Sunday, December 3, 2017

*Khi Hoa Anh Đào Nở. (10)



Ở đây, tôi cũng được quan sát cách pha, rót và mời trà với khách của những cô thiếu nữ, bà người Nhật trong bộ đồ Kimono truyền thống ở một gian nhà khách bên hông phải của tượng Phật. Chẳng lẽ đây là cuộc biểu diễn hay là một show gì đó để giới thiệu về một nét văn hóa của nước Nhật: Nghệ thuật uống trà hay còn gọi là Trà Đạo chăng? Không biết trà có ngon không chứ tôi thấy quả thật là cầu kỳ, cầu kỳ như cái chào của nhân viên trên xe lửa tốc hành Shinkansen mà tôi đã thấy.
Ở nơi đây, tôi được biết chính xác trái Anh Đào còn nhỏ xíu đã thành hình, và cũng giải mã được cái mà tôi gọi là ảo giác trên đường khi gần đến hồ Yamanakako bữa chiều hôm trước mà hôm sau đi qua đó tôi lại thấy hình như có màu ửng đỏ. Thì ra ở loại cây ấy có thể giống như cây nầy nó vừa bung chồi thì có những cánh đỏ nở ra, nên cây có cái vẻ màu đỏ mà tôi đã tưởng như mơ!
Lên xe, giã từ Tượng Đại Phật, chùa Kotoku-in kể cả Kamakura để chúng tôi đi: Đi về Yokohama, và bây giờ đã gần 2 giờ chiều.
Qua những đường phố đông đúc, các khu nhà cửa sầm uất, đoàn đến Yokohama khoảng 2 giờ 50, xe đỗ khách xuống gần công viên để từ đó Jennifer hướng dẫn chúng tôi đến với khu Chinatown ở đây.
Được biết Yokohama là một trong những cảng biển lớn, sầm uất của Nhật cùng với các cảng biển khác là Osaka, Kobe, Nagoya. Tên Hán Việt của nó là Hoành Tân Thị, rộng trên một diện tích khoảng 437 km2 và số dân trên 3.7 triệu người. Khởi đầu từ một làng chài của những năm 1853-54, do áp lực của Phó Đề Đốc Matthew C. Perry thuộc Hải quân Hoa Kỳ buộc Mạc Phủ phải bỏ chính sách “Bế quan tỏa cảng” và mở cửa một số hải cảng cho thương buôn ngoại quốc đến buôn bán, nên từ 2 tháng 6 năm 1859 Yokohama trở nên một khu cảng sầm uất như ngày hôm nay.
Bước qua cổng Chinatown, chúng tôi đi vào khu vực buôn bán của người Tàu ở đây. Ở Nhật cũng có nhiều khu Chinatown, nhưng khu nầy được coi là lớn nhất với hơn 2,000 cư dân. Khu được đánh dấu bằng 7 cái cổng lớn ở chung quanh với hơn 500 cơ sở thương mại và trên 300 tiệm ăn. Du khách có thể tha hồ mà lựa chọn và ăn uống.
Nhiệm vụ của Jennifer là hướng dẫn chúng tôi đến đây để rồi sau đó chỉ nói giờ giấc tập họp để lên xe buýt và đi về khách sạn, rồi thì để chúng tôi được tự do, nhưng chỉ yêu cầu là “đừng quên giờ giấc lên xe buýt”.
Đường phố ở đây đông người, len lỏi qua các khu buôn bán, cửa hàng, chỉ mấy bà là còn đi chung với nhau vì họ cần đi chung để xem thứ gì có thể mua được. Chứ mấy ông đi lang thang nhưng cũng dễ lạc nhau vì dòng người xen lẫn. Tôi đi vào cửa hàng bán đồ lưu niệm và lặt vặt, tính tìm mua vài bức tranh lụa, kiểu vẽ đặc trưng, đậm nét Nhật chứ không phải theo kiểu “thủy mặc” của Tàu để làm kỷ niệm, nhưng tìm mãi cũng chẳng biết ở đâu. Chủ thì không hiểu nhiều tiếng Anh, khách thì chẳng biết tiếng Tàu hay tiếng Nhật, mà giải thích thì cũng còn nhiều giới hạn. Ngôn ngữ quốc tế “tay quơ” không đủ để diễn tả cho cả khách lẫn chủ để hiểu nhau, nên đành cố đi tìm. Tìm mãi cũng chẳng thấy đâu nên đành thôi. Đi lòng vòng, dòm ngó nơi chốn đông người, rồi lại dòm vào cái đồng hồ. Đi thì đi, nhưng cứ mãi nôn nao “sợ trễ chuyến đò”. Cuối cùng đưa máy quay quay một số đường phố của khu phố Tàu, rồi đi ra gần chỗ “hẹn hò” và thả rong nơi công viên bến tàu, vừa được hít thở không khí dịu mát của biển khơi mà không phải nơm nớp lo sợ “trễ giờ”.
Công viên nầy có tên là Công viên Yamashita, nó được xây dựng từ sau trận động đất Kanto đã tàn phá nặng nề Thành phố Yokohama vào năm 1923. Ta có thể ngồi trên băng đá nhìn “ông đi qua, bà đi lại” hay ngắm nhìn bông hoa nở vào mùa Xuân, thưởng thức hoa Anh Đào. Lặng nhìn lá cây khô rơi rụng, đua nhau chạy theo chiều gió, hoặc quan sát ngọn hải đăng cao 106 m được xây dựng vào năm 1959 để kỷ niệm 100 năm của cảng. Và ta cũng có thể theo dòng người ra sát bờ để nhìn những du thuyền đang đỗ bến gần đó, cùng nhìn chiếc tàu lịch sử Hikawa Maru đang neo tại đó như là một bảo tàng từ năm 1960 sau 30 năm hoạt động đã đi từ Yokohama đến Vancouver của Canada.
Vợ chồng tôi chụp hình ở hồ phun nước có tượng đài “The guardian of water”, tượng người đàn bà cầm bình nước mà Thành phố San Diego đã tặng cho Thành Phố Yokohama như tình kết nghĩa vào năm 1960, trong khi chờ đợi mọi người tập trung và lên xe buýt.
Cap nha tho vo chong: Nguyen Nhi, Tu Thi Thu Trang va Tuong dai "The guardian of Water"
 


Xe đến đúng giờ, theo Jennifer thì ở Nhật người ta rất trân quý đến giờ giấc, thường không phải trễ nải, hay chậm chạp kiểu “để người khác đợi”, hoặc “lề mề, lễ mễ” của người mình hầu chứng tỏ “ta là người quan trọng”! Ý thức của người Nhật rất cao, có lẽ họ đã được huấn luyện từ nhỏ và từ trong trường học, cho nên trên đường ta không thấy thùng rác công cộng nào mà đường phố vẫn được sạch sẽ, khiến tôi nhớ đến kỳ thế vận hội túc cầu ở Nam Mỹ những người khách Nhật lượm rác chung quanh chỗ mình rồi bỏ vào túi rác đem theo khi vận động trường tan hàng; hoặc chuyện đứa bé nhận được quà người khác cho trong lúc nó đang sắp hàng để nhận quà, nó không cất riêng cho mình mà lại đem lên bỏ vào phần quà chung chờ phân phát như bao nhiêu người khác trong thảm họa kép sóng thần lẫn nhà máy điện nguyên tử rò rỉ ở Fukushima.
Xe chuyển sang Tokyo vào lúc 4 giờ và chừng 50 phút sau, xe dừng lại và mọi người đến tham quan Rainbow Bridge. Xuống xe, Jennifer hướng dẫn đoàn băng qua một ngõ xuống công viên nhìn qua cầu, ngang qua một tượng “Nữ Thần tự Do” được đặt ở đây: Vì rằng: Từ tháng 4/1998 đến Tháng 5/1998 nhân kỷ niệm “The French year in Japan” tượng Nữ Thần tự Do của nước Pháp ở đảo “Ile aux cygnes” thuộc Paris (Pháp) được đem đến dựng ở Odaiba, Tokyo. Vì tính phổ biến tinh thần của tượng nên năm 2000 bản sao tượng đó được dựng lên tại vị trí trưng bày trước, tức là vị trí mà chúng tôi đang chiêm ngưỡng của công viên nầy.
Tuong "Nu Than Tu Do"

Bên kia là Rainbow Bridge. Cầu nầy thuộc loại cầu dây giăng nối Tokyo với khu cảng Odaiba dài 798m, rộng 46m, cao 126m cho những tháp, và phần đường là 52m, được xây dựng từ năm 1987 và hoàn thành vào năm 1993. Cầu có hai tầng: Phần trên là đường tốc hành nối bến phà Shibaura với khu Odaiba ở Minato, phần dưới là cho xe điện và các phương tiện giao thông khác, kể cả khách bộ hành đi ngắm cảnh. Cầu được trang bị ánh sáng bằng năng lượng mặt trời. Điện được tích lũy ban ngày và chiếu sáng vào ban đêm với ba màu trắng, đỏ và xanh lá cây cùng màu xanh dương trên các trụ đỡ. Sự pha trộn màu do ánh sáng cùng sự phản chiếu từ mặt nước nên màu sắc trở nên kỳ ảo của màu cầu vồng và từ đó có tên là Cầu Cầu Vồng.
Cau "Rainbow Bridge" phia sau.

Chúng tôi tham quan ở đó cho đến 5 giờ 25 thì ra xe để đi ăn chiều ở nhà hàng Tàu Long Nguyên cách đó chừng 20 phút chạy xe. Rồi lại ra xe về khách sạn, khách sạn mà chúng tôi sẽ trú ngụ trong hai đêm là Tokyo Dome Hotel. Nhưng ngày mai là ngày tự do, tự mình kiếm chỗ đi cũng như là tự kiếm chỗ ăn hay nói theo tiếng Anh là “Free Day”! Tôi ở tuốt trên lầu 19 nên tầm mắt cũng phóng được ra xa chút ít đối với Thành phố Tokyo nầy!

Nguyên Thảo,
24/09/2017.




*Tham Nhũng.


*Khoác Lác.

Khoác lác, ba hoa, miệng chích chòe
Cố tình lớn tiếng mọi người nghe
Rằng ta có thế, ta quan trọng
Có lủ người sai, có bạc kè.

"Thân thế giàu sang từ tấm bé
Trời sanh khi nhỏ đã ra tài
Đến đâu bạn cũng yêu, người quý..."
Khoác lác, ba hoa, dễ "mấy tay..!"

Ở tận xứ người ai có biết,
Về thân, về thế kẻ khoe tài.
Quyền cao, chức trọng..., cùng thây kệ
Chỉ thấy miệng mồm..., cũng biết ngay!

Đồ Ngông,
20-4-02.

 

*Nổ!  (1)    

Thế gian cứ gọi: Rằng là nổ
Khoác lác, khoe khoang như điếu đổ
Đại bác, bom mìn "theo chẳng kịp"
Đại liên, kho đạn "còn cây số"
Trên trời, dưới đất "ôm trong bụng"
Thiên hạ, nhân gian "đầy một hố"
Phước đức nhà anh, tên "miệng cả"
Để đời nhân thế rằng "Ơi,..nổ!"

 

*Nổ!   (2)

Tiếng nổ vang vang cỡ hắn ta,
Om sòm, rộn rã tự ngoài xa
Bụi bay, văng miểng đầy hàng xóm
Âm hưởng ngân vang khắp mọi nhà.
Chú chó bên ngoài đang hạo hực,
Chị gà chập chững lại bay xa.
Mong cho tiếng nổ còn vang dội,
Thay pháo đầu xuân tới tận nhà...

Đồ Ngông,
22-04-02.

 

*Tham Nhũng.

Mối đục cây nào cũng sẽ tiêu
Nhà xinh cách mấy cũng hư, xiêu
Dân nghèo, luôn mãi dân nghèo khổ
Đất nước hoang tàn, cảnh quạnh hiu.

Cứ ngỡ đem tài ra giúp nước
Kinh luân ba túi chuyển xoay thời
Dân giàu, nước mạnh nam nhi chí
Thỏa ước bình sanh, xứng cuộc đời.

Cũng lủ ăn mày, thân mối mọt
Cũng phường không đáy, túi thâm sâu
Vét vơ không biết bao giờ đủ
Cũng lủ "hầm cầu", giống "bọ sâu"...

Đồ Ngông,
25-04-02.

 

*Thóc Mách.

Khi tôi còn bé nhỏ
Tôi làm một điều sai
Đứa bạn liền đi "méc"
Bạn thóc mách đi rồi!

Khi ra đời làm việc
Tôi bất mãn "xếp" tôi
Có người đi báo "xếp"
Thóc mách lại tới thôi!

Có người đi lén vợ
Gặp phải bạn không hiền
Bao nhiêu điều nói hết
Thóc mách đến khuôn viên!

Tôi bị cha mẹ đánh
Bị "xếp" chửi một hồi
Vợ đần chồng tới tấp
Cũng tại thóc mách thôi!

Đồ Ngông,
25-04-02.





Thursday, November 23, 2017

*Thơ Ngông.



*Khoe Khoang.

Lại thích khoe khoang chẳng kể người
Ta xưa quyền chức dễ như chơi,
Đi ra đã có người chào đón
Tiền bạc vun lên, tối mịch trời...

Mệnh phụ chỉ ngồi trên ghế kỷ
Sai người giúp việc chạy lăng xăng,
Hô lên vài tiếng hàng, hàng lớp
Gia thế ngày xưa, ai sánh bằng.

Thôi biết đi rồi, quá "xếp" ơi!
Ta xưa: "Thầy bói ở cung Trời"
Những người làm lớn thường "ghê..(sợ)" vợ
Thì dẫu thế nào... cũng vậy thôi!

Đồ Ngông,
14-04-02.

 

*Đâm Thọc.  

Thói "Đâm bị thóc, thọc bị gạo"
Đã là câu nói có từ lâu
Để dành cho đứa chuyên gây xấu,
Những đứa "vô liêm" hại bạn hiền...

Thọt qua, thọt lại bằng ngôn ngữ
Khích bác vài câu chẳng tiếc lời,
Ton hót, nâng bi hầu xách động
Để người xung đột hắn coi chơi...!

Hắn ghét người: Vì tâm địa hẹp,
Hoặc ganh người: Do tánh xấu xa
Nói qua, nói lại người xào xáo,
"Đòn xóc hai đầu" chính hắn ta!

Đồ Ngông,
14-0-02.

 

*Giả Nghĩa. 

Giả nghĩa cũng phường đạo đức giả
Giả thương người, giúp đỡ người thôi
Nuông chìu, săn đón người "ghê" lắm!
Nhưng rõ, thì ra lợi dụng người.

Kẻ giả nghĩa ra chiều ngọt dịu,
Cách hành vi, đối xử không lường
Lại khôn khéo, khó nhìn ra được
Khi vỡ rồi, ta quá thảm thương!

"Kẻ cố ý ngồi rình trong bụi,
Kẻ vô tình lủi thủi mà đi"
Cổ nhân đã nói từ lâu lắm!
Giả nghĩa, ngày nay chẳng thiếu gì.

"Dạ sói, lòng lang" ôi, chúng nó!
Tay lần cây kéo, giết sau lưng
Ngọt ngon, miệng vẫn lời êm dịu
Nhân thế, người gian khó đoán chừng!

Đồ Ngông,
15-04-02.

 

*Thơ Ngông

Ngồi buồn sắp chữ lại thành thơ
Ta gọi thơ ngông, chửi cuộc đời
Moi móc kiếp người bao cái xấu,
Rao cho thiên hạ xúm coi chơi!

Ta ngông, ta thích làm thơ ngông,
Ở cõi đời nầy: Cảnh trống không
Thấy đó, nhưng rồi đà mất đó,
Đi về hai cõi "có" và "không"!

Lắm kẻ tranh giành "đá" lẫn nhau
Tiền tài, danh vọng, sướng hay sầu..?
Bao nhiêu mánh lới lừa nhau mãi,
Lôi cuốn cùng nhau ở cuộc chơi..!

Đồ Ngông,
19-04-02.

 

*Nhỏ Thành To.

"Chuột nhỏ" bây giờ đã "hóa voi"
Lung nhung, lúc nhúc lại thêm dòi
Hôm qua, vết lở giờ ung thối,
Bữa nọ, đứt tay có mủ rồi.
Chưa nổi, "tu thân" sao tới "quốc",
Cam bề, "gia đạo" nói chi "bình".
Anh về nghĩ lại xem sao nhỉ?
Chuyện nhỏ ra to, "Sự" khó thành.

Đồ Ngông.



*Khi Hoa Anh Đào Nở. (9)



Tôi dậy từ sớm, nhưng mặt trời cũng đã sáng hẳn lên. Vạch màn cửa sổ của phòng từ lầu 10, nhìn ra chung quanh, nhà san sát theo sườn núi. Ngọn núi tuốt trên kia, nhưng nhà cửa cũng đua nhau, thấy thật là choáng ngợp, cái cảnh nầy sao giống với cái cảnh ở Đài Trung của Đài Loan mà một lần tôi cũng có dịp đi qua. Nhưng ở Đài Trung thoáng hơn nhiều!
Đây là Thành phố Atami là Thành phố tương đối lớn, với hơn 37,000 dân trên một diện tích khoảng gần 62 cây số vuông nằm dựa sườn núi lửa mà một phần bị chìm xuống theo “hiện tượng caldera” ở ven bờ của vịnh Sagami, cho nên vì phòng tôi ngó vào núi nên “thấy nhà ôi là nhà”! Chứ phía bên kia là ngó ra biển thì chẳng đến đỗi nào! Vì nơi đây có dòng nước nóng của đại dương đi qua nên khí hậu được ấm: Nóng ẩm vào mùa hè; mùa đông thì ngắn hơn.
Atami là Thành phố du lịch với nhiều suối nước nóng có từ Thế kỷ thứ 8 trước Dương lịch. Năm 1923 ảnh hưởng trận động đất ở Great Kanto, nên Atami bị sóng thần cao gần 11 m nhấn chìm và làm chết đuối khoảng 300 người. Thành phố ngày nay được xây dựng từ tháng 4/1937 cùng mở rộng qua làng Taga kế bên nên rộng hơn; đồng thời từ năm 1950 khi Chính phủ Nhật công bố Atami là Thành phố Du lịch và Văn hóa thì nó phát triển nhanh chóng về khách sạn và khu nghỉ dưỡng.
Trong phòng ngủ, mà tôi nghĩ là chắc phòng nào cũng vậy, đều được trang trí khoảng không gian sàn có vài chiếc chiếu được đan đát tỉ mỉ, đẹp trên sàn, giữa là bàn con, nhỏ; hai bên là hai chiếc gối ngồi có tấm dựa lưng. Trên bàn có hai cái tách trong cái khay và một đồ gạt tàn thuốc. Lúc đầu tôi chỉ nghĩ họ trang trí thế thôi, nhưng sau nghĩ lại: Hay là họ cho mình mặc đồ Kimono và ngồi ở đó để uống nước trà, hai vợ chồng đối ẩm theo kiểu Nhật chăng? Thế là với sự tò mò, ngộ nghĩnh vợ chồng tôi làm một cuộc đối ẩm theo kiểu Nhật, quỳ trên gối hai tay nâng chén trà để “cụng tách”. Nhưng ai chụp hình đây nên phải nhờ đến chị Cỏn và chị Tám Quít ở phòng kế bên. Chụp qua rồi chụp lại cho đến giờ phải đem đồ xuống và trả phòng để cho nhân viên khách sạn có thì giờ kiểm kê.
Do sự trả phòng sớm nên du khách của các đoàn tập trung ở “lobby” (phòng tiếp tân) rất đông, có nhóm sửa soạn đi mà đoàn đến cũng nhiều cho nên thật là choáng ngợp dù không gian khá rộng. Đúng 7 giờ đoàn đi ăn sáng và đến 8 giờ rưỡi lên xe khởi hành đi sang Yokohama và Tokyo. Đường đi bây giờ phần lớn là chạy theo dọc biển và có nhiều phố xá, dân cư đông đúc, thỉnh thoảng có vài nơi núi non, tuy nhiên theo dọc đường tôi thấy những cây lớn cũng được cắt bớt tạo dáng giống như là những cây cảnh. Không lẽ người Nhật lại kỳ công đến thế sao? Ở Osaka, nhất là Kyoto tôi đã lấy làm lạ về những cây bóng mát dọc đường trơ trụi không có bao nhiêu cành nhỏ, chứng tỏ chúng được cắt xén gọn gàng để mùa Xuân năm sau lá mọc lại đẹp hơn và bây giờ tôi lại thêm ngạc nhiên với những cây ở dọc đường nơi nầy. Còn phía phải thì song song với bờ biển cho nên người ta dễ nhìn thấy từng nơi có nhiều người đang tập lướt sóng hoặc bơi trên những ván lướt với mái chèo. Có lẽ ở vịnh Sagami nầy có nhiều trung tâm dạy người ta lướt sóng.
Đến 10 giờ 30 thì xe buýt vào bến ở Kamakura và chúng tôi được Jennifer hướng dẫn đi viếng Đền Thần Đạo ở đây là Đền Tsurugaoka Hachiman-gu. Thì ra con đường mà xe vừa đi qua lúc nãy có cổng Torii lớn chắn một phần giữa đường để rồi người ta làm con đường đi bộ ngay chính giữa và hai bên đường đó trồng rất nhiều cây Anh Đào dài suốt vào trong, đến một cổng Torii khác. Còn xe hơi thì chạy dọc theo hai bên đường đi bộ đó, một bên ra và một bên vào len vào hai dãy phố. Bến xe nằm bên hông khuôn viên rộng lớn của Đền, nên chúng tôi phải đi bộ vào cổng Torii nhỏ và đến Đền bằng cửa hông. Con đường hông nầy người ta đang sửa sang lại nên phần đường qua lại có giới hạn. Vừa cuối con đường thì Jennifer hối thúc chúng tôi đi nhanh lên vì đang có một cái đám cưới ở phía trước. Ừ thì, đang có một cái đám cưới thực, đám cưới làm theo nghi thức lễ truyền thống của dân Nhật. Tôi ngạc nhiên không lẽ có sự trùng hợp may mắn, hay là người ta tổ chức một cái đám cưới như thế nầy để du khách thấy và hiểu phong tục của Nhật. Nhưng dù là thật hay giả đám cưới nầy cũng cung cấp cho người ta nhất là khách du lịch tận mắt một nét văn hóa của người Nhật như thế nào.
Co dau, chu re va le cuoi.

Khi tôi đến thì đoàn cô dâu chú rễ từ bên ngoài kéo lên đài nhỏ ở giữa đường rồi và cô dâu, mặc đồ trắng với vành mũ cao lên che đầu và chú rễ thì mặc áo khoác đen rộng ngồi ở bàn chính giữa phòng lễ mặt hướng về Đền Chính ở trên cao kia, và bên trái là hai Thầy tế lễ đội mũ dãy có dây đeo xuống càm kiểu của người Nhật và bên phải là người thân hay gia đình gì đó. Và ngoài phòng là ba người trống kèn mặc áo màu xanh nhạt. Thầy lễ mặc áo vàng đọc điều gì mà những người khác đều cuối đầu cung kính giống như là họ đang cầu nguyện với Thần linh. Rồi đến phần tế lễ của Thầy lễ mặc áo trắng bên ngoài nhưng màu tím và vàng ở bên trong hành lễ.
Cuộc tổ chức đám cưới chắc còn lâu nên tôi không có kiên nhẫn theo dõi cho hết và dù có hết cũng chẳng hiểu được nhiều. Cho nên biết đại khái thế là đủ lắm rồi! Vả lại, tôi cũng chẳng có thời giờ nhiều đành bỏ cuộc mà theo dòng người để lên Đền thờ chính ở trên cao kia. Đền thờ nào cũng vậy có hình thức hành lễ tương đối giống nhau chỉ khác đi Đền lớn hay nhỏ mà thôi. Tôi quay vài khúc phim, đi một vòng xem có gì lạ không rồi trở xuống, đến gần cổng ra thì gặp anh Nhi, hai anh em dẫn nhau ra phía trước chỗ cổng Torii thứ nhì nối với đoạn đường mà người ta biến thành đường đi bộ với hai hàng cây Anh Đào, đứng nhìn chung quanh, chụp vài bôi hình cho nhau. Xong dẫn nhau về và thả lần ra xe. Xe trở lại đường đi bộ và ra ngoài để đi ăn trưa. Đã gần 12 giờ rồi còn gì! Kỳ nầy ăn trưa ở nhà hàng trên lầu dù không gian có hơi chật chội.
Hoa Anh Dao
Trai non Anh Dao.

Kamakura nầy là một Thành phố biển, du lịch cách Tokyo chừng 50 km, có số dân khoảng 180 ngàn người sống trên một diện tích chừng 40 cây số vuông, là nơi có nhiều Đền thờ Thần Đạo và chùa. Phía Nam là bãi biển của vịnh Sagami, còn các mặt khác đều là vùng núi đồi. Nó được xem là Thành phố từ tháng 11 năm 1939. Vùng đất nầy được coi như là nơi đã khai sinh ra triều đại Mạc Phủ Kamakura đầu tiên ở Nhật với chính quyền nằm trong tay của các võ sĩ samurai. Ngôi đền Thần Đạo Tsurugaoka Hachimangu mà chúng tôi vừa tham quan là nơi mà các cặp uyên ương chọn làm nơi cử hành hôn lễ theo truyền thống Nhật Bản, cho nên tôi đã có dịp chứng kiến, cũng là một điều may dù mình chẳng thật hiểu là bao nhiêu!
Sau khi ăn trưa, xe đưa đoàn chúng tôi đến khu vực chùa Kotoku-in. Băng qua đường và đi vào khuôn viên khá rộng còn nhiều cây Anh Đào đầy bông. Những cánh Anh Đào bay lả tả theo gió nên thơ, làm tôi nhớ đến những “lá me bay” trên đường Hồng Thập Tự, Trần Quý Cáp vào những năm tôi lang thang đi học ở dưới Sàigòn. Ôi! Trí óc con người sao lắm liên tưởng và nhớ về kỷ niệm đến thế! Hay chắc tại mình già rồi chăng? Tượng Phật A-Di-Đà bằng đồng to lớn đang ngồi tham thiền giữa không gian ngoài trời mặc cho nắng gió với màu xanh của “ten (rỉ) đồng” thật là oai nghi, trầm lắng như nhắc nhở mọi người nhớ suy ngẫm về “cái” cuộc đời nầy!
Tuong Dai Phat.

Theo tài liệu thì tượng Phật A-Di-Đà của chùa Kotoku-in theo phái Tịnh Độ Tông Nhật nầy là tượng Phật lớn hàng thứ ba trên đất Nhật sau các tượng Phật ở Katsuyama và Nara. Tượng được tạo vào năm 1252 bằng đồng với chiều cao 13.4 m, nặng khoảng 121 tấn (có mặt 2.35m, mắt 1.00m, tai 1.90m, miệng 0.82m) được đặt trong một chánh điện rộng lớn. Tuy nhiên, chánh điện ấy nhiều lần bị hư hại do bão vào năm 1334, gió mạnh năm 1369 nhưng đều được dựng lại, để rồi sau cơn sóng thần năm 1498 chánh điện bị hư hoàn toàn và tượng Phật trở thành lộ thiên cho đến ngày nay. Trận động đất mạnh năm 1923 làm cho bệ đỡ bị hư và sửa lại sau đó vào năm 1925. Và đến năm 1960-61 người ta chống đỡ cho cổ tượng Phật có thể chịu đựng sức nặng của cái đầu và làm cho tượng có thể chuyển động trên bệ để chống với độ rung lắc của những chấn động do các cuộc động đất mạnh xảy ra mà không làm thiệt hại cho tượng.
Dấu vết của chánh điện là những tảng đá chịu chân cột còn lại trên vị trí của nó chung quanh tượng.

Nguyên Thảo,
24/09/2017.



Sunday, November 12, 2017

*Kẻ Hiếp Nàng Thơ.



*Người Chỉ Trích.

Còn có khối người hay chỉ trích
Om sòm, la lối rất hăng say
Sách động, kêu bè chuyên khuấy thối
Bất kể rằng đêm, cả lẫn ngày.

Cũng có những người ưa khích bác
Lấy trò phá rối để làm vui
Khi cần đến họ, đều đi tránh
Nếu có ai làm, lại nhảy ra.

Phê bình, đối lập như hăng máu
Giương cựa, phùng mang sắp độ gà
Tới phiên, họ lủi đi đâu mất
Tìm mãi không ra, mới gọi là...

Thế gian lắm kẻ không làm nổi
Người khác làm cho, đứng chửi dòn
Nghĩ lại thân mình như giẽ rách
Chê người chê tệ chẳng chừa trôn...

Đồ Ngông,
11-04-02.

 

*Gã A Dua.

Trong đời thêm gã thích a dua
Cứ thể làm như đám chó hùa
Tiếng sủa vang lên thì gấu ó
Không hề biết ngọt hoặc hay chua.

Tủi thân "Cây sậy biết suy nghĩ",
Nhưng thế "cái đầu", "óc" để đâu?
Cái sống, chưa ra thành cái sống
Bản năng chẳng khác chó ưa hùa!

Thôi về nhắn lại gã a dua
Cứ bỏ, quăng đi cái tánh hùa
Chịu khó nhìn xem, phân phải trái
Đào sâu, nhận định ngọt hay chua?

Đồ Ngông,
12-04-02.

 

*Kẻ Hiếp Nàng Thơ!

(Người ta ví thơ là một hình thức tươi đẹp để trang trải tâm tình thơ mộng, trong những thể loại có vần có điệu, thanh âm êm dịu, nhẹ nhàng. Thơ có người con gái tha thướt, mỹ miều, duyên dáng làm "Tổ" gọi là "Nàng Thơ". Nhưng đối với những người chửi lộn bằng thơ, thì ngôn từ đầy sân hận, thù hằn, cay cú nên Đồ Ngông tôi mới có bài nầy.)

Nàng Thơ than thở, dáng u sầu,
Mắt ướt hoen mi, nhìn mãi đâu?
Yên lặng, chơi vơi, mà chẳng nói
Te tua, lem luốt,... áo quần đâu?

Nàng bảo rằng nàng bị hiếp dâm
Đám người hung bạo đến âm thầm
Ngôn từ, chữ nghĩa như dao mổ
Hăm dọa, bắt nàng để hiếp dâm...

Cái nhóm hung tàn đi hạ nhục
Hết người, sao lại đến nàng Thơ?
Văn chương, ý tưởng đầy thù hận.
Hoen úa nàng Thơ tự bấy giờ.

Uổng công ăn học bấy lâu nay
Văn thơ, chữ nghĩa khó nghe thay
Đem ra hiếp đáp người như thế
Hiếp cả nàng Thơ đến thế này!

Đồ Ngông,
13-04-02.



*Đường Đến Băng Hà. (6)


Như mọi ngày, chúng tôi được báo thức từ lúc 6 giờ; nhưng tôi và anh Thới hồi nào cũng thức trước giờ để uống cà phê, đấu láo với nhau vì lâu ngày chúng tôi mới có dịp cùng nhau như thế nầy. Không nhớ là tôi đã nói về trường hợp tôi và anh Thới ở chung phòng với nhau chưa, nhưng thôi thì nói lại vậy: Vì cô Hi, em vợ tôi, chỉ có một mình mà chị Thới lại là bạn thân nên trong chuyến đi nầy vợ tôi, chị Thới, Hi quyết định cùng nhau chung phòng. Còn tôi và anh Thới được “free” ở chung với nhau để tâm sự chuyện đời xưa!
Dù là uống cà phê, nhưng tôi và anh Thới cũng không quên đi ăn sáng, mình đã trả tiền rồi mà! Không thì mất quyền lợi sao? Ăn xong, về phòng chấn chỉnh lại mọi thứ và hành lý đem xuống để chất lên xe, đoàn sẽ khởi hành đi vào lúc 8 giờ! Trong chuyến đi chuyện của tôi lo và chuẩn bị kỹ hơn nhất là cái máy quay phim và xạc pin cho điện thoại đầy đủ. Bây giờ chụp hình bằng điện thoại di động tiện hơn nên máy chụp hình tôi đem theo mà không mấy lần sử dụng. Xe rời Salmon Arm từ lúc còn sớm nên sương hơi lành lạnh, trời mù mù, trên đường chẳng mấy chiếc xe chạy. Ra khỏi thị trấn, cảnh thôn quê hiện ra. Rừng núi, đồng cỏ ôm lấy những khu nhà còn mê ngủ. Cái cảnh thanh bình, vắng lặng, nhưng ít ra tầm mắt được phóng nhìn không đơn điệu như trên xứ của con Kangaroo. Cây cối có nhiều loại để thay đổi chứ không là những cây cùng loại khuynh diệp nơi nào cũng giống nhau. Nhưng kiểu địa hình nầy vào mùa đông hay những ngày lạnh đầy mây hoặc mưa thì chắc buồn ơi là buồn!
Màu xanh tươi mát cùng đồng cỏ mênh mông. Có lẽ đất chỉ mới hồi sinh đây thôi, sau một mùa đông giá lạnh, đầy tuyết trắng xóa. Tôi chỉ tưởng tượng và nghĩ vậy thôi, chứ trên đất Úc có mấy nơi có tuyết, đừng nói chi là tuyết phủ cả mấy tháng mùa đông, mọi cảnh vật chìm trong giấc ngủ gọi là “đông miên”; cho nên tôi chẳng biết như thế nào, và chỉ đoán mò mà không thực tế!
Xe đi theo con đường 97B từ Salmon Arm ra để nối với đường 97A tức là Highway từ Sicamous đi Vernon, để rồi từ Vernon là đường 97 tức là Onkanagan Highway đi đến Kelowna. Đoạn đường dài chừng 110.5 km. Nhìn xa bên phải là hồ Onkanagan, và đường chạy trên độ cao hay sườn đồi nên nhìn phong cảnh thật là đẹp! Thỉnh thoảng thấy vài khu vực có nhiều nhà nilông, nhưng không biết họ trồng gì trong đó.
Hồ Onkanagan là hồ lớn, rộng và sâu. Chiều dài của nó khoảng 135km, chiều rộng từ 4 đến 5km, với điện tích chừng 348km2. Độ sâu của nó trung bình là 100m, ở bìa hồ chừng 10m và chỗ sâu nhất là 232m. Lượng nước đổ vào hồ từ những vùng Mission, Vernon, Trout, Penticton, Kelowna, Peacheland, Equesis và Powers Creeks; và nước đổ ra sông Onkanagan rồi đổ về sông Columbia.
Đến khoảng 9 giờ 30 chúng tôi đến khu vực của vùng đất trồng nhiều đào lông và cherry. Ở đây nhà cửa khá đông đúc. Theo lịch trình sáng nay đoàn sẽ ghé qua vườn nho và thử rượu ở hãng rượu Summerhill Pyramid, vì vậy xe vừa vào cổng đã thấy một mô hình Kim tự tháp được trưng bày ở đó.
Theo tài liệu thì Summerhill Pyramid Winery được thành lập từ năm 1986 do gia đình Cipes làm chủ. Nó được chứng nhận là vườn nho canh tác theo kiểu “Organic”, tức là không dùng đến chất hóa học để bón phân hay sử dụng thuốc trừ sâu bằng hóa chất. Thôi thì mình cũng cứ nghĩ là như vậy!
Cái văn phòng, nơi bán rượu nầy có cảnh trí khá khang trang và đẹp. Đứng ở đây nhìn xuống phía dưới hồ kia cảnh trí rất nên thơ và cảnh quang, bày trí ở đây chứng tỏ nó là nơi thường được du khách đến thăm viếng, cho nên hôm nay chúng tôi đứng nơi đây cũng không có gì là lạ!
Trời có mây mù, mưa lâm râm, nhưng biểu tượng chai rượu được trang trí bên ngoài đang nghiêng rót rượu vào ly giống như thật cũng hấp dẫn nhiều người lên đứng chụp hình với cảnh hồ nước hơi là lạ.
Chai ruou va ho nuoc.

Tôi bắt chước làm một bôi hình cho vợ tôi trong khi chờ đợi được vào bên trong để thử rượu. Quầy bán rượu, cho khách thử rượu thì dài nhưng nhiều người, đông quá nên đành xếp hàng dài dọc theo bàn, cả bu quanh ở hai đầu để được thử loại rượu gọi là “ice wine”. Mỗi người được một cái ly rót vào chút ít rượu để thử mùi vị “ice wine” của rượu nổi tiếng ở Canada nầy, nó đã góp phần cho Summerhill Pyramid Cellar đoạt được nhiều huy chương của Canada kể cả của Anh và Pháp. Đa số những nhân viên ở đây là người Hoa nói tiếng Phổ Thông nên tôi không biết là chủ cũ vẫn còn làm chủ hay đã sang nhượng lại cho người Trung Quốc mất rồi.
Nghe quang cao ve "Ice Wine"

 Tôi định cư ở vùng đất Nam Úc, nơi cũng có nhiều vườn nho và hãng rượu; nên cũng vài lần đến hãng rượu để được nếm mùi rượu. Lúc đầu chúng tôi cứ tưởng đi thử rượu giống như những người chuyên môn làm rượu đã thử. Nhưng không, thử rượu của chúng ta chẳng qua là đến quầy bán rượu của hãng, vì có nhiều thứ rượu nên không biết thứ nào mà mua, nên ta cần nếm thử mùi vị để ta thấy thích thì mua loại mà ta thích. Thử rượu ở đây cũng là vậy! Nhưng ta từ phương xa nên chỉ cần thử đến loại đặc biệt “ice wine” thôi. Mà cũng chưa chắc là bao nhiêu người mua vì chuyến đi cũng hãy còn dài, và hành lý cũng còn lỉnh kỉnh khá nhiều. Do vậy đa số thử để cho biết cái mùi của “ice wine”.
Thu ruou.

“Ice wine” là loại rượu khai vị, nó không phải là nho được thu hoạch vào đúng thời điểm thu hoạch, mà nho nầy còn được neo trên cây cho đến thời tiết lạnh hơn nữa khi mà nước trong nho bị đông lại trong khi chất đường của nho thì không, nó thường là sau Tết Dương Lịch. Nho nầy được neo trên cây trong thời tiết đông lạnh để độ ngọt được đậm đặc hơn có khi qua đến hai đợt lạnh, như vậy nó dễ bị thất thoát do chim chóc ăn mất, đồng thời phải thu hoạch vào sáng sớm mùa đông để nho còn trong tình trạng đông cứng. Do đó sản lượng rượu cũng ít hơn có khi chỉ bằng 1/5 so với sự thu hoạch bình thường mà tiền nhân công phải trả xứng đáng với công cán họ bỏ ra trong việc thu hoạch nhanh vào sáng sớm băng giá, nên “ice wine” mà người ta gọi theo tiếng Hán Việt là “Băng Tửu” thường có giá cao.
Có câu chuyện kể là: Một chủ vườn nho ở Đức bận công chuyện đi xa nên không thu hoạch nho đúng lúc vào năm 1794. Khi trở về có thể vì tiếc rẻ nên ông đành thu hoạch nho của mình vào thời điểm mùa đông băng giá và đem đi ép làm rượu. Sự vô tình đó đã khiến cho rượu của ông trở nên ngọt, ngon hơn và có tên là rượu “mùa Đông” (Winter wine), mà người Đức gọi là “Eiswein”. Mãi đến năm 1962 thì “ice wine” được tung ra thị trường như một sản phẩm thương mại phổ biến ở Âu Châu.
Năm 1972 thì “Ice wine” được sản xuất ở Onkanagan Valley nầy do người di dân Đức Walter Hainle làm ra được 40 lít, nhưng rượu nầy không đủ tiêu chuẩn vì thu hoạch sớm và không có băng giá. Rồi năm 1978 ông làm một lần nữa cũng không bán ra thị trường. Nên đến năm 1984 “Ice wine” đầu tiên được đưa ra thị trường bán ở miền Đông Canada là sản phẩm của người di dân gốc Áo là Karl Kaiser ở vùng Ontario.
Hôm nay chúng tôi được đứng ở đây tại Estate của Summerhill Pyramid Winery để thưởng thức món rượu “Băng Tửu” ở vùng Onkanagan nơi được coi là “Make The Best Canadian Ice Wine”. Nhiều người muốn mua nhưng lưỡng lự vì chuyến đi còn dài ngày mà sự mang theo có nhiều phức tạp, vì vậy chỉ có vài người mua thôi. Cũng tiếc cho hãng Summerhill!
Sau một giờ nơi hãng rượu, đoàn lại lên xe vào lúc 10 giờ 40 để đi ra bờ hồ tại Thành phố Kelowna, nơi công viên có tượng con Ogopogo huyền thoại. Đường đi không xa lắm khoảng chừng trên 10 phút đồng hồ xuống đồi thì chúng tôi đã đến công viên Kerry Park nhìn ra bến du thuyền và nơi cho mướn những chiếc thuyền dạo chơi trên mặt hồ. Nơi nầy được gọi là Downtown Marina Kelowna.
Hinh tuong Ogopogo.

Cảnh sông hồ, cây cối có nhiều thú vị, lại thêm đường phố nhộn nhịp ở một bên. Mọi người lại thêm một khoảng thời gian để chụp hình kỷ niệm cho một chuyến đi xa. Cuối công viên nầy là nối với một công viên lớn của Thành phố có một tượng hình hai cánh buồm cũng là nơi để chụp ảnh đẹp và nhất là hình tượng con Ogopogo. Tượng nầy người ta gọi là quái vật (monster), nhưng nó lại giống với hình tượng con rồng đơn giản mà phương đông của mình hay nói đến. Ở công viên nầy có điều làm cho người ta thích thú là cái “toilet gia đình”. Hai vợ chồng đều có thể sử dụng cùng lúc, một bàn ngồi ở trong và người đứng ở ngoài.
Kelowna là Thành phố lớn thứ ba của Tỉnh British Columbia với số dân khoảng 195,000 dân nằm hai bên bờ hồ trong thung lũng Onkanagan cao 344m so với mặt nước biển. Người ta tính khoảng 9,000 năm trước đã có người đến đây, nhưng người Âu đầu tiên đến định cư ở đây để truyền đạo là ông Cha thuộc Thiên Chúa Giáo La Mã là Charles M. Pandosy, người Pháp. Kelowna là tên chính thức từ tháng 5/1905. Khi thành phố kỷ niệm 100 năm thì cầu mới William R. Bennett với năm làn xe chạy được xây dựng và hoàn thành vào năm 2008.
Không biết quái vật Ogopogo có thật hay không, nhưng trên đường khi đến đây, Hướng dẫn viên Vincent có đề cập đến những thông tin đã có và chiếu phim tài liệu truy tầm quái vật nầy cho chúng tôi xem. Lúc ấy tôi cũng chẳng quan tâm lắm. Khi vào Thành phố Kelowna, lại đến công viên Kerry Park và Cô Liên (Dẫn đoàn) kêu tôi đứng bên cạnh để chụp hình dùm tôi với hình tượng Ogopogo; thì trong đầu óc tôi lại nghĩ miên man về con rồng của văn hóa Trung Hoa có ảnh hưởng nhiều đến Việt Nam. Không lẽ đây là hình ảnh sơ khai của con rồng mà về sau người ta thêm thắc những nét đẹp đẽ, thêu dệt để con rồng trở thành một con vật trong 4 loài thuộc Tứ Linh: “Long, Lân, Qui, Phụng” để rồi Rồng là biểu tượng cho Thiên Tử, Hoàng Đế, Hoàng tộc; còn trong dân gian Rồng hiện ra hút nước, làm trời mưa. Quái vật nầy cũng tạo được một quá trình huyền thoại mà tài liệu đã ghi lại như sau:
Vào Thế kỷ 19 người dân bản địa nhìn thấy nó giống như một loài rắn biển dài khoảng 12 đến 15m mà người ta nghĩ như một vị thần ở hồ, rồi hiến tế để cầu mong sự bình yên. Nhưng vào năm 1926 rất nhiều người trên 30 chiếc xe hơi ở bãi Okanagan Mission đều cho rằng mình đã thấy cùng một việc. Năm 1968 đoạn phim của Art Folden cho thấy có làn nước liên hệ tới sinh vật nầy. Năm 1978 truyền hình vào cuộc với loạt phim “In Search of”. Và năm 1990 Canada phát hành con tem về Ogopogo; 1996 X-files có đoạn phim đề cập đến Ogopogo. Đến năm 2005 National Geographic có một phần về “quái vật” trong “Is It Real: Monster of the Deep”, và huyền thoại về con vật nầy còn tiếp tục được đề cập đến nhiều lần nữa trong những năm sau đó. Và chắc chắn sẽ được nhắc tới dài dài về sau nầy như các mục tiêu khám phá cũng như là  “quảng bá” cho Kelowna và vùng hồ Onkanagan nầy để thu hút du khách và kẻ hiếu kỳ vậy!
Sau đó, mọi người lên xe từ giã chốn nầy để băng qua cầu về phần phía Tây của Thành phố và nương theo đường 97C mà tiến về Meritt. Đường đi dần lên cao, không biết có phải đường lên đỉnh cao của dãy núi hay không mà dọc đường nầy còn rất nhiều tuyết bao phủ trắng từ trong rừng cây cho đến ngoài cánh đồng. Thỉnh thoảng hình như xe đi qua những luồng mây với mờ sương và ẩm ướt. Ngồi trong xe tôi cứ mãi mê nhìn ra ngoài với nhiều suy nghĩ: Đẹp thì có đẹp, nhưng mà buồn quá! Về mùa Đông chắc là sự giao thông có nhiều trắc trở, đời sống sinh hoạt gặp có nhiều khó khăn!
Đến 1 giờ xe tới Meritt và chúng tôi ăn trưa ở một nhà hàng Nhật, nhà hàng nầy tương đối lớn và đông khách. Để rồi sau đó, xe chạy xuôi về Vancouver trên Highway 5 với đoạn đường khoảng chừng 270km. Về đến khách sạn Hyatt vào lúc 5 giờ 30. Sau khi nhận phòng và ổn định, chúng tôi lại phải tập họp lại vào lúc 6 giờ 15 để đi ăn tối ở nhà hàng Kirin cách khách sạn hai con đường.

Nguyên Thảo,
01/10/2017.



Wednesday, November 8, 2017

*Bài Thơ Say.


*Kẻ Gây Rối.

Thiếu chi những kẻ chuyên gây rối
Cứ quậy, cứ la, cứ khuấy thối
Hôm nọ phanh ra chuyện nhỏ nầy,
Mai kia khui nút hầm cầu thối.
Bà con ê mặt đã từ lâu
Sắc tộc đau buồn sáng đến tối.
Ăn nói làm sao với bạn Tây?
Dứt đi..! Xin bỏ đừng gây rối.

Đồ Ngông,
01-04-02.




*Người Tâng Bốc.

Lại có những người không biết mình
Thường hay tâng bốc chẳng sợ khinh,
Đến đâu cũng vậy, luôn o bế
Cấp lớn, bề trên, lẫn hạ mình.

Mọi người khó chịu đâm ra chán
Nhìn thấy tức cười: "Vậy thế a!"
Thôi đi nơi khác: Trông gay mắt
Tâng bốc thân hèn "nhất thế gia"!

Tâng bốc cũng thành một thói quen
Đôi khi nó lại trở nên ghiền
Không tâng, không bốc: Như còn thiếu
Tâng bốc bà con lại thấy phiền.

Tâng bốc, vô tình phá đám đông
Nhiều người mãi riết lại thành không.
Còn ta với chủ, ta tâng bốc
Chủ khoái cười to,... cảnh trống không...!

Đồ Ngông,
02-04-02.

 

*Bài Thơ Say.

Ta say túy lúy... quả ta say,
Say quá... cho nên đỏ mặt mày
Ta nói... nhưng mà,... ta chẳng nói
Nói gì...? Ta có nhớ hay... hay!

Ta say, ta chửi mày hay ta?
Ta chửi ai kìa...? Chắc chửi ta
Ta chửi thằng say, say hết biết
Ta là người thật,..  hay là ma?

Chân mặt, sao mày xiên cẳng trái?
Mày yên... sao chẳng để ta yên?
Lải nhải nói hoài... Ôi,... chán quá!
Im đi...! Ta cảm thấy là phiền!

Rượu ơi! Còn hết, sao không nói?
Ta đợi mày lâu,.. chẳng tiếng nào?
Khinh quá... Ta buồn ghê lắm đó!
Thôi mày,.. mày chẳng mến ta sao?

Ta chẳng có say, ai nói say?
Lang thang, lếch thếch cũng do mày
Cả ngày ta nhớ,... Ta không biết?
Lẩn thẩn, lơ thơ "Tỉnh với say"...!

Đồ Ngông,
07-04-02.

 

*Gã Lì.

Thế gian sợ nhất gã ù lì
Như câm, như điếc, chẳng làm chi
Chỉ biết có mình: Ông tự ý
Xeo cạy thế nào cũng giữ y!

Trời sinh ra đứa lì như thế!
Chỉ vô tích sự, hại thêm đời
Không biết mọi người, không tập thể
Chỉ mình, có một, một mình thôi!

Thì ra, cũng lại gã ù lì
Đưa mặt mày mo chẳng sợ chi
Quậy nát, quậy tan theo ý muốn
Mọi người như bỏ... Đúng ơi! Lì!

Nói với thằng lì: Nói với cây
Thà về đầu gối lại càng hay
Tiếp xúc nó chi cho thêm mệt
Bỏ đi! Mặc nó, đứa ù lì.

Cô lập nó ra, đừng nói tới
Coi rằng nó có cũng như không
Thằng lì đã chết rồi trong đám
Lì có hay không, chẳng bận lòng...!

Đồ Ngông,
10-04-02.