Lời Trần Tình: Những lời trần tình nầy có vẻ hơi muộn màng, nhưng
chúng tôi nghĩ cũng còn cần thiết khi trình bày cùng Quý Vị. Đúng ra, từ khi đi
vào chủ đề: “Vấn đề VIII- Tại sao Đức Phật nói là thị hiện?” thì chúng tôi cần
trình bày rõ hơn cho Quý Vị biết, nhưng chúng tôi đã không nghĩ đến điều ấy; đến
nay thì chúng tôi nghĩ lại, cần phải viết để Quý Vị hiểu hơn! Điều đó là gì?
Đó là sự trích dẫn những đoạn trong các
Kinh điển qua các bài viết. Cái vấn đề ở đây không phải là thỉnh thoảng, mà là
sự trích dẫn rất nhiều đoạn Kinh đưa vào bài tìm hiểu của mình về Đạo Phật. Thực
ra, chúng tôi chỉ muốn trình bày lại con đường “Đi tìm hiểu vào Đạo Phật” của mình
cùng Quý Vị, theo cái trình tự mà chúng tôi đã thâm nhập, nhất là khi đọc đến bộ
“Phật Học Phổ Thông” của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa. Trong đó, chúng tôi tìm thấy
được các điều kỳ thú ở những Kinh Lăng Nghiêm, Viên Giác và Kinh Kim Cang. Không
biết Hòa Thượng dịch hay lược dịch hoặc đăng tãi có đầy đủ nội dung các Kinh không?
Nhưng, cũng khiến chúng tôi lấy làm thích thú mà ghi chú những điều mình hiểu căn
bản, cùng “sao chép để tìm hiểu lại” về sau nầy! Đến nay những điều ấy có dịp được
gửi đến Quý Vị cùng tìm hiểu thêm với chúng tôi. Tuy nhiên, chúng tôi đã không
ghi lại cái số được “đánh số” cho từng đoạn Kinh được trích ra. Nay mạn phép ghi
lại và giữ chúng như là những kỷ niệm cùng là cái “tiến trình tuần tự” khi chúng
tôi đi tìm hiểu vào Đạo Phật. Tỉ như đoạn sau:
*49 -Bạch Thế tôn! Bồ
đề, Niết bàn, Chơn như, Pháp tánh, Yêm ma la thức, Không Như Lai tạng và Ðại viên
cảnh trí, bảy danh từ tuy khác, chớ cũng đồng một quả Phật thanh tịnh thường
còn không hoại. (556)
Trong đoạn Kinh nầy có hai số: 49 là số thứ
tự chúng tôi trích ra trong Kinh khi tìm hiểu và số sau 556 là số trang có đoạn
Kinh ấy trong bản điện tử sau nầy. Tuy nhiên, chúng tôi xin Quý Vị chú ý: Do bản
đánh máy trong trang điện tử chưa được sửa chữa, hoàn chỉnh; cho nên có vài sai
sót về chính tả hay thiếu vài chữ khiến chúng ta khó hiểu về đoạn Kinh ấy. Đó là
vấn đề, và chúng tôi cũng mong rằng Quý Vị sẽ có dịp đọc kỹ các Kinh ấy, để có
thể khám phá được những điều sâu xa hơn, mà chúng tôi chưa đạt đến. Và cứ xem các
điều cung ứng hôm nay, chỉ là các bước khởi đầu chưa thông thạo của chúng tôi được
gởi đến, nhằm làm tài liệu tham khảo cho Quý Vị mà thôi! Và thêm một điều khác
là chúng tôi dùng chữ “chúng sinh” thay vì chữ “chúng sanh” như của Hòa Thượng
Thích Thiện Hoa, vì chúng tôi thấy chữ “chúng sinh” nghĩa nó mạnh hơn, nên chúng
tôi đã dùng từ trước, nên mong Quý Vị không thắc mắc về điều ấy. Dù sao, hai từ
ngữ ấy đều cùng một nghĩa! Chúng tôi xin chân thành cảm tạ đến sự quan tâm của
Quý Vị. Cám ơn nhiều!
Nguyên Thảo kính cẩn.
1-Trong hai vấn đề IX và X trên
chúng ta đã tìm hiểu về Kinh Lăng Nghiêm, tìm hiểu những điều Đức Phật thuyết
giảng về những yếu tố viên dung với nhau để tạo nên toàn cõi Hư Không hay Pháp
Giới; trong đó có yếu tố Chơn Tâm của từng chúng sinh cùng “viên dung” với nhau
tạo thành cõi Chơn Tâm chung trong vũ trụ. Nhưng do vì “Sự không biết” (Vô
Minh) mà chúng sinh bắt đầu có Vọng Tâm và cái Tâm Phân Biệt bèn tách rời ra, rồi
mượn đến các yếu tố Đất, Lửa, Gió, Nước mà tạo thành thân xác của chính mình. Từ
đó, thân xác lại che khuất cái sự “Trong Sáng” tự có của Tâm, để rồi mượn đến yếu
tố “Thức Đại” mà nhìn thế gian trần cảnh qua sáu Thức, và lại mượn Hư Không để được
tăng trưởng và lớn lên. Bắt đầu từ sự có thân xác ấy, mọi nhu cầu đòi hỏi về tâm,
sinh lý cho đến sự đối chọi với môi trường xung quanh, chúng sinh đã phải chiến
đấu để tồn tại qua các hành động sát, đạo, dâm, vọng. Do từ sự đáp ứng nhu cầu,
có những điều khiến ta ham thích (Ái), rồi lại muốn nhiều hơn (Dục), khiến ta
không thoát được ba điều “Tham, Sân, Si” mà tạo Nghiệp. Do Nghiệp mà chúng sinh
phải chịu lăn lộn trong vòng “Vay trả, trả vay” (Luân Hồi), càng ngày càng sâu đậm
hơn, không thoát ra được. Chính vì vậy mà Đức Phật dẫn giải trong Kinh là do Vọng
Tâm và Tâm Phân Biệt là nguồn gốc của mọi chúng sinh và sự thành hình thế giới.
Cho nên, để dứt mọi nguồn gốc, chúng sinh phải quay trở về, dứt mọi Nghiệp chướng,
lột bỏ mọi Nhân xấu, hành Thiện để tránh Quả tương lai, để trở lại với cái Chơn
Tâm trong sáng thuở ban đầu.
Sau khi giảng giải, chỉ rõ những điều đã
sản sinh ra thế giới, chúng sinh; Đức Phật hướng dẫn chúng sinh “sửa đổi” (Tu Hành)
như thế nào để đạt được kết quả, cùng cảnh giác những chướng ngại sẽ gặp trên
con đường tu hành.
Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào môt Kinh khác
mà Hòa Thượng Thích Thiện Hoa đã chọn cho chúng ta trong bộ sách Phật Học Phổ Thông
của Ngài. Đó là Kinh Viên Giác! Với Kinh nầy, Đức Phật cho chúng ta biết rõ hơn
về phương pháp Tu; cũng như các điều cần thiết mà người tu hành cần đạt, để tiến
đến cái đích sau cùng là “Cứu Cánh”. Phải chăng vì thế mà tên Kinh có tên là Viên
Giác chăng? (Viên: Tròn đầy, viên mãn; Giác: Hiểu biết, giác ngộ). Chúng ta, bắt
đầu vào vấn đề và chúng tôi mong đây chỉ là phần: “Cung ứng tài liệu” cho Quý Độc
Giả mà thôi, chứ không phải là bài giảng giải, vì thiết nghĩ chúng tôi không đủ
khả năng để làm việc ấy! Xin kính mời:
Nếu trong Kinh Lăng Nghiêm chúng ta có đoạn
Kinh khi A-Nan bạch cùng Đức Phật:
-Bạch Thế tôn! Bồ đề, Niết bàn, Chơn như,
Pháp tánh, Yêm ma la thức, Không Như Lai tạng và Ðại viên cảnh trí, bảy danh từ
tuy khác, chớ cũng đồng một quả Phật thanh tịnh thường còn không hoại.
Thì trong Kinh Viên Giác nầy chúng ta lại
có đoạn Kinh sau:
2- Phật trả lời cho Ngài Văn Thù - Này
thiện-nam, Như-Lai có pháp “Ðại Ðà-la-ni” (1) tên là “Viên-Giác”. Từ tánh “Viên-Giác”
nầy mà sanh ra tất cả các pháp thanh-tịnh: Chơn-như, Bồ-đề (Trí-giác) Niết-bàn
(viên-tịch) và Ba-la-mật (Ðáo-Bỉ-Ngạn), nay ta sẽ dạy trao cho các ông. (633)
Với các đoạn Kinh nầy cho chúng ta hiểu hơn,
thêm về ý nghĩa bao la của nhiều danh từ được dùng trong các Kinh điển, khi nói
về “cứu cánh” của con đường tu mà Đức Phật truyền lại cho đời sau. Trong Kinh nầy
Đức Phật đề cập đến pháp Đại ĐàLaNi hay là Viên Giác. Pháp nầy như thế nào? Đức
Phật thuyết:
3- Nầy Văn-Thù, nhơn-địa tu-hành của các
đức Phật, đều y “Viên-Giác” nầy mà vĩnh-viễn đoạn trừ vô-minh, được sáng-suốt
thanh-tịnh viên-mãn, nên mới được thành Phật. Vậy Vô Minh là gì? (633)
Sau đó, Đức Phật giải thích Vô Minh như
sau:
4- Vậy “Vô-minh” là gì? Nầy Thiện-nam, tất
cả chúng-sanh từ hồi nào đến giờ, bị nhiều món điên-đảo làm mê-mờ tánh
“viên-Giác”, như người lạc đường, lầm lộn bốn phương. Ðiên-đảo vọng- hiện ra
thân và tâm, rồi lầm nhận thân tứ-đại giả hợp nầy làm thân mình, chấp cái vọng-niệm
sanh diệt duyên theo bóng-dáng của sáu trần cho là thật tâm mình. Như người nhặm
con mắt, thấy trong hư-không có các hoa đốm, hoặc mặt trăng thứ hai. Thật ra
trong hư-không chẳng có hoa đốm hay mặt trăng thứ hai, nhưng vì người nhặm con
mắt vọng-chấp. Bởi vọng-chấp, nên chẳng những không biết được hư-không, mà lại
thêm mê-lầm: Chấp thật có hoa đốm sanh. Vì mê-lầm mà có sanh-tử luân-hồi, nên gọi
là “Vô-minh”. (633-634)
Và Vô Minh ấy như thế nào?
5- Phật dạy “Vô minh” không có thật thể -
Nầy thiện-nam! Cái “Vô-minh” này không có thật thể (thật vật). Như người ngủ
chiêm-bao, thấy các cảnh vật, đến khi thức rồi, thì cảnh vật kia không còn; và như người hết nhặm, thì các hoa đốm trong
hư-không tự tiêu-diệt. Lúc bấy giờ không thể nói “thật có chỗ hoa diệt”, vì
không thật có chỗ hoa sanh vậy. (634)
6- Tất cả chúng-sanh ở trong cái “không
sanh diệt” (tánh Viên-Giác) mà vọng thấy có sanh-diệt, cho nên mới bị trầm luân
trong biển sanh-tử luân-hồi. (634)
Còn các Đức Phật được thành Phật nhờ tu theo
“Viên Giác”:
7- Phật dạy tu theo “Viên giác” - Nầy Thiện-nam,
nhơn-địa tu-hành của Như-Lai là tu theo Viên-Giác. Nghĩa là: biết các pháp đều
hư-huyễn, như hoa đốm giữa hư-không có người chịu sanh-tử luân hồi. Không phải
phá hoại, làm cho các pháp mất đi mà kêu là không, chính bản-tính của các pháp
nó tự không. Cái “biết (năng biết) các pháp không” đó, cũng như hư không. “Cái
biết như hư-không”, cũng không luôn. Nhưng không thể nói: “không có cái biết”.
Phải dứt trừ hết cả “có” và “không”, như thế mới gọi là “tùy thuận tánh
Viên-giác” (tu Viên-Giác). (635)
8- Phật và Bồ Tát đều tu theo “Viên Giác”
Tại sao thế? Vì trong Như-Lai-Tạng (Viên-Giác) không có sanh diệt, không có
thấy biết, như hư-không thường còn, chẳng lay động, như tánh của pháp-giới
viên-mãn khắp giáp cả mười phương. Ðây gọi là chỗ nhơn-địa tu-hành của Như-Lai,
các vị Bồ-tát cũng nhơn nơi đây mà phát tâm thanh-tịnh tu theo Ðại-thừa.
Chúng-sanh đời sau cũng phải y theo đây tu hành, mới khỏi đọa vào tà-kiến. (635)
Sau chương Văn Thù, thì đến chương “Phổ Hiền”,
Kinh đề cập sự “huyễn hóa” cảnh vật từ Tâm của chúng sinh, phát sinh từ “Vô
Minh”. Sự huyễn hóa đó đều không có thật, nhưng chúng sinh cứ nghĩ là thật rồi đeo
đuổi theo chúng; khiến chúng sinh bị mãi lăn lộn trong vòng Luân Hồi. Nếu xa lìa
được sự huyễn hóa đó thì chúng sinh sẽ được sự “Giác Ngộ”:
10- Này thiện nam! tất cả các cảnh vật huyễn
hóa (thế giới, chúng sanh) của chúng sanh, đều sanh trong tâm Viên Giác mầu nhiệm
của Như Lai. Các pháp hư huyễn có diệt, mà tánh Viên Giác vẫn không diệt. Cũng
như hoa đốm sanh trong hư không, các hoa đốm hư huyễn kia có hoại diệt, mà tánh
hư không chẳng hề hoại diệt. (640)
11- Khi các huyễn cảnh diệt rồi, thì cái
huyễn tâm của hành giả cũng theo đó mà diệt luôn. Ðến khi các huyễn (năng và sở)
đều diệt hết, thì cái tâm Viên Giác không vọng động tự hiện. Bởi đối với vọng
huyễn mà nói “Viên Giác” nên Viên Giác cũng trở thành vọng huyễn, vì còn ở trong
vòng đối đãi vậy. Ðến cảnh giới này, nếu nói “có viên Giác” thì chưa rời vọng
huyễn đã đành, mà nói là “không Viên Giác” thì cũng chẳng rời được vọng huyễn. (641)
12- Thế nên, các vọng huyễn (có và không)
đều phải bị diệt hết rồi, mới gọi là Viên Giác. (641)
13- Này thiện nam! Khi biết được các pháp
hư huyễn, tức là lìa được các huyễn, chớ không cần phải có phương tiện gì khác.
Lìa được các huyễn tức là “giác” cũng không có lớp lang tuần tự gì. (642)
Nguyên Thảo,
19/10/2026.