Sunday, May 17, 2026

*Vấn Đề VII: Người Và Ngộ!


Con người được chú trọng trong cái Vòng Luân Hồi một cách đặc biệt, mặc dù người không phải là chúng sinh đầy phước báu. Khi một chúng sinh trong kiếp tới nào đó mà có nhiều “hạt nhân” tốt, là thiện tới thời kỳ nẫy mầm đồng loạt, thì họ sẽ được tái sinh về cõi Trời đầy phước báu để hưởng mọi sung sướng; mà trong đó cõi Trường Thọ Thiên là nơi chúng sinh có thọ mạng lâu dài, hưởng mọi điều sung sướng, khiến họ quên đi con đường giải thoát. Vả lại, nơi cõi ấy cũng không có Phật pháp để họ tu hành mà thoát khỏi vòng Luân Hồi sinh tử. Và nếu những chúng sinh nào gặp lúc nhiều “nhân” xấu nẫy mầm phải sinh vào cõi Địa Ngục, Ngạ Quỷ do nhiều nhân ác đã gây ra trong quá khứ, để chiêu cảm các hình phạt mà họ sẽ “cảm vời” ra cho đến hết thời kỳ chịu hạn, thì những chúng sinh ấy cũng không có thời gian để tu hành mà thoát ra khỏi sự Luân Hồi! Còn chúng sinh phải đội lốt Súc Sinh thì không điều kiện nào kể cả thông minh để thực hiện con đường thoát khổ. Rồi lại có nhiều chúng sinh cũng có nhiều phước đức được tái sinh vào cõi Uất Đan Việt hay còn gọi là Bắc Câu Lưu Châu để hưởng nhiều hạnh phúc, sung sướng, hưởng lạc mà quên đi sự giải thoát. Còn trong thế giới A Tu La thì cũng không có điều kiện để tu pháp giải thoát? Tại sao vậy? Vì chỉ có cõi Ta Bà nầy mới được Đức Phật “thị hiện” làm người để truyền bá giáo pháp; và chỉ có con người mới đủ trí não, nhận thức để thực hành giáo pháp ấy; cho nên Cõi Ta Bà dù nhiều khổ hơn hạnh phúc, sướng vui nhưng lại là “quốc độ” của Đức Phật Thích Ca đang hành đạo. Tại sao nói là “Thị Hiện”? Theo như trong Kinh điển, Kinh Đại Bát Niết Bàn, trong Phẩm Tà Chánh Thứ Chín, Đức Phật có thuyết:

“Nầy Ca Diếp! Nếu kinh luật nào nói đức Như Lai chánh giác đã thành Phật từ lâu, vì muốn cứu độ chúng sanh nên nay mới thị hiện thành Phật, và vì tùy thuận theo thế gian nên cũng thị hiện có cha mẹ, nhơn nơi ái dục hòa hiệp mà sanh. Phải biết kinh luật nầy là của Như Lai nói”.

Tuy nhiên, sự lĩnh hội giáo Pháp mà Đức Phật truyền giảng cũng không phải ai cũng tiếp nhận được một cách dễ dàng, vì con người còn có nhiều nhân duyên, điều kiện khác để tiếp nhận. Được sinh ra làm con người mà tránh được sự tàn tật, khiếm khuyết cơ thể, không bị câm, ngọng, đui, điếc là điều may mắn vì những nhân xấu của mình trong kiếp nầy không vướng vào những điều phải như thế! Nhưng được như vậy, mà mình lại thuộc vào giới gọi là “Thế trí biện thông” thì cũng chẳng được gì! Thế nào là Thế trí biện thông? Là hạng người tài giỏi, thông minh, học nhiều, hiểu rộng nhưng không tin vào giáo pháp thì cũng không đi đến đâu; giống như giới được gọi là “nhứt xiển đề” hoàn toàn không tin, đôi khi lại bài bác nữa. Không những vậy! Nếu con người lại sinh vào thời trước Phật thì không có giáo pháp, hay sinh sau Phật thì hiểu giáo pháp không được thấu đáo bằng thời Đức Phật tại thế, vì không được Đức Phật giảng giải trực tiếp một cách rõ ràng, chính xác. Tuy nhiên, dù sinh sau Phật vẫn còn có giáo pháp Đức Phật để lại, nương theo đó mà tu hành. Đó là “Bát nạn” (8 cái nạn) mà chúng sinh, con người vướng vào hay may mắn thoát khỏi; và đó cũng chính là điều chứng minh cho chúng ta hiểu rõ hơn về các cõi của luân hồi.

Trong Đạo Phật có câu chuyện về “con rùa mù” khá quan trọng, nó có thể dùng để suy đoán trong nhiều trường hợp, và Đức Phật cũng kể câu chuyện ấy trong nhiều trường hợp khác nhau. Nay tôi xin ghi lại để độc giả tham khảo, mà ngẫm nghĩ về câu chuyện ấy! Đó là Kinh số 406 trong Tạp A Hàm như sau:

“Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật trú tại bờ ao Di Hầu, nơi giảng đường Trùng Các.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ kheo:

-Ví như đất liền đều thành biển lớn, có một con rùa mù sống vô lượng kiếp, một trăm năm mới trồi đầu lên một lần, trong biển có một khúc gỗ nổi, chỉ có một cái lỗ, lênh đênh trên sóng nước theo gió trôi dạt Đông Tây thì con rùa mù một trăm năm mới trồi đầu lên một lần, sẽ gặp được cái lỗ hổng nầy chăng?

Tôn giả A Nan bạch Phật:

-Thưa Thế Tôn! Không thể được. Vì sao? Vì con rùa mù nầy, nếu đến biển phía Đông thì khúc gỗ theo gió hoặc tới biển phía Tây, Nam, Bắc, xung quanh; cũng vậy khắp bốn phía không dễ gì gặp được.

Phật bảo A Nan:

-Con rùa mù và khúc gỗ nổi tuy sai trái nhau, có thể gặp được; còn kẻ phàm phu ngu si trôi nổi trong năm đường, tạm được thân người còn khó hơn việc trên. Vì sao? Vì các chúng sanh ấy không thực hành nghĩa, không thực hành pháp, không thực hành điều lành, không thực hành chơn thật, xoay vần sát hại, kẻ mạnh lấn lướt người yếu, tạo ra vô lượng điều ác. Bởi thế, Tỳ kheo đối với Bốn Thánh Đế chưa hiện quán, nên siêng năng phương tiện, khởi ý muốn tăng thượng, tu học hiện quán.

Phật nói Kinh nầy xong, các Tỳ kheo nghe lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành”.

Theo như câu chuyện đưa ta đến một vấn đề khác, đó là chuyện “được thân con người”! Chúng ta thường nghe trong Đạo Phật có câu: “Thân người khó đặng, Phật pháp khó nghe” (theo Hán Việt: “Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn”). Tại sao vậy? Tại sao Phật pháp lại “nan văn”? Có phải chăng Phật pháp giảng giải, phân tích, chỉ rõ về những vấn đề con người trong cái cõi đầy đau khổ nầy, khiến con người phải bi quan, hay kể những giai đoạn con người, chúng sinh phải trải qua trong cái vòng Luân Hồi của sinh tử làm con người phải choáng váng về con đường sẽ đi đến. Đức Phật vạch trần, chỉ rõ cho chúng sinh để chọn lấy mà không có tính cách bắt buộc, cũng như trong Đạo Phật không có những quy luật hay hình thức bắt buộc nào để người phải theo đạo: Tất cả đều do nhận thức và tự nguyện, chứ không một quyền lực nào bắt người phải theo hay là chết như nhiều tôn giáo khác đã làm! Đạo Phật chỉ khuyên con người, chúng sinh sống Thiện, hành thiện để tạo những nhân tốt nhằm đưa con người, chúng sinh đến con đường giải thoát khỏi Luân hồi sinh tử mà trở lại “cái nguyên thủy” của mọi chúng sinh trong cái “Không sinh, không tử” mà lại “sáng suốt chiếu soi” (Bản giác minh diệu) của cái Chơn Tâm trong sáng. Tâm là viên ngọc bị mờ đi vì bị bụi hay những chất ô uế che khuất; cái Tánh là cốt lõi của viên ngọc như là “minh tâm, kiến tánh” vậy!

 

Nguyên Thảo,

18/05/2025. 


Sunday, May 3, 2026

*Rác! Vấn Nạn Của Con Người!


Những thời gian gần đây, thế giới loài người có nhiều báo động về thời tiết thay đổi bất thường trên thế giới. Đó là sự quan tâm đáng để ý, vì loài người là loài vật có nhiều trí khôn, biết tạo ra nhiều phương tiện, tiện ích cho cuộc sống, nhưng ít khi để ý đến môi trường xung quanh. Đến lúc tình trạng quá tồi tệ thì người ta quýnh quáng lên mà kêu gọi: “Hãy bảo vệ môi trường”! Tôi nói như thế không phải là không có cơ sở. Cơ sở gì đây nè? Ừ! Thì cứ nghĩ có phải loài người là loài thông minh trong muôn loài có mặt trên trái đất nầy không? Đúng vậy, con người biết tạo ra bom nguyên tử để tiêu diệt cả một thành phố trong nháy mắt, và người ta cũng biết tạo ra những vật nhỏ nhất và lớn hơn, kể cả bền bỉ để giữ gìn, tồn trữ, bảo quản thức ăn, vật dụng trong điều kiện tốt và được lâu dài. Nhất là từ khi người ta biết cách khám phá, chế xuất ra dầu hỏa và nhựa nilông. Sự sử dụng rộng rãi các chất đó đã tạo ra nhiều ô nhiễm, thải ra chất khí độc làm mất đi khí oxy của không khí, thế là tầng Ôzôn bị lủng lổ ở hai đầu cực của trái đất, khiến băng tan và nhiệt độ trái đất tăng lên; kéo theo độ nóng thay đổi theo từng khu vực và trên mặt biển, khiến không khí đột biến thay đổi gây nên những hiện tượng nino và nina cực đoan nên mưa lũ hoặc hạn hán nhiều nơi, gây khó khăn cho đời sống con người.

Tôi không biết Ông Phật nói có đúng không? Chứ Ông bảo rằng: Tùy theo tâm của chúng sinh trong quốc độ nào đó như thế nào, thì sẽ tạo tác ra môi trường như thế đó. Tâm chúng sinh là “Chánh báo” và môi trường sống là “Y báo”. Y báo tùy theo chánh báo thế nào mà thể hiện theo. Tâm hỗn loạn nóng nảy thì môi trường sẽ biến động theo; sôi động chừng nào thì môi trường khủng khiếp theo như thế đó. Còn các nhà khoa học thì nhìn thấy được nhiều yếu tố: Sự tỏa nhiệt nóng lên do sinh hoạt hằng ngày, sự bảo vệ môi trường không tốt, cùng nhiều yếu tố khác như khí thải chẳng hạn. Từ những suy nghĩ ấy người ta nghĩ đến chuyện cắt giảm khí thải bằng giảm đi các xe chạy xăng dầu; nhà máy điện bớt sử dụng khí ga; giảm sử dụng chất nilông không bị tiêu hủy theo thời gian, chúng dễ gây nên hiệu ứng nhà kính; và các thành phố tắt đèn vào một đêm nào đó để giúp bớt độ nóng của trái đất; và dùng đèn led ít tỏa nhiệt thay thế các bóng đèn củ xưa. Đó là những giải pháp tốt để đáp ứng cho môi trường. Tuy nhiên, chuyện con người mới là quan trọng! Tại sao vậy? Vì ngày xưa, con người trên trái đất không nhiều, nên sự tỏa nhiệt chưa là vấn đề, nhưng ngày nay biết bao nhiêu tỉ người thì có bao nhiêu tỉ ngọn lửa âm thầm tỏa ra năng lượng; mà chỉ cần vài tỉ người “nộ khí xung thiên” lên thì nhiệt lượng sẽ tăng hơn biết là bao nhiêu. Ấy là chưa kể đến chiến tranh tàn phá khủng khiếp, phá hoại môi trường một cách tàn khốc. Vậy thì con người phải nghĩ ra sao?

Nói chuyện lớn không bằng nói chuyện nhỏ, chuyện nhỏ nhiều ngày nó trở thành chuyện lớn. Đó là chuyện rác. Có một ngày tôi đến một quán nước hay đúng hơn là một tiệm cà phê, thức ăn. Quán khá đông người, thế mà tôi phải cố gắng nuốt cho trọn ly cà phê ấy vì dưới mặt đất, nhất là trong các góc bàn hay bìa tường đầy những đờm, khạc nhổ thật là ghê tởm. Rồi hôm khác lại đến quán bán bánh canh, người ta khen ngon, nhưng lại thấy đầy giấy tissue ở dưới đất. Tôi cảm thấy chẳng còn ngon nữa vì tục ngữ ta có câu” “Nhà sạch thì mát, bát sạch thì ngon”! Lại nữa ở những bãi biển đẹp đẽ, mà đầy miểng chai, vật liệu nilông, đầy giấy.. mà không ai dọn dẹp. Rồi đến một ngày đọc trên báo thấy những người Nhật đi xem trận đấu bóng đá quốc tế ở Brazil thì phải, xong trận ai ra về thì ra về, nhưng những người Nhật nầy lấy bao nilông lượm rác ở khu vực chung quanh bỏ vào làm cho sạch sẽ. Tại sao lại như vậy? Thì ra, khi đi đến nước Nhật mới biết dân Nhật họ rất sạch sẽ, ở dọc đường không thấy những thùng rác công cộng như nhiều nước đã có, chứ chưa nói đến những nước mà dân chúng cứ xả ra bất cứ ở nơi nào, một cách vô tội vạ! Họ được giáo dục như thế nào và từ lúc nào? Có thể từ trong nhà trường từ lúc còn nhỏ, họ không xả rác mà trong túi lúc nào cũng có các bọc để đựng rác. Ít thì họ bỏ vào bọc cho vào túi đem về nhà bỏ vào thùng rác. Nghe kể mà không biết có phải là như vậy không? Chứ kiếm thùng rác công cộng ở Nhật là hơi khó thật đó!

Nhớ lại ngày xưa, khi còn đi học ở dưới thành phố, và ở trọ trong khu vực nhà ổ chuột, đầy dân lao động của xóm Cầu Bông và bên kia bờ kênh rạch. Vào thời bấy giờ vì là thời kỳ chiến tranh khiến nhiều nơi người ta phải bỏ quê để lên sống ở nơi nầy được nhiều yên ổn hơn. Thế cho nên thành phố càng đông người, nhà sàn san sát, rồi từ đó mọi rác rến không thể giải quyết hết, người ta tha hồ quăng liệng đầy trên kênh rạch, nhất là vấn đề vệ sinh cá nhân, tiêu tiểu mỗi ngày. Chúng tôi thường xuyên dọn mâm cơm trước nhà bên bờ kênh mà ăn trước nhiều phân người nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Thế mà khi nước lên vẫn có người lội xuống đó để tắm, ghê thật! Lúc đó, nước chưa đến đỗi đen ngòm, hôi thối. Nhưng sau đó vài năm người dân phải sống chung với những mùi khó chịu và trong tình trạng tồi tệ hơn nhiều. Mọi việc vẫn chẳng có gì phiền hà và không có gì thay đổi. Sự tồi tệ vẫn tồi tệ hơn nhiều!

Có một lần tôi xem những đoạn phim phổ biến trên mạng you tube, khi mà người ta lái con thuyền, hay xuồng máy trên sông lớn. Không ngờ cứ đi được mỗi đoạn, người ta phải ngừng lại để gỡ nhiều rác rến, nilông quấn vào chân vịt của máy khiến máy có nhiều trục trặc. Hoặc nhiều nơi trên sông rạch cá bị chết nổi lên trên mặt nước. Tại sao cá lại bị chết? Đó là do vấn đề ô nhiễm, vậy vì sao bị ô nhiễm? Tất nhiên là do vấn đề xả rác từ con người và rác trong thiên nhiên. Rác trong thiên nhiên như thân, lá cây; xác động vật chết hay phân của các loài bị nước mưa hay nguồn kéo trôi vào sông rạch biển cả. Nhưng đối với những vật liệu, phế thải từ con người tạo nên thì thường ít tan rã trong thiên nhiên theo thời gian; cho nên khi rác ấy đi vào nguồn nuớc lâu ngày sẽ bị đen, bốc mùi hôi thối làm cho người ta khó chịu, lẫn các loài sống dưới nước như cá, rùa không thể chịu được và chết đi. Chúng ta thử nghĩ nếu mọi nơi rác được thải ra trôi theo dòng nước và thải ra trong biển cả thì lâu ngày thế giới sẽ ra sao? Điều ấy khiến cho con người nên suy nghĩ lại rất nhiều! Nhất là đối với loài vật thông minh nhất hành tinh như ở loài người chẳng hạn!

Rồi tôi lại nhớ lại ở một thời tại một trường học nọ. Trường được giữ gìn vệ sinh khá tươm tất. Mỗi lớp học đều có một cần ché nhỏ, vì lúc ấy không có thùng rác như bây giờ, để ở phía trước hành lang. Học sinh không thể xả rác bừa bãi mà phải bỏ rác vào trong cần ché nhỏ ấy. Cuối giờ đội trực sẽ đem đổ ra ngoài hố rác, vì vậy trường lúc nào cũng sạnh sẽ. Có nhiều lúc đứng ngoài cổng nhìn vào sân trường mà mình cảm thấy ớn lạnh vì chẳng có mảnh rác nào. Rất tiếc là thời ấy người ta chẳng có kế hoạch nào để thu gom rác ở địa phương. Như vậy trường dơ là do nhà trường không có kế hoạch. Địa phương tồi tệ là cũng do chẳng có kế hoạch nào! Đất nước tồi tệ là do nơi chính phủ chẳng hề có sự lưu tâm. Ở nơi với trình độ cao hơn, người ta chú trọng đến những sở rác và kế hoạch tiêu hủy rác như thế nào để thích hợp với môi trường. Sau đến là các địa phương gom rác ra sao bằng các khu tập kết rác để người có trách nhiệm đến thu gom hay các xe đến từng đường phố, từng nhà thu gom. Hiện nay, trên thế giới người ta còn tiến thêm một bước nữa là phân loại rác ngay trên các thùng rác để tiện việc cho phương thức tái chế các vật liệu có thể được sử dụng trở lại, vừa tiết kiệm lại vừa bảo vệ được môi trường, giảm thiểu số rác thải ra một cách hoang phí và gây nhiều ô nhiểm. Nếu sự chuẩn bị đã được tính kỹ càng thì cuộc tiến hành sẽ dễ dàng hơn. Giả sử người dân chưa có ý thức thì các phương tiện truyền thông, tuyên truyền có thể dành cả một tháng để kêu gọi vận động, hay trong một thời gian nhất định nào đó để dân chúng hiểu rõ vấn đề lẫn sự lợi hại của việc xả rác. Sau thời gian giới hạn ấy là những hình phạt xả rác từ nhẹ lúc ban đầu, đến càng nặng về sau thì tất nhiên người dân không thể không có thói quen tốt. Cuối cùng với việc giáo dục từ truyền thông, từ trong trường học một cách lâu dài thì sự sạch sẽ, bảo vệ môi trường của một đất nước sẽ được tốt giống như nước và dân Nhật đã làm. Tôi còn nhớ vào những năm giữa 1960, ông chú tôi có dịp sang Singapore; khi về ông có kể ở Singapore xã một đầu lọc thuốc hút ra đường hay một miếng rác bị phạt rất là nặng, nên đường phố rất sạch sẽ. Không có một sự tự nguyện, tự ý thức nào của con người mà không có sự giáo dục lẫn hình phạt răn đe theo sau, để họ làm theo những điều tốt và ích lợi cả! Trong mỗi con người đều có những sự phản kháng luôn có khuynh hướng chống lại những gì mà họ không thích hay bị bắt buộc. Nhưng trong một tập thể, một xã hội không thể không có các biện pháp để chế tài những ngông cuồng, chống báng, nhằm biến cho môi trường sống được tốt đẹp cả!

 

Đồ Ngông,

04/05/2026. 


Friday, May 1, 2026

*Vấn Đề VI: Nhân Quả Và Luân Hồi. (Tt)


Xem như thế thì “túi nghiệp” của ai nấy mang, và những chủng tử (hạt giống, nhân) họ đã gây nên được chứa trong túi ấy, khi đúng lúc nẫy mầm thì chính họ phải trả quả, không ai có thể thay thế cho họ được. Nếu tạo nghiệp quá nhiều thì đường về giác ngộ của họ sẽ kéo dài càng lâu sau khi đã trả hết nghiệp quả!

Ở đây, chúng tôi cũng muốn bàn thêm chút ít về vài ý niệm, mà Đạo Phật đã ví dụ cuộc đời trong cõi Ta Bà nầy như là chúng sinh chìm đắm vào trong bể khổ, đồng thời để chúng ta có thể hiểu thêm về những ý niệm cũng như về danh từ mà trong Đạo Phật người ta dùng rất nhiều gần như phổ thông. Ý niệm, hình ảnh ấy là gì?

Chúng ta để ý đến cái Phật Tánh mà Đức Phật đã nói. Mỗi con người, chúng sinh đều có Phật Tánh trong mình. Phật Tánh ấy cũng được gọi là Tâm (cái Chơn Tâm, trái với Vọng Tâm) là cốt lõi của từng chúng sinh. Đôi khi người ta cũng nói là Tâm Thức, nhưng Thức là phần nhận thức, nó là một trong 7 đại kết hợp từ lúc ban đầu trong vũ trụ, thiên nhiên. Đó là: Đất, Lửa, Gió, Nước, Hư Không, Tâm, và Thức (Thức tức là Thấy, nghe, hay, biết). Tâm kết hợp trong 7 Đại, chúng ta có thể xem nó như là “bản chất chung” của tất cả mọi chúng sinh, chúng có thể kết hợp lại với nhau mà trong Đạo Ấn Độ gọi là Đại Ngã, và Tâm từng chúng sinh là Tiểu Ngã. Với cái Phật Tánh ấy người nghiên cứu nhiều về kinh điển thì chỉ thấy Đức Phật có đề cập trong Kinh Đại Niết Bàn chứ không đề cập ở nhiều Kinh khác. Không biết điều ấy đúng hay không, nhưng quả thật trong Kinh Đại Niết Bàn ở Phẩm Tà Chánh thứ chín, Đức Phật đã có phần đề cập về Phật Tánh ấy như sau:

-Lại có Tỳ kheo giảng tuyên giáo điển đại thừa rất sâu của chư Phật rằng: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh sẽ dứt trừ vô lượng phiền não bèn thành bực vô thượng chánh giác, trừ hạng nhứt xiển đề. Nếu có người hỏi Tỳ kheo: Nhà thầy có Phật tánh chăng? Sẽ được làm Phật hay không? Tỳ kheo đáp: Chính tôi đây quyết định có Phật tánh, còn thành Phật hay không chưa có thể thẩm định. Người lại nói Đại Đức không phải hạng nhứt xiển đề, tất được thành Phật không còn nghi ngờ gì. Tỳ kheo đáp rằng: “Vâng! Đúng như lời người đã nói”.

Và:

-Dầu tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng phải do nơi trì giới rồi sau mới được thấy. Do thấy Phật tánh mà được thành vô thượng chánh giác.

Trong chín bộ kinh, không có kinh đại thừa phương đẳng, cho nên không nói có Phật tánh. Dầu không nói, nhưng phải biết là thiệt có Phật tánh.

Và trong Phẩm Như Lai tánh thứ mười hai:

-Phật dạy: “Nầy Thiện nam tử! Ngã tức là Như Lai Tạng. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh tức là nghĩa của Ngã. Nghĩa của ngã như vậy từ nào tới giờ thường bị vô lượng phiền não che đậy, vì thế nên chúng sanh chẳng nhận thấy được”.

-“Nầy Thiện nam tử! Phật tánh của chúng sanh cũng như vậy, tất cả chúng sanh chẳng nhận thấy được. Khác nào cô gái nghèo có kho vàng mà chẳng biết. Hôm nay ta chỉ bày Phật tánh sẵn có của tất cả chúng sanh hiện bị các phiền não che đậy. Như cô gái nghèo kia trong nhà sẵn có kho vàng nhưng không thấy được. Hôm nay đức Như Lai chỉ bày kho báu giác tánh cho chúng sanh, đây chính là Phật tánh”.

-“Phật tánh hùng mãnh không thể hư hoại, vì thế nên không ai có thể sát hại được. Nếu sát hại được thời Phật tánh dứt, nhưng Phật tánh trọn không thể dứt, vì không bao giờ tánh có thể dứt được”.

Có lẽ do vì như thế mà trong Đạo Phật mới có câu “Minh tâm, kiến tánh” (Làm cho tâm yên tịnh trong sáng, thì sẽ thấy được tánh); và cũng từ đó Đức Phật sau khi tìm được “tánh” của mình và trở thành Bậc Giác Ngộ đã khẳng định: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Nhưng chúng sinh bằng cách nào để tìm thấy “tánh” của mình. Đó là con đường dẫn đến “Lục Độ” với 36 Phẩm Trợ Đạo, tức là con đường đến “Đạo Đế” vậy!

Giờ chúng ta trở lại vấn đề những hình ảnh, ví dụ gắn liền với nhiều từ ngữ mà trong Đạo Phật thường sử dụng đến, nhất là với hệ phái Bắc Tông. Ví dụ ấy như thế nào?

Phật Tánh hay Tâm từng chúng sinh (Tiểu Ngã) vốn hòa hợp trong cùng một thể (Đại Ngã), cùng viên dung với 6 Đại khác (Đất, Lửa, Gió, Nước, Hư Không, Thức (thấy, nghe, hay, biết) trong vũ trụ (Pháp Giới). Nhưng vì sự vọng động của Tâm, từng chúng sinh do sự không biết, u mê (Vô Minh) mà mượn đến tứ đại để tạo nên thân xác, rồi rời cõi yên tịnh ấy bắt đầu bước vào cuộc sống khác, làm mất đi sự sáng suốt tự có của ban đầu và tiến vào vùng bể mênh mông. Nơi bước xuống đó được gọi là “Mê Tân” (bến mê); vùng bể đầy sự khổ “Khổ Hải” (biển khổ); để rồi với thân xác đòi hỏi mọi nhu cầu ăn uống, sống, ấm no,…Chúng sinh phải cung ứng nhu cầu với hành động từ “Thân”, suy nghĩ từ “Ý”, ngôn ngữ từ miệng (Khẩu) để đủ mọi cách đáp ứng các nhu cầu cho thân xác. Tất nhiên có ít thì muốn nhiều do sự “Tham”; muốn mà không được trở nên “Sân”; Sân quá không kiềm chế được thì trở nên “Si” (mê muội, u tối) mà sinh ra những hành vi “Sát, Đạo, Dâm, Vọng” để gây “Nhân” tạo nợ với chúng sinh khác. Có nhân tất phải trả “Quả”, cho nên bị lôi cuốn trong vòng vay trả, trả vay khó hề dứt: Đó là “Vòng Luân Hồi”. Chúng sinh chơi trong vùng biển khổ ấy khi thì chìm dưới đáy “Địa Ngục, Ngạ Quỷ”; hay lưng chừng “Súc Sinh”, A Tu La” hoặc ở trên mặt nước như “cõi Trời” (Thiên), thấp hơn là “cõi Người” tức “6 nẽo Luân Hồi” (Lục Đạo Luân Hồi). Nếu chúng sinh nào đó chán cuộc chơi thì quay đầu lại để lội vào bờ (Hồi Đầu Thị Ngạn) bằng cách tu hành, sống tốt tạo ít nhân Ác, nhiều nhân Thiện bằng các phương thức đến với Đạo Đế: Tích cực như “Tu Sĩ”; nửa chừng như “Tu Tại Gia” hay thường hơn “Sống Thiện Lành” tránh gây ác. Khi trả quả gần hết thì sẽ về đến bờ lúc nầy gọi là “Bờ Giác” (Giác Ngạn). Lúc bước lên bờ ấy là “Bậc Giác Ngộ”, thành Phật; cõi yên tịnh đó khi còn sống gọi là “Hữu Dư Y Niết Bàn”; và lúc chết đi thì gọi là “Vô Dư Y Niết Bàn”, và vào cõi thanh tịnh, không biến động được gọi bằng nhiều danh từ khác là: Pháp Giới, Yêm Ma La Thức, cõi Phật, Bồ Đề, Chơn Như, Pháp Tánh, Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh Trí.

 

Nguyên Thảo,

02/05/2026. 

Saturday, April 11, 2026

*Vấn Đề VI: Nhân Quả Và Luân Hồi.


Theo như bài trước, chúng ta đã tìm hiểu một cách khái quát về cuộc sống con người qua phương diện của vài phần Duy Thức, là môn Tâm Lý Học của Phật giáo, để biết được những gì con người đã suy nghĩ, hành động như thế nào? Kết quả việc làm ấy ra sao? Và chúng sẽ đi về đâu? Kết cuộc mọi hành động dù là nhỏ nhoi cũng không hề được bỏ qua như trong Kinh Địa Tạng đã đề cập đến lời Ngài Bồ Tát Địa Tạng tuyên xưng:

“Vì thế chúng sanh chớ khinh điều quấy nhỏ mà cho là không tội, sau khi chết đều có quả báo dầu đến mảy mún đều phải chịu lấy”.

Từ đó, chúng ta nghĩ lại với mọi hoạt động của con người, chúng sinh đã làm dù trong hành vi, suy nghĩ, lời nói hay một cách khác là từ “thân, khẩu, ý” trong cuộc sống đều là những “Nhân” (hạt giống). Và những nhân ấy sẽ được tích lũy vào đâu? Tất nhiên chúng sẽ được chứa vào trong cái “Tàng Thức” hay thức thứ 8, là A lại Da Thức. Khi con người mất đi thì thân xác, tiền của danh vọng, người thân như ba người vợ trước đều từ giả ta; nhưng, cuối cùng có bà vợ đi theo ta mãi mãi: Ấy là cái túi nghiệp A Lại Da Thức mang tất cả những “nhân” mà ta có theo ta mãi mãi, dù đi đến bất cứ nơi đâu trong các cõi của Vòng Luân Hồi! Dù là ở cõi Trời, cõi Người, A Tu La, Súc Sinh, hay phải “chiêu cảm” những hình phạt do tội nghiệp của mình mà ra ở cõi Địa Ngục hay Ngạ Quỷ. Vậy những cõi ấy do đâu mà có? Theo những ý thức, nhận thấy của Đức Phật Thích Ca cho biết sau khi Ngài đã “Giác Ngộ” thì con người, chúng sinh vì “mê muội” (Vô Minh) đã rời cõi thanh tịnh ban đầu, mà mượn đến các yếu tố trong vũ trụ - hay theo Phật pháp là Pháp Giới- như Đất, Lửa, Gió, Nước, Hư Không, Kiến Đại (thấy, nghe, hay, biết) để làm thân xác của mình. Do đó, mà sự sáng suốt, tự chiếu soi đã có tự trong bản chất, bị giam hãm trong cái thân xác vừa được tạo ra. Và với thân xác ấy có nhiều nhu cầu, đòi hỏi, ham muốn về vật chất lẫn tinh thần, mà “người chủ nhân” phải đáp ứng như đói, no, ấm lạnh, sướng khổ, hạnh phúc thỏa mãn hay chưa thỏa mãn… rồi nhu cầu từ ít cho đến nhiều. Mỗi việc mỗi hành động đều tạo thành một cái “nhân”. Đã có “nhân” tất sẽ có nẫy mầm để trả “quả”. Bị cuốn trong cái vòng xoay vòng ấy, Đức Phật gọi là Vòng Luân Hồi. Trong vòng luân hồi Đức Phật với Phật Nhãn thấy có sáu cõi như vừa kể trên, mà chúng sinh sẽ phải trải qua, tùy theo những nhân nào sẽ nẫy mầm trong giai đoạn đó; tức là các nhân sắp nẫy mầm đồng loạt sẽ quyết định nơi nào chúng sinh sẽ tái sinh về để nhận quả. Tất nhiên, với những hành vi của kiếp ấy, chúng sinh sẽ có tạo nhiều nhân khác vừa có thiện, ác, không thiện không ác -hay gọi bằng danh từ khác là “vô ký”- sẽ tiếp tục được bỏ vào trong túi A lại Da Thức. Nhân cứ tiếp tục gây trong kiếp kế tiếp thì quả còn liên tục kéo dài nên chúng sinh khó ra khỏi vòng luân hồi. thế cho nên trong Kinh có câu: “Bồ Tát thì sợ nhân, chúng sinh thì sợ quả” là do từ tinh thần ấy!

Trong Duy Thức có đề cập đến các tính chất mà các nhân trong túi A Lại Da Thức khởi động nẫy mầm. Có ba thứ: Dị thời nhi thục (Khác thời mà chín: tức là khác thời gian); Dị loại nhi thục (Khác loài mà chín: tức là khác loài, tùy theo loài mà có thời điểm); Diến dị nhi thục (Biến đổi khác chất mà chín giống như xoài lúc nhỏ thì xanh, lúc chín lại vàng). Do vậy, chúng ta có thể hiểu rằng: Với vô số hạt nhân trong túi Tàng Thức, có nhiều hạt giống khác nhau và thời điểm chúng nẫy mầm cũng khác nhau, cho nên có rất nhiều hạt giống sẽ đồng loạt nẫy mầm trong thời điểm kế tiếp. Chính những hạt giống ấy sẽ định chúng sinh sẽ tái sinh đi về cõi nào trong kiếp đó để trả quả. Nếu có phước đức đủ đầy với nhiều nhân thiện thì sẽ về cõi Trời để hưởng phước báu; ít hơn thì sinh về cõi Người hay A Tu La. Nhiều nhân Ác thì sẽ về cõi Súc Sinh hay Địa Ngục, Ngạ Quỷ. Tuy nhiên, nếu được về cõi người mà kiếp đó nhân Thiện nhiều hơn thì con người sẽ có tướng tốt, đẹp người, trong hoàn cảnh sung sướng, khỏe mạnh, làm ăn thuận lợi, ít gặp nghịch cảnh hơn. Còn trong kiếp ấy có quá nhiều nhân xấu thì thân người bị xấu xí, đau yếu, tàn tật, sinh ra trong hoàn cảnh đầy khó khăn, cuộc sống có nhiều vất vả, đau khổ, mọi việc không thuận lợi. Đó là những điều kiện của cá nhân mà trong Đạo Phật có danh từ gọi là Biệt Nghiệp. Còn có nhiều người liên đới có Nghiệp tương đối giống nhau trong kiếp nào đó sẽ liên kết chịu chung một số nghiệp nào đó thì họ sẽ trở thành thân thiết, dòng họ hay gia đình cùng nhau gọi bằng danh từ Cộng Nghiệp, giống như trong khoa học gọi là “cùng một chuỗi Gen di truyền” với nhau vậy!

Đức Phật cho biết mọi chúng sinh đều đã bị lôi cuốn vào trong cái vòng Luân Hồi ấy, càng vướng vào thì càng bị quay cuồng, càng tạo nhiều nghiệp khó mà thoát ra được, giống như con tằm càng nhả thêm tơ thì càng quấn chặt vào mình; hay ở những nơi có tuyết người ta ví như một vật tròn nào đó lăn trên tuyết càng lăn thì tuyết càng dính vào nhiều, bóng tuyết thì càng lớn ra, thì càng khó tháo gỡ ra hết, hay thời gian tháo gỡ phải nhiều hơn. Chúng sinh muốn thoát ra để trở thành như ban đầu sẽ vất vả khá nhiều.

Nhưng với nghiệp của chúng sinh thì không ai tháo gỡ, hay chịu thế cho ai cả như trong Kinh Địa Tạng có cho biết:

“Chí thân như cha với con, mỗi người cũng theo nghiệp của mình mà đi khác đường, dầu cho có gặp nhau cũng chẳng bằng lòng chịu khổ thay nhau”

 

Nguyên Thảo,

12/04/2026.

  

Saturday, March 7, 2026

*Vấn Đề V: Nghiệp qua Cơ Bản Của Duy Thức Học! (Tt)


 Và nhất là những cái “Ác kiến” mà ta cố giữ lấy, nghịch với cái điều mong muốn của ta khiến ta cũng trở nên “phiền não” không kém: Cái của ta mới là đúng là hay (Thân kiến), hoặc định kiến về một bên nào đó (Biên kiến), giữ chắc điều mình biết dù đó là không đúng (Kiến thủ), hay theo “Tà kiến” (mê tín, dị đoan, chấp tà) hoặc tuân theo những giới tà, giới không đúng, điều không hay không thích hợp gọi là “Giới cấm thủ”.

 

(Ác Kiến: Thân Kiến; Biên Kiến; Tà Kiến; Kiến Thủ; Giới Cấm Thủ).

 

Từ 6 cái phiền não chính yếu nầy được biến hiện theo từng giai đoạn, hoặc để diễn tả những cái tâm tính đó mà môn Tâm lý học Phật giáo phân tích cho chúng ta thấy đặc điểm của chúng trong 3 phạm vi:

-Ở phạm vi nhỏ hẹp, nên gọi là “Tiểu” (Tiểu tùy). Có 10 Tiểu Tùy: Chúng thể hiện ở con người bằng sự giận dữ (Phẫn: Giận) khi không đạt được điều mình mong muốn, hoặc đổ dồn lên người cản trở làm cho họ không thành công; hoặc dỗi hờn (Hận: Hờn), một cái tính ngấm ngầm khiến cho chính mình bị buồn phiền, đôi khi lại tìm cách hãm hại người khác để thỏa mãn sự hờn căm đó (Hại: Tổn hại). Muốn người khác không thấy, không nhìn ra điều giận dỗi, hờn căm ấy người ta thường che giấu bằng thái độ khác ở bên ngoài (Phú: Che giấu), hay bằng sự dối trá (Cuống: Dối trá); và nhẹ hơn thì mình lại buồn bã, buồn buồn (Não: Buồn buồn). Nhưng có 3 tính mà con người thường thể hiện rõ ràng trong nhiều lúc, đó là Tật (Tật đố, ganh ghét) đố kỵ với những người hơn mình; Siểm (Bợ đỡ, nịnh hót) đối với những người giàu có, quan quyền hơn mình. Để khi mình được hơn người thì trở nên kiêu căng (Kiêu: Kiêu căng) ngoài cái tính bỏn xẻn, ích kỷ không ban bố, chia sẻ vật chất cũng như tinh thần đối với người khác (Xan: Bỏn xẻn).

 

(10 Tiểu Tùy: Phẫn; Hận; Phú; Não; Tật; Xan; Cuồng; Siểm; Hại; Kiêu).

 

-Ở phạm vi rộng hơn một chút, tiếng chuyên môn hơn gọi là Trung Tùy: Có hai thứ, đó là Vô Tàm (không biết xấu hổ) và Vô Quí (không biết thẹn, mắc cỡ). Những người có hai tính nầy dễ gây những tội ác, điều không thiện vì họ có mắc cỡ, xấu hổ đâu để sợ mà không tái phạm, không dám làm.

 

(2 Trung Tùy: Vô Tàm; Vô Quý).

 

-Và có 8 Đại Tùy tức là tám tính chất nó bao trùm trên mọi tính chất khác làm cho con người khó tránh khỏi phiền não và không phân biệt được để tránh những hành động bất thiện. Đó là tâm dao động không được yên tĩnh (Trạo cữ); bị u tối thiếu sáng suốt để nhận định (Hôn trầm); không tin tưởng vào các pháp lành hoặc người ta khuyên bảo (Bất tín); hoặc biếng nhác, không siêng năng tập tành, kiểm nghiệm lại những hành động, điều thiện (Phóng dật); để rồi bị rối loạn (Tán loạn); mất chánh niệm (Thất niệm); và không biết đâu là chánh, đâu là bất chánh và không kiểm soát được hành động của mình (Bất Chánh Tri).

 

(8 Đại Tùy: Trạo Cử; Hôn Trầm; Bất Tín; Giãi Đãi; Phóng Dật; Thất Niệm; Tán Loạn; Bất Chánh Tri).

 

Ngoài 5 Tâm Sở Biệt Cảnh, 5 Tâm Sở Biến Hành, 6 Tâm Sở Phiền Não, còn có 4 Bất Định Tâm Sở, gọi như vậy vì nó không hẳn là thuộc về Thiện hay Ác. Vì ăn năn (Hối), hối tiếc vì đã làm bậy thì nó là thiện, mà hối tiếc là sao không đánh người kia thì hối tiếc nầy là bất thiện. Hay “Miên” là ngủ thì nó cũng chẳng hẳn là thiện hay là bất thiện; “Tầm” (tìm cầu) cũng tùy theo sự kiện, mục đích mới phân biệt được thiện hoặc bất thiện. Và “Tứ” (Chính chắn xét) cũng là để cho tâm được yên ổn chứ nó chưa hẳn là thiện hay ác.

 

(4 Bất Định Tâm Sở: Hối; Miên; Tầm; Tư).

 

Với những từ ngữ chuyên môn làm cho chúng ta khá khó hiểu, nhưng nếu chúng ta tìm hiểu vào con người thì chúng ta có thể tương đối dễ hiểu hơn: Vì con người có thể xác, trên thân xác có 5 giác quan để chúng ta tiếp xúc với môi trường ngoại cảnh chung quanh, khi tiếp xúc (giai đoạn Xúc, Tác Ý, Thọ, Tưởng, Tư) thì chúng ta mới có những nhận thức tổng hợp qua ý thức để rồi từ đó chúng ta mới biết cái nào đẹp, cái nào xấu; cái nào mình thích, cái nào không thích. Từ cái biết tổng quát ấy, cái “Ta” Mạt-Na-Thức mới xuất hiện Ham, Muốn (Dục, Ái) để có ý thức giành lấy, chiếm đoạt cho được để làm của “Ta” và hành động mới xảy ra (tư tưởng thể hiện ra hành động). Đối với con người Thiện thì Dục, muốn nhưng người ta còn Thắng giải, Niệm, Định, Huệ trước khi hành động. Có hai con đường mà con người để hành động, một là Thiện với những tâm tính của một người thiện lành như Tín, Tinh Tấn, Tàm, Quí, Vô Tham, Vô Sân, Vô Si, Khinh An, Bất Phóng Dật, Hành Xả, Bất Hại. Và con đường Bất Thiện với nhiều phiền não cho mình và có hại cho người trong 6 phiền não chính Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến để từ 6 phiền não ấy nẩy ra các phiền não phụ khác tàn phá và giết hại thân xác con người của chính mình và khiến mình làm những điều bất thiện đối với người khác hay xã hội. Tham: Người ta ham muốn về tiền bạc, vật chất; người ta muốn danh vọng, địa vị; người ta ham mê sắc đẹp, dục vọng xác thịt; người ta cũng muốn chiếm đoạt… những thứ mà họ thích. Họ có ít họ lại muốn có thêm nhiều (túi tham không đáy). Nếu những điều họ muốn mà bị cản trở không thành, họ trở nên giận dữ, hờn căm (Sân hận). Khi họ giận quá trở nên mất khôn, họ lâm vào “Si mê” thì họ có thể giết người, hãm hiếp, cướp giật, cướp của giết người, hay lường gạt bằng thủ đoạn, gian xảo, lừa dối tức là đi vào những điều mà Đức Phật phân tích là “Sát, Đạo, Dâm, Vọng” để gây tội ác, tạo nên nghiệp. Những nghiệp gây ra đó là những hạt “Nhân” mà con người đem bỏ vào trong túi chứa “A-Lại-Da-Thức”; đợi trong một kiếp, hay lúc nào đó hội đủ điều kiện sẽ nẩy mầm thành “Quả” mà người gây ra sẽ phải trả theo Luật Nhân Quả. Khi nào trong túi chứa A-Lại-Da-Thức không còn hạt nhân ác nữa thì khi đó con người sẽ thoát khỏi vòng Luân Hồi để được an nhiên tự tại nơi Niết Bàn vậy. Cho nên Đức Phật luôn nhắc đến 3 tính “Tham, Sân, Si” và xem chúng như là “ba món độc” khiến con người bị chìm đắm trong vòng Luân Hồi. Muốn đối trị được chúng thì chỉ có cắt đứt “Dục” và “Ái”, Vì không “Ham” và “Muốn” thì đâu có Tham, không tham thì lấy gì mà giận dữ, không giận dữ thì sao bị si mê mà lọt vào vòng sát, đạo, dâm, vọng để tạo nghiệp, không nghiệp thì chẳng có nhân, không gieo nhân thì nào có quả để mà phải Luân Hồi để trả nghiệp bao giờ.

Cái hiểu đơn giản của tôi thì như thế, viết ra để Quý vị có thêm tài liệu, có vài ý kiến tham khảo và thử ngẫm nghĩ cuộc đời xem sao; để rồi nhìn lại những mắm, muối, tiêu hành nào đó đã làm cho cuộc đời này có thêm nhiều đau khổ lại càng đầy khổ đau.

 

Nguyên Thảo,

08/03/2925. 

Friday, February 20, 2026

*Vấn Đề V: Nghiệp Qua Cơ Bản Của Duy Thức Học! (Tt)

 

Trong phần trên chúng tôi đã nhân cơ hội kể về chuyện học Cách trí (năm giác quan) ngày xưa mà bàn cùng Quý vị về Tiền ngũ thức, Ý thức, Mạt-Na-Thức cùng A-Lại-Da-Thức coi như đó là những thành tố, kết cấu lại để điều khiển thân xác con người (kể cả các loài vật) hành động và tạo tác qua mọi ước muốn; từ đó tạo thành con người năng động hay một xã hội phức tạp muôn chiều, mà chúng ta phải lặn hụp trong đó với vui sướng thì ít, mà đau khổ thì nhiều. Và với những sự kiện đó khiến xã hội hay thế giới có những biến chuyển khó lường! Những “thành tố chính”, “chủ” ấy được gọi là “Tâm Vương” trong môn Duy Thức Học bằng tiếng Hán Việt:

 

(Tâm Vương: Tiền Ngũ Thức (Nhãn thức; Nhĩ thức; Tỹ thức; Thiệt thức; Thân thức); Ý Thức; Mạt Na Thức; A Lại Da Thức).

 

để rồi từ các Tâm Vương này chúng ta có thể tìm hiểu sâu hơn về biến chuyển của con người qua các yếu tố phụ thuộc khác đã tác động vào suy nghĩ, hành động, tạo tác mà người ta gọi là “Tâm Sở”.

Ở đây, chúng tôi chỉ muốn đề cập đến các vấn đề nầy như là những sự kiện thông thường, dễ hiểu, dễ cảm nhận mà không đi đến bằng cái phức tạp, khó khăn của từ ngữ; cũng như là một sự cung cấp vài ý niệm đơn giản để sau nầy Quý vị có thích thì đi xa hơn bằng những suy nghĩ của chính Quý vị. Và đây cũng chỉ là khái quát để qua các đặc tính ác lẫn thiện đó mà Quý vị có thể nhận định hay giải thích được lý do, vì sao có những hành động mà con người đã thể hiện trong cuộc sống hàng ngày.

Qua những giác quan của cơ thể và Ý thức cũng như Mạt-na-thức, chúng ta tiếp xúc với ngoại cảnh để từ đó ta có những nhận thức về ngoại cảnh ấy, rồi ta sẽ lựa chọn. Điều đó nó được thể hiện bằng một quá trình căn bản bất biến trong mọi thời gian. Năm (5) phụ thuộc đầu tiên đó gọi theo tiếng chuyên môn ấy là “5 Tâm Sở Biến Hành” tức là khi được nhìn thấy, được nghe, ngửi, nếm mùi vị, sờ và ý thức được ngoại cảnh nào đó là qua Xúc (là đã được tiếp xúc), thì người ta mới có cái ý (Tác Ý), để rồi có nhận định lấy (Thọ) hay không? Nếu mình không thích thì có thể từ bỏ hay đưa cho người khác, còn thích thì có thể để tâm (Tưởng: nhớ tưởng, hầu chiếm đoạt hay mua sắm hay bằng cách nào để có được), và “Tư” là lo nghĩ làm sao để có, hay đạt được và đạt bằng cách nào. Nếu chúng ta chỉ cần suy nghĩ thêm một chút thì sẽ thấy trong “5 tâm sở biến hành” đó đã ngầm giải thích rất nhiều hành động mà con người đã làm trong cõi đời nầy dưới nhiều hình thức, và ở bất cứ thời đại nào.

 

(5 Tâm Sở Biến Hành: Xúc, Tác Ý; Thọ; Tưởng; Tư).

 

Sau các khởi ý ấy, sẽ có những hành động tiếp theo mà có 5 điều đặc biệt hơn (5 Tâm Sở Biệt Cảnh) để làm cho người ta đạt đến những nhận thức cao cả, không bị lôi cuốn trong cuộc chơi của trần thế, ấy là “Dục”: Mong muốn, muốn có, muốn đạt được những điều, cái mình thích; bỏ hay đừa cho người khác cái điều không thích. Nhưng người ta cũng suy nghĩ để “hiểu được rõ ràng” những hành động mình sẽ làm như thế nào (Thắng Giải) mà quyết định; và họ luôn chú tâm nhớ đến điều đó có nên hành động hay không (Niệm), đồng thời làm cho tâm trí luôn được ổn định để quyết định (Định); và khi đã quyết định thì sự quyết định cho hành động ấy rất là hợp lý, đúng đắn và sáng suốt (Huệ).

 

(5 Tâm Sở Biệt Cảnh: Dục; Thắng Giải; Niệm; Định; Huệ).

 

Trong cuộc sống con người có hai hướng chính của hành động, tạo tác; và xã hội cũng phân biệt hai hướng đó tức là Thiện và Bất thiện (hay là Ác). Những hành động Thiện tức là những hành động không đem lại sự thiệt hại cho người khác về vật chất cũng như tinh thần hay tính mạng, trái lại nó còn giúp ích cho nhiều người; còn hành động bất thiện thì ngược lại, đôi khi làm hại người khác mà chỉ đem lại lợi ích cho chính mình. Chúng được phân tích bằng 11 Tâm Sở Thiện: “Tín” là tin, mình tin vào người khác và những điều của người khác là chân thật (đối ngược lại là không tin, bất tín); ở đây chúng ta nói đến lòng tin chứ không nói đến những điều dối trá của nguời khác để làm chúng ta tin; lòng tin là điều làm cho người ta được thiện. Sự củng cố và phát triển lòng tin khiến người ta càng thiện hơn, đó là sự “Tinh tấn”. Làm người mà biết cảm thấy xấu hổ (Tàm) hay là mắc cỡ, thẹn thùng (Quí) khi làm phải một điều sai quấy thì người ta sẽ không tái phạm những điều không thiện hay ác khác hoặc là chai đá với dư luận, mọi người. Người không tham lam, mong muốn (Vô Tham) thì nhu cầu không cần đòi hỏi, cho nên không cần phải lừa đảo, dối gạt, lén lấy hay áp bức người khác để có, và cũng không cần phải giận hờn, sân hận đối với kẻ khác (Vô Sân) thì họ cũng chẳng phải bị u mê (Vô Si) mà sinh ra tội ác, làm những hành động bất thiện, cho nên họ luôn được khoan khoái, thơ thới (Khinh an). Những người có lòng thiện thì họ luôn nghĩ trước những hành động của họ sẽ có tác động gì đến người khác hay không, họ không để tâm mình buông lung mà thiếu suy nghĩ tức là “Bất Phóng Dật” vậy. Họ làm mà không cần biết đến công lao, hay chấp trưóc mà chỉ nghĩ đến sự cống hiến (Hành xả) và cái tâm niệm không làm hại đến kẻ khác (Bất hại). Đó là tất cả những tâm tính của con người để hướng con người về con đường thiện lành; và xã hội đã đánh giá đó là một con người thiện trong xã hội.

 

(11 Tâm Sở Thiện: Tín; Tinh Tấn; Tàm; Quý; Vô Tham; Vô Sân; Vô Si; Khinh An; Bất Phóng Dật; Hành Xả; Bất Hại).

 

Và trong Duy Thức cũng phân tích những điều, tâm tính mà chúng khiến cho con người có nhiều lo nghĩ, phiền não, lo toan trong cuộc sống biến cuộc đời không được an lành. Đó là Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến được gọi là 6 Tâm Sở Phiền Não). “Tham” là tính tham lam, muốn có và muốn có hơn nữa những gì mình ưa thích như tiền bạc, danh vọng, nhan sắc…Muốn mà không đạt được hay bị trở ngại thì “Sân hận”, nổi nóng có những hành động nông nổi khiến thân tâm mình không được yên ổn, và người khác phải lo sợ, lánh xa. Sân rồi sẽ đưa đến sự “Si mê” (giận quá mất khôn) sẽ làm cho mình mê muội, thiếu sáng suốt, không còn định được phải quấy và có thể có những hành động phạm tội hay trở thành ác. Rồi khi con người có được những tài năng hay thành công do có được bản lĩnh hơn người hoặc thế lực, lại sinh ra kiêu ngạo, khinh “Mạn” cũng đưa đến sự phiền não do từ những phản ứng từ bên ngoài hay người khác. Cái tâm lý “Nghi ngờ” cũng làm người ta có nhiều suy nghĩ, phán đoán không nguôi chiếm đi nhiều thời gian khiến con người không thể yên tâm, an lòng trong cuộc sống mà sinh ra có Ác Kiến với người khác!

 

(6 Căn Bản Phiền Não: Tham; Sân; Si; Mạn; Nghi; Ác Kiến).


Nguyên Thảo,

21/02/2025.


Thursday, February 19, 2026


 Kính chúc Quý Vị và gia đình một Năm Mới (Bính Ngọ 2026)

An Khang Thịnh Vượng; Hạnh Phúc tràn đầy; Vạn Sự Như Ý!