Friday, February 6, 2026

*Vấn Đề V: Nghiệp Qua Cơ Bản Của Duy Thức Học!


Khi đề cập đến vấn đề nầy, chúng tôi lại nhớ đến truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Bộ truyện ấy cũng là kỷ niệm đáng nhớ của mình trong thời niên thiếu. Thuở ấy chúng tôi mới vào học ở lớp Ba của trường Tiểu học trong làng quê. Học chung có thằng bạn tên Nghi, nhà nó có quen thân với nhà đối diện bên kia đường của Bác Ba Keo. Nhà đó cho mướn truyện Tàu và tiểu thuyết để ai thích thì đến mướn đem về nhà đọc. Trong khoảng thời gian ấy lại có phong trào người ta thích kể về chuyện Tam Tạng đi thỉnh kinh, trong đoàn nổi bật là Tôn Hành Giả. Nhân vật nầy rất thu hút bọn nhỏ của chúng tôi. Vì vậy, một ngày tôi lên chơi với Nghi, thì Nghi hỏi muốn xem chuyện Tề Thiên Đại Thánh hông? Tôi tò mò trả lời “Muốn”. Thế là Nghi đến nhà Bác Ba hỏi mượn truyện Tây Du Ký về hai đứa xem. Hai thằng nhỏ kiếm một cái hốc ở góc nhà bên cạnh gốc cột, chui vào đó mà lật từng trang quyển truyện, rồi xúm nhau đọc. Đứa nào đọc xong trước rồi đợi đứa sau mới lật sang trang kế tiếp. Đọc mê quá, rồi cứ mỗi chiều hai đứa lại chui vào cái hốc đó mà đọc tiếp tục. Một ngày nọ, má tôi có việc cần nhưng không thấy ở nhà, bà đi kiếm và kêu về cho tôi một trận đòn đích đáng, và cấm hẳn tôi không được xem truyện nữa. Thế là từ đó, tôi không còn thói quen mê đọc truyện.

Lớn lên, khi vào Trung học bạn bè thường hay nói về truyện nầy truyện nọ, đứa thì kể về truyện Tàu, đứa nói về truyện kiếm hiệp. Tôi chằng biết chuyện nào cả kể cả những chuyện của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, hay tiểu thuyết nổi tiếng thời bấy giờ như “Tuấn, chàng trai nước Việt” của Nguyễn Vỹ; “Phi lạc Sang Tàu” của Hồ Hữu Tường; hoặc “Đò Dọc” của Bình Nguyên Lộc, “Yêu” “Ghen” “Sống” của Chu Tử. Thế rồi, tôi cũng được đọc vài quyển truyện hay tiều thuyết một cách muộn màng do bạn bè cho mượn vì nó khen quá hay.

Thế nhưng, đến một ngày khá lâu sau đó có ông thầy là Thầy Nguyễn Duy Cần lại đề cập đến truyện Tây Du Ký vì nó mang tính chất khá quan trọng trong Đạo Phật. Những nhân vật được kể trong đó đều tượng trưng cho một tính cách của con người, mặc dù những nhân vật ấy đều tưởng tượng ngoại trừ Đường Tam Tạng. Tác giả mượn chuyện Đường Tam Tạng đi sang Tây Trúc (Ấn Độ) để học hỏi về Đạo Phật mà trong truyện được kể như là “Đi thỉnh Kinh”, rồi tác giả Ngô Thừa Ân mượn các con vật, mỗi con vật tượng trưng cho đặc tính của con người mà thêu dệt nên câu chuyện “Tây Du Ký” hay bọn nhỏ chúng tôi thường gọi nôm na bằng “Chuyện Tề Thiên Đại Thánh”. Gọi như thế có lẽ vì Tề Thiên Đại Thánh là con khỉ chọc trời khuấy nước dám đánh lên tới cả ông Trời và khiến cho triều đình nhà Trời phải “thất điên bát đảo” và phải phong cho con khỉ đó là “Tề Thiên Đại Thánh”. Tuy nhiên, con khỉ ngang tàng đó vẫn không thoát khỏi bàn tay của Phật Tổ dù vận dụng thần thông đằng vân đi đến đâu. Bọn nhỏ chúng tôi khoái con khỉ đó vì nó mang cái tính ngang tàng vốn có trong con người của mình dù cái thân của mình chỉ còn chút xíu. Nói chung lại, cả hai con vật Khỉ “Tề Thiên Đại Thánh” hay là “Tôn Ngộ Không” và con Heo ham ăn, ham ngủ, ham mê nữ sắc, ham mê nhiều thứ “Trư Bát Giới” thì cũng là điều hấp dẫn đối với con nít chúng tôi! Còn Sa Tăng thì không có gì lôi cuốn cả, cho nên nó không được chúng tôi quan tâm nhiều.

Rồi, đến khi tôi có thì giờ tìm hiểu vào Đạo Phật, nhất là khi đọc ngấu nghiến bộ Phật Học Phổ Thông của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa do vị sư thân thuộc tặng cho, để hiểu chút nào về giáo lý Đạo Phật. Khi đọc về phần Duy Thức Học thì chúng tôi cũng mường tượng được những điều phân tích tổng quát, mà triết lý của môn “Tâm Lý Học Phật Giáo” nầy cung ứng; mặc dù những phần về Siêu Hình thì quá khó chúng tôi không thể lĩnh hội. Quả thực, môn Duy Thức Học hay còn gọi là Tâm Lý Học Phật giáo đúng là thật khó hiểu, khó lĩnh hội được, cho nên hiểu hết tất nhiên chúng tôi không thể nắm bắt được. Tuy nhiên về tổng quát môn nầy giúp cho chúng tôi có thể hiểu phần nào, và giải thích được kết quả những gì mà con người hành động cùng chịu trách nhiệm về những việc làm của mình trong cuộc đời, tức là những gì đã tạo nên “nghiệp”, đã tạo thành “nhân” để sau nầy phải trả “quả”; đó là nguyên nhân của chuyện “sinh tử trong luân hồi”!

Theo như quý vị sư, học giả chú trọng vào sự phân tích các nhân vật của Tây Du Ký thì có nhiều cái nhìn khá khác về chuyện Tây Du Ký và các nhân vật. Theo bọn con nít chúng tôi thì các nhân vật, nhất là con khỉ Tề Thiên Đại Thánh là con vật năng động, khôn ngoan, chọc trời khuấy nước là thần tượng với sức sống năng động của mình dù thân thể chỉ còn chút xíu. Còn Trư Bát Giái, chúng tôi thích chữ “Giái” hơn là chữ “Giới” vì nó mang được tính cách hơi tục, nhưng cũng nói lên được tính cách của anh chàng “con heo lòng” thích ăn, ham ngủ, nạnh hẹ, ham mê nữ sắc mà con người nào, nhất là con trai, nam giới đều có ở trong con người của mình. Và bây giờ, con người, những nhà nghiên cứu lại có nhiều cái nhìn, quan niệm về Tây Du Ký vì có thể tìm thấy trong Tây Du Ký những bài học để dạy cho con cái, hay những nhà chính trị khai thác về các lĩnh vực của họ. Chúng ta không rõ mục đích của Ngô Thừa Ân khi sáng tác ra chuyện Tây Du Ký như thế nào, chứ ngày nay nhiều học giả cho rằng Tây Du Ký mang tính chất người ra giúp nước; phản ánh sự đấu tranh của người dân; ca tụng sự phản kháng của chính nghĩa; ca tụng sự vùng lên của dân qua nhân vật tôn Ngộ Không; sự kiên trì, bền bỉ, vượt gian lao của các nhân vật đi thỉnh kinh cũng như quan niệm Tây Du Ký là một sổ tay đi thỉnh kinh của tôn giáo; một câu chuyện ngụ ngôn, hay là chuyện đùa cợt cuộc đời đôi khi có hơi đùa cợt về Đạo Phật vì có những đòi hối lộ… Có lẽ với “phong trào moi tìm những ngóc ngách” vào truyện nầy thì trong tương lai sẽ có nhiều quan niệm khác nữa tùy theo người đọc và nhận xét mà họ tìm ra. Tuy nhiên, truyện Tây Du Ký cũng thoát ra ngoài cái chuyện Đường Tăng đi sang Tây Trúc để thỉnh kinh của Ngài Đường Tam Tạng vì Ngài đã tốn những 17 năm đến Ấn Độ vừa đi, vừa học và vừa về; để sau đó Ngài đã bỏ công sức để dịch tam tạng kinh điển của Đạo Phật từ Phạn Văn sang Hán Văn mà phổ biến ở Trung Hoa, cũng là phần lớn cho nền Phật Giáo ở Việt nam.

Đó là những quan niệm bên lề của truyện Tây Du Ký, nhưng dù gì Tây Du Ký vẫn phản ánh câu chuyện đi thỉnh kinh đến Ấn Độ của Đường Tam Tạng mà các quan niệm Phật giáo vẫn phổ biến, mặc dù chuyện có vài chi tiết không thể hiện đúng với đường hướng trong giới nghiên cứu hay thực hành đạo Phật. Có cái nhìn các nhân vật đi theo Đường Tăng trên đường thỉnh kinh như Tôn Ngộ Không, con khỉ nầy giống như cái Trí khôn nhìn thấy biết nhiều chuyện nhưng đầy sự Sân Hận; còn Trư Bát Giới giống như con heo lòng đầy mong muốn, tham lam, ham nhiều thứ đại diện cho sự Tham Lam của con người; Sa Tăng đại diện cho sự Ngu Si chỉ làm theo nhu cầu, bản năng không có sự suy tính, năng động; Và con ngựa Bạch mã tượng trưng cho sức khỏe, sự mạnh mẽ của cơ thể để có thể đạt được mục đích trên con đường thỉnh kinh. Còn một cái nhìn khác là qua môn Duy Thức: Đường Tăng tượng trưng cho con người giống như cái Tàng Thức tức Đệ Bát Thức trong môn học ấy; Tôn hành Giả là Ý Thức tức Đệ Lục Thức và Trư Bát Giới đại diện cho Đệ Thất Thức là Ý Thức nhưng ý thức nầy hướng về con người của mình tức nặng phần Chấp Ngã. Còn con ngựa tượng trưng về phần Sắc trong Ngũ Uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Thế là với cái nhìn nầy hướng về Duy Thức Học mà chúng ta muốn được tìm hiểu để có thể hiểu hơn chút nào về con người của chúng ta theo quan niệm của Đạo Phật.

Theo Duy Thức Học tức là môn học phân tích về con người mà người ta dùng một danh từ khác là Tâm Lý Học Phật Giáo. Nói đến Tâm Lý là một phần học được xếp đặt trong môn Triết Học bao gồm Tâm Lý, Đạo Đức và Luận Lý mà người ta đã nghiên cứu. Nhưng trong Tâm Lý Học Phật giáo khá khác biệt hơn là đào sâu hơn nữa về sự phân tích đối với con người để từ đó có thể giải thích những điều thâm sâu về con người sẽ trải qua trong quá trình sống và tái sinh trong cõi Luân Hồi.

Theo như chúng ta học từ hồi còn nhỏ về môn Cách Trí hay sau nầy đổi lại là Khoa Học Thường Thức thì con người có 5 giác quan dùng để nhận biết những gì bên ngoài ảnh hưởng đến thân thể của mình như: Mắt (Thị giác) để nhìn, thấy, quan sát; Tai (Thính giác) để nghe; Mũi (Khứu giác) để ngữi, nhận biết các mùi; Lưỡi (Vị giác) để nếm, nhận biết các vị chua, đắng, ngọt, cay…; và Da (Xúc giác) để rờ, đụng chạm nhận biết các tình trạng các thứ mà sờ, đụng, tiếp xúc đến. Nhưng trong Tâm Lý Học Phật Giáo vẫn có các giác quan ấy nhưng phân tích kỹ hơn và xem các giác quan trước hết mắt, tai, mũi, lưỡi, da xem như là thân thể, tất cả đó là “Căn” gọi là Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỹ căn, Thiệt căn, Thân căn; và ở phần nầy thêm một phần khác là ý nghĩ gọi là Ý căn. Đó là Lục căn. Lục căn nầy sẽ tiếp xúc với các thứ bên ngoài gọi là Lục trần:

-Mắt (Nhãn căn) để nhìn được hình dáng, màu sắc (Sắc trần),

-Tai (Nhĩ căn) để nghe âm thanh, tiếng động (Thanh trần),

-Mũi (Tỹ căn) để ngữi các mùi (Hương trần),

-Lưỡi (Thiệt căn) để nếm được các vị (Vị trần),

-Thân (Thân căn) để sờ mó, đụng cham mọi vật (Xúc trần),

-Ý (Ý căn) là những suy nghĩ về mọi vật, hiện tượng hữu hình lẫn trừu tượng (pháp trần).

Từ các căn nầy mà con người, sinh vật mới tiếp xúc được những gì trong trần gian để rồi mới nhận biết về chúng mà được gọi là Thức. Sáu giác quan sẽ có sáu thức mà tiếng Hán Việt gọi là Lục Thức, tức là Nhãn thức (của mắt), Nhĩ thức (của tai), Tỹ Thức (của mũi), Thiệt thức (của lưỡi), Thân thức (của thân). Năm thứ nầy gọi chung lại bằng danh từ “Tiền Ngũ Thức” mà trong truyện Tây Du Ký người ta cho là Sa Tăng đóng vai trò ấy; tức là chúng chỉ thấy, nhận biết thôi sự vật chỉ là như thế thôi. Nhưng cái anh quan trọng hơn là Ý Thức giống như cái bộ não mới tổng hợp, phân tích lại để biết sự vật, hay sự kiện bên ngoài như thế nào để chọn, đánh giá các tính chất của chúng giống như vai trò thông minh, đầu óc sáng suốt, phân biệt được rõ ràng như thế nào giống như là Tôn Ngộ Không. Phần nầy danh tử chuyên môn gọì là Ý Thức hay Thức Thứ Sáu, vì nó đến sau 5 thức kia. Xong đến anh Thức Thứ Bảy hay một danh từ khác khá lạ là Mạt Na Thức làm nhiệm vụ. Mạt Na Thức người ta cũng cho là Ý căn, nhưng các ý nầy không phải là nhận định tổng quát mà nó lại ý chiếm hữu, lấy đem về cho bản thân mình giống như sự sanh nạnh, ham ăn, thích ngủ, sung sướng...như là Trư Bát giới vậy. Ý thức ấy chỉ là mục đích cho mình, cho cái Ngã của ta. Còn Đường Tam Tạng như thế nào cũng nhận, cũng chịu giống như một cái túi đựng mọi việc, mọi hậu quả mọi cái “nhân” đưa đến dù nó là Thiện hay Ác; hay không thiện, không ác gọi là (Vô Ký). Thức nầy gọi là Thức Thứ Tám hay các danh từ đặc biệt khác là Tàng Thức (thức chứa), hoặc A Lại Da Thức.

 

Nguyên Thảo,

07/02/2026.

  

Friday, January 23, 2026

*Vấn Đề IV: Những Trụ Đá Của Vua A-Dục. (tt)

 

Theo như chúng ta đã biết ở trên: Dưới triều đại của vua Ashoka, Đạo Phật đã phát triển mạnh mẽ nhờ vào sự thay đổi cái nhìn về các cuộc tàn ác của chiến tranh; nhất là sau trận chiến ở Kalinga, cuộc chiến khiến Ông đã theo tư tưởng của Đạo Phật, cùng thay đổi về con người. Từ đó, Ông hộ trì Phật Giáo cho xây nhiều chùa chiền, dựng các trụ đá và xây bảo tháp ở khắp trong lãnh thổ do Ông cai trị cho đến vùng Iran, Afghanistan, Trung Á. Không những thế, Ông còn gởi các đoàn truyền giáo đi các nơi để phổ biến về đạo Phật, kể cả hai người con đi sang Tích Lan để rao giảng. Trong thời, Ông còn cho cữ hành cuộc kết tập lần thứ III toàn bộ Tam tạng kinh trong vòng 9 tháng ở Pataliputta dưới sự chủ trì của Moggaliputta Tissa cùng khoảng 1,000 vị tì kheo ưu tú. Ở lần kết tập nầy, kinh điển được ghi chép lại bằng tiếng Pali viết trên lá bối (lá buông).

Tuy nhiên, đến Thế kỷ thứ 7 thì Đạo Phật lần bị suy vi, và biến mất trên đất Ấn Độ từ cuối Thế kỷ thứ 12. Với sự kiện hiếm hoi nầy, những người nghiên cứu về Đạo Phật, cũng như các nhà sử học lẫn học giả cố gắng truy cứu, tìm hiểu thì có thể do các nguyên nhân sau:

1/- Do sự phân hóa trong Đạo Phật: Vì từ Thế kỷ thứ 7, Đạo Phật đã có nhiều tông phái mới xuất hiện cùng các đường lối dị biệt khiến phẩm chất bị mất dần ảnh hưởng trong dân chúng. Lại nữa, với sự ra đời của phái Mật Tông đã khiến Đạo Phật không xa mấy với Ấn Độ giáo.

2/- Sự xuất hiện của Đạo Hindu hay là Ấn Độ Giáo, tức là sự cải đổi ít nhiều từ căn bản của Đạo Bà La Môn (danh từ Hán Việt phiên âm từ từ ngữ Brahman); do trước đó Đạo Bà La Môn đã có thời kỳ truyền bá rất là rộng rãi trong xã hội Ấn Độ cổ xưa, nhưng sau bởi sự ra đời của Đạo Phật khiến Đạo Bà La Môn bị suy thoái. Tuy nhiên, đến thế kỷ thứ 8, thứ 9 thì Đạo Bà La Môn biến đổi, có thêm nhiều yếu tố mới; trong đó đạo nầy xem Đức Phật chỉ là một hóa thân của Thần Vishnu và biến thành tôn giáo mới là Hindu. Đồng thời, tín đồ theo Phật lại bị bức hại vì trước kia khi Phật giáo thịnh hành, nhiều người thuộc giai cấp hạ tiện của Bà La Môn đã bỏ theo khá nhiều làm cho đạo bị suy yếu; nên sự bức hại lúc nầy được xem như là sự trả thù của người theo Đạo Bà La Môn. Hơn nữa, trên giáo lý có nhiều điểm khá tương đồng về Luân Hồi, tái sinh, nghiệp báo, cho nên người theo Đạo Phật dần quay trở lại với Đạo Hindu cải tiến nầy. Thế rồi, trong vài thế kỷ sau lại một nguyên nhân khác khiến Đạo Phật khó tồn tại tại nơi sản sinh ra nó.

3/- Đó là sự xăm lăng của Hồi Giáo: Trước hết chúng ta sẽ xét qua vài điều trong Kinh Thánh phần Cựu Ước để có thể thấy rõ hơn nhiều vấn đề liên quan. Trong chương “Xuất Ê-Díp-Tô ký” có các đoạn sau:

“Ngươi chớ quì lạy và hầu việc các thần chúng nó; chớ bắt chước công việc của họ, nhưng phải diệt hết các thần đó và đập nát các pho tượng họ đi. Ngươi hãy hầu việc Giê-Hô-Va Đức Chúa Trời ngươi” (23:22-25)

Và:

“Nhưng các ngươi hãy phá hủy bàn thờ, đập bể pho tượng và đánh hạ các thần chúng nó” (34:13)

Tại sao chúng ta cần phải chú ý đến các đoạn ấy? Vì rằng Hồi Giáo vẫn xem Kinh Cựu Ước và Tân Ước là kinh sách của Thánh Allah. Và các Ngài như Adam, Noah, Abraham, Moise, Jesus đều là các sứ giả đến trước Muhammed, và Muhammed là vị Sứ Giả cuối cùng. Vả lại Muhammed trước khi thành lập Hồi Giáo cũng rất tường tận Đạo Do Thái lẫn Thiên Chúa Giáo, tất nhiên có sự rút kinh nghiệm từ các tôn giáo có trước nầy không phải là điều không có.

Ở đây, chúng ta sẽ đi ra ngoài lề một chút nữa: Để cung ứng cho một cuộc chiến tranh nào đó dù ngắn hạn hay lâu dài là sự hun đúc, thúc đẩy tinh thần chiến sĩ là quan trọng. Thế cho nên những phần thưởng về vật chất lẫn tinh thần cho chiến binh là điều cần thiết. Những phần thưởng đó là gì nếu đứng về phương diện của một tôn giáo? Vậy thì những cái hình ảnh cao cả và sự sung sướng hạnh phúc trong tương lai ở cái thế giới bên kia là tốt đẹp nhất, phải đúng là một Thiên Đàng đích thực, đáp ứng đủ mọi mơ ước của con người; dù Thiên Đàng ấy không hẳn là thực, ngoài cái tin tưởng vào đức tin của mình. Và điều khác nữa, là làm thế nào để có nhân lực cung ứng vào các cuộc chiến tranh, nếu người chết quá nhiều? Cho nên nguồn sản xuất con người phải được chú trọng. Những sự suy tính ấy có thể sẽ xảy ra, như là chiến binh có thể có nhiều vợ chẳng hạn!

Hồi Giáo được sản sinh từ Mecca, nhưng phải khi đến Medina mới bắt đầu phát khởi để sau đó chỉ 10 năm, sau khi Muhammed qua đời (632), Hồi Giáo phát triển ra khắp vùng Trung Đông. Rồi 2 năm sau nữa, chiếm trọn vùng Bắc Phi và tiến vào lãnh thổ Tây Ban Nha, là nước sùng đạo Công Giáo nhất Châu Âu (711-716) thời bấy giờ. Với sự phát triển, bành trướng nầy đưa đến các cuộc Thánh Chiến tàn khốc giữa hai tôn giáo Thiên Chúa và Hồi Giáo trong những thời gian dài của lịch sử. Sở dĩ như vậy, vì trong Kinh Koran có công khai kêu gọi tín đồ Hồi Giáo phải chống lại tất cả những ai không tin theo Đạo Hồi, hoặc ở trong lãnh thổ kiểm soát người ngoại đạo phải nạp thuế thân và chịu địa vị thấp kém.

Thế cho nên, Đạo Phật vốn dĩ nhân từ và nhân ái nên trên con đường phát triển của nó không phải là hình thức chiến tranh, hay bắt người khác tin theo. Không một sự áp bức, ép đặt nào, ngay cả cũng không có luật lệ bắt người khác phải theo đạo, dù là trong hôn nhân. Đạo Phật đi đến đâu cũng hòa đồng cùng phong tục, tập quán hay văn hóa của khu vực ấy, kể cả những tín ngưỡng dân gian của địa phương. Điều ấy được minh chứng rõ ràng ở các quốc gia mà Phật Giáo đã ảnh hưởng tới! Thêm một điều khác nữa là với hàng tu sĩ Phật Giáo chỉ khuyến khích người tin theo làm thiện, tránh ác và không hề trang bị vũ trang, không có tinh thần chiến đấu nên các tu sĩ sẽ bị tàn sát là chuyện thường tình. Nếu gặp những sự xâm chiếm quá khích thì tu sĩ, tín đồ Phật Giáo sẽ hoàn toàn bị truy sát, và Phật Giáo sẽ lụi tàn không hơn không kém. Và với tư tưởng tàn phá tất cả, thì những công trình của vua Ashoka không còn tồn tại thì cũng chẳng có gì phải nghĩ bàn. Thực tế đã minh chứng cho đến thế kỷ hiện nay, mà hai tượng Phật lớn nhất thế giới được đục trong núi ở Bamiyan, vẫn bị tàn phá hoàn toàn dù chúng đã được xem là di sản thế giới của nhân loại. Và, chúng tôi có nhiều điều thắc mắc là: Tại sao những khu vực di tích Phật Giáo được đục trong núi rất là công phu ở những vùng cao của Ấn Độ như Ajanta, Ellora… nơi mà không có nhiều thức ăn, thực phẩm như thế? Và Tại sao ở Nam Dương hãy còn một di tích Phật Giáo lớn nhất thế giới là Borobudur, trong khi nước nầy là một quốc gia Hồi Giáo đông dân nhất địa cầu. Có phải chăng trước kia Phật Giáo đã phát triển rất mạnh ở quốc gia nầy trước khi Hồi Giáo xâm chiếm? Và Hồi Giáo là tôn giáo như thế nào mà đã tàn phá một cách khủng khiếp như vậy, trên con đường phát triển? Điều đó khiến tôi có nhiều suy nghĩ về quan niệm: Thế nào là một tôn giáo?

 

Nguyên Thảo,

24/01/2026.

 


Monday, January 5, 2026

*Vấn Đề IV: Những Trụ Đá Của Vua A-Dục.


Nhiều người, kể cả các học giả có nhiều thắc mắc về sự biến mất của Đạo Phật ở trên chính quê hương của mình, đến đỗi có nhiều ngộ nhận: Đức Phật như chỉ là một nhân vật không thật, và chỉ có trong các câu chuyện thần thoại mà thôi. Rồi, người ta cũng tìm thấy hình ảnh Đức Phật hiện diện trong Ấn Độ Giáo như là một hóa thân của Thần Vishnu. Nhưng về sau khi những nhà thám hiểm, khoa học khám phá ra những trụ đá của vua A Dục để lại, thì người ta có cái nhìn thật hơn về nhân vật Thích Ca được vua A Dục nói đến; và chứng tỏ Đạo Phật đã có một thời sáng rỡ trong cái vương quốc rộng lớn mà nhà vua nầy cai quản. Từ đó, nhiều người lại nghiên cứu xem vì sao Đạo Phật bị mất đi trên vùng đất sản sinh ra chính nó, điều ấy thực là khác biệt với nhiều tôn giáo khác!

Tuy nhiên, có một điều lạ hơn, là người ta lại nghi ngờ vua A Dục chỉ là vị vua không có thật. Vì vào năm 1837, có một nhân viên hành chánh của Thành phố Calcutta là James Princep tìm cách giải đoán những chữ ghi, được khắc trên hai cột trụ bằng đá đã tìm thấy ở Delhi, và Allahabad (thuộc Tiểu bang Uttar Pradesh miền Bắc Ấn). Trong giải đoán đó có tên một vị vua là Devanampiya, mà vị vua ở Tích Lan là Devanampiya Tissa khiến sự giải đoán trở nên khó khăn, khó tìm ra manh mối và có nhiều nghi vấn. Mãi đến năm 1915, có một kỷ sư hầm mỏ người Anh tên là Beadon tìm được một trụ đá khác ở vùng Maski (phía Nam Ấn Độ), trên trụ đá nầy có tên vua Devanampiya Piyadasi của triều đại Maurya với vương hiệu là Ashoka (A Dục). Do đó, việc quay trở lại hai trụ đá trước, người ta mới biết đó chính là vua A Dục. Như vậy vua A Dục nầy là một vị vua lịch sử của triều đại Maurya.

Ashoka là vị vua thứ ba của triều đại Maurya Ấn Độ, sau vua Chandragupta và vua Bindusara; Ông cai trị đế quốc nầy từ năm 273 đến năm 232 trước Tây Lịch. Đế Quốc của ông rộng lớn ở vùng Nam Á kéo dài từ Afghanistan, Iran đến tận miền Nam vùng Mysore, Bengal. Người ta xem triều đại Ông là triều đại sáng chói nhất lịch sử thời cổ của Ấn Độ qua những tài liệu phong phú, chính xác được ghi lại bằng chữ viết lưu truyền cho đến ngày nay. Các tài liệu ấy được ghi trên các văn bản qua hai loại: Các văn kiện chính thức của triều đình khắc ghi trên đá; và các tư liệu di tích văn hóa không mang tính cách hành chính. Các văn kiện nầy ghi bằng ngôn ngữ địa phương thời bấy giờ là chữ Brahmi và Karosti.

Theo tài liệu thì khi lên ngôi chừng khoảng 11 năm đầu, vua Ashoka cho khắc các pháp dụ trên vách đá, hay các trụ đá tùy vào nội dung dài hay ngắn, và còn chia ra thành những Đại Thạch Pháp Dụ và Tiểu Thạch Pháp Dụ. Phần lớn các trụ hay vách đá chứa pháp dụ nầy thường bị hư hỏng khá nhiều. Tuy nhiên, với một số còn lại cũng khiến người ta truy cứu đưọc niên kỷ của các sự kiện dưới thời Vua Ashoka trị vì. Đến nay, người ta phát hiện được 14 Đại Thạch Pháp Dụ ở các nơi khác nhau như Sopara (tiểu bang Bombay); Ginar (bang Saurahtra); Mansehra và Shabazgarhi ở vùng tây Pakistan; Kalsi ở phía bắc (bang Uttar Pradesh; một ở phía nam Erragudi (thuộc Andhra Pradesh); và hai pháp dụ Kalinga được tìm thấy ở Dhauli, Jaugada thuộc Orissa gần bờ biển Đông vịnh Bengal.

Còn các Tiểu Thạch Pháp Dụ được tìm thấy ở nhiều nơi thường tập trung ở giữa và phía nam của vương quốc. Người ta chia ra: Tiểu Thạch Pháp Dụ I tìm thấy ở các nơi thuộc phía Bắc như: Bairat, Gavimath, Maski, Palkigundu, Gujarra, Rupnath và Sahasram; Tiểu Thạch Pháp Dụ II được tìm thấy ở miền Nam Ấn như: Brahmagiri, Jatinga-Ramesvara, Siddaoura (bang Mysore); và Erragudi, Rajula-Mandagiri (bang Andhra); Tiểu Thạch Pháp Dụ III được tìm thấy ở Bairat.

Rồi người ta còn ước tính vào những năm thứ 27, 28 của triều Hoàng Đế Ashoka, Ông còn cho dựng các cột đá có khắc pháp dụ được chà bóng loáng, điêu khắc trên đầu trụ với hình sư tử, bò hay ngựa một cách tinh xảo, dựng ở thung lũng sông Hằng hay các đường lớn trong vương quốc; có kích thước khoảng từ 12 đến 15 thước, nặng đến 50 tấn gọi là Thạch Trụ Pháp Dụ. Các trụ nầy lấy từ mỏ đá ở Chunar phía Nam của Varanasi kéo đến. Đến nay chỉ còn tìm thấy được 10 trụ rải rác các nơi trong toàn cõi của đế quốc Maurya như Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Afghanistan.

Với sự hiện diện của những thạch trụ nầy, chúng đã minh chứng có một triều đại huy hoàng cổ xưa của xứ Ấn Độ dưới thời Hoàng Đế Ashoka, và cũng từ đó chứng thực một tôn giáo đã cải hóa một hoàng đế tàn ác trở thành hoàng đế nhân từ trong lịch sử của nhân loại, và ông đã xiển dương chánh pháp một cách tích cực. Nhờ đó mà Đạo Phật hiển hiện chứng minh được phát sinh từ một nhân vật lịch sử, đó là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứ không phải từ câu chuyện thần thoại nào khác!

Tương truyền lúc còn trẻ Ashoka là hoàng tử xuất sắc trong lĩnh vực quân sự và các khả năng khác. Khi trưởng thành Ông là vị tướng thông minh và chưa hề chiến bại. Đúng ra, Ông không phải là người kế vị của vua cha, mà là người anh cùng cha khác mẹ là Susima; nhưng vì Susima sợ A Dục được thay thế mình nên tìm cách để vua cha Bindusara đưa A Dục đi đày vào vùng Kalinga. Vì vùng Ujjain có nổi loạn nên A Dục được điều về nơi đó để đánh dẹp. Do sự điều trị bí mật khi bị thương để tránh những ám hại của tay chân Susima, nên Ông đã được tiếp xúc với các nhà sư Phật Giáo và biết đến những lời dạy của Đức Phật.

Khi hoàng đế Bindusara bị bệnh, hấp hối, các vị đại thần chán ghét Susima đã mời A Dục về lên ngôi. Cuộc lên ngôi nầy khiến tình hình trở nên rối loạn và A Dục nổi giận, tương truyền Ông đã giết chết các người anh em cùng cha khác mẹ gồm tới 99 người và bày ra nhiều hình phạt tàn nhẫn giống như địa ngục, nên trong giai đoạn nầy ông được gọi là Chanda Ashoka, nghĩa là “Ashoka bất nhân”! Vào thời gian đầu sau khi lên ngôi, Ashoka liên tục tổ chức các chiến dịch, trận đánh khá đẫm máu, tàn khốc để mở rộng lãnh thổ, đế quốc của mình. Nhưng, cuộc chiến ở Kalinga quá khốc liệt khiến mọi thứ bị tàn phá, hàng 100,000 người thiệt mạng và khoảng 150,000 bị trục xuất. Từ đó làm cho vua Ashoka thay đổi và tìm đến với Phật pháp; và với đường lối cai trị nhân đạo nầy nhà vua được gọi lại là Dharmashoka (A Dục sùng đạo). Giáo lý Phật giáo được phổ biến lan truyền trong đế quốc của nhà vua; các chùa chiền được xây cất; cùng các trụ đá được dựng lên khắp nơi trong đế quốc bằng loại đá sa thạch màu đỏ chỉ có ở vùng trung Ấn Độl chứng tỏ chúng được làm ở một nơi rồi mới chuyển đến các nơi khác. Vua Ashoka trở thành phật tử hộ trì Phật pháp, đem chính pháp truyền bá khắp đế quốc của mình; và Ông còn phái các phái đoàn truyền giáo đi khắp nơi để từ đó Phật pháp được truyền về phía Đông sang tận Trung Hoa rồi sang Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam. Về phía Nam thì đã có hai người con của Ông là Hoàng tử Mahinda và Công chúa Sanghamitra đem Phật pháp truyền sang Tích Lan theo phái bộ Theravada để rồi được phát triển ở Miến Điện, Thái Lan và Kampuchia.

Các sử gia đã so sánh sự hộ trì Phật pháp của nhà vua Ashoka giống như là công trình của Đại đế Constantine đối với Thiên Chúa Giáo trong lịch sử. Tuy nhiên, theo chúng tôi thì hộ trì đạo pháp tuy có những công trạng tương đối giống nhau, nhưng có điều khác biệt rất lớn là đối với nhà vua Ashoka là người đã nhận thức được sự tàn ác của chiến tranh, mà ngưng đi các hành động chém giết của mình để trở thành người ăn năn, hối cải mà xiển dương cho một giáo pháp đầy nhân ái trong tinh thần nhân đức, hòa ái … Chứ không nương vào tôn giáo để tiếp tục xây dựng đế chế của mình, biến mọi người trong phạm vi lãnh thổ của mình phải theo cái đạo mà mình mong muốn, hay sử dụng tôn giáo để tạo nên đế chế của mình. Điều ấy, trong lịch sử cũng xảy ra một lần nữa dưới triều đại thời Đại đế Charlemagne của Đế quốc Frank vào nhiều thế kỷ sau đó. Chính vì sự ép chế đó và với những luật lệ nghiêm ngặt của giáo hội, mà tôn giáo ấy đã phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay. Nhưng thông thường với tính tình con người, có áp bức thì sẽ có đấu tranh; cho nên có vài tôn giáo thành hình về sau, đã rút kinh nghiệm và phản kháng bằng tạo nên tôn giáo mới với luật lệ được xây dựng chắc chắn và phát triển bằng hình thức mạnh bạo hơn, phát triển từ trong chiến tranh và bắt người khác phải theo đạo hay là chết. Nên những cuộc chiến về tôn giáo từ đó đã dai dẳng và khủng khiếp nhất liên tiếp trong những thời gian dài; vì chúng là những cuộc chiến về tâm linh với sự dũng mãnh của Đức Tin! Đó cũng là một trong những nguyên nhân mà Đạo Phật phải biến mất khỏi quê hương của nó, mà không một tôn giáo nào giống được!

 

Nguyên Thảo,

06/01/2026.

  

Saturday, January 3, 2026

*Sự Công Bằng Và Bình Đẳng!

 

Trên thế giới, trong thời gian dài người ta đã bỏ nhiều công sức, trí não, thậm chí đến những cuộc đấu tranh đổ máu để đi tìm một sự bình đẳng về giới tính, về cuộc sống con người hay bình đẳng trên bình diện quốc gia và quốc tế. Nếu đứng về lịch sử, từ trong thiên nhiên con người đã có những sự bất bình đẳng về hình thể, sức khỏe hay giới tính vì đó là những bản chất của thiên nhiên. Chẳng hạn như người thì cao, người thì thấp; người khôn ngoan, người đần độn; người sung sướng hạnh phúc, người gian nan nghèo khổ; người bệnh hoạn yếu đuối, người mạnh mẽ yêu đời; kể cả người nam lẫn người nữ… Ấy là những sự bất bình đẳng thiên bẩm mà không ai có thể tránh khỏi khi được sinh ra đời. Chính vì thế mà người ta phải nương tựa lẫn nhau: Đàn bà nương tựa vào đàn ông để trở thành một gia đình, người đàn ông gánh vác những công việc nặng nề, lo lắng cho gia đình; người nữ giữ vai trò nội trợ từ việc sanh đẻ, trông nom con cái, bếp núc, hỗ trợ cho người nam, cột trụ của gia đình. Sự nương tựa vào nhau ấy trở thành nền tảng của một gia đình; nhiều gia đình tập hợp thành một xã hội. Các thành viên trong xã hội nương tựa vào nhau để chống, đối ứng lại những hiện tượng thiên nhiên như bão lụt, động đất, nói chung là thiên tai, kể cả bệnh hoạn và chống chọi lại các thú dữ để làm cho cuộc sống được an toàn hơn. Sự hỗ trợ trong cộng đồng ấy bắt đầu từ đời sống du mục, săn bắn cũng như là bắt cá, sò ốc cho đến khi họ biết định cư sống bằng nông và ngư nghiệp.

Đến thời kỳ con người có quyền tư hữu thì với sự chiếm hữu, xã hội đi vào giai đoạn bất bình đẳng được thể hiện nhiều hơn. Người mạnh hiếp yếu, đông đè ép ít để đem ích lợi về cho mình hay nhóm của mình. Những cuộc tranh giành, chiến đấu để giành thắng lợi về cho mình càng lúc càng nhiều. Tất nhiên những kẻ yếu thế đành phải chịu thua và mất đi các phần của mình có được. Từ đó chế độ phong kiến thành hình. Những vương triều mở các cuộc chiến tranh để càng phát triển thế lực mình càng nhiều và tàn ác để đạt được mục đích to lớn nhất, khởi đầu cho thời kỳ đế quốc! Đó là những thời kỳ mà sự phân tích của Đạo Phật được chứng tỏ do lòng tham lam từ con người càng ngày càng được đẩy cao hơn, vì sự chiếm hữu đem đến nhiều lợi lộc cho chính bản thân, hay nhóm hoặc quốc gia của họ. Sự bất công, áp bức, bốc lột đầy dẫy trong thời kỳ nầy. Chính vì thế mà nhiều phong trào chống đối, đấu tranh từ sự giành lại độc lập cho quốc gia, hay đòi lại quyền sống, chống áp bức, bốc lột công sức đã xảy ra. Cuộc cách mạng kỹ nghệ và sự phát kiến, phát minh ra những phương tiện làm cho đời sống của con người càng lúc càng được phong phú, sung sướng hơn; nhưng cũng là công cuộc làm cho người đàn bà tham gia vào sự sản xuất trong xã hội được tích cực như những người đàn ông, thanh niên. Từ đó phong trào đòi sự bình đẳng giữa nam, nữ giới được tiến hành đẩy cao thêm, rồi sau đó là phong trào đòi hỏi người phụ nữ đi bầu cử như nam giới cũng được tranh đấu, đòi hỏi. Những tính cách tương đối công bằng, bình đẳng ngày nay có được phải trải qua thời gian dài qua những tiến trình của xã hội. Tuy vậy, vẫn không ít tình trạng mạnh hiếp yếu, to lấn nhỏ xảy ra hàng ngày trên thế giới hiện nay.

Đó là những hình ảnh hiển hiện trong xã hội ở những thời gian dài. Còn trong tôn giáo thì cũng có nhiều phức tạp hơn, vì nó là những biểu hiện từ trong tâm tính, đức tin cho nên nó cũng không thoát ra được quan niệm cố hữu bằng những hình thức trói buộc; nên sự bình đẳng, công bằng khó được lạm bàn. Nhưng có những sự kiện khiến chúng ta không thể không lưu tâm từ trong lịch sử: Tôn giáo nào cũng có những giáo lý tốt đẹp, nhằm đem đến cho loài người sự an ổn trong tinh thần, nương tựa vào những Đấng thiêng liêng để được cầu nguyện, giao phó các ưu tư, buồn khổ khi gặp phải tình trạng bất an, gian khó; nhưng do vì con người, người lãnh đạo một khi đặt đức tin của mình quá đáng vào niềm tin tôn giáo đã biến tôn giáo thành điều quá khích bắt buộc người khác phải tin vào tôn giáo mà mình đã tin, ái mộ; đôi khi bằng hình thức ép buộc theo hoặc là chết. Chính vì điều ấy đã khiến có vài tôn giáo được hình thành bằng sự đối kháng, và sáng lập tôn giáo khác với đầy đủ đấu tranh, vũ lực cực đoan. Điều ấy đã tạo nên nhiều cuộc chiến tranh giữa nhiều tôn giáo trong hoàn cảnh tàn khốc và thương đau; mà nhiều lúc nó lại còn tàn nhẫn hơn với những cuộc chiến tranh tiêu diệt lẫn nhau. Nhất là trong tinh thần xem tôn giáo của mình phải thống trị, hơn hẳn các tôn giáo khác. Lịch sử đã chứng minh điều ấy! Vậy thì, tôn giáo làm như thế nào để thể hiện được sự bình đẳng, công bằng và hài hòa trong một thế giới văn minh và tiến bộ?

Sự bất công trong xã hội loài người đó đã khiến nhiều triết gia, những nhà tư tưởng phải nhiều đắn đo, suy nghĩ và phân tích để sản sinh ra nhiều lý thuyết san bằng làm cho con người bớt khổ hơn. Từ những nhà xã hội học; những người đấu tranh cho sự bất công, thiếu bình đẳng đã đưa ra những lý thuyết về một xã hội tiến bộ, công bằng hơn: Đó là cái chủ nghĩa xã hội! Thế nhưng chủ nghĩa xã hội ấy đã làm được những gì và kết quả đã ra sao?

Theo như ở trên, chúng ta đã phân tích lần theo từng giai đoạn khi mà con người có những sự bất bình đẳng từ thiên nhiên, cho đến những nhu cầu cần đấu tranh tạo nên được bình đẳng thêm mỗi khi xã hội được phát triển hơn. Nhưng khi đến thời kỳ chiếm hữu trở nên to lớn, và người ta biết tôn xưng người nào đó có khả năng để lên làm vua, cai trị toàn một vùng lãnh thổ, và rồi gia đình ấy lập nên một triều đình trong thời phong kiến. Trong chế độ ấy lại dần đi đến sự bốc lột và bất bình đẳng thêm nhiều. Khi tới thời kỳ phát triển của kỹ thuật, kỹ nghệ chủ nghĩa tư bản thành hình, phát triển mạnh hơn trở thành đế quốc xâm chiếm các vùng yếu, thì sự đàn áp, bốc lột, bất bình đẳng còn nhiều hơn nữa. Những nơi là thuộc địa lại nghèo khổ, cùng cực thì các đế quốc lại sống sung túc, giàu có; cho nên phát sinh những phong trào tranh đấu chống lại kể cả giành độc lập. Rồi từ đó chủ nghĩa xã hội được phát triển mạnh, nhiều phong trào khắp nơi trên thế giới hợp lực cùng đòi hỏi sự công bằng và bình đẳng. Tuy nhiên, trong các bước thực hiện chủ nghĩa xã hội ấy lại tạo nhiều sự bất công khác. Chúng ta nhớ lại những chuyện kể trong quá khứ như phong trào Robinhood ở Anh hay các chuyện “cướp của nhà giàu, chia cho nhà nghèo” thì nó cũng giống như vậy. Chủ nghĩa xã hội mà chính quyền độc quyền quản lý và phân phối, đã tạo ra nhiều khó khăn khiến mọi sinh hoạt trong xã hội bị đình trệ vì các thủ tục hành chánh giữa các cơ quan, làm cho người dân trở nên chật vật về mọi phương diện, kéo theo dân chúng thiếu thốn mọi nhu cầu; mà chính quyền thì loay hoay giải quyết; khiến tình trạng chẳng đi đến đâu làm cho dân chúng càng ngày càng bị đói khổ, đất nước không thể giàu có; mà nạn cửa quyền tham nhũng, bè phái, hối lộ tràn lan, phá hoại cả một đất nước, lý tưởng mà không phương cứu chữa. Còn xã hội chủ nghĩa qua sự phát triển tư bản thì lại đưa đến tình trạng bốc lột khác: Đó là sự bốc lột người giàu, hay của những kẻ siêng năng đi làm! Tại sao thế? Vì trong nhưng xã hội nầy: Muốn giúp đỡ người tàn tật, cô đơn, những kẻ khó khăn thì chính quyền cần có nhiều tiền, cho nên ngoài tiền tài nguyên quốc gia, đánh thuế ở mọi thứ thuế, người ta còn đánh thuế nặng vào những người đi làm. Nhưng những sự giúp đỡ đó đôi khi bị lợi dụng trầm trọng mà người ta không thể “bắt tội” được. Giống như y tế miễn phí thì người ở không, có những bệnh không cần thiết vẫn đi thăm bác sĩ thường xuyên tạo nên sự lãng phí, khiến tốn tiền ngân sách nhà nước. Sự trợ giúp một người tàn tật, người già trong một năm gần bằng số lương của hai người đi làm. Người thất nghiệp, đơn thân được hưởng nhiều quyền lợi, được chính phủ trợ giúp giảm bớt các chi phí; mà con cái khi vào đại học được cộng thêm nhiều điểm để vào ngành nghề mà con cái của những người làm việc không được hưởng. Rồi người đi làm khi đi khám bệnh phải mua thuốc tốn tiền, đóng tiền bảo hiểm, viện phí, tất cả các hóa đơn không được giúp… Rất nhiều thiệt thòi cho người đi làm, cho nên với đường lối nầy khiến cho người ta phải tính toán lại thiệt hơn, làm cho sự tiêu cực trở nên trầm trọng. Nói một các tổng quát là xã hội chủ nghĩa nầy đưa đến những sự bất công khác mà những nhà xã hội học, những nhà làm cách mạng phải suy nghĩ và điều chỉnh cho hợp lý; để tránh trường hợp “bốc lột người đi làm để tạo điều kiện cho những người không muốn đi làm dễ lợi dụng”. Cho nên một điều quan trọng trong lịch sử mà chúng ta cần lưu ý: “Vì sao cơ cấu xã hội nguyên thủy phải tan rã, có phải là người làm nhiều làm ít; người lười sống bám vào người siêng năng chăng?”. Đâu là sự bình đẳng và công bằng? Xã hội chủ nghĩa ngày nay đã có tạo được sự công bằng cho xã hội hay không? Đó là vấn đề cần nhiều sự truy cứu và sửa sai!

 

Đồ Ngông,

20/11/2025.

 


Monday, December 8, 2025

*Vấn Đề III: Đạo Phật Có Phải Là Câu Chuyện Thần Thoại?


Thú thật là tôi không nghiên cứu nhiều về Đạo Phật, nhất là trong thời gian trước kia, cái thời gian mà mình chưa bị “trí óc dồn ép” khiến phải suy nghĩ quá nhiều, thiếu điều quẫn trí. Không hiểu sao những chuyện buồn, và những sự việc không thuận lợi, chán nản dồn dập đưa tôi đến tình huống khá quẫn bách như thế. Người xưa nói “Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí”, điều ấy khá đúng với tôi vào thời kỳ đó. Từng bước tôi cố tìm cách tháo gỡ, nhưng sau khi tương đối ổn định, thì tình trạng sức khỏe không được tốt, tôi lại phải vào bệnh viện để giải phẩu ở xương sống, điều trị cho sự đau đớn chạy xuống tận bàn chân. Lúc nầy, tôi lại càng chán nản hơn, vì mình đảm trách công việc chính của nghề nông với nhiều công việc nặng nhọc, mà vợ không thể cáng đáng nỗi, còn mấy đứa con phải đi học. Thế là tôi nhất quyết bán đi cái khu vườn nhà nông mà hai vợ chồng đã tốn bao nhiêu công sức tạo nên. Ở vào tình cảnh đang chữa bệnh, bán đi cái công trình gầy dựng, vợ không đủ sức thay thế, con thì phải để cho chúng học, tôi lại lâm vào thế bế tắt, buồn hơn. Thế rồi, anh bạn nhà kế bên đến thăm lại nói chuyện về một nhà tu nổi đình nổi đám thời bấy giờ: Đó là bà Thanh Hải, người tự xưng là Vô Thượng Sư. Anh hỏi tôi. Tôi chưa nghe đến bà ấy bao giờ! Sau cùng, anh về nhà lấy tờ báo cũ có đăng bài “Âm thanh siêu thế giới” cho tôi. Sau khi đọc bài đó, tôi chỉ nhớ cái ý là “cái thai nằm trong nước mà vẫn sống”. Liên kết lại tôi thấy cũng có lý vì cái thai nằm trong bào thai đầy nước mà vẫn không bị ngộp thở; còn âm thanh siêu thế giới thì có những lần tôi cũng từng được nghe mà không để ý, vì lúc nhỏ khi tập lặn ở con suối nhỏ trong làng quê tôi có nghe, nhưng chỉ lấy làm lạ thôi. Rồi lúc đi dạy nơi xa, vào ban đêm thanh vắng tôi cũng lại nghe cái âm thanh vo ve ấy. Đến lúc nầy, sau khi đọc xong bài đăng trên báo đó, tối về tôi vận dụng tâm trí mình để tìm lại cái âm thanh mà tôi đã nghe ngày trước xem có giống cái âm thanh mà bà Thanh Hải nói hay không? Nó không khác mấy! Điều nầy, khiến tôi tò mò theo dõi. Rồi tôi lại cố nghe âm thanh bên lỗ tai trái có khác với âm thanh nghe được ở bên lỗ tai phải không? Có khác đôi chút, nhưng từ nghe bên nây xong lại nghe bên kia khiến cái chiều đi ngang lúc đầu, sau lại càng lúc càng thẳng đứng hơn, rồi chiều ấy đi lên đỉnh đầu vượt thoát ra không trung. Lấy làm lạ tôi cứ theo mãi, xem sự diễn tiến ấy đến đâu? Sự việc ngộ nghĩnh đó được tôi ghi lại trong bài “Sự huyền nhiệm của Tâm Linh” sau nhiều năm “lưỡng lự” không muốn viết; vì mình không xác quyết là nó có đúng hay không? Thế rồi, khi không viết thì không an lòng, trong lòng luôn có những thôi thúc, thúc giục lạ lùng. Cuối cùng tôi phải viết! Viết bài ấy ra, tôi như trút được cái “gánh nặng” mà mình phải cưu mang và cảm thấy nhẹ lòng!

Quên nói một điều là từ trước tôi chưa từng tìm hiểu vào Đạo Phật ngoài những kiến thức sơ sài được học trong trường, lẫn một lần khi vào năm học Lớp Nhứt (sau nầy là Lớp Năm, Tiểu học), lần ấy tôi theo Cô Út Sang, con út của Bà Hai chị Ông Nội, ra nhà Bà Tám ở An Sơn vài ngày, những ngày ấy tôi được đọc “ké” quyển truyện về cuộc đời Phật Thích Ca mà Bà Tám mướn về coi. Cuối quyển truyện có những chuyện kể gì đó mà đi trên không, tôi không nhớ rõ và các chuyện ấy cũng không hấp dẫn được tôi. Với Đạo Phật thì tôi chỉ biết có bao nhiêu đó thôi. Nhưng sau các biến cố vào giai đoạn khủng hoảng nhất tôi đã chiêm nghiệm được các điều kỳ quái! Không biết các điều ấy đúng hay sai và có phải là như vậy không? Sự thắc mắc mãi trong tâm hồn, cuối cùng tôi nghĩ: Điều mình cảm nhận nó giống như kết quả của một sự Thiền Định, mặc dù mình chưa học hay thực hành Thiền bao giờ. Vậy thì như thế nào? Nó có giống như Ngài Sĩ-Đạt-Ta khi quyết chí ngồi Thiền chăng? Thế rồi, tôi muốn đi tìm trong Kinh điển của Đạo Phật để xem coi có những điều mình đã cảm nhận và thấy như trong các giấc mơ màng ấy chăng? Nhưng muốn mượn Kinh điển về Đạo Phật thì phải vào chùa, nhưng từ trước tới giờ mình chưa vào chùa thì së hỏi mượn như thế nào? Cũng may, lúc ấy có người chị trước kia cũng không đi chùa, nhưng sau khi mẹ mất chị nhờ thầy trong chùa cúng thất tuần thì từ ấy chị vào chùa thường xuyên. Tôi theo chị tới chùa. Những ngày có thầy thuyết pháp chị cho tôi hay để tới nghe. Chị cũng thường cho tôi mượn các băng giảng của các thầy khác. Mỗi khi có thầy đề cập đến “Sự Giác Ngộ” tôi lại tò mò, hỏi xem coi sự giác ngộ như thế nào? Nhưng tất cả đều mông lung! Tức mình, tôi quyết chí đi tìm vào Kinh điển cho ra lẽ. Không những tôi tìm trong Kinh của Đạo Phật, tôi còn đi vào trong Kinh Thánh xem Đức Chúa ở trong đồng vắng trong 40 ngày làm cái gì, đã được cái gì và như thế nào? Vì tôi nghĩ với 40 ngày nhịn ăn, nhịn uống ấy không phải là ma quỷ khảo mà chính là Thiền Định, và tôi nhất quyết với thời gian ấy Đức Chúa Jesus mới khai mở tâm linh chứ không phải là được rửa tội ở dòng sông Jordan. Nhưng trong Kinh Thánh không đề cập rõ đến sự khai mở đó như thế nào? Tôi thất vọng! Đến một ngày khi đến chùa Quang Minh ở Melbourne (Úc Châu), tôi thỉnh được hai quyển: Đức Phật Và Phật Pháp của Nguyễn Kim Khánh dịch từ tác phẩm “The Buddha And His Teachings” của Hòa Thượng Narada Maha Thera; và quyển “Xuân Trong Cửa Thiền” số 4 của Hòa Thượng Thích Thanh Từ. Từ hai quyển sách ấy, tôi xem một quyển là để mình học, tìm hiểu vào căn bản của Đạo Phật; còn quyển sau để tôi tham khảo. Cũng may là trong quyển “Xuân trong cửa Thiền” 4 đó, có bài tự sự của Hòa Thượng Thích Thanh Từ về việc sau khi bạo bệnh, Ngài chán nản quyết “tu chết bỏ” ở một cái am nào đó trên Lâm Đồng. Theo Ngài cho biết, sau đó Ngài hiểu Đạo hơn. Ngài chỉ viết thế thôi! Nhưng trong tâm tư, tôi lại gắn liền sự khai ngộ của Ngài với việc tu chết bỏ của Đức Phật dưới cội Bồ Đề. Tại sao thế nhỉ? Theo tài liệu tôi đã được đọc thì Chúa Jesus với 40 ngày nhịn ăn, nhịn uống trong đồng vắng; Sĩ Đạt Ta mất 49 ngày dưới cội Bồ Đề; và Mohammed cũng thời gian tương tự ở núi Hira gần Mecca. Tại sao lạ vậy? Nhưng, ngoài những điều ấy ra, tôi không tìm được những gì tốt hơn về việc mình muốn tìm. Do vậy tôi phải đi tìm vào trong Kinh điển của Đạo Phật, mặc dù Kinh Phật rất là “tràng giang đại hải”. Cái khó của tôi là chưa hiểu gì về Đạo Phật, cộng với cái khó của Đạo Phật là danh từ và ngôn từ: Danh từ thì chuyên môn, từ ngữ Hán Việt đã khó mà lại thêm từ ngữ phiên âm từ chữ Phạn thì lại càng khó hiểu hơn. May mắn thêm lần nữa là Vị Hòa Thượng cùng quê lại tặng cho tôi bộ Phật Học Phổ Thông của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, gồm những giáo trình mà Ngài giảng dạy ở Trung Tâm Phật Học.

Từ đó, tôi phải dành thời gian để nghiền ngẫm, nghiên cứu, học hỏi nhiều hơn, trước khi bước vào đọc một bộ Kinh của Phật Giáo. Tuy nhiên, khi tìm hiểu đến phần về Kinh Lăng Nghiêm của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa đã giảng giải tôi có thể hiểu được nhiều hơn. Rồi đến Kinh Viên Giác và Kinh Kim Cang, tôi bắt đầu hiểu khá hơn về giáo lý Đạo Phật, nhất là tôi thấy một sự kết nối mật thiết trong các Kinh nầy để giải thích nhiều vấn đề trong giáo lý. Nhưng, đến phần về Duy Thức Học thì tôi không đủ trình độ để hiểu hết nội dung của nó, tuy vậy riêng phần cơ bản khiến tôi có thể hiểu sâu hơn về chuyện tâm lý của con người. Qua đó, tôi có thể hiểu qua những hành động từ thân, khẩu, ý mà con người tạo nghiệp như thế nào? Xong lại đến, từ tạo nghiệp kéo đến hệ quả “nhân, quả” để giải thích chuyện tái sinh, và mọi chuyện sẽ xảy ra trong những kiếp nào, bị xoay vòng trong sáu cõi Luân Hồi ra sao. Muốn thoát ra thì sẽ phải làm những gì khiến tôi quay lại Tứ Diệu Đế hay là Tứ Thánh Đế. Từ đó, tôi khởi đầu cho cuộc hành trình đi tìm hiểu vào Kinh điển, mục đích chính là tìm cho được “Sự khai ngộ” nó như thế nào?

Trước kia, khi đọc câu chuyện về cuộc đời của Đức Phật, ở phần cuối kể về những chuyện di chuyển trên bầu trời khiến cho tôi nghĩ đến các câu chuyện thần thoại, hay các câu chuyện thần tiên như bao nhiêu câu chuyện thần thoại của nhiều quốc gia khác. Rồi đến khi đọc vào vài bộ Kinh, khởi đầu ở mỗi bộ Kinh thường hay đề cập đến vô số Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Bồ Tát, Chư Thiên, Ma Vương,…từ các cõi, giới đến câu hội khiến người đọc không thể tưởng tượng nỗi, làm cho họ tưởng chừng như là những chuyện thần thoại, nhất là trong thời kỳ mà Phật Giáo biến mất ở Ấn Độ sau sự tàn phá của đạo quân Hồi Giáo xâm lược. Tuy vậy, khi đọc về Kinh Địa Tạng ở phẩm Thứ Ba: “Quán chúng sanh nghiệp duyên” có đoạn sau:

 

“Trong ngục có giường rộng khắp muôn dặm. Một người thọ tội thời tự thấy thân mình nằm đầy chật cả giường, đến nghìn muôn người thọ tội cũng đều tự thấy thân của mình nằm chật cả trên giường. Đó là do vì những tội nghiệp đã tạo ra nó cảm vời như thế”.

 

Hay trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, ở phẩm Đại Chúng Sở Vấn Thứ 17 có đoạn sau:

 

“Đức Thế Tôn muốn làm cho tất cả đại chúng mãn nguyện, mỗi mỗi lỗ chân lông trên thân Phật hóa thành vô lượng Phật mỗi Đức Phật đều có vô lượng Tỳ kheo Tăng. Chư Phật và Tỳ kheo Tăng nầy thị hiện thọ sự cúng dường của Đại chúng. Thích Ca Như Lai tự thọ phần của Thuần Đà dâng”.

 

Hay:

 

“Lúc bấy giờ rừng cây Ta La vốn hẹp nhỏ, do thần lực của Phật, khoảng không gian như mũi kim đều có vô lượng chư Phật Thế Tôn và quyến thuộc Bồ Tát đồng ngồi thọ thực. Những thức ăn cũng đồng không sai khác”.

 

Hoặc, ở một đoạn khác:

 

“Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: “Thế Tôn! Tôi đã thấy. Tôi thấy các Đức Như Lai đông vô lượng vô biên không thể tính đếm, lãnh thọ những thức uống ăn của đại chúng cúng dường. Lại thấy chư Phật thân rất cao lớn, mà chỗ ngồi chỉ choán khoảng bằng mũi kim. Chúng đông vi nhiễu không chướng ngại nhau”.

 

Khi thấy được những đoạn Kinh trên, tôi lại có những ý nghĩ khác mà không nghĩ các Kinh Phật là các chuyện thần thoại mà là ở vào một thế giới tâm linh mà chúng ta cần khám phá nhiều hơn, vì đối với thế giới địa ngục, chúng sinh “chiêu cảm” từ những tội chướng gây ra mà cảm thấy những hình phạt như vậy. Còn đối với trong thế giới của Phật thì do thần lực của Phật mà sinh ra những phép mầu mà ta đã thấy được các sự diễn tả để chứng minh; hay đúng hơn đó là thành quả “thấy, biết” của những con người, chúng sinh tu hành đạt đến sự Giác Ngộ nên có được như thế! Bởi vì các câu chuyện hay sự giáo hóa chúng sinh của Đức Phật mà chúng ta được nghe, được đọc, được học là những câu chuyện gần với thực tế, và đi sát vào đời sống con người chứ không là xa vời, vọng tưởng để chúng ta có thể liên hệ đến các câu chuyện thần thoại đã từng kể!

 

Nguyên Thảo,

09/12/2025.

 

  

Friday, December 5, 2025

*Lý Tưởng Và Thực Tế!

 

Ngày xưa, lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, khi học về Kim Văn trong giờ Giảng Văn (Kim văn là giờ học về văn chương thời hiện đại như thơ mới, văn xuôi; khác với giờ Cổ Văn là học về văn chương thời trước như lối Thơ cổ, Đường luật, Thơ phú hay các tác giả xưa như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Thánh Tông, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Cao Bá Quát … chẳng hạn, hay các tác phẩm như Lục Vân Tiên, Truyện Kiều, Nhị Thập Tứ Hiếu,  Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Lục Súc Tranh Công…), thì Ông Thầy có cho học một bài luận lý về “Lý Tưởng”. Vì lâu quá tôi không rõ tác giả bài đó là ai, hay nhớ nội dung một cách rõ ràng; nhưng chỉ nhớ đại khái là bài ấy đề cập đến cái “lý tưởng” mà người nào đó đã ôm ấp. Lý tưởng là những gì mà mình mong muốn, ước mơ, hoài bão, theo đuổi để thực hiện trong tương lai cho một mục đích tốt đẹp trong cuộc đời; họ cố gắng thực hiện lý tưởng đó như cố biến “giấc mơ thành hiện thực”! Trong bài văn ấy, tác giả đã ví “Lý tưởng” như mặt trăng soi sáng trên bầu trời trong đêm tối, mà người mang lý tưởng phải nhắm vào đó mà tìm đường, vượt mọi chướng ngại để tiến tới, vượt lên nhằm đạt được mục đích sau cùng. Mục đích sau cùng ấy gọi là “Cứu cánh”! Giống như một đứa học trò có ước mơ trở thành một thầy thuốc giỏi để thi thố tài năng, giúp những người bệnh tật, xoa dịu những đau khổ về thân xác trong cuộc đời. Thế là với mơ ước đó, cậu học trò cố gắng học hành cho giỏi, cố vượt qua mọi kỳ thi để được vào trường thuốc. Sau nhiều năm trở thành một thầy thuốc, rồi với ước mơ cậu cố gắng mở lòng, nhẹ nhàng như một người mẹ đối với con cái chăm sóc cho bệnh nhân, cùng sự bền chí tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi nâng cao trình độ nghề nghiệp để đạt được kết quả tối ưu mà cậu đã mơ ước, mong muốn thực hiện những gì kết tinh trở thành lý tưởng. Ấy là con đường để thực hiện lý tưởng. Những phương tiện như sự giáo dục trong nhà trường, sự truyền đạt kiến thức của thầy cô, hay các phương tiện để học tập đều được tận dụng, sử dụng để làm bước tiến mà thực hiện được ước mơ của mình, biến giấc mơ thành hiện thực.

Lý tưởng có mặt trên nhiều phương diện kể cả thiện và ác, chứ không riêng về thiện không thôi; và nó cũng có nhiều cấp bậc từ lý tưởng của từng cá nhân, nhưng chúng cũng hiện diện ở trong nhiều nhóm dù nhỏ hay lớn, kể cả trên bình diện quốc tế. Đôi khi chúng cũng bị lợi dụng để biến thành những tai họa khôn lường vì mục đích không ngờ của chúng. Những người đã tìm cho mình được một lý tưởng để theo đuổi thì họ sẽ cố gắng bằng sức lực, khả năng, vận dụng kiến thức và tri thức, cố gắng thực hiện được ước mơ, đạt đến mục đích sau cùng hay đạt đến mức độ nhất định nào đó: Giống như những nhà khoa học chinh phục không gian, họ chinh phục từng bước từ hành tinh nầy đến hành tinh khác, tùy theo điều kiện khả năng của họ trong từng giai đoạn mà họ có thể làm được. Những nhà làm chính trị đứng ra điều hành, lãnh đạo đất nước mong làm cho đất nước được giàu mạnh, đời sống dân chúng được ấm no, hạnh phúc thì họ sẽ cống hiến hết mình với khả năng họ có được. Còn những nhà làm chính trị, lãnh đạo mà mục đích làm giàu, kiếm tiền, vinh thân phì gia, đem nguồn lợi đến cho dòng họ, thân thuộc, phe nhóm, bầy đàn thì đất nước sẽ nghèo đói, tan hoang, dân chúng sẽ lâm vào khốn khổ vô vàn; mà có thể họ sẽ vì lợi lộc mà bán rẽ đất nước cho ngoại bang không thương tiếc. Điều đó cho chúng ta thấy trên thực tế khi phong trào cách mạng chống tham nhũng ở các nước Sri Lanka, Nepal, Madagascar… của thế hệ GenZ đã thành công đến mức độ nào. Trong quá khứ lịch sử, những quốc gia nhược tiểu với lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã vùng lên với vũ trang thô sơ, cùng với tấm lòng yêu nước đánh đổ, quật ngã đế quốc thực dân hùng mạnh trong thế kỷ 20 để giành lại độc lập, tự do, giải phóng quê hương thoát vòng nô lệ. Lý tưởng tái lập lại đất nước khiến người Do Thái kiên trì trên cả hàng ngàn năm, và họ mạnh bạo để giữ vững đất nước ấy một cách không khoan nhượng trên nhiều mặt trận. Đó là những lý tưởng đã được ôm ấp trong phạm vi tương đối khá lớn. Còn những lý tưởng lớn hơn nữa khiến cho con người nhiều nơi trên thế giới có khi được thở phào nhẹ nhỏm, nhưng cũng không ít lý tưởng đem đến tai họa khôn lường: Như Lý tưởng hòa bình cho nhân loại với Liên Hiệp Quốc ra đời sau chiến tranh Thế giới lần thứ hai; bên cạnh đó lý tưởng thống trị một phần thế giới của Hitler, Mussolini, phát xít Nhật khiến bao nhiêu nước lầm than trong chiến tranh. Không những thế nếu xét về lịch sử những tư tưởng, lý tưởng đế quốc thời phong kiến đưa nhân loại vào hoàn cảnh chiến tranh tàn phá triền miên, ngoài những tai họa xảy ra từ thiên nhiên mà nhân loại phải hứng chịu. Có cái thứ lý tưởng khác mà ít người để ý đến, nhưng lại rất nguy hiểm và dễ xảy ra sự tranh chấp khủng khiếp, lâu dài nhất suốt thời gian lịch sử của con người. Đó là lý tưởng của những tôn giáo. Trong lý tưởng, tôn giáo là những sản phẩm của con người mang hình thức tâm linh, dễ thấm sâu vào tâm thức của những tín đồ. Tín đồ một khi tin theo một tôn giáo nào đó dễ sinh ra tâm tính sùng đạo, và dễ đi vào tình trạng cuồng tín, bảo vệ tôn giáo mình tới cùng và không thể chấp nhận những điều không đúng hay sai trái do đạo mình gây nên. Tôn giáo thuở khởi đầu có tính cách mang lại sự bình an trong tinh thần cho những người tin theo để được an ủi, hi vọng một đời sống tốt đẹp hơn sau khi mình đã chết so với cuộc đời thực tại đầy đau khổ, gian nan của thế gian nầy. Người ta thường nói: Những gì gắn liền với con người sẽ mang tính chất tranh giành, hơn thua, tranh đấu để giành phần thắng thống trị kẻ khác, thì trong tôn giáo dần dà phát triển theo chiều hướng đó. Giả sử một người có quyền lực tin tưởng vào tôn giáo nào đó thì sẽ bắt người khác phải theo, phục tùng những gì mình tin; cho nên trong lịch sử có nhiều vị hoàng đế bắt người dân trong phạm vi cai trị của mình phải theo cái tôn giáo mà mình đã theo. Đôi khi giết chết những người chống lại, theo nghĩa của câu “theo hoặc là chết”! Từ đó có những tôn giáo được sản sinh ra sau, rút kinh nghiệm nên khi bắt đầu phát sinh tôn giáo mới, mọi tín đồ phải ngồi trên mình ngựa mở những cuộc chiến tranh, chinh phục các nơi và bắt mọi người nơi đó phải theo đạo, và không bao giờ được bỏ hay từ chối. Lâu ngày với những quy luật được đặt ra, khiến kẻ mới theo phải tuân phục, sinh hoạt thì những kẻ bị bắt buộc ấy trở thành những con người thuần thục, giống như con người đã thuần hóa những con vật để phục vụ cho cuộc sống của mình. Do vậy, những cuộc chiến tranh về tôn giáo vẫn còn xảy ra cho đến tận ngày nay! Trên thế giới như nước Ấn Độ phải xé lẽ, phân hóa ra thành nhiều nước cũng vì lý tưởng của tôn giáo. Thuở đầu là Ấn Độ, rồi phân hóa thành Tây Hồi, Đông Hồi, Sri Lanka. Theo những người Ấn cho biết nó còn kể cả Bhutan, và Nepal. Nhưng ngày nay Tây Hồi trở thành Pakistan; Đông Hồi là Bangladesh. Trong khi đó, Trung Hoa vốn chỉ là một khu vực không lớn lắm và trải qua nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm với “lý tưởng thống nhất” mà trở thành nước lớn, lại sáp nhập thêm Mãn Châu, một phần Mông Cổ, rồi Tân Cương, Tây Tạng để trở thành Trung Hoa ngày nay. Đó là chưa kể đến tình trạng Đài Loan, vùng Biển Đông Việt Nam và Hoa Đông như là những vấn đề tranh chấp nóng bỏng của thế giới thời hiện đại. Nếu lý tưởng của những nhà khoa học là cống hiến cho nhân loại mà họ đã khám phá ra; thì những nhà kỹ thuật cố tìm những phương tiện giúp cho cuộc sống con người được tốt và hạnh phúc hơn. Với các nhà giáo dục ước mơ giúp thế hệ sau có được các kiến thức mới, hiệu quả hơn với kết quả tốt nhất. Những nhà làm chính trị muốn đem đến cho quốc gia sự tự do, hùng mạnh, vươn lên với các nước khác; nhất là sự giàu có, sung sướng, hạnh phúc cho người dân dưới sự lãnh đạo của mình. Nhưng cũng như các triều đại phong kiến khác đã từng có trong lịch sử: Ở giai đoạn đầu các nhà vua còn lo cho đất nước, thần dân. Về sau càng tệ dần, và các nhà vua lo thụ hưởng sự sung sướng, hạnh phúc cho chính mình; đôi khi họ càng trở nên tàn ác, đàn áp, ép bức người dân, bắt người dân sưu cao, thuế nặng để phục vụ cho vương triều. Thế cho nên mới có cuộc cách mạng của người dân nổi lên để lật đổ chế độ ấy và thành lập vương triều mới. Theo trào lưu đó, các triết gia cũng ngồi suy nghĩ để tạo nên triết thuyết mới. Trong thời cận đại, nẩy sinh một triết thuyết chính trị mà người ta xem như là ưu việt do kết tinh từ những triết lý chính trị và tư tưởng có trước để vạch ra một chế độ công bằng, bác ái, hạnh phúc, xây dựng một “thiên đường” cho loài người trên mặt đất. Thế nhưng, khi người ta thực hiện theo kế hoạch vạch ra ấy thì: Khốn nạn thay, đất nước nơi đó trở nên khó khăn, nghèo đói; người dân khốn khổ tìm cách trốn đi bằng mọi cách vì sự áp bức, xiết chặt đời sống không thương tiếc. Và với chế độ ấy chỉ những lãnh đạo, chính quyền là giàu có, vinh thân vì nạn tham nhũng, hối lộ tràn lan; làm cho người dân vừa nghèo đói, khó khăn mà phải hối lộ khắp các chỗ khi họ cần đến.

Vì vậy mà lý tưởng chỉ đơn thuần là lý tưởng, còn thực hiện thế nào là chuyện về sau! Lý tưởng có thể rất xa vời với thực tế. Đôi khi, người ta “ngụy biện” là “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”, tức là dùng mọi biện pháp, phương cách tàn ác để đạt được mục đích sau cùng! Thế là cuộc đời lại càng đau khổ hơn!

 

Đồ Ngông,

06/12/2025.


Sunday, November 2, 2025

*Vài Vấn Đề Trong Đạo Phật. (tt)

 

*Vấn Đề II: Vũ Trụ Và Chúng Sinh!


Tại sao ở đây, chúng ta bàn về hai chữ “chúng sinh”? Chúng sinh là từ ngữ mà Đức Phật đề cập đến, và cũng là đặc trưng của Đạo Phật khi nói tới mọi loài hay mọi vật có sự sống, ngay như cây cỏ, chiếc lá, côn trùng ngoài những vật vô tri. Chúng sinh hiện diện trong cõi đời, trong không gian với hình thể mà ta có thể thấy bằng mắt, hay quá nhỏ phải xem bằng kính hiển vi; hoặc bằng “không hình thể” ta không thể thấy mà chỉ nghĩ đến thế giới của họ như chúng sinh ở cõi Trời, cõi ATuLa, Ngạ Quỷ, Địa Ngục qua những điều Đức Phật thuyết giảng, vì chúng ta không thấy họ được bằng mắt thịt trần đời. Đức Phật thấy họ vì Đức Phật nhìn họ qua Phật Nhãn, sau khi Ngài đã “giác ngộ” tức là thành Phật! Vậy thì, trong Đạo Phật chứng minh là không phải chỉ có loài người, súc vật không thôi mà còn coi mọi loài cây cỏ ngay cả những chiếc lá cũng đều là chúng sinh vì chúng vẫn có đời sống, có sinh lão bệnh tử. Một cách tổng quát, Đức Phật cho chúng ta biết trong thiên nhiên có chúng sinh với “Sinh, lão, bệnh, tử”; vật chất thì “Sinh, trụ, dị diệt”; và hiện tượng thì “Thành, trụ, hoại, không” để chỉ đến mọi điều hiện diện trong vũ trụ. Đồng thời, Ngài cũng đề cập đến những thế giới có hình sắc mà được gọi là “Sắc giới” (nơi chúng sinh đã ly dục, hình dáng và cảnh sắc đều được trang nghiêm, thanh tịnh), hay những chúng sinh trong cõi không có hình thể “Vô sắc giới” (chúng sinh ở đây không có hình thể, sắc uẩn, chỉ còn Thọ, Tưởng, Hành, Thức bốn ấm vi tế nên còn gọi là Tinh thần giới); hoặc những chúng sinh có hình sắc nhưng còn cần đến nhu cầu tình cảm, nhiễm năm thứ dục lạc về: Tài, sắc, danh, thực, thùy nên gọi là Dục giới tạo nên ba cõi gọi là Tam Giới hiện diện trong cõi Ta Bà đầy đau khổ nầy.  

Đó là những điều đại khái mà chúng ta đi tìm hiểu tổng quát, sau đây chúng ta đi vào bộ Kinh Lăng Nghiêm để xem Đức Phật giải thích về con người (hay chúng sinh) và vũ trụ như thế nào! (Kinh Lăng Nghiêm do Hòa Thượng Thích Thiện Hoa dịch, trong bộ sách Phật Học Phổ Thông):

Đầu tiên hết, chúng ta sẽ quay trở lại xem con người, chúng sinh phát sinh từ đâu, và tại sao lại đến đây trong cõi Diêm Phù Đề đầy đau khổ nầy. Con người, chúng sinh vốn dĩ không có hình sắc mà chỉ là Tâm Thức của mình ở trong cõi yên tịnh với biết bao nhiêu Tâm Thức của nhiều chúng sinh khác. Nhưng do vì “sự không biết” hay còn ngu muội (Vô Minh) mà mọi Tâm Thức ấy rời cõi yên bình để bước vào vòng xoay của cuộc đời trần tục nầy với mọi sự tranh đấu, lường lận, gian manh của một thế giới rối loạn, ít vui, nhiều đau khổ. Và với những “hành động” Sát, Đạo, Dâm, Vọng do những tính tình, khí chất từ Tham, Sân, Si mà sinh ra qua Thân, Khẩu, Ý khiến con người, chúng sinh tạo thành “Nghiệp”, chính cái “Nghiệp” nầy lôi cuốn chúng sinh phải bị lâm vào một cái vòng “Tái Sinh” ở kiếp sau để đòi, trả nợ mình đã gieo với những chúng sinh khác trong nhiều kiếp trước, mà Đức Phật cho biết đó là “Vòng Luân Hồi”! Mọi con người, chúng sinh mà chúng ta gặp gỡ, tiếp xúc, quan hệ trong một kiếp nào đó đều là “Duyên nợ” để được trả hoặc đòi nợ đã có trong nhiều tiền kiếp. Và mọi việc xảy ra trong đời, nó được diễn tiến từ sự kiện nầy đến sự kiện khác, chẳng qua là do các món nợ, ân tình kết nối lại thành chuỗi mà danh từ “Duyên Khởi” (sự kiện khởi đầu) và tiếp nối nhau, việc xảy ra trước là nguyên nhân cho sự kiện sau cứ tiếp nối cho đến dứt, rồi sự kiện khác tiếp xảy ra sau, đó là “Trùng Trùng Duyên Khởi” cho đến khi chấm dứt cuộc đời thì thôi. Cho nên cuộc sống hiện tại là “Trả Nhân” trong kiếp trước, hay nói cách khác là “Nhận Quả” ở kiếp nầy; nhưng những hành vi trong kiếp nầy sẽ là “Nhân” của những kiếp sau. Do tùy những nhân nào nẫy mầm trong kiếp tới sẽ định hướng chúng sinh đó sẽ đi về giới nào trong sáu cõi của Vòng Luân Hồi như cõì: “Trời, Người, Atula, Ngạ Quỷ, Súc Sinh và Địa Ngục”. Đó là những điều cơ bản để chúng ta có thể hiểu dễ dàng hơn khi đi vào Kinh Lăng Nghiêm như chúng tôi đã trình bày ở trên.

Trong Kinh Lăng Nghiêm có đoạn:

 

“Các ông nên biết: Đất, nước, gió, lửa, hư không, cái thấy và thức tâm gọi chung là 7 đại, tánh của nó đều là chơn tâm viên mãn khắp giáp tất cả, vốn không sanh diệt. Các ông vì mê muội nên không biết”.

 

Đó là điểm khởi đầu mà Đức Phật cho biết về nguồn gốc của muôn việc trong vũ trụ và thế giới, ấy là sự hòa hợp, cái chung, không phân biệt khắp nơi và nó cũng chẳng sanh ra mà cũng chẳng mất, và Đức Phật ở đây cũng không nói xa hơn nữa. Điều ấy khiến cho chúng ta nhớ đến cái giáo thuyết Dịch Lý bên Trung Hoa: Khởi đầu vũ trụ là một khối hỗn mang, sau do biến động mà sinh ra “Nhất âm, nhất dương” và trở thành “chi vị đạo”, rồi từ đó mới “lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quai sinh vạn vật”. Hay trong khoa học cho là “Khối tinh vân” trong vận động của nó đã sinh ra Thái Dương Hệ và Thiên Hà. Hoặc trong sự phát triển của tế bào cũng là sự phân đôi. Cái phôi của bào thai cứ phân đôi mãi để trở thành thai nhi trong cơ thể của người mẹ rồi đợi ngày được sinh nở trở thành con người, chào đời cho một cuộc sống mới. Nhưng trong Đạo Phật còn cho chúng ta biết “Đất, nước, gió, lửa” tạo nên vật chất, thân thể con người, sinh vật; “Thức tâm” để nói lên cái nồng cốt, cốt lõi tinh thần của chúng sinh; và cùng “Cái thấy” ở chỗ khác Đức Phật nói rõ hơn là:

 

“Thấy, nghe, hay, biết sáu giác quan kể là một, cùng với hư không và bốn đại, thành ra sáu đại, tánh nó viên dung vốn không lay động, đồng một thể chơn tâm, không sanh không diệt, thế gian vì mê lầm không biết sanh tâm phân biệt, chấp cho nhân duyên sanh, hoặc tự nhiên có, đều không đúng cả”

 

 mà khi hình sắc con người, chúng sinh thành hình chúng được hiện diện qua các giác quan (lục căn) và nhận thức (lục thức) của những giác quan nầy. Còn tất cả đều nương tựa vào hư không và thân xác được tăng trưởng, lớn lên cũng là nhờ từ hư không mà nên. Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, tập 2 trang 247 có ghi:

 

“Phật tánh của chúng sanh chẳng hư, chẳng hoại, chẳng bị kéo, bị bắt, chẳng bị trói, bị buộc. Như trong chúng sanh có hư không, vì tất cả chúng sanh đều có hư không chẳng chướng ngại, chúng sanh đều chẳng tự thấy mình có hư không này. Giả sử nếu chúng sanh chẳng có hư không thời không có những sự đến, đi, đứng, ngồi, nằm, chẳng sống chẳng lớn. Do nghĩa này nên trong kinh ta nói tất cả chúng sanh đều có hư không giới, hư không giới đây gọi là hư không. Phật tánh của chúng sanh cũng như vậy”.

 

Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật cho chúng ta biết hai điều cơ bản: Chơn Tâm và Vọng Tâm: Chơn Tâm là căn bản của Bồ Đề, Niết Bàn tức là sự Giác Ngộ; còn Vọng Tâm là căn bản của Sinh tử luân hồi. Nếu người tu hành lấy Vọng Tâm làm căn bản thì không bao giờ giải thoát được mà còn giống như “nhận giặc làm con” chỉ phá hoại đến gia sản của mình chứ không lợi lộc gì cả; hay “nấu cát làm cơm” thì không bao giờ có được là cơm. Nhưng điều quan trọng nhất là: “Ai tu nấy chứng, không thể thay thế cho nhau được”!

Và sau đó, Đức Phật giải thích “Chơn Tâm” như sau:

 

“Tất cả các cảnh vật sum la vạn tượng trong thế gian nầy, đều ở trong chơn tâm; chơn tâm bao trùm khắp giáp cả mười phương thế giới”;

Và:

“Chơn Tâm nhiệm mầu vắng lặng mà thường sáng suốt chiếu soi” (Tánh giác diệu minh. bản giác minh diệu)

 

Từ cái “Chơn Tâm” nầy, Đức Phật đưa chúng ta đến cái giải thích toàn bộ sự hình thành vũ trụ như thế nào? Điều nầy được chứng minh qua đoạn Kinh sau:

 

“Từ một thể chơn tâm không khác, vì vọng niệm phân biệt có năng sở, bỉ thử sai khác, nên hiện ra có hư không và thế giới. Nhơn có hư không thế giới nên mới có chúng sanh. Đã có thế giới và chúng sanh lăng xăng đối đãi nhau, nên khởi lên vô số vọng tưởng phân biệt: Tốt xấu, phải, chẳng v..v…Vì thế mà sanh ra đủ các phiền não trần lao nhiễm ô. Cái có hình tướng và sanh diệt là thế giới, cái không hình tướng và yên tịnh là hư không; khác với hư không thế giới là chúng sanh vậy”.

 

Hay:

 

“Này ông Phú Lâu Na, thế giới, chúng sanh và nghiệp quả ba món điên đảo tương tục nầy đều ở trong Chơn Tâm, vì Vô Minh vọng động sanh ra “năng phân biệt” và “sở phân biệt” tương đối, nên vọng thấy có sơn hà đại địa, thế giới và chúng sanh, rồi tiếp tục sanh hóa, vô cùng hư vọng”.

 

Và một điều khác nữa, cũng góp phần tạo nên cái thế giới vũ trụ nầy mà Đức Phật đã nêu lên như sau:

 

“Tùy theo tâm của chúng sanh tạo nghiệp và phân biệt như thế nào, thì có ứng hiện ra như thế nấy”.

 

hoặc:

 

“Vốn sẵn thanh tịnh khắp giáp cả pháp giới, tùy tâm của chúng sanh phân biệt như thế nào, thì nó ứng hiện như thế ấy”.

Đó là sự thành hình vũ trụ, thế giới kể cả chúng sinh mà theo như Đức Phật đã chỉ rõ cho chúng ta biết khi những lời Ngài thuyết giảng được thu thập, gom góp lại trong bộ Kinh gọi là Kinh Lăng Nghiêm, Ngài không nói xa hơn nữa ngoài cái Chơn Tâm khắp cả Pháp Giới. Cái Chơn Tâm ấy rất nhiệm mầu, vắng lặng và thường sáng suốt chiếu soi (Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu). Nhưng do vì Vô Minh mà “vọng niệm phân biệt” sinh khởi, từ đó mới có hư không, thế giới và chúng sinh, mọi cảnh sum la vạn tượng trong thế gian, vũ trụ nầy đều tùy theo “tâm của chúng sinh tạo nghiệp và vọng tưởng, phân biệt như thế nào” thì những “ứng hiện” sẽ hiện ra như thế đấy. Và mọi sự biến đổi cũng từ đó mà ra!

 

Nguyên Thảo,

3/11/2025.