghi ngút; nhưng tôi không vào chùa mà chỉ quay ghi lại những hình ảnh mà thôi vì e không đủ giờ.

Nguyên Thảo,
23/10/2017.