Thursday, October 5, 2017

*Khi Hoa Anh Đào Nở. (6)


Theo kế hoạch thì sáng này chúng tôi sẽ bắt đầu di chuyển về Phú Sĩ Sơn. Sau khi ăn sáng xong, trong thời gian đợi xe buýt tôi và anh Nhi thả dọc ra ngoài thì đường phố nơi nầy không có vẻ của một thành phố, nó ít xe và đường len lỏi dưới những tàng cây xanh tươi vào mùa Xuân, thật là yên tịnh và mát mẻ. Nhưng, Jennifer cho biết là chúng tôi không đi thẳng về Phú Sĩ mà lại sang Kyoto đón xe lửa tốc hành, và xe chở hành lý sẽ đến vào lúc 8 giờ 30 để đưa hành lý đi trước.
Thế là chiều ngày hôm qua chúng tôi từ Kyoto chuyển đến Kobe nầy chỉ để tham quan một Thành phố được xây dựng lại từ sự tàn phá nặng nề do động đất, cùng ăn tối và ngủ ở khách sạn; để rồi sáng nay lại vượt chặng đường gần 75 cây số quay trở lại Kyoto, cũng là kỳ công thật! Nhưng nhờ vậy mà chúng tôi lại biết thêm những điều mới lạ, không biết đó có phải là dụng ý của tour du lịch hay không, nhưng trong lịch trình thì chúng tôi ngủ tại khách sạn Ariston ở Kobe nầy cho rẻ hơn?
Xe chở hành lý đi rồi thì đến 8 giờ 30 chúng tôi lên xe buýt để quay về Kyoto. Xe về đến Maruyama Park vào lúc 10 giờ, mọi người sẽ tham quan ở đây cho đến 11 giờ. Vào thời điểm nầy các cây anh đào đã không còn nhiều bông và lá xen vào mơn mởn, nhưng một khung cảnh rất đẹp và tươi mát bên bờ hồ với chiếc cầu bắt ngang. Công viên được coi là công viên cổ xưa nhất của Kyoto, nó thành lập từ năm 1886 và là nơi ngắm hoa anh đào nổi tiếng vào mùa Xuân với khoảng 800 cây anh đào, nhất là loại hoa anh đào rũ “Gion Shidare Zakura” mà tại trung tâm công viên có cây cổ thụ thuộc loại nầy nên càng hấp dẫn nhiều người dành cho những tấm hình để làm kỷ niệm.
Hồ và cầu trong công viên Maruyama.

Tại đây rất đông người có nhiều đoàn mặc đồng phục, không biết có phải là những đoàn sinh viên không mà lứa tuổi của họ vào khoảng đó đến tham quan. Lại có đoàn mà người ta mặc Kimono đang đi ra khá đông, nhưng những người nầy trò chuyện nhau bằng tiếng Nhật chứ không phải là tiếng Trung, như vậy họ không là du khách Trung Quốc hiếu kỳ.
Vì tôi thích quay phim để ghi lại hình ảnh cho nên tôi đi len lỏi theo các con đường tương đối là nhanh vội để ghi lại những góc cạnh theo thời gian cho phép. Đi theo con đường lần lên đồi qua những hàng tre thì lên đến ngôi đền và có cả chùa nữa. Ở đó tôi và anh Ba Quang thấy không cần thiết để đi xa hơn, một phần cũng sợ lạc đoàn và trễ giờ giấc nên đành quay trở xuống theo một hướng khác. Con đường xuống dốc nầy rất rộng lát gạch vuông, hai bên như khu vườn cây đầy bóng mát, bên trong có vài kiến trúc kiểu Nhật riêng biệt làm cho du khách cảm thấy thích thú. Cuối đường đó nối lại con đường về trung tâm chính. Xuống đến đó thấy những người trong đoàn đang ngồi nghỉ ở công viên nhỏ với những cây anh đào nhiều cánh màu hồng đậm và họ đang tìm góc cạnh để chụp hình. Tôi và anh Ba Quang lại thả dọc về hướng phía dưới.
Qua cổng Torii lớn màu cam, càng đi sâu hơn thì lại đến khu kiến trúc sao có vẻ là chùa hơn là đền của Thần Đạo. Lại bước sang phía phải qua một cổng Torii khác khá lớn nhưng bên trong là một khu vườn, cho nên chúng tôi trở ra. Không biết dọc bên trái con đường người ta muốn trưng bày những mô hình trang trí của một đền thờ Thần Đạo, hay chúng là những đền thờ nhỏ; nhưng chúng có khuôn khổ giống như các mô hình nhỏ, mỗi căn có cách bố trí khác nhau; xem qua đó du khách có thể hình dung được phía trước cùng bên trong của một đền thờ Thần Đạo được xếp đặt ra sao.
Trở lại những ghế cây bên cạnh một công viên nhỏ với những cây anh đào hồng tôi chụp vài bôi hình cho vợ tôi cùng những người bạn trong lúc chờ đợi mọi người tập trung lại để xe đưa đi ăn trưa.
Rời công viên vào lúc 11 giờ và ở đây tôi mới thấy có vài cây anh đào chắc trổ sớm cho nên bây giờ đầy lá xanh lớn và có cả trái nữa, như vậy trong chuyến đi nầy tôi đã thưởng thức được đầy đủ hoa, lá, cành, trái của Anh đào, chứ không hẳn là hoa không, chỉ thiếu một cái là không chứng kiến được “Hội” ngắm hoa thôi! Nhưng chẳng có sao, bao nhiêu đó cũng là quý lắm rồi!
Xe đưa về một nhà hàng có lầu mà Jennifer cho biết là nơi đây vào ban đêm có những nàng Geisha phục vụ cho khách hàng, cho nên có những phòng trải chiếu và không bày biện nhiều. Nhưng chúng tôi có phòng với những dãy bàn dài mà nhân số của đoàn chiếm luôn hai dãy.
Xong bữa ăn cũng đã là 12 giờ 20, xe buýt lại đưa chúng tôi về nhà ga để đón xe lửa tốc hành Shinkansen đi Phú Sĩ Sơn. Giã từ xe buýt, đoàn vội vã đi theo sự hướng dẫn của Jennifer, băng qua đường, dọc theo hành lang để về trung tâm nhà ga. Jennifer vào văn phòng lấy vé, nhưng chuyến xe của chúng tôi hãy còn lâu cho nên Jennifer lại đưa chúng tôi về cửa Bắc để nhìn cái kiến trúc hiện đại của nhà ga nầy.
Nhà ga xe lửa đầu tiên của Kyoto được thành lập vào năm 1877. Và nhà ga hiện nay là nhà ga thứ tư được hoàn thành vào năm 1997 có cấu trúc hiện đại mà phần vòm cao nhất lên đến 70m. Những khung sắt màu kim loại được lắp ráp thành mái vòm trên cao làm cho mái trở nên rắn rỏi, hùng mạnh vươn lên che chở cho các tiệm bán và du khách ở phía dưới trong một không gian tương đối rộng lớn chừng 238,000 m2. Có những bậc thang đi lên trên cao chia thành nhiều cấp (người ta tính có đến 171 bậc) rộng lớn ở giữa để cho những người thích đi bộ, hoặc cho những sự kiện được tổ chức vào cuối tuần. Tuy vậy, vẫn có thang cuốn chiều lên và chiều xuống cho những ai cảm thấy cần thiết như bọn già tụi tôi chẳng hạn. Qua những bậc thang cuốn, cuối cùng chúng tôi cũng lên đến tầng bằng để nhìn ngắm khắp thành phố Kyoto.  Tầng bằng là một không gian như sân thượng để mọi người lên đây ngắm cảnh ra xung quanh và chụp hình, quay phim toàn cảnh Thành phố. Nó cũng được trang trí bằng những sân cỏ, bồn bông trồng tre để làm dịu mắt cho du khách và được đặt tên là “Happy Terrace”. Lên đây đứng nhìn ra bên ngoài cũng được, mà nhìn xuống phía dưới bên trong xem người qua lại cũng được. Nhưng tôi lại có cái thú nhìn phía dưới bên ngoài để thấy những cặp đường ray xe lửa và xe chạy trên đường phố, tuy nhiên bị lớp kính dầy cùng những trụ bê-tông chống giữ, an toàn che chắn và nhuộm màu nên hình ảnh không trung thực cho lắm!
Sau đó thì Jennifer lại hướng dẫn đoàn đi qua một dãy tiệm mì “udon” đang đông khách để đi vào con đường gọi là “Skywalk” len lỏi trong những khung sườn trên cao mà chúng tôi có thể quan sát bên ngoài qua những lớp kính dầy. Đường đi nầy nối từ đầu Đông sang đầu Tây của kiến trúc. Khoảng giữa có những nơi để du khách ngừng lại quan sát ra bên ngoài. Mọi người thích nhất là chụp hình ở nơi nhìn ra Tháp Kyoto, nó rõ ràng không bị vướng vào cảnh quan nào.
Tháp Kyoto.

Qua đầu phía Tây chúng tôi thả lần xuống dưới để đi về trạm xe lửa vì cũng sắp gần tới giờ. Qua cổng soát vé đoàn đến trạm để đón chuyến xe lửa tốc hành Shinkansen đi Tokyo. Chuyến nầy có tên là Kodama 662 nó sẽ đến vào lúc 1 giờ 59 chạy đến Tokyo và ngừng ở tất cả các trạm và đây là xe lửa không hút thuốc. Ai hút thuốc thì ráng nhịn!
Chúng tôi nhanh nhẹn bước vào toa và Jennifer phải kiểm soát lại để rủi có ai rớt lại thì sao. Nhưng tất cả đều đủ. Toa xe rất sạch sẽ, một bên 3 ghế và một bên hai ghế, ngồi rất thoải mái, đường giữa rộng hơn là trên máy bay. Xe bắt đầu ra ngoại ô, càng lúc nó chạy càng nhanh, mọi thứ gần như trốn chạy về phía sau. Tôi mãi mê đưa máy ra ngoài quay những cảnh ở thôn quê, nhà cửa có lúc chập chờn, nhưng xe chạy khá êm.
Theo tài liệu thì Shinkansen là hệ thống đường sắt cao tốc của Nhật được thiết lập từ năm 1964, xe lửa chạy với tốc độ 210 km/giờ, sau nầy dần phát triển nối các thành phố lớn và chạy với vận tốc lên đến 300 km/giờ.
Cách phục vụ trên xe lửa như thế nào thì tôi không rõ, tuy nhiên cứ mỗi lần cửa toa mở ra thì lại thấy nhân viên không biết là an ninh hay giữ chức vụ gì lại cúi đầu chào trước khi bước vào, và hình như sau khi bước ra anh ta cũng quay lại nghiêm cẩn để cúi chào lần nữa thì phải vì tôi không nhớ rõ lắm. Tôi có nói với vợ tôi người Nhật quá lễ phép nên trở nên cầu kỳ. Điều ấy chắc là không đúng lắm! Dọc theo các ga tôi nhìn hình như nhiều người Nhật có chiều cao không cao lắm, hay là tại mình nhìn xa; thì tôi lại nhớ đến những người già cỡ ba tôi kêu lính Nhật trong thời Nhật chiếm đóng ở Việt Nam là “Nhật lùn”, hay là thuở ấy họ lùn thiệt và tôi lại nghĩ đến những người lính ấy mà mang súng trường kiểu “Mousqueton” (?) mà dân gian gọi là “mút cà thòn” thì chắc là chấm đất mất!
Mãi lo suy tưởng chuyện tào lao thì xe lửa ngừng lại ga, mọi người xuống theo lời của Jennifer. Đây là ga Shin Fuji chứ không phải chúng tôi sẽ đến Tokyo, vậy là lại được đi xe buýt tiếp tục cho chuyến hành trình. Lúc đó là 4 giờ 30.
Xe rời Thành phố, tôi lại càng chú ý hơn vào vùng thôn quê của Nhật để tìm xem những khác biệt đối với vùng thôn quê quê mình (Việt Nam chứ không phải là Úc Đại Lợi). Tất nhiên là với sự tiến bộ và nhiều năm trong hòa bình vùng thôn quê của quê mình làm sao bằng quê người. Hơn nữa với mấy mươi năm sau hòa bình người ta đã đi đến tận đâu còn đất nước mình vẫn loay hoay “làm và sửa” cho đến tận bây giờ. Nghĩ lại ông Marx mà ổng sống lại chắc ổng phải lắc đầu với hàng hậu bối đang thực hiện điều ổng mơ ước và tạo ra, không khéo ổng lại khóc nức nở cũng không chừng!

Thôn quê ở Nhật.

Xứ Nhật được xem là xứ dân quá đông đúc tức là lâm vào nạn “nhân mãn” từ lâu, lại là xứ nhiều núi mà không ít động đất thiên tai, thế mà chính phủ và dân Nhật đã tận dụng địa hình để phát triển quốc gia và kinh tế. Xe đã chạy qua nhiều cánh đồng, trong đó có những vườn trà mà tôi đã nhìn thấy và ghi lại, những khu nhà ở trên triền núi, hay những nhà máy gần với khu dân cư nhưng đường sá vẫn khang trang, rộng rãi, thuận lợi cho cơ sở hạ tầng. Người ta trồng trọt ở những vùng thung lũng hay những nơi đất bằng.
Vườn Trà.

Theo đường hay những đường phố thường xuất hiện nhiều cây Anh đào, quả thật người Nhật tha thiết với nó quá, cho nên nơi nào cũng thấy dù khoảng thời gian nầy có loại đang đầy bông, cũng có loại với tàng lá xanh mà bông vẫn còn lưa thưa. Bởi vậy, người ta coi Nhật là xứ sở của Hoa Anh Đào cũng không có gì lạ! Xe đang tiến lên con đường dọc theo núi để đi về vùng hồ Yamanakako. Tối nay chúng tôi sẽ ngủ ở khách sạn Yamanakako Sun Plaza Hotel. Ở hai bên đường có nhiều đoạn cây trơ trụi, vươn cành và chưa ra lá nào khiến tôi nhớ đến vài khu rừng chồi lưa thưa ở miền Đông quê tôi vào mùa khô và cũng lại nhớ đến câu thơ của cụ Nguyễn Du trong Truyện Kiều “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” mà nghe lòng có phần tê tái!
Xe chạy đến cái hồ và chạy dọc theo đó, rồi chậm lại, tôi cố nhìn xem chuyện gì phía trước. Nhưng không, xe đi vào chỗ đậu rồi ngừng hẳn. Chúng tôi lại xuống xe. À! Thì ra xe đến khách sạn rồi! Thế là chúng tôi đã vượt 63 km từ Shin Fuji (Tân Phú Sĩ) để đến nơi nầy vào lúc 6 giờ chiều. Hành lý đến tự bao giờ được xếp vào trong một góc chờ chúng tôi đến nhận sau khi đã nhận phòng. Jennifer cho biết chúng tôi sẽ mặc những bộ đồ để sẵn ở trên giường, xong rồi tập họp ở dưới phòng đợi.
Tưởng gì, té ra ở khách sạn người ta muốn mình học theo kiểu Nhật, mặc bộ đồ của Nhật, mang dép xuống đây để ăn tối, đồng thời xúm nhau chụp hình lưu niệm với nhau. Đồ đàn ông thì có thắt lưng xanh còn của nữ thì thắt lưng đỏ, nhưng người ta để trong phòng tôi lộn rồi nên dây thắt lưng của tôi lại màu đỏ còn của chị Cỏn ở phòng kế bên thì lại màu xanh. Thôi thì mình làm đàn bà đỡ vậy! Thế mà vợ chồng tôi cũng ráng chụp nhiều bôi hình với anh chị Nhi, Đệ và Bảy Gàng. Nhìn lại hình mới thấy mình thật là “khờ khạo” biết bao nhiêu! Già rồi mà vẫn còn “dở tính”!

Nguyên Thảo,
06/09/2017.



Wednesday, October 4, 2017

*Bài Ca Tâm Địa.



*Đời Nô Bộc.     


Đã lỡ sanh ra tự kiếp nghèo
Nên đành đeo nếp sống hẩm hiu
Làm thân tôi mọi người sai khiến
Cũng bởi vì sanh ở kiếp nghèo.

Chủ chỉ gà rằng là con vịt
Tớ cúi đầu: "Vâng phải bẩm Thầy!"
Chủ bảo đến kia "Làm việc đó"
"Thưa thầy, tớ sẽ vội làm ngay".

Chủ trả đồng lương tớ phải làm,
Đồng lương sai tớ mất khôn ngoan.
Tớ phải cúi đầu vâng lệnh chủ
Ngàn sau cười mỉa, tớ vẫn làm!

Đồ Ngông,
15-05-03.

 


*Đời Đi Không Trở Lại.     

Đã lỡ sanh ra ở kiếp người
Đường đi tới trước mãi không ngơi
Đã qua, không thể nào quay lại
Sẽ đến, thế rồi phải đến thôi!
Từng việc, từng người vào quá khứ
Bao lần, bao lối nối tương lai
Bận lòng chi mãi tâm vương khổ
Bình thản mà đi giữa cuộc đời!

Đồ Ngông,
09-08-03.

 


*Bài Ca Tâm Địa.      

Đám mây tâm địa u hoài
Vương vương bao phủ trần ai khổ sầu.
Những người tâm địa thâm sâu,
Hại thầy, lừa bạn bắt cầu lên cao.
Những ai tâm địa xôn xao,
Khuấy trời đục nước, ồn ào sóng vang...
Những người tâm địa mang mang
Đời sao khó tránh, hàng hàng chơi vơi!
Những phường tâm địa nhỏ nhoi
Cứ luôn bươi móc, phá hôi ngày ngày.
Những tuồng tâm địa chẳng ngay,
Uốn cong, bẻ vặn, đắng cay cho người.
Ở đời tâm địa bời bời,
Bài ca không hết những lời thế nhân...!

Đồ Ngông,
14-08-03.




*Tỉnh Giấc Đi Anh.     

Tỉnh giấc đi anh, mộng đã rồi
Đời vào xế bóng, mãi mơ thôi!
Vầng dương chênh chếch trời tây xuống
Mây thẩm lên cao, bóng ngã rồi!

Còn bao lâu nữa, mơ cùng mộng!
Khổ luống ưu sầu, lại cứ theo
Chẳng được thêm gì? Ôi! Chán nhỉ!
Bạc đầu, tuổi chất cũng còn gieo.

Ô hay! Sao lại hung hăng mãi,
Tuổi trẻ ngày nao chẳng đạt thành!
Sức yếu giờ đây thêm mắt kém
Làm gì? Chi nữa! Mộng cùng mơ!

Đồ Ngông,
07-08-03.



*Đường Đến Băng Hà. (5)


Banff là một thị trấn du lịch với số dân khoảng 4,000 người, nằm trên độ cao 1,383 m thuộc Banff National Park. Khách sạn của chúng tôi là Banff Inn nằm trên đường Banff Avenue, là đường chính và cũng là đường tập trung nhiều khách sạn nhất. Còn ngồi trên xe buýt đi trên đường phố tôi đã thấy những kiến trúc duyên dáng, có vẻ cổ kính, tạo nên hình ảnh thân thiện và dễ mến. Tôi chỉ có cảm tưởng như vậy thôi, chứ chưa biết hẵn đây là nơi du lịch. Càng ngạc nhiên hơn là sau khi nhận phòng, vì thời gian còn sớm và chiều nay phải đi tìm thức ăn tự túc nên bọn 7 người chúng tôi thả rong trên các đường phố để tham quan, đồng thời đi tìm thức ăn. Thì thấy đa số các cửa tiệm là cửa hàng bán quà lưu niệm cùng thức ăn. Nếu dễ dãi hơn, chúng tôi có thể tìm thức ăn pizza của Ý hay các loại thức ăn nhanh của Tây, nhưng vì muốn đi tìm xem có nhà hàng nào của Việt Nam ở nơi nầy không. Tìm mãi không thấy và thấy có một nhà hàng Tàu, thôi thì nhiều người muốn ăn cơm, nên chúng tôi vào kêu cơm và món ăn. Nhà hàng nầy không biết là của tư nhân hay do chính phủ Trung Quốc đầu tư mà thấy không ngon lắm, và nhân viên toàn nói tiếng Phổ thông hay còn gọi là Quan thoại. Vì đã lâu lắm, trong chuyến đi Âu Châu với Anh Chánh tôi được nghe nói là sau nầy chính quyền Trung Quốc cho người đầu tư về nhà hàng ở các nơi du lịch nhiều lắm, cho nên tôi chỉ “đoán già, đoán non” như vậy! Ăn xong, chúng tôi xuống dưới đường thì gặp một nhóm người Tàu Quảng hay Hồng Kông gì đó, họ hỏi thức ăn ngon không, chúng tôi không dám nói thẳng thừng vì có nhân viên nhà hàng vừa tới. Cả đám lại kéo nhau về khách sạn và ngủ qua đêm.
Cũng như mọi hôm, tôi và anh Thới đều thức dậy sớm, uống chút cà phê, tâm tình hay đi làm vệ sinh cá nhân, rồi mới đi ăn sáng vào lúc 6 giờ 45. Sau đó, về phòng soạn lại đồ dùng trong ngày và kiểm lại để trả phòng cho khách sạn.
Hành lý được chất lên xe lúc 8 giờ và đoàn khởi hành sau đó 10 phút. Vincent giới thiệu trạm đầu tiên mà chúng tôi sẽ ghé vào sáng nay là Bow Falls trước khi trực chỉ lên Sulfur Mountain để đi Gondola. Bow Falls là những thác nước trên sông Bow, chúng chỉ cao chừng 9 m, nằm ngang con sông làm thành những bậc cao khác nhau.
Bow Falls

Cảnh nhìn cũng đẹp để cho du khách chụp hình, thu phim; nhưng nó lại nổi tiếng hơn nhờ nơi đây là cảnh ở trong phim “River of No Return” mà Marilyn Monroe đóng vào năm 1953.
Đến 8 giờ 40 mọi người lại lên xe để tiếp tục cuộc hành trình. Tất nhiên là có nhiều ý kiến và giải thích, bình phẩm về cảnh và hiện tượng, nhưng Vincent nhắc đến Marilyn Monroe và mở video phim “River of No Return” cho mọi người xem, nên ai cũng nhìn lên màn hình và ngưng ngay những ý kiến. Không bao lâu thì đã đến trạm Gondola lift, Vincent liên lạc văn phòng lấy vé và phân phát cho chúng tôi. Rồi cứ 4 người lên một cabin để lên trên đỉnh của núi Sulphur. Cáp treo lên càng lúc càng cao và có vẻ đứng hơn khiến cho nhiều người nhìn xuống mà hơi sợ. Tôi chỉ nhìn qua hai bên cho bớt chóng mặt. Những cây cối ở dưới chân núi còn phát triển khá hơn, còn những cây mọc gần đỉnh làm như lớn không nổi và cành lá lưa thưa, và hình như ‘thun” lại vì tuyết hay thời tiết quá lạnh. Rời cabin, đi ra ngoài: Ôi! Cảnh vật thật là đẹp, hình như sáng rỡ ra vì ánh nắng mặt trời rọi xuống và tuyết trên đầu các dãy núi phản chiếu lại. Nhìn ra chung quanh toàn là núi tuyết. Một màu trắng chạy dài ở trên cao xen với màu sẫm của cây và đá núi cùng phía dưới là màu xanh của cây và cảnh mờ mờ của Banff, các thung lũng qua ánh nắng mặt trời.
Cảnh từ núi Sulfur

Người ta làm con đường ván để du khách có thể sang ngọn núi Sanson’s bên kia thăm viếng đài quan sát khí tượng được thiết lập từ năm 1903. Ở đó, lúc xưa người còn xây một phòng nghiên cứu về Tia vũ trụ từ năm 1956 hoạt động cho đến 1978, nhưng đến năm 1981 thì phải di dời. Khoảng 10 giờ chúng tôi lần lượt đón gondola đi xuống và 10 giở rưỡi lại lên xe để sang Lake Louise.
Rời Banff, đoàn đi theo đường số 1 để lên Lake Louise. Nghe nói hồ cách đây chừng 57 km. Dọc theo đường dòng sông Bow không lớn và sâu lắm chảy xuôi về phương Nam. Vincent cho biết ngọn núi hình dáng của một thành quách ở phía trước. Mọi người hướng mắt tìm. Sau đó xe buýt dừng lại để xuống chụp hình ngọn núi có hình dáng kỳ thú nầy.
Castle Mountain

Núi có độ cao là 2,766 m được đặt tên là Castle Mountain từ năm 1858 do James Hector. Và để tưởng nhớ đến Tướng Eisenhower trong thời Đệ Nhị Thế Chiến người ta gọi nó là Mount Eisenhower từ năm 1946 cho đến năm 1979 thì gọi lại tên cũ. Không biết vào mùa tuyết tan thì hình dáng nó thế nào chứ vào mùa nầy hình dáng nó giống với ngôi thành hai tầng riêng biệt được định hình bằng lớp tuyết trắng ở giữa để phân chia và sừng sững đứng ở trên cao.
Sau giây phút thoải mái, xe tiếp tục tiến về Lake Louise. Không biết vùng nầy lớn như thế nào chứ tôi thấy nó cũng chẳng là nhỏ mà theo tiếng gọi lại là thôn ấp “Hamlet” chứ chẳng được là làng “Village”.
Louise Lake

Đây là nơi có độ cao khoảng 1,600 m, khí hậu nó vốn là lạnh mà lại ở xứ lạnh nữa nên chúng tôi cảm thấy là khá lạnh mặc dù trời đã vào Xuân. Tuy nhiên, vì để thoả mãn tính tò mò và cái “dòm” của con mắt, nên mọi người vẫn vượt qua đưọc cái trở ngại ấy. Ai nấy lo tìm góc cạnh để chụp hình sao cho có những tấm hình thật đẹp hầu xứng đáng với đồng tiền bỏ ra đi đến đây. Nói thế cho vui, chứ thưởng thức cảnh đẹp và tìm hiểu, để biết là cái chính của mọi người khi hoạch định chuyến du hành của mình. Không biết tuyết đổ từ hồi nào nhưng trên nóc tôn của nhà vệ sinh còn lại một mảng tuyết lớn và dầy gần cả thước đọng lại trên đó, đang rỉ nước nhỏ giọt xuống phía dưới. Đi ra phía hồ thì người đông vui, tiếng gọi nhau để chụp hình vang rân lên, nhưng ôi hồ chỉ có một màu trắng xóa vì trên mặt băng hãy còn hầu hết diện tích của hồ, chỉ có vài nơi gần bờ băng đã tan. Có lẽ nhờ hình dáng và màu sắc của các cây, rừng thông “alpine” in lên nền tuyết trắng cùng những nơi đá của núi mà tuyết không phủ được làm cho vẽ đẹp của cảnh quang ở đây trở nên đẹp đẽ và hùng vĩ. Hồ nằm giữa hai ngọn núi, nhưng ở chính giữa đàng xa lại là dãy núi với đầy tuyết và mây tạo nên cảnh mờ ảo chắc chắn sẽ khiến cho người xa xứ và cô đơn nơi nầy cảm thấy là buồn lắm nếu nơi đây không là nơi du lịch.
Hồ nầy có tên là Louise chứ không là Louis tức là không phải tên của một người đàn ông, con trai mà chứng tỏ là tên của một người con gái. Thực vậy hồ mang tên nàng Công chúa thứ tư của Nữ Hoàng Anh Victoria là Louise Caroline Alberta (1878 – 1939) cũng là vợ của John Campbell, người giữ chức Tổng Toàn Quyền của Canada từ năm 1878 – 1883. Có đường đi bộ vào sâu trong rừng gần bờ hồ, chắc đó là đường đi dọc theo hồ nhưng tôi đành quay lại và đi vào khuôn viên của Lâu đài hồ Louise “Fairmont’s Chateau Lake Louise” được xây từ những thập niên đầu thế kỷ 20 do Canada Pacific Railway.
Hồ Louise có bề mặt khoảng chừng 0.8 km2 với chiều dài khoảng 2 km, bề ngang 0.5 km với độ sâu 70 m và lượng nước của nó do tuyết tan từ trên cao đổ vào hồ, đồng thời nước chảy ra cung cấp cho dòng sông Bow cách đây chừng 3 km.
Đến 1 giờ, chúng tôi lên xe để về khu thương mại gần hồ để ăn trưa ở một nhà hàng Tây và nghỉ ngơi, mua chút ít đồ. Xong lại lên đường để làm một cuộc hành trình quay về vào lúc 2 giờ. Đến chừng khoảng hơn nửa giờ đồng hồ sau, Vincent cho chúng tôi ghé qua hồ Emarald để tham quan. Hồ Emerald nằm trong Yoho National Park, cách hồ Louise chừng 30 km thuộc tỉnh British Columbia, là hồ lớn nhất trong 61 hồ, ao của Vườn Quốc Gia Yoho.
Emerald Lake

Quả thật hồ có màu xanh ngọc bích thật đẹp, nhưng mùa nầy phần lớn hồ vẫn còn đóng băng, chạy dài tận mãi phía giáp núi. Ngưòi ta làm cái cầu nối liền từ bờ bên nây qua cái mũi đất ở bên kia cho thuận qua lại. Nơi đây thu hút nhiều người chụp hình ở cái góc cạnh nầy. Có một mũi tuyết tuột xuống đến tận hồ khá lớn làm cho người xem có thêm phần thú vị.
Chúng tôi rời Emerald Lake lúc 3 giờ và đến Natural Bridge sau đó 20 phút. Cầu tự nhiên nầy nằm trên sông Kicking Horse cách làng Fied chừng 3 km về phía Tây Nam, và xa hồ Louise khoảng 31 km 6. Dòng chảy của sông Kicking Horse phía trên đến chỗ nầy lại chui xuống dưới những gầm đá mà đổ xuống phía dưới thấp, theo người ta tính là do nơi nầy được cấu tạo bằng đá vôi, mềm nên bị xâm thực và bào mòn do sức nước, cùng cát đá mà dòng sông mang theo làm cho cửa ngõ nầy càng ngày càng mở rộng và phần đá trên trở nên giống như một cái cầu nên được gọi là “Natural Bridge”. Phía dưới là dòng sông Kicking Horse chảy len vào rừng với nhiều ghềnh đá.

Natural Bridge.

Xe trở ra đường số 1 và hướng về Vancouver. Khi đến Roger’s Pass vừa để nghỉ ngơi vừa thăm viếng Trung Tâm Lịch Sử Quốc Gia nầy của Canada. Trong trung tâm người ta trưng bày nhiều con thú vật sống trong vườn Quốc gia nầy với những chú thích để du khách hiểu được rõ ràng hơn, đồng thời với hình ảnh, mô hình của Roger’s Pass kể cả lịch sử làm đường thông qua và tượng bán thân của Roger. Sau đó thì mọi người lên xe tiếp cuộc hành trình dài gần 170 km để về đến Salmon Arm mất khoảng 2 tiếng đồng hồ và ăn chiều ở nhà hàng Jade Buffet of China rồi về Resort Prestige Harbourfront Resort để ngủ qua đêm!

Nguyên Thảo,
28/08/2017.



*Giữa Chợ Làng.



*Chấm Mút.     

Tớ chỉ xin ông chút đỡ ghiền,
Nhưng mà ông đã tánh hay quên.
Bây giờ đâu hẳn còn hay hết,
Tiu nghỉu tớ buồn..., tớ ngủ quên!

Lại nữa xin ông tí bạc còm
Đem về giúp đỡ lũ bầy con,
Mua thêm quần áo, coi lành lặn
Nhưng đã thôi rồi...! Tớ héo hon!

Tớ chỉ van nài... "chấm mút thôi"!
Nhưng ông xơi hết, những... bao lần,
Của kho trời đãi riêng ông chắc?
Của, bạc lại từ đám lũ dân...!

Đồ Ngông,
07-11-02.




*Hống Hách.   

"Hách xì xằng"quả là thằng lối,
To cỡ bao nhiêu, lộng quá rồi..!
Dọa nạt, ra oai người khiếp sợ
Quyền uy, hâm dọa... bấy nhiêu thôi!

Nó mới kiếp nầy, nó tưởng oai
Cổ nhân đời trước thấy lâu rồi
Cho nên mới nói "lớn" thêm "lối"
Đối nghịch thân hèn "nhỏ" với "nhoi"

Cha sanh, mẹ đẻ không hề lối
Nhưng tới phiên y trở mặt mày
"Van chức, xin quyền" đi liếm gót,
Nỉ nài được thế lại ra oai!

Ai về nói với thằng đang lối
Cùng lắm là xong một kiếp người
Hết hát, thân ra là kép hát
Ngàn năm để tiếng: "Một mùi hôi"!

Đồ Ngông,
24-4-02.

 


*Giữa Chợ Làng.      

Tớ đã đi qua giữa chợ làng,
Có người đứng đó kể oang oang
Thời oanh... oanh liệt còn vang bóng
Thuở bạc ôm kè bước nghênh ngang!

Tớ đã chui vào hóc hẻm sâu,
Những người lăn lóc, bạc thêm đầu
Xem ra chí thú (1), cùng vui vẻ
Hỉ hả vui cười quên hết đau!

Đời bao nhiêu nữa, còn mơ mộng!
Mai mốt rồi ra: Nghĩa địa chờ!
Cuối bước đường cùng như thế cả!
Sao còn nuối tiếc: "Mộng" cùng "Mơ"?

Đồ Ngông,
07-11-02.

(1) chí thú làm ăn.






 
*Nhân Danh       

Trong cuộc đời
không thiếu những sự nhân danh
Từ con người
Cho đến nhân loại và thế giới
Nhân danh khai hóa
Đã sản sinh đế quốc.
Nhân danh nhân loại
Cộng sản đã thành hình.
Nhân danh tự do
Những cuộc chiến điêu linh.
Nhân danh bảo vệ
Nhiều nơi dân đồ thán.
Vì tự do,
hạnh phúc
Biết bao người bỏ mạng trên rừng sâu nước độc
Hàng khối người chẳng ngại ra khơi
Vượt trùng dương và làm mồi cho cá
Nhân danh nữa,
Và nhân danh nhiều nữa
Cho đoàn kết: Đã "tạo nên chia rẽ",
Cho tự do: Đã "thủ đoạn ép người",
Cho dân tộc: Đã "tạo điều muối mặt".
Chắc rồi đây
Ngàn năm nữa
Cũng vẫn có người nhân danh
Nhưng "Cho ai?", mới là điều đáng nói...!

Đồ Ngông,
14-05-03.



Tuesday, September 19, 2017

*Đường Đến Băng Hà. (4)



Golden là một thị trấn có khoảng gần 4,000 dân, nằm trên độ cao 800m cách Vancouver 713 km, như vậy là ngày hôm qua chúng tôi đã vượt hơn 700 km đường bộ và đã học được nhiều vấn đề, cho nên ông bà ta ngày xưa có nói “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” cũng đúng, nhưng mà mệt quá! Quả thật như vậy! Điều trước kia tôi chỉ nói chơi thôi, nhưng nghiệm lại thì thấy không sai. Chuyến đi du lịch nào cũng đều mệt nhoài về nhiều phương diện cả thể xác lẫn tinh thần: Nhiều thứ lo để chuẩn bị, bệnh hoạn, thủ tục lại đến đi đường dài, sáng dậy sớm ra đi, về đến khách sạn chỗ ngủ thì tối thui, không thể giặt quần áo được, thế mà ai cũng thích đi du lịch mới là lạ! “Tất cả mọi thứ đều mệt, nhưng chỉ có con mắt, óc tò mò là sướng thôi”! Đó là câu kết luận cho những chuyến đi du lịch, kể cả các chuyến đi “Cruise” là những chuyến trên tàu chỉ có “ăn, nghỉ, ngủ, chơi” thôi!
Chúng tôi được báo thức từ lúc 6 giờ, nhưng tôi và anh Thới đã dậy sớm hơn để uống cà phê, vệ sinh, tâm tình đôi chút vì chúng tôi đã biết nhau từ những năm đầu đến Úc. Nhưng sau ai cũng bận việc làm, con cái nên lâu lắm chẳng có dịp gặp nhau, bây giờ là dịp để kể cho nhau nghe những điều ở trong đời!
Đến 6 giờ rưỡi lên xe để rời khách sạn và đến ăn sáng ở nhà hàng Kicking Horse Palace lần nữa. Xong, xe bắt đầu đi ra đường số 1 (vào lúc 7 giờ 15) để thẳng hướng về Icefield vì mục tiêu hôm nay là đoàn sẽ đến Bristish Columbia Icefield. Chung quanh đây là cả năm cái Vườn Quốc Gia của Canada gồm có Glacier National Park về phía Tây, phía Đông Nam có Kootenay National Park, phía Đông có Yoho và Banff National Park, và về phía Bắc là Jasper National Park. Những “Vườn Quốc Gia” nầy được UNESCO công nhận là Di sản của thế giới vào năm 1984, mặc dù chúng được thành lập từ năm 1886 và về trước.
Xe lần đi vào khu vực của Yoho National Park tức là khu vực phía Tây của dãy núi đá Rocky Mountain chạy dài từ phía Nam Hoa Kỳ lên đây. Rocky có lẽ là loại trầm tích thạch từ đáy đại dương trồi lên cho nên hình dáng đa số núi của nó là trơ trọi đá ở phần trên, có màu sẫm đen, nhiều tầng lớp chồng chất lên nhau, nhiều nơi nhô ra thụt vào tạo nên dáng núi dễ coi nhưng lại có nét hùng vĩ. Núi nối tiếp thành dãy dài lại mang trên đỉnh đầy tuyết trắng xóa tạo nên một sự tương phản màu sắc, cộng với màu thanh thiên của bầu trời xanh tạo thành cảnh quang thật là đẹp khiến tôi không thể không liên tục cầm máy để quay, và nhiều người bạn cũng phải cầm phone lên để lấy vài bôi hình, mặc dù đang ngồi trong xe mà kính thì lại là kính nhuộm màu. Đến dãy núi Chancellor mọi người đều reo lên trong tiếng thuyết minh của Hướng dẫn viên Vincent. Cảnh rất là đẹp: Dãy núi đầy tuyết trắng ở trên, phía dưới là rừng thông xanh, sông Kicking Horse chảy len dưới thung lũng sâu kia.
Khoảng 8 giờ thì đoàn đến khu vực gọi là Mount Stephen, kế bên đường có con sông cạn, lòng tương đối rộng nhưng nước không nhiều, trên đó có nhiều đá, sỏi và còn nhiều mảng tuyết tan còn sót lại. Đây có lẽ là khởi nguồn cho sông Kicking Horse đổ qua Field và về Gorden. Bên kia là vài ngọn núi phủ tuyết tương đối đẹp mà Vincent nói đó là núi Stephen.
Mt. Stephen và Kicking Horse River.

Vincent cho mọi người nghỉ ngơi, đi vệ sinh, chụp hình ở đây trong thời gian ngắn. Khí trời hãy còn lạnh, nhưng chúng tôi vẫn thích thú chụp những bôi hình để làm duyên và kỷ niệm. Đa số đều mặc áo lạnh của tiệm Kathmandu mà tôi đùa là: “Đoàn nầy đi ở đây đã làm giàu cho tiệm Kathmandu”!
Sau chừng 15 phút, đoàn lại lên xe tiếp tục cuộc hành trình. Dọc đường có cái hồ lớn có tên là Wapta mà lớp mặt đang bị băng đông cứng gần hết mặt hồ. Lúc nầy tôi mới hiểu được những hình ảnh người ta đi trượt băng trên mặt hồ vào mùa Đông. Qua thêm một đoạn đường nữa của đường số 1 (tức Trans-Canada Highway) thì xe chuyển sang đường 93 để đi về Icefield hay đường còn có tên là Icefield Parkway theo hướng Tây Bắc. Từ đây chúng tôi đã làm quen với những cảnh núi tuyết và băng nên không còn ra vẻ ngạc nhiên nữa, chỉ ngồi trên xe để lặng nhìn cái phong cảnh ở bên ngoài mà trên xứ Úc chúng tôi chưa hề được thấy.
Đường đi dọc theo dãy núi ở bên phải nhưng bên trái thì núi xa hơn nên có nhiều hồ và một dòng sông chảy bên cạnh mà nguồn nước cung cấp là tuyết và băng đang tan. Đó là dòng sông Bow. Đến 9 giờ thì xe ngừng ở Crowfoot để chúng tôi được chụp hình núi Crowfoot cùng cái hồ đầy băng của nó ở trên kia.
Mt. Crowfoot.

Có nhiều xe buýt cũng dừng lại để du khách cùng xuống chụp hình. Bên lề đường là những đống tuyết cao mà chắc người ta đã dọn tuyết mở đường cho xe chạy. Màu đen của vách núi hùng dũng nổi bật lên trên nền trắng của tuyết khiến cho cảnh thêm phần hấp dẫn. Một hồi lâu ai cũng lạnh quá đành phải lên xe trước thời gian qui định.
Rồi chúng tôi lại đến Bow Lake sau đó chừng 10 phút và thêm một chập để chụp hình, làm duyên, làm dáng. Bow Lake giờ nầy vẫn còn đầy băng trắng xóa. Thôi thì mình cứ chụp hình với băng cùng tuyết trắng cho có vẻ “lạnh lùng”! Lúc đó, tôi lại nhớ đến lời một người nào đó đã nói: “Ở trên xứ Canada là ở trong một cái tủ lạnh vĩ đại” và tôi lại cười khảy lấy một mình! Không biết các bạn khác nghĩ thế nào, chứ ở nơi đây đối với du khách phương xa một đôi lần đến thăm thì đẹp, nhưng ở lâu rồi chắc là “buồn chết” mà thôi!

Bow Lake.

Hơn mười phút sau chúng tôi lại lên đường để trực chỉ về Icefield. Chẳng rõ độ cao bây giờ là bao nhiêu, nhưng các núi đều có tuyết bao phủ. Dọc đường tôi cố nhin và tự giải đáp những hiện tượng hay khung cảnh theo những kiến thức mà mình đã học được từ khi ở nhà trường. Học mà không có thực tế, đến bây giờ già rồi mình mới được chiêm nghiệm những gì của một quá khứ đã qua và qua thật là lâu! Đến 9 giờ 55 chúng tôi lại được nghỉ ngơi đi vệ sinh trong vài phút ở khu vực gần đó có một số nhà lưa thưa mà người ta để bảng là “The Crossing”. À! Thì ra đó là “Saskatchewan River Crossing” là cái điểm của những người du hành hoặc buôn bán lông thú dừng lại từ phía bắc của sông Saskatchewan để sang British Columbia vào thế kỷ thứ 19. Xong chúng tôi lại tiếp tục đoạn đường còn lại để đến được trung tâm “British Columbia Icefield” ở giữa ranh giới của Banff và Jaspers National Park vào lúc 10 giờ 30.
Vì giờ ăn trưa của chúng tôi chưa đến, nên mọi người quay quần chụp hình để chờ đợi. Tất cả chụp một tấm hình chung do Vincent, cô Liên hoặc nhờ một du khách khác để chụp cho toàn thể. Rồi mạnh ai nấy chụp cho những hình riêng tư. Sau thì đi vệ sinh hoặc tự do và hẹn đến phòng ăn cho buổi ăn trưa ở tại trung tâm nầy. Giờ ăn trưa của đoàn với nhà bếp ở đây là 11 giờ 15.
Dứt buổi ăn, chúng tôi còn dư thời giờ để nghỉ ngơi trong chốc lát và sau đó nhận vé đi tour mà Vincent đã đặt. Vé không đề giá là bao nhiêu nhưng mỗi người được một vé cho hai nơi: Glacier Advevture và Glacier Skywalk. Để bắt đầu, mọi người vào cổng với tấm vé cầm trên tay để trình cho người kiểm soát vé, rồi sau đó ra khu vực để xe buýt đưa đi. Từng chuyến chở người đi lên núi đầy tuyết theo con đường đã dọn sạch. Xe đến nơi gọi là “Ice explorer boarding station” để đợi chuyển sang một chuyến xe buýt đặc biệt khác có tên “Snow coach”. Những xe nầy có kiểu dáng của một xe buýt, tuy nhiên với bốn bánh trước và bốn bánh sau của nó có thể lớn hơn bánh sau của những máy cày với những lằn gai rất sâu, chắc để đặc biệt đi trên băng tuyết. Chúng tôi lên xe nhưng chưa biết nó sẽ đi đâu, thì xe dần tiến về bìa của vùng núi. Đường đi đâu mà chẳng thấy dấu xe? Thế rồi xe đậu ở trên bìa vực đợi chờ. Chúng tôi thấy phía dưới kia có chiếc xe buýt đang vượt dốc khá đứng để đi lên. Thì ra chúng tôi sẽ xuống dưới đó và xe đưa ra giữa nơi “dòng sông băng” to lớn ở đàng xa kia, nơi đang có một số người đi qua đi lại chụp hình hoặc nhởn nhơ. Xe trờ tới bắt đầu từ từ xuống dốc. Dốc không thoai thoải làm cho tôi hồi hộp, lỡ xe đi ào xuống thì sao. Nhưng rồi xe xuống cũng an toàn và đưa chúng tôi vào giữa bãi.

Băng hà Athabasca.

Đây là bãi băng hà Athabasca (Athabasca Glacier). Mọi người đã “Đến Băng Hà”, không còn là “Đường Đến” nữa mà là “Đang Đứng” trên “Băng Hà”. Băng hà nầy theo người ta tính đã được kết tụ từ Thời kỳ Đại Băng Hà (khoảng 238,000 đến 126,000 năm trước Tây Lịch) trên một diện tích khoảng 325 km2 có độ dầy từ 100 đến 365 m,  và vẫn còn tiếp nhận một lớp tuyết cao khoảng chừng 7 m hàng năm.
Trên Băng hà.

Trên bãi băng nầy không phải chỉ có riêng chúng tôi với những chiếc “Snowcoaches” không thôi, mà còn có một chiếc máy ủi, móc với giàn móc ở sau và càng ủi ở trước; cùng với chiếc máy bang khá nặng nề. Chúng bang mặt bằng để phục vụ khách du lịch đến đây như chúng tôi, và mọi người chỉ được di chuyển trong khu vực có giăng dây cờ. Ở đây ta có thể sờ, ngắm tuyết hoặc băng, hoặc đứng để nghe hơi lạnh toát ra từ băng tuyết hay gió lạnh từng cơn thổi tới. Tôi lại “selfie” cho mình vài tấm hình để xem đẹp xấu ra sao với tuổi già như thế nầy! Đến 1 giờ 15 mọi người lên xe để trở về trung tâm.
Cũng theo tài liệu thì Columbia Icefield nầy là Icefield nằm trên đỉnh của một lục địa phân chia lượng nước từ tuyết hay băng tan ra các vùng khác trong đó có 3 vùng chính: Các dòng chảy về phía Bắc chảy vào Bắc Băng Dương; các dòng chảy về hướng Đông đổ vào Hudson Bay tức là phía Bắc của Đại Tây Dương, và bãi băng nầy cũng là nguồn nước của hai sông Athabasca và North Saskachewan, tức là những lưu lượng chính của dòng sông Columbia chảy ra Thái Bình Dương ở ranh giới hai Tiểu bang Oregon và Washington của Hoa Kỳ.
Về đến trung tâm đoàn lại chờ xe buýt để đưa lên một nơi khác, đó là Glacier Skywalk.
Skywalk

Xe đưa chúng tôi đến đó trong vòng khoảng hơn 5 phút đồng hồ. Skywalk được thiết kế dọc theo bờ của một vách hẻm sâu, dài khoảng 400 m với 6 trạm để du khách thưởng ngoạn cái thung lũng Sunwapta sâu dưới kia với đầy cây thông “alpine”, dòng sông uốn khúc và ngắm nhìn cảnh vật thiên nhiên như là một đài quan sát ở trên cao. Nó cao khoảng trên 270 m so với đáy của thung lũng được thiết kế bằng thép, kính và gỗ. Người ta cho biết sự xây dựng phải tốn ba năm với số vốn là 21 triệu tiền Canada. Ở nơi cái vòng cung vươn ra ngoài bờ vách thung lũng hơn 30 m, được lót bằng kính, du khách có thể quan sát kỹ hơn dọc chiều dài lẫn chiều sâu của thung lũng kể cả vào thời gian mùa đông đầy tuyết đổ. Ở trên vòng cung ấy, người ta còn có thể phóng tầm nhìn đến những ngọn núi đầy tuyết phủ trên đỉnh cao, thưởng ngoạn trọn vẹn cái đẹp, kỳ thú của thiên nhiên.
Trong vòng hơn nửa tiếng đồng hồ đi trên skywalk cho bận đi và bận quay lại, chúng tôi ra trạm đón xe buýt để về lại trung tâm. Ở đây nghỉ ngơi trong chốc lát và đến 3 giở 30 đoàn lên xe của mình để trở về khách sạn. Tối nay chúng tôi sẽ ngủ ở Banff. Lượt về nầy không mấy ai chú ý theo dọc đường nữa, không háo hức như là lúc đến. Xe về đến khách sạn lúc 5 giờ 40, mọi người chuyển hành lý và nhận phòng. Nhưng với nhiều kinh nghiệm hướng dẫn du lịch, cho nên trước khi xe về khách sạn Vincent nhờ tài xế đảo một vòng trong thành phố để Vincent chỉ cho những nơi cần thiết vì tối nay chúng tôi phải đi tìm và tự túc ăn tối.

Nguyên Thảo,
20/09/2017.



Sunday, September 10, 2017

*Ăn Thua Đủ.


*Đùa Chút Chơi!  

Xuân nầy nở rộ những văn thơ,
Thiên hạ đua nhau ngắm sững sờ.
Bầu cử, sương rơi nghe chán ngắt!
Nông gia, gió thổi thấy râu phờ!
Tung tăng, chim hót như trêu ghẹo,
Lất phất, cỏ đùa lại ngẩn ngơ.
Cứ mỗi hai năm thì đáo lệ,
Lần sau có cũng: "Mùa văn thơ"?

Đồ Ngông,
29-09-02.



*Ăn Thua Đủ.      

Đã quá hai năm mới tới kỳ,
Phen nầy bầu cử lại lâm ly!
Um sùm, võ miệng nghe đinh óc,
Tá lả, văn thơ tối mặt mày...!
Tiếng chửi, tiếng la lo gọt dũa,
Từ thanh, từ tục chẳng nương tay.
Phen nầy lỡ hội, chờ phiên tới,
Tớ quyết ăn thua, tỏ mặt mày!

Đồ Ngông,
29-09-02.



*Hội Thi Quán Quân.     

Tớ dã tính rồi đợi tới phiên,
Hai năm qua lẹ! Thoáng sầu miên.
Hàng tôm sách vở, hằng ôn tập,
Bán cá ngón nghề, luyện khá siêng.
Chữ nghĩa tục thanh, đầy mọi túi,
Ý cay, ý đắng đủ ba miền.
Kỳ sau tớ quyết làm ra lẽ,
Thiên hạ biết tay...! Tớ: Gã điên!

Đồ Ngông,
29-09-02.

 


*"Hội" hay "Hụi"?       

Ta kết cùng nhau lập Hội, Đoàn,
Giúp nhau khi khốn, chia liên hoan...!
Đã lâu lâu lắm, tranh giành chức,
Lại mới mới đây, rẽ tập đoàn.
Danh "hảo", cùng nhau la chí chóe,
Tiếng "tồi", bè phái cứ oang oang.
Mai kia dân chúng đà chê chán,
Đừng trách vì sao họ chẳng "màng"!...

Đồ Ngông,
29-09-02.



*Khi Hoa Anh Đào Nở. (5)



Chúng tôi đến khu vực Chùa Vàng vào lúc quá 1 giờ. Xuống xe và theo đoàn người băng qua cái cổng màu đen sậm và vách tường vàng thì đến công viên rộng phía bên tay trái được trồng trọt vén khéo, mỹ thuật theo kiểu vườn Nhật mà chúng ta đã thấy ở nhiều nơi; cùng những dãy nhà hay cung thự của quan chức ngày xưa bên tay phải rồi đến một khoảng đất mà người ta đang chen chúc nhau. Thì ra kia là Chùa Vàng!
Chùa Vàng
Chùa Vàng (góc cạnh khác)
Chùa Vàng (Kinkaku ji) được phiên âm theo Hán Việt là Kim Các Tự, nhưng tên phổ thông là Rokuon ji (Lộc Uyển Tự). Kiến trúc nguyên thủy được xây dựng từ năm 1397 dùng làm nơi nghỉ ngơi của Shogun Ashikaga Yoshimitsu sau khi mua lại của Saionji Kinsune. Khi ông Shogun nầy chết đi thì con ông đã biến dinh thự nầy thành chùa thuộc phái Thiền Lâm Tế theo ước nguyện của ông. Trong cuộc chiến Onin (1467-1477) chùa bị thiêu rụi nhưng rồi được xây lại sau đó.
Đến tháng 7 năm 1950 chùa bị thiêu rụi lần nữa do chú tiểu (nhà sư mới vào tu) 22 tuổi Hayashi Yoken gây nên, rồi chú tự tử ở đồi Daimon ji. Nhưng chú không chết và bị bắt, kêu án tù 7 năm; sau được thả ra vì bệnh tâm thần (1955) và chú chết vào tháng 3/1956 bởi bệnh lao. Cấu trúc hiện tại dựng lại từ năm 1955 với ba tầng gác cao khoảng 12m rưỡi được dát vàng dựa theo cấu trúc nguyên bản. Đến năm 1984 người ta dát thêm một lớp vàng nữa đến 1987 thì hoàn tất, và phần mái được trùng tu vào năm 2003.
Chùa in bóng trên mặt ao và rực sáng lên nhờ màu của vàng lá được dát lên hai tầng gác trên của chùa. Người ta thi nhau làm duyên chụp ảnh với bối cảnh ao hồ, chùa ở phía sau. Vì nhiều phái đoàn lại đông người nên chụp được một tấm hình đẹp không phải là dễ. Thôi thì cứ “selfie” hay chụp đại cho đỡ tốn thì giờ! Thế là người ta cứ thi nhau chụp! Còn tôi thì đưa máy lên cao mà quay, thỉnh thoảng chụp vài cái cầu may! Cũng hên là trời không còn mưa lâm râm nên đường khỏi dơ, hình thêm sáng sủa. Chùa Vàng óng ánh soi bóng trên mặt nước của ao tạo một cảnh đẹp lộng lẫy nên ao được đặt tên là Ao Gương (Kính Trì: Kyoko chi).
Con đường quanh bờ ao đầy người, họ vừa đi thong thả vừa quan sát ở nhiều góc cạnh của chùa, nhưng đường ấy cũng là ngõ đi lần ra ngoài. Đường đi dần lên cao trên đồi để du khách có thể ngó xuống, Chùa lẫn khuất trong những lùm cây tạo nên một khung cảnh thật là Thiền và yên tịnh nếu trong những giờ không còn du khách. Lần lên cao rồi đi theo con đường xuống từ từ vòng trở lại xe buýt để chúng tôi làm một chuyến đi sang nơi khác.
Hai giờ đã lên xe và đến 2 giờ 45 thì đến khu vực đường lên chùa Kiyomizu Dera. Xe đâu vào bãi đậu khoảng một phần đường đi lên. Chúng tôi phải vượt con đường dốc khá cao, và người thì quá đông, nên chúng tôi cố bám theo Jennifer để lên đến tận trên rồi tập họp lại cho Jennifer dặn dò trước khi ai nấy tự do đi. Tôi thấy có nhiều đoàn mặc kimono đi lên chùa, một số thì là gương mặt người Nhật, còn một số hình như là người Trung Quốc vì theo giọng nói giống như họ nói tiếng phổ thông, chắc là những nàng thiếu nữ Tàu thử mặc bộ đồ kimono như là một sự hiếu kỳ. Lúc nầy tôi đi chung với anh Nhi, còn vợ tôi cùng mấy bà đi với nhau. Tôi và anh Nhi đi vào chùa chính. Người đi chùa thì có người vào trong chính điện để lễ Phật, còn nhiều người thì đi vãng cảnh chùa. Tôi và anh Nhi thuộc loại thứ hai, chúng tôi đi vòng ra phía trước trên cái ban-công đứng nhìn xuống phía dưới nó khá sâu. Lúc trước khi chưa đi tôi thấy cái hình có nhiều người đứng trên ban-công ấy xen vào những chòm cây và có ghi chú chùa là di sản thế giới tôi hơi thấy lạ. Đến nay khi đến đây rồi mới thấy quả thật nó có nhiều cái hay và nhất là nó được dựng trên một sườn đồi (hay núi?) với một kiến trúc công phu.
Thanh Thủy Tự
Kiyomizu Dera và T.P Kyoto xa xa.

Thanh Thủy Tự nầy (tên chùa Kiyomizu Dera gọi theo tiếng Hán Việt) là ngôi chùa nổi tiếng nhất ở Kyoto. Phong cảnh đẹp kể cả ở bốn mùa. Hàng năm nó đón khoảng 3 triệu người đến hành hương. Tên Kiyomizu dera bắt nguồn từ nguồn nước trong chảy vào con thác Otawa trong núi Otawayama.
Chùa được xây dựng từ năm 778 do nhà sư Enchin cùng với cư sĩ Gyoei (ông tổ của ngôi chùa đã tu hành khổ hạnh dưới dòng thác Otawa. Hiện nay các dòng thác nầy vẫn còn tồn tại. Nhiều lần chùa bị cháy. Và đến năm 1633 các kiến trúc hiện nay được dựng lại theo lệnh của Tokugama Iemitsu, đặc biệt là không sử dụng đến cây đinh nào. Phần chính của chùa là “Vũ đài Kiyomizu”, vũ đài nầy là bộ phận trung tâm của hành lang đi phía ngoài chánh điện nhô ra từ vách đá được chống đỡ bằng 139 cây cột bằng gỗ bách cao 13m, được xây dựng để có đủ chỗ cho số người hành hương đông đúc. Từ vũ đài nầy mới có thành ngữ “nhảy từ vũ đài chùa Kiyomizu” có từ thời Edo để mong ước điều mình mong muốn thành hiện thực. Sau, hành động nầy bị nghiêm cấm. Chúng tôi qua hành lang vũ đài ấy thì đến khoảng trống ở trên có ngôi đền của Thần Đạo với những bậc thang đi lên và qua cổng Torii đó là đền Jishu-jinja hay là đền mai mối. Nơi nầy có cặp “đá tình yêu” cách nhau 18m, tương truyền người nào nhắm mắt đi từ tảng đá nầy đến được tảng đá kia thì tìm được tình yêu đích thực.
Đền Thần Đạo Jishu-Jinja (phía sau Chùa Kiyomazu) 

Đền nầy người ta lên cũng đông! Chúng tôi thả dọc theo đường bìa núi. Đến khoảng giữa ngó lại về chùa thì đây là góc cạnh mà những nhà nhiếp ảnh thường chụp nhất. Kia là “vũ đài” ở giữa tán cây làm cho chùa có một vẻ hấp dẫn và nên thơ còn ngó về xa kia thì là thành phố Kyoto. Tôi cố tìm những góc cạnh nào đẹp hơn và thu thành phố Kyoto lại cho gần hơn từ vách núi của chùa Kiyomazu. Đi cuối con đường để đi xuống mà không đến một cái tháp ở bên ngọn đồi kia, vòng xuống nữa thì đến nơi ba dòng nước đang chảy qua những cái máng. À! Tên Thanh Thủy của chùa là từ những dòng nước nầy mà ra! Người ta đang sắp hàng để tới phiên mình hứng nước thật là dài. Mọi người tin rằng uống nước nầy sẽ giúp thực hiện được điều ước, trường thọ, khỏe mạnh và thành công trong học tập!
Tôi đang đứng trước cái khung sườn những cây cao chống đỡ cho cái “vũ đài” đang đầy người trên kia. Những cây đây mà cao quá vậy, lại to lớn thế kia, bằng cách nào mà người ta dựng lên được. Đây là lần thứ nhì mà tôi thắc mắc giống như mấy cây cột trên thềm cao ở chùa Todaiji ở Nara. Kế đó, là nơi bia đá nhiều thiếu nữ mặc đồ Kimono đang xúm xít chụp hình cho nhau hoặc “selfie” nhưng họ nói bằng tiếng Trung chứ không là tiếng Nhật. Lần ra ngoài chúng tôi đang theo con đường đi xuống gặp Phong, Hường với hai đứa con. Mấy đứa con nó muốn đi tìm kiếm Nhật, tôi và anh Nhi đi theo coi thử như thế nào. Nhưng kiếm ở đây bán cũng không rẽ nếu tính theo tiền Úc, và cái quan trọng nhất mà Phong do dự là không biết đem về Úc có được hay không. Thế rồi coi mà chẳng dám mua! Chúng tôi đi lần xuống để về nơi xe đậu để chờ đi sang Kobe.
Xe khởi hành từ lúc 4 giờ 05 phút, nhưng vì đường xuống nhỏ hẹp mà lại phải kẹt xe cho nên lướng vướng ở đây cả nửa giờ đồng hồ. Trải qua khoảng một tiếng rưỡi chạy trên đường cao tốc từ Kyoto để sang Kobe. Theo như Jennifer cho biết thì Thành phố Kobe bị tàn phá nặng nề vào tháng 1/1995 do cơn động đất 7.2 độ Richter gây nên khiến hơn 6 ngàn người chết và khoảng 300,000 người không còn nhà cửa.
Kobe là thành phố cảng quan trọng của Nhật cùng với các cảng Yokohama, Osaka, Nagoya và Tokyo, có dân số chừng 1 triệu 500 ngàn, Thành phố hiện tại được xây dựng lại từ sau thảm họa động đất. Thành phố Kobe chạy dài giữa bờ biển và rặng núi bên trong nên hình thể kéo dài, vì thế mà xe chạy trên đường cao tốc với thành vách che chắn tiếng động trên nhiều khoảng đường thật là dài. Kobe nổi tiếng với món thịt bò Wagyu, hay người ta thường gọi là thịt bò Kobe. Xe chúng tôi len qua các khu phố và đến khu vực cảng vào lúc hơn 6 giờ. Xe đậu ở bãi đậu gần Tháp đỏ, rồi chúng tôi đi vào nhà hàng ở khu thương mại kế đó để ăn tối. Trong bữa ăn nầy cũng có thịt bò nhưng không chắc là phần thịt bò mắc tiền ấy ở đây mặc dù chỉ là vài lát thịt mà thôi.
Kobe cũng được nổi danh là thành phố được xây dựng lại nhanh nhất sau thảm họa đổ nát của động đất: Điện, nước, khí đốt được phục hồi sau 3 tháng; hệ thống đường sá, đường xe lửa trong vòng 1 năm. Mọi thứ hoàn chỉnh vào tháng 3/1997. Và cũng ở kinh nghiệm ấy, nơi đây đã đào tạo các chuyên gia cũng như nhân lực để phục hồi nhanh cho các nơi có thiên tai.
Sau bữa ăn tối xong, chúng tôi có thì giờ để ra ngoài ngắm khung cảnh ở cảng biển nầy. Đàng kia là vòng quay để người ta có thể ngồi trên đó mà thưởng ngoạn khung cảnh trên độ cao, đang đổi màu theo từng khoảng thời gian. Đó là những chiếc tàu với nhiều cần cẩu bốc dỡ hàng vươn tay dài trong bóng đêm. Nọ là Tháp Kobe hiện lên với màu đỏ vàng rực sáng.
Chúng tôi lại gặp được một số em nhỏ ngưòi Việt du học và định cư ở Nhật cũng đang tham quan khung cảnh của cảng biển nầy vì họ có một vài người bạn từ San Diego (Mỹ) qua chơi. Chúng tôi cũng trò chuyện khá lâu với các em để rồi sau đó từ giã ra xe đi về chỗ trọ: Đó là khách sạn Ariston Hotel. Xe về đến “hotel” vào khoảng gần 7 giờ rưỡi.

Nguyên Thảo,
29/07/2017.