Khi đề cập đến vấn đề nầy, chúng tôi lại nhớ đến truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Bộ truyện ấy cũng là kỷ niệm đáng nhớ của mình trong thời niên thiếu. Thuở ấy chúng tôi mới vào học ở lớp Ba của trường Tiểu học trong làng quê. Học chung có thằng bạn tên Nghi, nhà nó có quen thân với nhà đối diện bên kia đường của Bác Ba Keo. Nhà đó cho mướn truyện Tàu và tiểu thuyết để ai thích thì đến mướn đem về nhà đọc. Trong khoảng thời gian ấy lại có phong trào người ta thích kể về chuyện Tam Tạng đi thỉnh kinh, trong đoàn nổi bật là Tôn Hành Giả. Nhân vật nầy rất thu hút bọn nhỏ của chúng tôi. Vì vậy, một ngày tôi lên chơi với Nghi, thì Nghi hỏi muốn xem chuyện Tề Thiên Đại Thánh hông? Tôi tò mò trả lời “Muốn”. Thế là Nghi đến nhà Bác Ba hỏi mượn truyện Tây Du Ký về hai đứa xem. Hai thằng nhỏ kiếm một cái hốc ở góc nhà bên cạnh gốc cột, chui vào đó mà lật từng trang quyển truyện, rồi xúm nhau đọc. Đứa nào đọc xong trước rồi đợi đứa sau mới lật sang trang kế tiếp. Đọc mê quá, rồi cứ mỗi chiều hai đứa lại chui vào cái hốc đó mà đọc tiếp tục. Một ngày nọ, má tôi có việc cần nhưng không thấy ở nhà, bà đi kiếm và kêu về cho tôi một trận đòn đích đáng, và cấm hẳn tôi không được xem truyện nữa. Thế là từ đó, tôi không còn thói quen mê đọc truyện.
Lớn lên, khi vào
Trung học bạn bè thường hay nói về truyện nầy truyện nọ, đứa thì kể về truyện Tàu,
đứa nói về truyện kiếm hiệp. Tôi chằng biết chuyện nào cả kể cả những chuyện của
nhóm Tự Lực Văn Đoàn, hay tiểu thuyết nổi tiếng thời bấy giờ như “Tuấn, chàng
trai nước Việt” của Nguyễn Vỹ; “Phi lạc Sang Tàu” của Hồ Hữu Tường; hoặc “Đò Dọc”
của Bình Nguyên Lộc, “Yêu” “Ghen” “Sống” của Chu Tử. Thế rồi, tôi cũng được đọc
vài quyển truyện hay tiều thuyết một cách muộn màng do bạn bè cho mượn vì nó
khen quá hay.
Thế nhưng, đến một ngày
khá lâu sau đó có ông thầy là Thầy Nguyễn Duy Cần lại đề cập đến truyện Tây Du
Ký vì nó mang tính chất khá quan trọng trong Đạo Phật. Những nhân vật được kể
trong đó đều tượng trưng cho một tính cách của con người, mặc dù những nhân vật
ấy đều tưởng tượng ngoại trừ Đường Tam Tạng. Tác giả mượn chuyện Đường Tam Tạng
đi sang Tây Trúc (Ấn Độ) để học hỏi về Đạo Phật mà trong truyện được kể như là “Đi
thỉnh Kinh”, rồi tác giả Ngô Thừa Ân mượn các con vật, mỗi con vật tượng trưng
cho đặc tính của con người mà thêu dệt nên câu chuyện “Tây Du Ký” hay bọn nhỏ chúng
tôi thường gọi nôm na bằng “Chuyện Tề Thiên Đại Thánh”. Gọi như thế có lẽ vì Tề
Thiên Đại Thánh là con khỉ chọc trời khuấy nước dám đánh lên tới cả ông Trời và
khiến cho triều đình nhà Trời phải “thất điên bát đảo” và phải phong cho con khỉ
đó là “Tề Thiên Đại Thánh”. Tuy nhiên, con khỉ ngang tàng đó vẫn không thoát khỏi
bàn tay của Phật Tổ dù vận dụng thần thông đằng vân đi đến đâu. Bọn nhỏ chúng tôi
khoái con khỉ đó vì nó mang cái tính ngang tàng vốn có trong con người của mình
dù cái thân của mình chỉ còn chút xíu. Nói chung lại, cả hai con vật Khỉ “Tề
Thiên Đại Thánh” hay là “Tôn Ngộ Không” và con Heo ham ăn, ham ngủ, ham mê nữ sắc,
ham mê nhiều thứ “Trư Bát Giới” thì cũng là điều hấp dẫn đối với con nít chúng
tôi! Còn Sa Tăng thì không có gì lôi cuốn cả, cho nên nó không được chúng tôi
quan tâm nhiều.
Rồi, đến khi tôi có thì
giờ tìm hiểu vào Đạo Phật, nhất là khi đọc ngấu nghiến bộ Phật Học Phổ Thông của
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa do vị sư thân thuộc tặng cho, để hiểu chút nào về giáo
lý Đạo Phật. Khi đọc về phần Duy Thức Học thì chúng tôi cũng mường tượng được
những điều phân tích tổng quát, mà triết lý của môn “Tâm Lý Học Phật Giáo” nầy
cung ứng; mặc dù những phần về Siêu Hình thì quá khó chúng tôi không thể lĩnh hội.
Quả thực, môn Duy Thức Học hay còn gọi là Tâm Lý Học Phật giáo đúng là thật khó
hiểu, khó lĩnh hội được, cho nên hiểu hết tất nhiên chúng tôi không thể nắm bắt
được. Tuy nhiên về tổng quát môn nầy giúp cho chúng tôi có thể hiểu phần nào, và
giải thích được kết quả những gì mà con người hành động cùng chịu trách nhiệm về
những việc làm của mình trong cuộc đời, tức là những gì đã tạo nên “nghiệp”, đã
tạo thành “nhân” để sau nầy phải trả “quả”; đó là nguyên nhân của chuyện “sinh
tử trong luân hồi”!
Theo như quý vị sư, học
giả chú trọng vào sự phân tích các nhân vật của Tây Du Ký thì có nhiều cái nhìn
khá khác về chuyện Tây Du Ký và các nhân vật. Theo bọn con nít chúng tôi thì các
nhân vật, nhất là con khỉ Tề Thiên Đại Thánh là con vật năng động, khôn ngoan,
chọc trời khuấy nước là thần tượng với sức sống năng động của mình dù thân thể
chỉ còn chút xíu. Còn Trư Bát Giái, chúng tôi thích chữ “Giái” hơn là chữ “Giới”
vì nó mang được tính cách hơi tục, nhưng cũng nói lên được tính cách của anh chàng
“con heo lòng” thích ăn, ham ngủ, nạnh hẹ, ham mê nữ sắc mà con người nào, nhất
là con trai, nam giới đều có ở trong con người của mình. Và bây giờ, con người,
những nhà nghiên cứu lại có nhiều cái nhìn, quan niệm về Tây Du Ký vì có thể tìm
thấy trong Tây Du Ký những bài học để dạy cho con cái, hay những nhà chính trị
khai thác về các lĩnh vực của họ. Chúng ta không rõ mục đích của Ngô Thừa Ân
khi sáng tác ra chuyện Tây Du Ký như thế nào, chứ ngày nay nhiều học giả cho rằng
Tây Du Ký mang tính chất người ra giúp nước; phản ánh sự đấu tranh của người dân;
ca tụng sự phản kháng của chính nghĩa; ca tụng sự vùng lên của dân qua nhân vật
tôn Ngộ Không; sự kiên trì, bền bỉ, vượt gian lao của các nhân vật đi thỉnh kinh
cũng như quan niệm Tây Du Ký là một sổ tay đi thỉnh kinh của tôn giáo; một câu
chuyện ngụ ngôn, hay là chuyện đùa cợt cuộc đời đôi khi có hơi đùa cợt về Đạo
Phật vì có những đòi hối lộ… Có lẽ với “phong trào moi tìm những ngóc ngách” vào
truyện nầy thì trong tương lai sẽ có nhiều quan niệm khác nữa tùy theo người đọc
và nhận xét mà họ tìm ra. Tuy nhiên, truyện Tây Du Ký cũng thoát ra ngoài cái
chuyện Đường Tăng đi sang Tây Trúc để thỉnh kinh của Ngài Đường Tam Tạng vì Ngài
đã tốn những 17 năm đến Ấn Độ vừa đi, vừa học và vừa về; để sau đó Ngài đã bỏ công
sức để dịch tam tạng kinh điển của Đạo Phật từ Phạn Văn sang Hán Văn mà phổ biến
ở Trung Hoa, cũng là phần lớn cho nền Phật Giáo ở Việt nam.
Đó là những quan niệm
bên lề của truyện Tây Du Ký, nhưng dù gì Tây Du Ký vẫn phản ánh câu chuyện đi
thỉnh kinh đến Ấn Độ của Đường Tam Tạng mà các quan niệm Phật giáo vẫn phổ biến,
mặc dù chuyện có vài chi tiết không thể hiện đúng với đường hướng trong giới
nghiên cứu hay thực hành đạo Phật. Có cái nhìn các nhân vật đi theo Đường Tăng
trên đường thỉnh kinh như Tôn Ngộ Không, con khỉ nầy giống như cái Trí khôn nhìn
thấy biết nhiều chuyện nhưng đầy sự Sân Hận; còn Trư Bát Giới giống như con heo
lòng đầy mong muốn, tham lam, ham nhiều thứ đại diện cho sự Tham Lam của con người;
Sa Tăng đại diện cho sự Ngu Si chỉ làm theo nhu cầu, bản năng không có sự suy tính,
năng động; Và con ngựa Bạch mã tượng trưng cho sức khỏe, sự mạnh mẽ của cơ thể để
có thể đạt được mục đích trên con đường thỉnh kinh. Còn một cái nhìn khác là
qua môn Duy Thức: Đường Tăng tượng trưng cho con người giống như cái Tàng Thức
tức Đệ Bát Thức trong môn học ấy; Tôn hành Giả là Ý Thức tức Đệ Lục Thức và Trư
Bát Giới đại diện cho Đệ Thất Thức là Ý Thức nhưng ý thức nầy hướng về con người
của mình tức nặng phần Chấp Ngã. Còn con ngựa tượng trưng về phần Sắc trong Ngũ
Uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Thế là với cái nhìn nầy hướng về Duy Thức Học
mà chúng ta muốn được tìm hiểu để có thể hiểu hơn chút nào về con người của chúng
ta theo quan niệm của Đạo Phật.
Theo Duy Thức Học tức
là môn học phân tích về con người mà người ta dùng một danh từ khác là Tâm Lý Học
Phật Giáo. Nói đến Tâm Lý là một phần học được xếp đặt trong môn Triết Học bao gồm
Tâm Lý, Đạo Đức và Luận Lý mà người ta đã nghiên cứu. Nhưng trong Tâm Lý Học Phật
giáo khá khác biệt hơn là đào sâu hơn nữa về sự phân tích đối với con người để
từ đó có thể giải thích những điều thâm sâu về con người sẽ trải qua trong quá
trình sống và tái sinh trong cõi Luân Hồi.
Theo như chúng ta học
từ hồi còn nhỏ về môn Cách Trí hay sau nầy đổi lại là Khoa Học Thường Thức thì
con người có 5 giác quan dùng để nhận biết những gì bên ngoài ảnh hưởng đến thân
thể của mình như: Mắt (Thị giác) để nhìn, thấy, quan sát; Tai (Thính giác) để
nghe; Mũi (Khứu giác) để ngữi, nhận biết các mùi; Lưỡi (Vị giác) để nếm, nhận
biết các vị chua, đắng, ngọt, cay…; và Da (Xúc giác) để rờ, đụng chạm nhận biết
các tình trạng các thứ mà sờ, đụng, tiếp xúc đến. Nhưng trong Tâm Lý Học Phật
Giáo vẫn có các giác quan ấy nhưng phân tích kỹ hơn và xem các giác quan trước
hết mắt, tai, mũi, lưỡi, da xem như là thân thể, tất cả đó là “Căn” gọi là Nhãn
căn, Nhĩ căn, Tỹ căn, Thiệt căn, Thân căn; và ở phần nầy thêm một phần khác là ý
nghĩ gọi là Ý căn. Đó là Lục căn. Lục căn nầy sẽ tiếp xúc với các thứ bên ngoài
gọi là Lục trần:
-Mắt (Nhãn căn) để nhìn
được hình dáng, màu sắc (Sắc trần),
-Tai (Nhĩ căn) để
nghe âm thanh, tiếng động (Thanh trần),
-Mũi (Tỹ căn) để ngữi
các mùi (Hương trần),
-Lưỡi (Thiệt căn) để
nếm được các vị (Vị trần),
-Thân (Thân căn) để sờ
mó, đụng cham mọi vật (Xúc trần),
-Ý (Ý căn) là những
suy nghĩ về mọi vật, hiện tượng hữu hình lẫn trừu tượng (pháp trần).
Từ các căn nầy mà con
người, sinh vật mới tiếp xúc được những gì trong trần gian để rồi mới nhận biết
về chúng mà được gọi là Thức. Sáu giác quan sẽ có sáu thức mà tiếng Hán Việt gọi
là Lục Thức, tức là Nhãn thức (của mắt), Nhĩ thức (của tai), Tỹ Thức (của mũi),
Thiệt thức (của lưỡi), Thân thức (của thân). Năm thứ nầy gọi chung lại bằng
danh từ “Tiền Ngũ Thức” mà trong truyện Tây Du Ký người ta cho là Sa Tăng đóng
vai trò ấy; tức là chúng chỉ thấy, nhận biết thôi sự vật chỉ là như thế thôi. Nhưng
cái anh quan trọng hơn là Ý Thức giống như cái bộ não mới tổng hợp, phân tích lại
để biết sự vật, hay sự kiện bên ngoài như thế nào để chọn, đánh giá các tính chất
của chúng giống như vai trò thông minh, đầu óc sáng suốt, phân biệt được rõ ràng
như thế nào giống như là Tôn Ngộ Không. Phần nầy danh tử chuyên môn gọì là Ý Thức
hay Thức Thứ Sáu, vì nó đến sau 5 thức kia. Xong đến anh Thức Thứ Bảy hay một
danh từ khác khá lạ là Mạt Na Thức làm nhiệm vụ. Mạt Na Thức người ta cũng cho
là Ý căn, nhưng các ý nầy không phải là nhận định tổng quát mà nó lại ý chiếm hữu,
lấy đem về cho bản thân mình giống như sự sanh nạnh, ham ăn, thích ngủ, sung sướng...như
là Trư Bát giới vậy. Ý thức ấy chỉ là mục đích cho mình, cho cái Ngã của ta. Còn
Đường Tam Tạng như thế nào cũng nhận, cũng chịu giống như một cái túi đựng mọi
việc, mọi hậu quả mọi cái “nhân” đưa đến dù nó là Thiện hay Ác; hay không thiện,
không ác gọi là (Vô Ký). Thức nầy gọi là Thức Thứ Tám hay các danh từ đặc biệt
khác là Tàng Thức (thức chứa), hoặc A Lại Da Thức.
Nguyên Thảo,
07/02/2026.