Theo như bài trước, chúng
ta đã tìm hiểu một cách khái quát về cuộc sống con người qua phương diện của vài
phần Duy Thức, là môn Tâm Lý Học của Phật giáo, để biết được những gì con người
đã suy nghĩ, hành động như thế nào? Kết quả việc làm ấy ra sao? Và chúng sẽ đi
về đâu? Kết cuộc mọi hành động dù là nhỏ nhoi cũng không hề được bỏ qua như
trong Kinh Địa Tạng đã đề cập đến lời Ngài Bồ Tát Địa Tạng tuyên xưng:
“Vì thế chúng sanh chớ
khinh điều quấy nhỏ mà cho là không tội, sau khi chết đều có quả báo dầu đến mảy
mún đều phải chịu lấy”.
Từ đó, chúng ta nghĩ lại với
mọi hoạt động của con người, chúng sinh đã làm dù trong hành vi, suy nghĩ, lời
nói hay một cách khác là từ “thân, khẩu, ý” trong cuộc sống đều là những “Nhân”
(hạt giống). Và những nhân ấy sẽ được tích lũy vào đâu? Tất nhiên chúng sẽ được
chứa vào trong cái “Tàng Thức” hay thức thứ 8, là A lại Da Thức. Khi con người
mất đi thì thân xác, tiền của danh vọng, người thân như ba người vợ trước đều từ
giả ta; nhưng, cuối cùng có bà vợ đi theo ta mãi mãi: Ấy là cái túi nghiệp A Lại
Da Thức mang tất cả những “nhân” mà ta có theo ta mãi mãi, dù đi đến bất cứ nơi
đâu trong các cõi của Vòng Luân Hồi! Dù là ở cõi Trời, cõi Người, A Tu La, Súc
Sinh, hay phải “chiêu cảm” những hình phạt do tội nghiệp của mình mà ra ở cõi Địa
Ngục hay Ngạ Quỷ. Vậy những cõi ấy do đâu mà có? Theo những ý thức, nhận thấy của
Đức Phật Thích Ca cho biết sau khi Ngài đã “Giác Ngộ” thì con người, chúng sinh
vì “mê muội” (Vô Minh) đã rời cõi thanh tịnh ban đầu, mà mượn đến các yếu tố trong
vũ trụ - hay theo Phật pháp là Pháp Giới- như Đất, Lửa, Gió, Nước, Hư Không, Kiến
Đại (thấy, nghe, hay, biết) để làm thân xác của mình. Do đó, mà sự sáng suốt, tự
chiếu soi đã có tự trong bản chất, bị giam hãm trong cái thân xác vừa được tạo
ra. Và với thân xác ấy có nhiều nhu cầu, đòi hỏi, ham muốn về vật chất lẫn tinh
thần, mà “người chủ nhân” phải đáp ứng như đói, no, ấm lạnh, sướng khổ, hạnh phúc
thỏa mãn hay chưa thỏa mãn… rồi nhu cầu từ ít cho đến nhiều. Mỗi việc mỗi hành động
đều tạo thành một cái “nhân”. Đã có “nhân” tất sẽ có nẫy mầm để trả “quả”. Bị
cuốn trong cái vòng xoay vòng ấy, Đức Phật gọi là Vòng Luân Hồi. Trong vòng luân
hồi Đức Phật với Phật Nhãn thấy có sáu cõi như vừa kể trên, mà chúng sinh sẽ phải
trải qua, tùy theo những nhân nào sẽ nẫy mầm trong giai đoạn đó; tức là các nhân
sắp nẫy mầm đồng loạt sẽ quyết định nơi nào chúng sinh sẽ tái sinh về để nhận
quả. Tất nhiên, với những hành vi của kiếp ấy, chúng sinh sẽ có tạo nhiều nhân
khác vừa có thiện, ác, không thiện không ác -hay gọi bằng danh từ khác là “vô ký”-
sẽ tiếp tục được bỏ vào trong túi A lại Da Thức. Nhân cứ tiếp tục gây trong kiếp
kế tiếp thì quả còn liên tục kéo dài nên chúng sinh khó ra khỏi vòng luân hồi.
thế cho nên trong Kinh có câu: “Bồ Tát thì sợ nhân, chúng sinh thì sợ quả” là do
từ tinh thần ấy!
Trong Duy Thức có đề cập đến
các tính chất mà các nhân trong túi A Lại Da Thức khởi động nẫy mầm. Có ba thứ:
Dị thời nhi thục (Khác thời mà chín: tức là khác thời gian); Dị loại nhi thục
(Khác loài mà chín: tức là khác loài, tùy theo loài mà có thời điểm); Diến dị
nhi thục (Biến đổi khác chất mà chín giống như xoài lúc nhỏ thì xanh, lúc chín lại
vàng). Do vậy, chúng ta có thể hiểu rằng: Với vô số hạt nhân trong túi Tàng Thức,
có nhiều hạt giống khác nhau và thời điểm chúng nẫy mầm cũng khác nhau, cho nên
có rất nhiều hạt giống sẽ đồng loạt nẫy mầm trong thời điểm kế tiếp. Chính những
hạt giống ấy sẽ định chúng sinh sẽ tái sinh đi về cõi nào trong kiếp đó để trả
quả. Nếu có phước đức đủ đầy với nhiều nhân thiện thì sẽ về cõi Trời để hưởng phước
báu; ít hơn thì sinh về cõi Người hay A Tu La. Nhiều nhân Ác thì sẽ về cõi Súc
Sinh hay Địa Ngục, Ngạ Quỷ. Tuy nhiên, nếu được về cõi người mà kiếp đó nhân
Thiện nhiều hơn thì con người sẽ có tướng tốt, đẹp người, trong hoàn cảnh sung
sướng, khỏe mạnh, làm ăn thuận lợi, ít gặp nghịch cảnh hơn. Còn trong kiếp ấy có
quá nhiều nhân xấu thì thân người bị xấu xí, đau yếu, tàn tật, sinh ra trong hoàn
cảnh đầy khó khăn, cuộc sống có nhiều vất vả, đau khổ, mọi việc không thuận lợi.
Đó là những điều kiện của cá nhân mà trong Đạo Phật có danh từ gọi là Biệt Nghiệp.
Còn có nhiều người liên đới có Nghiệp tương đối giống nhau trong kiếp nào đó sẽ
liên kết chịu chung một số nghiệp nào đó thì họ sẽ trở thành thân thiết, dòng họ
hay gia đình cùng nhau gọi bằng danh từ Cộng Nghiệp, giống như trong khoa học gọi
là “cùng một chuỗi Gen di truyền” với nhau vậy!
Đức Phật cho biết mọi chúng
sinh đều đã bị lôi cuốn vào trong cái vòng Luân Hồi ấy, càng vướng vào thì càng
bị quay cuồng, càng tạo nhiều nghiệp khó mà thoát ra được, giống như con tằm càng
nhả thêm tơ thì càng quấn chặt vào mình; hay ở những nơi có tuyết người ta ví
như một vật tròn nào đó lăn trên tuyết càng lăn thì tuyết càng dính vào nhiều,
bóng tuyết thì càng lớn ra, thì càng khó tháo gỡ ra hết, hay thời gian tháo gỡ
phải nhiều hơn. Chúng sinh muốn thoát ra để trở thành như ban đầu sẽ vất vả khá
nhiều.
Nhưng với nghiệp của chúng
sinh thì không ai tháo gỡ, hay chịu thế cho ai cả như trong Kinh Địa Tạng có
cho biết:
“Chí thân như cha với
con, mỗi người cũng theo nghiệp của mình mà đi khác đường, dầu cho có gặp nhau
cũng chẳng bằng lòng chịu khổ thay nhau”
Nguyên Thảo,
12/04/2026.