Sunday, May 3, 2026

*Rác! Vấn Nạn Của Con Người!


Những thời gian gần đây, thế giới loài người có nhiều báo động về thời tiết thay đổi bất thường trên thế giới. Đó là sự quan tâm đáng để ý, vì loài người là loài vật có nhiều trí khôn, biết tạo ra nhiều phương tiện, tiện ích cho cuộc sống, nhưng ít khi để ý đến môi trường xung quanh. Đến lúc tình trạng quá tồi tệ thì người ta quýnh quáng lên mà kêu gọi: “Hãy bảo vệ môi trường”! Tôi nói như thế không phải là không có cơ sở. Cơ sở gì đây nè? Ừ! Thì cứ nghĩ có phải loài người là loài thông minh trong muôn loài có mặt trên trái đất nầy không? Đúng vậy, con người biết tạo ra bom nguyên tử để tiêu diệt cả một thành phố trong nháy mắt, và người ta cũng biết tạo ra những vật nhỏ nhất và lớn hơn, kể cả bền bỉ để giữ gìn, tồn trữ, bảo quản thức ăn, vật dụng trong điều kiện tốt và được lâu dài. Nhất là từ khi người ta biết cách khám phá, chế xuất ra dầu hỏa và nhựa nilông. Sự sử dụng rộng rãi các chất đó đã tạo ra nhiều ô nhiễm, thải ra chất khí độc làm mất đi khí oxy của không khí, thế là tầng Ôzôn bị lủng lổ ở hai đầu cực của trái đất, khiến băng tan và nhiệt độ trái đất tăng lên; kéo theo độ nóng thay đổi theo từng khu vực và trên mặt biển, khiến không khí đột biến thay đổi gây nên những hiện tượng nino và nina cực đoan nên mưa lũ hoặc hạn hán nhiều nơi, gây khó khăn cho đời sống con người.

Tôi không biết Ông Phật nói có đúng không? Chứ Ông bảo rằng: Tùy theo tâm của chúng sinh trong quốc độ nào đó như thế nào, thì sẽ tạo tác ra môi trường như thế đó. Tâm chúng sinh là “Chánh báo” và môi trường sống là “Y báo”. Y báo tùy theo chánh báo thế nào mà thể hiện theo. Tâm hỗn loạn nóng nảy thì môi trường sẽ biến động theo; sôi động chừng nào thì môi trường khủng khiếp theo như thế đó. Còn các nhà khoa học thì nhìn thấy được nhiều yếu tố: Sự tỏa nhiệt nóng lên do sinh hoạt hằng ngày, sự bảo vệ môi trường không tốt, cùng nhiều yếu tố khác như khí thải chẳng hạn. Từ những suy nghĩ ấy người ta nghĩ đến chuyện cắt giảm khí thải bằng giảm đi các xe chạy xăng dầu; nhà máy điện bớt sử dụng khí ga; giảm sử dụng chất nilông không bị tiêu hủy theo thời gian, chúng dễ gây nên hiệu ứng nhà kính; và các thành phố tắt đèn vào một đêm nào đó để giúp bớt độ nóng của trái đất; và dùng đèn led ít tỏa nhiệt thay thế các bóng đèn củ xưa. Đó là những giải pháp tốt để đáp ứng cho môi trường. Tuy nhiên, chuyện con người mới là quan trọng! Tại sao vậy? Vì ngày xưa, con người trên trái đất không nhiều, nên sự tỏa nhiệt chưa là vấn đề, nhưng ngày nay biết bao nhiêu tỉ người thì có bao nhiêu tỉ ngọn lửa âm thầm tỏa ra năng lượng; mà chỉ cần vài tỉ người “nộ khí xung thiên” lên thì nhiệt lượng sẽ tăng hơn biết là bao nhiêu. Ấy là chưa kể đến chiến tranh tàn phá khủng khiếp, phá hoại môi trường một cách tàn khốc. Vậy thì con người phải nghĩ ra sao?

Nói chuyện lớn không bằng nói chuyện nhỏ, chuyện nhỏ nhiều ngày nó trở thành chuyện lớn. Đó là chuyện rác. Có một ngày tôi đến một quán nước hay đúng hơn là một tiệm cà phê, thức ăn. Quán khá đông người, thế mà tôi phải cố gắng nuốt cho trọn ly cà phê ấy vì dưới mặt đất, nhất là trong các góc bàn hay bìa tường đầy những đờm, khạc nhổ thật là ghê tởm. Rồi hôm khác lại đến quán bán bánh canh, người ta khen ngon, nhưng lại thấy đầy giấy tissue ở dưới đất. Tôi cảm thấy chẳng còn ngon nữa vì tục ngữ ta có câu” “Nhà sạch thì mát, bát sạch thì ngon”! Lại nữa ở những bãi biển đẹp đẽ, mà đầy miểng chai, vật liệu nilông, đầy giấy.. mà không ai dọn dẹp. Rồi đến một ngày đọc trên báo thấy những người Nhật đi xem trận đấu bóng đá quốc tế ở Brazil thì phải, xong trận ai ra về thì ra về, nhưng những người Nhật nầy lấy bao nilông lượm rác ở khu vực chung quanh bỏ vào làm cho sạch sẽ. Tại sao lại như vậy? Thì ra, khi đi đến nước Nhật mới biết dân Nhật họ rất sạch sẽ, ở dọc đường không thấy những thùng rác công cộng như nhiều nước đã có, chứ chưa nói đến những nước mà dân chúng cứ xả ra bất cứ ở nơi nào, một cách vô tội vạ! Họ được giáo dục như thế nào và từ lúc nào? Có thể từ trong nhà trường từ lúc còn nhỏ, họ không xả rác mà trong túi lúc nào cũng có các bọc để đựng rác. Ít thì họ bỏ vào bọc cho vào túi đem về nhà bỏ vào thùng rác. Nghe kể mà không biết có phải là như vậy không? Chứ kiếm thùng rác công cộng ở Nhật là hơi khó thật đó!

Nhớ lại ngày xưa, khi còn đi học ở dưới thành phố, và ở trọ trong khu vực nhà ổ chuột, đầy dân lao động của xóm Cầu Bông và bên kia bờ kênh rạch. Vào thời bấy giờ vì là thời kỳ chiến tranh khiến nhiều nơi người ta phải bỏ quê để lên sống ở nơi nầy được nhiều yên ổn hơn. Thế cho nên thành phố càng đông người, nhà sàn san sát, rồi từ đó mọi rác rến không thể giải quyết hết, người ta tha hồ quăng liệng đầy trên kênh rạch, nhất là vấn đề vệ sinh cá nhân, tiêu tiểu mỗi ngày. Chúng tôi thường xuyên dọn mâm cơm trước nhà bên bờ kênh mà ăn trước nhiều phân người nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Thế mà khi nước lên vẫn có người lội xuống đó để tắm, ghê thật! Lúc đó, nước chưa đến đỗi đen ngòm, hôi thối. Nhưng sau đó vài năm người dân phải sống chung với những mùi khó chịu và trong tình trạng tồi tệ hơn nhiều. Mọi việc vẫn chẳng có gì phiền hà và không có gì thay đổi. Sự tồi tệ vẫn tồi tệ hơn nhiều!

Có một lần tôi xem những đoạn phim phổ biến trên mạng you tube, khi mà người ta lái con thuyền, hay xuồng máy trên sông lớn. Không ngờ cứ đi được mỗi đoạn, người ta phải ngừng lại để gỡ nhiều rác rến, nilông quấn vào chân vịt của máy khiến máy có nhiều trục trặc. Hoặc nhiều nơi trên sông rạch cá bị chết nổi lên trên mặt nước. Tại sao cá lại bị chết? Đó là do vấn đề ô nhiễm, vậy vì sao bị ô nhiễm? Tất nhiên là do vấn đề xả rác từ con người và rác trong thiên nhiên. Rác trong thiên nhiên như thân, lá cây; xác động vật chết hay phân của các loài bị nước mưa hay nguồn kéo trôi vào sông rạch biển cả. Nhưng đối với những vật liệu, phế thải từ con người tạo nên thì thường ít tan rã trong thiên nhiên theo thời gian; cho nên khi rác ấy đi vào nguồn nuớc lâu ngày sẽ bị đen, bốc mùi hôi thối làm cho người ta khó chịu, lẫn các loài sống dưới nước như cá, rùa không thể chịu được và chết đi. Chúng ta thử nghĩ nếu mọi nơi rác được thải ra trôi theo dòng nước và thải ra trong biển cả thì lâu ngày thế giới sẽ ra sao? Điều ấy khiến cho con người nên suy nghĩ lại rất nhiều! Nhất là đối với loài vật thông minh nhất hành tinh như ở loài người chẳng hạn!

Rồi tôi lại nhớ lại ở một thời tại một trường học nọ. Trường được giữ gìn vệ sinh khá tươm tất. Mỗi lớp học đều có một cần ché nhỏ, vì lúc ấy không có thùng rác như bây giờ, để ở phía trước hành lang. Học sinh không thể xả rác bừa bãi mà phải bỏ rác vào trong cần ché nhỏ ấy. Cuối giờ đội trực sẽ đem đổ ra ngoài hố rác, vì vậy trường lúc nào cũng sạnh sẽ. Có nhiều lúc đứng ngoài cổng nhìn vào sân trường mà mình cảm thấy ớn lạnh vì chẳng có mảnh rác nào. Rất tiếc là thời ấy người ta chẳng có kế hoạch nào để thu gom rác ở địa phương. Như vậy trường dơ là do nhà trường không có kế hoạch. Địa phương tồi tệ là cũng do chẳng có kế hoạch nào! Đất nước tồi tệ là do nơi chính phủ chẳng hề có sự lưu tâm. Ở nơi với trình độ cao hơn, người ta chú trọng đến những sở rác và kế hoạch tiêu hủy rác như thế nào để thích hợp với môi trường. Sau đến là các địa phương gom rác ra sao bằng các khu tập kết rác để người có trách nhiệm đến thu gom hay các xe đến từng đường phố, từng nhà thu gom. Hiện nay, trên thế giới người ta còn tiến thêm một bước nữa là phân loại rác ngay trên các thùng rác để tiện việc cho phương thức tái chế các vật liệu có thể được sử dụng trở lại, vừa tiết kiệm lại vừa bảo vệ được môi trường, giảm thiểu số rác thải ra một cách hoang phí và gây nhiều ô nhiểm. Nếu sự chuẩn bị đã được tính kỹ càng thì cuộc tiến hành sẽ dễ dàng hơn. Giả sử người dân chưa có ý thức thì các phương tiện truyền thông, tuyên truyền có thể dành cả một tháng để kêu gọi vận động, hay trong một thời gian nhất định nào đó để dân chúng hiểu rõ vấn đề lẫn sự lợi hại của việc xả rác. Sau thời gian giới hạn ấy là những hình phạt xả rác từ nhẹ lúc ban đầu, đến càng nặng về sau thì tất nhiên người dân không thể không có thói quen tốt. Cuối cùng với việc giáo dục từ truyền thông, từ trong trường học một cách lâu dài thì sự sạch sẽ, bảo vệ môi trường của một đất nước sẽ được tốt giống như nước và dân Nhật đã làm. Tôi còn nhớ vào những năm giữa 1960, ông chú tôi có dịp sang Singapore; khi về ông có kể ở Singapore xã một đầu lọc thuốc hút ra đường hay một miếng rác bị phạt rất là nặng, nên đường phố rất sạch sẽ. Không có một sự tự nguyện, tự ý thức nào của con người mà không có sự giáo dục lẫn hình phạt răn đe theo sau, để họ làm theo những điều tốt và ích lợi cả! Trong mỗi con người đều có những sự phản kháng luôn có khuynh hướng chống lại những gì mà họ không thích hay bị bắt buộc. Nhưng trong một tập thể, một xã hội không thể không có các biện pháp để chế tài những ngông cuồng, chống báng, nhằm biến cho môi trường sống được tốt đẹp cả!

 

Đồ Ngông,

04/05/2026. 


Friday, May 1, 2026

*Vấn Đề VI: Nhân Quả Và Luân Hồi. (Tt)


Xem như thế thì “túi nghiệp” của ai nấy mang, và những chủng tử (hạt giống, nhân) họ đã gây nên được chứa trong túi ấy, khi đúng lúc nẫy mầm thì chính họ phải trả quả, không ai có thể thay thế cho họ được. Nếu tạo nghiệp quá nhiều thì đường về giác ngộ của họ sẽ kéo dài càng lâu sau khi đã trả hết nghiệp quả!

Ở đây, chúng tôi cũng muốn bàn thêm chút ít về vài ý niệm, mà Đạo Phật đã ví dụ cuộc đời trong cõi Ta Bà nầy như là chúng sinh chìm đắm vào trong bể khổ, đồng thời để chúng ta có thể hiểu thêm về những ý niệm cũng như về danh từ mà trong Đạo Phật người ta dùng rất nhiều gần như phổ thông. Ý niệm, hình ảnh ấy là gì?

Chúng ta để ý đến cái Phật Tánh mà Đức Phật đã nói. Mỗi con người, chúng sinh đều có Phật Tánh trong mình. Phật Tánh ấy cũng được gọi là Tâm (cái Chơn Tâm, trái với Vọng Tâm) là cốt lõi của từng chúng sinh. Đôi khi người ta cũng nói là Tâm Thức, nhưng Thức là phần nhận thức, nó là một trong 7 đại kết hợp từ lúc ban đầu trong vũ trụ, thiên nhiên. Đó là: Đất, Lửa, Gió, Nước, Hư Không, Tâm, và Thức (Thức tức là Thấy, nghe, hay, biết). Tâm kết hợp trong 7 Đại, chúng ta có thể xem nó như là “bản chất chung” của tất cả mọi chúng sinh, chúng có thể kết hợp lại với nhau mà trong Đạo Ấn Độ gọi là Đại Ngã, và Tâm từng chúng sinh là Tiểu Ngã. Với cái Phật Tánh ấy người nghiên cứu nhiều về kinh điển thì chỉ thấy Đức Phật có đề cập trong Kinh Đại Niết Bàn chứ không đề cập ở nhiều Kinh khác. Không biết điều ấy đúng hay không, nhưng quả thật trong Kinh Đại Niết Bàn ở Phẩm Tà Chánh thứ chín, Đức Phật đã có phần đề cập về Phật Tánh ấy như sau:

-Lại có Tỳ kheo giảng tuyên giáo điển đại thừa rất sâu của chư Phật rằng: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh sẽ dứt trừ vô lượng phiền não bèn thành bực vô thượng chánh giác, trừ hạng nhứt xiển đề. Nếu có người hỏi Tỳ kheo: Nhà thầy có Phật tánh chăng? Sẽ được làm Phật hay không? Tỳ kheo đáp: Chính tôi đây quyết định có Phật tánh, còn thành Phật hay không chưa có thể thẩm định. Người lại nói Đại Đức không phải hạng nhứt xiển đề, tất được thành Phật không còn nghi ngờ gì. Tỳ kheo đáp rằng: “Vâng! Đúng như lời người đã nói”.

Và:

-Dầu tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng phải do nơi trì giới rồi sau mới được thấy. Do thấy Phật tánh mà được thành vô thượng chánh giác.

Trong chín bộ kinh, không có kinh đại thừa phương đẳng, cho nên không nói có Phật tánh. Dầu không nói, nhưng phải biết là thiệt có Phật tánh.

Và trong Phẩm Như Lai tánh thứ mười hai:

-Phật dạy: “Nầy Thiện nam tử! Ngã tức là Như Lai Tạng. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh tức là nghĩa của Ngã. Nghĩa của ngã như vậy từ nào tới giờ thường bị vô lượng phiền não che đậy, vì thế nên chúng sanh chẳng nhận thấy được”.

-“Nầy Thiện nam tử! Phật tánh của chúng sanh cũng như vậy, tất cả chúng sanh chẳng nhận thấy được. Khác nào cô gái nghèo có kho vàng mà chẳng biết. Hôm nay ta chỉ bày Phật tánh sẵn có của tất cả chúng sanh hiện bị các phiền não che đậy. Như cô gái nghèo kia trong nhà sẵn có kho vàng nhưng không thấy được. Hôm nay đức Như Lai chỉ bày kho báu giác tánh cho chúng sanh, đây chính là Phật tánh”.

-“Phật tánh hùng mãnh không thể hư hoại, vì thế nên không ai có thể sát hại được. Nếu sát hại được thời Phật tánh dứt, nhưng Phật tánh trọn không thể dứt, vì không bao giờ tánh có thể dứt được”.

Có lẽ do vì như thế mà trong Đạo Phật mới có câu “Minh tâm, kiến tánh” (Làm cho tâm yên tịnh trong sáng, thì sẽ thấy được tánh); và cũng từ đó Đức Phật sau khi tìm được “tánh” của mình và trở thành Bậc Giác Ngộ đã khẳng định: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Nhưng chúng sinh bằng cách nào để tìm thấy “tánh” của mình. Đó là con đường dẫn đến “Lục Độ” với 36 Phẩm Trợ Đạo, tức là con đường đến “Đạo Đế” vậy!

Giờ chúng ta trở lại vấn đề những hình ảnh, ví dụ gắn liền với nhiều từ ngữ mà trong Đạo Phật thường sử dụng đến, nhất là với hệ phái Bắc Tông. Ví dụ ấy như thế nào?

Phật Tánh hay Tâm từng chúng sinh (Tiểu Ngã) vốn hòa hợp trong cùng một thể (Đại Ngã), cùng viên dung với 6 Đại khác (Đất, Lửa, Gió, Nước, Hư Không, Thức (thấy, nghe, hay, biết) trong vũ trụ (Pháp Giới). Nhưng vì sự vọng động của Tâm, từng chúng sinh do sự không biết, u mê (Vô Minh) mà mượn đến tứ đại để tạo nên thân xác, rồi rời cõi yên tịnh ấy bắt đầu bước vào cuộc sống khác, làm mất đi sự sáng suốt tự có của ban đầu và tiến vào vùng bể mênh mông. Nơi bước xuống đó được gọi là “Mê Tân” (bến mê); vùng bể đầy sự khổ “Khổ Hải” (biển khổ); để rồi với thân xác đòi hỏi mọi nhu cầu ăn uống, sống, ấm no,…Chúng sinh phải cung ứng nhu cầu với hành động từ “Thân”, suy nghĩ từ “Ý”, ngôn ngữ từ miệng (Khẩu) để đủ mọi cách đáp ứng các nhu cầu cho thân xác. Tất nhiên có ít thì muốn nhiều do sự “Tham”; muốn mà không được trở nên “Sân”; Sân quá không kiềm chế được thì trở nên “Si” (mê muội, u tối) mà sinh ra những hành vi “Sát, Đạo, Dâm, Vọng” để gây “Nhân” tạo nợ với chúng sinh khác. Có nhân tất phải trả “Quả”, cho nên bị lôi cuốn trong vòng vay trả, trả vay khó hề dứt: Đó là “Vòng Luân Hồi”. Chúng sinh chơi trong vùng biển khổ ấy khi thì chìm dưới đáy “Địa Ngục, Ngạ Quỷ”; hay lưng chừng “Súc Sinh”, A Tu La” hoặc ở trên mặt nước như “cõi Trời” (Thiên), thấp hơn là “cõi Người” tức “6 nẽo Luân Hồi” (Lục Đạo Luân Hồi). Nếu chúng sinh nào đó chán cuộc chơi thì quay đầu lại để lội vào bờ (Hồi Đầu Thị Ngạn) bằng cách tu hành, sống tốt tạo ít nhân Ác, nhiều nhân Thiện bằng các phương thức đến với Đạo Đế: Tích cực như “Tu Sĩ”; nửa chừng như “Tu Tại Gia” hay thường hơn “Sống Thiện Lành” tránh gây ác. Khi trả quả gần hết thì sẽ về đến bờ lúc nầy gọi là “Bờ Giác” (Giác Ngạn). Lúc bước lên bờ ấy là “Bậc Giác Ngộ”, thành Phật; cõi yên tịnh đó khi còn sống gọi là “Hữu Dư Y Niết Bàn”; và lúc chết đi thì gọi là “Vô Dư Y Niết Bàn”, và vào cõi thanh tịnh, không biến động được gọi bằng nhiều danh từ khác là: Pháp Giới, Yêm Ma La Thức, cõi Phật, Bồ Đề, Chơn Như, Pháp Tánh, Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh Trí.

 

Nguyên Thảo,

02/05/2026. 

Saturday, April 11, 2026

*Vấn Đề VI: Nhân Quả Và Luân Hồi.


Theo như bài trước, chúng ta đã tìm hiểu một cách khái quát về cuộc sống con người qua phương diện của vài phần Duy Thức, là môn Tâm Lý Học của Phật giáo, để biết được những gì con người đã suy nghĩ, hành động như thế nào? Kết quả việc làm ấy ra sao? Và chúng sẽ đi về đâu? Kết cuộc mọi hành động dù là nhỏ nhoi cũng không hề được bỏ qua như trong Kinh Địa Tạng đã đề cập đến lời Ngài Bồ Tát Địa Tạng tuyên xưng:

“Vì thế chúng sanh chớ khinh điều quấy nhỏ mà cho là không tội, sau khi chết đều có quả báo dầu đến mảy mún đều phải chịu lấy”.

Từ đó, chúng ta nghĩ lại với mọi hoạt động của con người, chúng sinh đã làm dù trong hành vi, suy nghĩ, lời nói hay một cách khác là từ “thân, khẩu, ý” trong cuộc sống đều là những “Nhân” (hạt giống). Và những nhân ấy sẽ được tích lũy vào đâu? Tất nhiên chúng sẽ được chứa vào trong cái “Tàng Thức” hay thức thứ 8, là A lại Da Thức. Khi con người mất đi thì thân xác, tiền của danh vọng, người thân như ba người vợ trước đều từ giả ta; nhưng, cuối cùng có bà vợ đi theo ta mãi mãi: Ấy là cái túi nghiệp A Lại Da Thức mang tất cả những “nhân” mà ta có theo ta mãi mãi, dù đi đến bất cứ nơi đâu trong các cõi của Vòng Luân Hồi! Dù là ở cõi Trời, cõi Người, A Tu La, Súc Sinh, hay phải “chiêu cảm” những hình phạt do tội nghiệp của mình mà ra ở cõi Địa Ngục hay Ngạ Quỷ. Vậy những cõi ấy do đâu mà có? Theo những ý thức, nhận thấy của Đức Phật Thích Ca cho biết sau khi Ngài đã “Giác Ngộ” thì con người, chúng sinh vì “mê muội” (Vô Minh) đã rời cõi thanh tịnh ban đầu, mà mượn đến các yếu tố trong vũ trụ - hay theo Phật pháp là Pháp Giới- như Đất, Lửa, Gió, Nước, Hư Không, Kiến Đại (thấy, nghe, hay, biết) để làm thân xác của mình. Do đó, mà sự sáng suốt, tự chiếu soi đã có tự trong bản chất, bị giam hãm trong cái thân xác vừa được tạo ra. Và với thân xác ấy có nhiều nhu cầu, đòi hỏi, ham muốn về vật chất lẫn tinh thần, mà “người chủ nhân” phải đáp ứng như đói, no, ấm lạnh, sướng khổ, hạnh phúc thỏa mãn hay chưa thỏa mãn… rồi nhu cầu từ ít cho đến nhiều. Mỗi việc mỗi hành động đều tạo thành một cái “nhân”. Đã có “nhân” tất sẽ có nẫy mầm để trả “quả”. Bị cuốn trong cái vòng xoay vòng ấy, Đức Phật gọi là Vòng Luân Hồi. Trong vòng luân hồi Đức Phật với Phật Nhãn thấy có sáu cõi như vừa kể trên, mà chúng sinh sẽ phải trải qua, tùy theo những nhân nào sẽ nẫy mầm trong giai đoạn đó; tức là các nhân sắp nẫy mầm đồng loạt sẽ quyết định nơi nào chúng sinh sẽ tái sinh về để nhận quả. Tất nhiên, với những hành vi của kiếp ấy, chúng sinh sẽ có tạo nhiều nhân khác vừa có thiện, ác, không thiện không ác -hay gọi bằng danh từ khác là “vô ký”- sẽ tiếp tục được bỏ vào trong túi A lại Da Thức. Nhân cứ tiếp tục gây trong kiếp kế tiếp thì quả còn liên tục kéo dài nên chúng sinh khó ra khỏi vòng luân hồi. thế cho nên trong Kinh có câu: “Bồ Tát thì sợ nhân, chúng sinh thì sợ quả” là do từ tinh thần ấy!

Trong Duy Thức có đề cập đến các tính chất mà các nhân trong túi A Lại Da Thức khởi động nẫy mầm. Có ba thứ: Dị thời nhi thục (Khác thời mà chín: tức là khác thời gian); Dị loại nhi thục (Khác loài mà chín: tức là khác loài, tùy theo loài mà có thời điểm); Diến dị nhi thục (Biến đổi khác chất mà chín giống như xoài lúc nhỏ thì xanh, lúc chín lại vàng). Do vậy, chúng ta có thể hiểu rằng: Với vô số hạt nhân trong túi Tàng Thức, có nhiều hạt giống khác nhau và thời điểm chúng nẫy mầm cũng khác nhau, cho nên có rất nhiều hạt giống sẽ đồng loạt nẫy mầm trong thời điểm kế tiếp. Chính những hạt giống ấy sẽ định chúng sinh sẽ tái sinh đi về cõi nào trong kiếp đó để trả quả. Nếu có phước đức đủ đầy với nhiều nhân thiện thì sẽ về cõi Trời để hưởng phước báu; ít hơn thì sinh về cõi Người hay A Tu La. Nhiều nhân Ác thì sẽ về cõi Súc Sinh hay Địa Ngục, Ngạ Quỷ. Tuy nhiên, nếu được về cõi người mà kiếp đó nhân Thiện nhiều hơn thì con người sẽ có tướng tốt, đẹp người, trong hoàn cảnh sung sướng, khỏe mạnh, làm ăn thuận lợi, ít gặp nghịch cảnh hơn. Còn trong kiếp ấy có quá nhiều nhân xấu thì thân người bị xấu xí, đau yếu, tàn tật, sinh ra trong hoàn cảnh đầy khó khăn, cuộc sống có nhiều vất vả, đau khổ, mọi việc không thuận lợi. Đó là những điều kiện của cá nhân mà trong Đạo Phật có danh từ gọi là Biệt Nghiệp. Còn có nhiều người liên đới có Nghiệp tương đối giống nhau trong kiếp nào đó sẽ liên kết chịu chung một số nghiệp nào đó thì họ sẽ trở thành thân thiết, dòng họ hay gia đình cùng nhau gọi bằng danh từ Cộng Nghiệp, giống như trong khoa học gọi là “cùng một chuỗi Gen di truyền” với nhau vậy!

Đức Phật cho biết mọi chúng sinh đều đã bị lôi cuốn vào trong cái vòng Luân Hồi ấy, càng vướng vào thì càng bị quay cuồng, càng tạo nhiều nghiệp khó mà thoát ra được, giống như con tằm càng nhả thêm tơ thì càng quấn chặt vào mình; hay ở những nơi có tuyết người ta ví như một vật tròn nào đó lăn trên tuyết càng lăn thì tuyết càng dính vào nhiều, bóng tuyết thì càng lớn ra, thì càng khó tháo gỡ ra hết, hay thời gian tháo gỡ phải nhiều hơn. Chúng sinh muốn thoát ra để trở thành như ban đầu sẽ vất vả khá nhiều.

Nhưng với nghiệp của chúng sinh thì không ai tháo gỡ, hay chịu thế cho ai cả như trong Kinh Địa Tạng có cho biết:

“Chí thân như cha với con, mỗi người cũng theo nghiệp của mình mà đi khác đường, dầu cho có gặp nhau cũng chẳng bằng lòng chịu khổ thay nhau”

 

Nguyên Thảo,

12/04/2026.

  

Saturday, March 7, 2026

*Vấn Đề V: Nghiệp qua Cơ Bản Của Duy Thức Học! (Tt)


 Và nhất là những cái “Ác kiến” mà ta cố giữ lấy, nghịch với cái điều mong muốn của ta khiến ta cũng trở nên “phiền não” không kém: Cái của ta mới là đúng là hay (Thân kiến), hoặc định kiến về một bên nào đó (Biên kiến), giữ chắc điều mình biết dù đó là không đúng (Kiến thủ), hay theo “Tà kiến” (mê tín, dị đoan, chấp tà) hoặc tuân theo những giới tà, giới không đúng, điều không hay không thích hợp gọi là “Giới cấm thủ”.

 

(Ác Kiến: Thân Kiến; Biên Kiến; Tà Kiến; Kiến Thủ; Giới Cấm Thủ).

 

Từ 6 cái phiền não chính yếu nầy được biến hiện theo từng giai đoạn, hoặc để diễn tả những cái tâm tính đó mà môn Tâm lý học Phật giáo phân tích cho chúng ta thấy đặc điểm của chúng trong 3 phạm vi:

-Ở phạm vi nhỏ hẹp, nên gọi là “Tiểu” (Tiểu tùy). Có 10 Tiểu Tùy: Chúng thể hiện ở con người bằng sự giận dữ (Phẫn: Giận) khi không đạt được điều mình mong muốn, hoặc đổ dồn lên người cản trở làm cho họ không thành công; hoặc dỗi hờn (Hận: Hờn), một cái tính ngấm ngầm khiến cho chính mình bị buồn phiền, đôi khi lại tìm cách hãm hại người khác để thỏa mãn sự hờn căm đó (Hại: Tổn hại). Muốn người khác không thấy, không nhìn ra điều giận dỗi, hờn căm ấy người ta thường che giấu bằng thái độ khác ở bên ngoài (Phú: Che giấu), hay bằng sự dối trá (Cuống: Dối trá); và nhẹ hơn thì mình lại buồn bã, buồn buồn (Não: Buồn buồn). Nhưng có 3 tính mà con người thường thể hiện rõ ràng trong nhiều lúc, đó là Tật (Tật đố, ganh ghét) đố kỵ với những người hơn mình; Siểm (Bợ đỡ, nịnh hót) đối với những người giàu có, quan quyền hơn mình. Để khi mình được hơn người thì trở nên kiêu căng (Kiêu: Kiêu căng) ngoài cái tính bỏn xẻn, ích kỷ không ban bố, chia sẻ vật chất cũng như tinh thần đối với người khác (Xan: Bỏn xẻn).

 

(10 Tiểu Tùy: Phẫn; Hận; Phú; Não; Tật; Xan; Cuồng; Siểm; Hại; Kiêu).

 

-Ở phạm vi rộng hơn một chút, tiếng chuyên môn hơn gọi là Trung Tùy: Có hai thứ, đó là Vô Tàm (không biết xấu hổ) và Vô Quí (không biết thẹn, mắc cỡ). Những người có hai tính nầy dễ gây những tội ác, điều không thiện vì họ có mắc cỡ, xấu hổ đâu để sợ mà không tái phạm, không dám làm.

 

(2 Trung Tùy: Vô Tàm; Vô Quý).

 

-Và có 8 Đại Tùy tức là tám tính chất nó bao trùm trên mọi tính chất khác làm cho con người khó tránh khỏi phiền não và không phân biệt được để tránh những hành động bất thiện. Đó là tâm dao động không được yên tĩnh (Trạo cữ); bị u tối thiếu sáng suốt để nhận định (Hôn trầm); không tin tưởng vào các pháp lành hoặc người ta khuyên bảo (Bất tín); hoặc biếng nhác, không siêng năng tập tành, kiểm nghiệm lại những hành động, điều thiện (Phóng dật); để rồi bị rối loạn (Tán loạn); mất chánh niệm (Thất niệm); và không biết đâu là chánh, đâu là bất chánh và không kiểm soát được hành động của mình (Bất Chánh Tri).

 

(8 Đại Tùy: Trạo Cử; Hôn Trầm; Bất Tín; Giãi Đãi; Phóng Dật; Thất Niệm; Tán Loạn; Bất Chánh Tri).

 

Ngoài 5 Tâm Sở Biệt Cảnh, 5 Tâm Sở Biến Hành, 6 Tâm Sở Phiền Não, còn có 4 Bất Định Tâm Sở, gọi như vậy vì nó không hẳn là thuộc về Thiện hay Ác. Vì ăn năn (Hối), hối tiếc vì đã làm bậy thì nó là thiện, mà hối tiếc là sao không đánh người kia thì hối tiếc nầy là bất thiện. Hay “Miên” là ngủ thì nó cũng chẳng hẳn là thiện hay là bất thiện; “Tầm” (tìm cầu) cũng tùy theo sự kiện, mục đích mới phân biệt được thiện hoặc bất thiện. Và “Tứ” (Chính chắn xét) cũng là để cho tâm được yên ổn chứ nó chưa hẳn là thiện hay ác.

 

(4 Bất Định Tâm Sở: Hối; Miên; Tầm; Tư).

 

Với những từ ngữ chuyên môn làm cho chúng ta khá khó hiểu, nhưng nếu chúng ta tìm hiểu vào con người thì chúng ta có thể tương đối dễ hiểu hơn: Vì con người có thể xác, trên thân xác có 5 giác quan để chúng ta tiếp xúc với môi trường ngoại cảnh chung quanh, khi tiếp xúc (giai đoạn Xúc, Tác Ý, Thọ, Tưởng, Tư) thì chúng ta mới có những nhận thức tổng hợp qua ý thức để rồi từ đó chúng ta mới biết cái nào đẹp, cái nào xấu; cái nào mình thích, cái nào không thích. Từ cái biết tổng quát ấy, cái “Ta” Mạt-Na-Thức mới xuất hiện Ham, Muốn (Dục, Ái) để có ý thức giành lấy, chiếm đoạt cho được để làm của “Ta” và hành động mới xảy ra (tư tưởng thể hiện ra hành động). Đối với con người Thiện thì Dục, muốn nhưng người ta còn Thắng giải, Niệm, Định, Huệ trước khi hành động. Có hai con đường mà con người để hành động, một là Thiện với những tâm tính của một người thiện lành như Tín, Tinh Tấn, Tàm, Quí, Vô Tham, Vô Sân, Vô Si, Khinh An, Bất Phóng Dật, Hành Xả, Bất Hại. Và con đường Bất Thiện với nhiều phiền não cho mình và có hại cho người trong 6 phiền não chính Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến để từ 6 phiền não ấy nẩy ra các phiền não phụ khác tàn phá và giết hại thân xác con người của chính mình và khiến mình làm những điều bất thiện đối với người khác hay xã hội. Tham: Người ta ham muốn về tiền bạc, vật chất; người ta muốn danh vọng, địa vị; người ta ham mê sắc đẹp, dục vọng xác thịt; người ta cũng muốn chiếm đoạt… những thứ mà họ thích. Họ có ít họ lại muốn có thêm nhiều (túi tham không đáy). Nếu những điều họ muốn mà bị cản trở không thành, họ trở nên giận dữ, hờn căm (Sân hận). Khi họ giận quá trở nên mất khôn, họ lâm vào “Si mê” thì họ có thể giết người, hãm hiếp, cướp giật, cướp của giết người, hay lường gạt bằng thủ đoạn, gian xảo, lừa dối tức là đi vào những điều mà Đức Phật phân tích là “Sát, Đạo, Dâm, Vọng” để gây tội ác, tạo nên nghiệp. Những nghiệp gây ra đó là những hạt “Nhân” mà con người đem bỏ vào trong túi chứa “A-Lại-Da-Thức”; đợi trong một kiếp, hay lúc nào đó hội đủ điều kiện sẽ nẩy mầm thành “Quả” mà người gây ra sẽ phải trả theo Luật Nhân Quả. Khi nào trong túi chứa A-Lại-Da-Thức không còn hạt nhân ác nữa thì khi đó con người sẽ thoát khỏi vòng Luân Hồi để được an nhiên tự tại nơi Niết Bàn vậy. Cho nên Đức Phật luôn nhắc đến 3 tính “Tham, Sân, Si” và xem chúng như là “ba món độc” khiến con người bị chìm đắm trong vòng Luân Hồi. Muốn đối trị được chúng thì chỉ có cắt đứt “Dục” và “Ái”, Vì không “Ham” và “Muốn” thì đâu có Tham, không tham thì lấy gì mà giận dữ, không giận dữ thì sao bị si mê mà lọt vào vòng sát, đạo, dâm, vọng để tạo nghiệp, không nghiệp thì chẳng có nhân, không gieo nhân thì nào có quả để mà phải Luân Hồi để trả nghiệp bao giờ.

Cái hiểu đơn giản của tôi thì như thế, viết ra để Quý vị có thêm tài liệu, có vài ý kiến tham khảo và thử ngẫm nghĩ cuộc đời xem sao; để rồi nhìn lại những mắm, muối, tiêu hành nào đó đã làm cho cuộc đời này có thêm nhiều đau khổ lại càng đầy khổ đau.

 

Nguyên Thảo,

08/03/2925. 

Friday, February 20, 2026

*Vấn Đề V: Nghiệp Qua Cơ Bản Của Duy Thức Học! (Tt)

 

Trong phần trên chúng tôi đã nhân cơ hội kể về chuyện học Cách trí (năm giác quan) ngày xưa mà bàn cùng Quý vị về Tiền ngũ thức, Ý thức, Mạt-Na-Thức cùng A-Lại-Da-Thức coi như đó là những thành tố, kết cấu lại để điều khiển thân xác con người (kể cả các loài vật) hành động và tạo tác qua mọi ước muốn; từ đó tạo thành con người năng động hay một xã hội phức tạp muôn chiều, mà chúng ta phải lặn hụp trong đó với vui sướng thì ít, mà đau khổ thì nhiều. Và với những sự kiện đó khiến xã hội hay thế giới có những biến chuyển khó lường! Những “thành tố chính”, “chủ” ấy được gọi là “Tâm Vương” trong môn Duy Thức Học bằng tiếng Hán Việt:

 

(Tâm Vương: Tiền Ngũ Thức (Nhãn thức; Nhĩ thức; Tỹ thức; Thiệt thức; Thân thức); Ý Thức; Mạt Na Thức; A Lại Da Thức).

 

để rồi từ các Tâm Vương này chúng ta có thể tìm hiểu sâu hơn về biến chuyển của con người qua các yếu tố phụ thuộc khác đã tác động vào suy nghĩ, hành động, tạo tác mà người ta gọi là “Tâm Sở”.

Ở đây, chúng tôi chỉ muốn đề cập đến các vấn đề nầy như là những sự kiện thông thường, dễ hiểu, dễ cảm nhận mà không đi đến bằng cái phức tạp, khó khăn của từ ngữ; cũng như là một sự cung cấp vài ý niệm đơn giản để sau nầy Quý vị có thích thì đi xa hơn bằng những suy nghĩ của chính Quý vị. Và đây cũng chỉ là khái quát để qua các đặc tính ác lẫn thiện đó mà Quý vị có thể nhận định hay giải thích được lý do, vì sao có những hành động mà con người đã thể hiện trong cuộc sống hàng ngày.

Qua những giác quan của cơ thể và Ý thức cũng như Mạt-na-thức, chúng ta tiếp xúc với ngoại cảnh để từ đó ta có những nhận thức về ngoại cảnh ấy, rồi ta sẽ lựa chọn. Điều đó nó được thể hiện bằng một quá trình căn bản bất biến trong mọi thời gian. Năm (5) phụ thuộc đầu tiên đó gọi theo tiếng chuyên môn ấy là “5 Tâm Sở Biến Hành” tức là khi được nhìn thấy, được nghe, ngửi, nếm mùi vị, sờ và ý thức được ngoại cảnh nào đó là qua Xúc (là đã được tiếp xúc), thì người ta mới có cái ý (Tác Ý), để rồi có nhận định lấy (Thọ) hay không? Nếu mình không thích thì có thể từ bỏ hay đưa cho người khác, còn thích thì có thể để tâm (Tưởng: nhớ tưởng, hầu chiếm đoạt hay mua sắm hay bằng cách nào để có được), và “Tư” là lo nghĩ làm sao để có, hay đạt được và đạt bằng cách nào. Nếu chúng ta chỉ cần suy nghĩ thêm một chút thì sẽ thấy trong “5 tâm sở biến hành” đó đã ngầm giải thích rất nhiều hành động mà con người đã làm trong cõi đời nầy dưới nhiều hình thức, và ở bất cứ thời đại nào.

 

(5 Tâm Sở Biến Hành: Xúc, Tác Ý; Thọ; Tưởng; Tư).

 

Sau các khởi ý ấy, sẽ có những hành động tiếp theo mà có 5 điều đặc biệt hơn (5 Tâm Sở Biệt Cảnh) để làm cho người ta đạt đến những nhận thức cao cả, không bị lôi cuốn trong cuộc chơi của trần thế, ấy là “Dục”: Mong muốn, muốn có, muốn đạt được những điều, cái mình thích; bỏ hay đừa cho người khác cái điều không thích. Nhưng người ta cũng suy nghĩ để “hiểu được rõ ràng” những hành động mình sẽ làm như thế nào (Thắng Giải) mà quyết định; và họ luôn chú tâm nhớ đến điều đó có nên hành động hay không (Niệm), đồng thời làm cho tâm trí luôn được ổn định để quyết định (Định); và khi đã quyết định thì sự quyết định cho hành động ấy rất là hợp lý, đúng đắn và sáng suốt (Huệ).

 

(5 Tâm Sở Biệt Cảnh: Dục; Thắng Giải; Niệm; Định; Huệ).

 

Trong cuộc sống con người có hai hướng chính của hành động, tạo tác; và xã hội cũng phân biệt hai hướng đó tức là Thiện và Bất thiện (hay là Ác). Những hành động Thiện tức là những hành động không đem lại sự thiệt hại cho người khác về vật chất cũng như tinh thần hay tính mạng, trái lại nó còn giúp ích cho nhiều người; còn hành động bất thiện thì ngược lại, đôi khi làm hại người khác mà chỉ đem lại lợi ích cho chính mình. Chúng được phân tích bằng 11 Tâm Sở Thiện: “Tín” là tin, mình tin vào người khác và những điều của người khác là chân thật (đối ngược lại là không tin, bất tín); ở đây chúng ta nói đến lòng tin chứ không nói đến những điều dối trá của nguời khác để làm chúng ta tin; lòng tin là điều làm cho người ta được thiện. Sự củng cố và phát triển lòng tin khiến người ta càng thiện hơn, đó là sự “Tinh tấn”. Làm người mà biết cảm thấy xấu hổ (Tàm) hay là mắc cỡ, thẹn thùng (Quí) khi làm phải một điều sai quấy thì người ta sẽ không tái phạm những điều không thiện hay ác khác hoặc là chai đá với dư luận, mọi người. Người không tham lam, mong muốn (Vô Tham) thì nhu cầu không cần đòi hỏi, cho nên không cần phải lừa đảo, dối gạt, lén lấy hay áp bức người khác để có, và cũng không cần phải giận hờn, sân hận đối với kẻ khác (Vô Sân) thì họ cũng chẳng phải bị u mê (Vô Si) mà sinh ra tội ác, làm những hành động bất thiện, cho nên họ luôn được khoan khoái, thơ thới (Khinh an). Những người có lòng thiện thì họ luôn nghĩ trước những hành động của họ sẽ có tác động gì đến người khác hay không, họ không để tâm mình buông lung mà thiếu suy nghĩ tức là “Bất Phóng Dật” vậy. Họ làm mà không cần biết đến công lao, hay chấp trưóc mà chỉ nghĩ đến sự cống hiến (Hành xả) và cái tâm niệm không làm hại đến kẻ khác (Bất hại). Đó là tất cả những tâm tính của con người để hướng con người về con đường thiện lành; và xã hội đã đánh giá đó là một con người thiện trong xã hội.

 

(11 Tâm Sở Thiện: Tín; Tinh Tấn; Tàm; Quý; Vô Tham; Vô Sân; Vô Si; Khinh An; Bất Phóng Dật; Hành Xả; Bất Hại).

 

Và trong Duy Thức cũng phân tích những điều, tâm tính mà chúng khiến cho con người có nhiều lo nghĩ, phiền não, lo toan trong cuộc sống biến cuộc đời không được an lành. Đó là Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến được gọi là 6 Tâm Sở Phiền Não). “Tham” là tính tham lam, muốn có và muốn có hơn nữa những gì mình ưa thích như tiền bạc, danh vọng, nhan sắc…Muốn mà không đạt được hay bị trở ngại thì “Sân hận”, nổi nóng có những hành động nông nổi khiến thân tâm mình không được yên ổn, và người khác phải lo sợ, lánh xa. Sân rồi sẽ đưa đến sự “Si mê” (giận quá mất khôn) sẽ làm cho mình mê muội, thiếu sáng suốt, không còn định được phải quấy và có thể có những hành động phạm tội hay trở thành ác. Rồi khi con người có được những tài năng hay thành công do có được bản lĩnh hơn người hoặc thế lực, lại sinh ra kiêu ngạo, khinh “Mạn” cũng đưa đến sự phiền não do từ những phản ứng từ bên ngoài hay người khác. Cái tâm lý “Nghi ngờ” cũng làm người ta có nhiều suy nghĩ, phán đoán không nguôi chiếm đi nhiều thời gian khiến con người không thể yên tâm, an lòng trong cuộc sống mà sinh ra có Ác Kiến với người khác!

 

(6 Căn Bản Phiền Não: Tham; Sân; Si; Mạn; Nghi; Ác Kiến).


Nguyên Thảo,

21/02/2025.


Thursday, February 19, 2026


 Kính chúc Quý Vị và gia đình một Năm Mới (Bính Ngọ 2026)

An Khang Thịnh Vượng; Hạnh Phúc tràn đầy; Vạn Sự Như Ý!

Friday, February 6, 2026

*Vấn Đề V: Nghiệp Qua Cơ Bản Của Duy Thức Học!


Khi đề cập đến vấn đề nầy, chúng tôi lại nhớ đến truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Bộ truyện ấy cũng là kỷ niệm đáng nhớ của mình trong thời niên thiếu. Thuở ấy chúng tôi mới vào học ở lớp Ba của trường Tiểu học trong làng quê. Học chung có thằng bạn tên Nghi, nhà nó có quen thân với nhà đối diện bên kia đường của Bác Ba Keo. Nhà đó cho mướn truyện Tàu và tiểu thuyết để ai thích thì đến mướn đem về nhà đọc. Trong khoảng thời gian ấy lại có phong trào người ta thích kể về chuyện Tam Tạng đi thỉnh kinh, trong đoàn nổi bật là Tôn Hành Giả. Nhân vật nầy rất thu hút bọn nhỏ của chúng tôi. Vì vậy, một ngày tôi lên chơi với Nghi, thì Nghi hỏi muốn xem chuyện Tề Thiên Đại Thánh hông? Tôi tò mò trả lời “Muốn”. Thế là Nghi đến nhà Bác Ba hỏi mượn truyện Tây Du Ký về hai đứa xem. Hai thằng nhỏ kiếm một cái hốc ở góc nhà bên cạnh gốc cột, chui vào đó mà lật từng trang quyển truyện, rồi xúm nhau đọc. Đứa nào đọc xong trước rồi đợi đứa sau mới lật sang trang kế tiếp. Đọc mê quá, rồi cứ mỗi chiều hai đứa lại chui vào cái hốc đó mà đọc tiếp tục. Một ngày nọ, má tôi có việc cần nhưng không thấy ở nhà, bà đi kiếm và kêu về cho tôi một trận đòn đích đáng, và cấm hẳn tôi không được xem truyện nữa. Thế là từ đó, tôi không còn thói quen mê đọc truyện.

Lớn lên, khi vào Trung học bạn bè thường hay nói về truyện nầy truyện nọ, đứa thì kể về truyện Tàu, đứa nói về truyện kiếm hiệp. Tôi chằng biết chuyện nào cả kể cả những chuyện của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, hay tiểu thuyết nổi tiếng thời bấy giờ như “Tuấn, chàng trai nước Việt” của Nguyễn Vỹ; “Phi lạc Sang Tàu” của Hồ Hữu Tường; hoặc “Đò Dọc” của Bình Nguyên Lộc, “Yêu” “Ghen” “Sống” của Chu Tử. Thế rồi, tôi cũng được đọc vài quyển truyện hay tiều thuyết một cách muộn màng do bạn bè cho mượn vì nó khen quá hay.

Thế nhưng, đến một ngày khá lâu sau đó có ông thầy là Thầy Nguyễn Duy Cần lại đề cập đến truyện Tây Du Ký vì nó mang tính chất khá quan trọng trong Đạo Phật. Những nhân vật được kể trong đó đều tượng trưng cho một tính cách của con người, mặc dù những nhân vật ấy đều tưởng tượng ngoại trừ Đường Tam Tạng. Tác giả mượn chuyện Đường Tam Tạng đi sang Tây Trúc (Ấn Độ) để học hỏi về Đạo Phật mà trong truyện được kể như là “Đi thỉnh Kinh”, rồi tác giả Ngô Thừa Ân mượn các con vật, mỗi con vật tượng trưng cho đặc tính của con người mà thêu dệt nên câu chuyện “Tây Du Ký” hay bọn nhỏ chúng tôi thường gọi nôm na bằng “Chuyện Tề Thiên Đại Thánh”. Gọi như thế có lẽ vì Tề Thiên Đại Thánh là con khỉ chọc trời khuấy nước dám đánh lên tới cả ông Trời và khiến cho triều đình nhà Trời phải “thất điên bát đảo” và phải phong cho con khỉ đó là “Tề Thiên Đại Thánh”. Tuy nhiên, con khỉ ngang tàng đó vẫn không thoát khỏi bàn tay của Phật Tổ dù vận dụng thần thông đằng vân đi đến đâu. Bọn nhỏ chúng tôi khoái con khỉ đó vì nó mang cái tính ngang tàng vốn có trong con người của mình dù cái thân của mình chỉ còn chút xíu. Nói chung lại, cả hai con vật Khỉ “Tề Thiên Đại Thánh” hay là “Tôn Ngộ Không” và con Heo ham ăn, ham ngủ, ham mê nữ sắc, ham mê nhiều thứ “Trư Bát Giới” thì cũng là điều hấp dẫn đối với con nít chúng tôi! Còn Sa Tăng thì không có gì lôi cuốn cả, cho nên nó không được chúng tôi quan tâm nhiều.

Rồi, đến khi tôi có thì giờ tìm hiểu vào Đạo Phật, nhất là khi đọc ngấu nghiến bộ Phật Học Phổ Thông của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa do vị sư thân thuộc tặng cho, để hiểu chút nào về giáo lý Đạo Phật. Khi đọc về phần Duy Thức Học thì chúng tôi cũng mường tượng được những điều phân tích tổng quát, mà triết lý của môn “Tâm Lý Học Phật Giáo” nầy cung ứng; mặc dù những phần về Siêu Hình thì quá khó chúng tôi không thể lĩnh hội. Quả thực, môn Duy Thức Học hay còn gọi là Tâm Lý Học Phật giáo đúng là thật khó hiểu, khó lĩnh hội được, cho nên hiểu hết tất nhiên chúng tôi không thể nắm bắt được. Tuy nhiên về tổng quát môn nầy giúp cho chúng tôi có thể hiểu phần nào, và giải thích được kết quả những gì mà con người hành động cùng chịu trách nhiệm về những việc làm của mình trong cuộc đời, tức là những gì đã tạo nên “nghiệp”, đã tạo thành “nhân” để sau nầy phải trả “quả”; đó là nguyên nhân của chuyện “sinh tử trong luân hồi”!

Theo như quý vị sư, học giả chú trọng vào sự phân tích các nhân vật của Tây Du Ký thì có nhiều cái nhìn khá khác về chuyện Tây Du Ký và các nhân vật. Theo bọn con nít chúng tôi thì các nhân vật, nhất là con khỉ Tề Thiên Đại Thánh là con vật năng động, khôn ngoan, chọc trời khuấy nước là thần tượng với sức sống năng động của mình dù thân thể chỉ còn chút xíu. Còn Trư Bát Giái, chúng tôi thích chữ “Giái” hơn là chữ “Giới” vì nó mang được tính cách hơi tục, nhưng cũng nói lên được tính cách của anh chàng “con heo lòng” thích ăn, ham ngủ, nạnh hẹ, ham mê nữ sắc mà con người nào, nhất là con trai, nam giới đều có ở trong con người của mình. Và bây giờ, con người, những nhà nghiên cứu lại có nhiều cái nhìn, quan niệm về Tây Du Ký vì có thể tìm thấy trong Tây Du Ký những bài học để dạy cho con cái, hay những nhà chính trị khai thác về các lĩnh vực của họ. Chúng ta không rõ mục đích của Ngô Thừa Ân khi sáng tác ra chuyện Tây Du Ký như thế nào, chứ ngày nay nhiều học giả cho rằng Tây Du Ký mang tính chất người ra giúp nước; phản ánh sự đấu tranh của người dân; ca tụng sự phản kháng của chính nghĩa; ca tụng sự vùng lên của dân qua nhân vật tôn Ngộ Không; sự kiên trì, bền bỉ, vượt gian lao của các nhân vật đi thỉnh kinh cũng như quan niệm Tây Du Ký là một sổ tay đi thỉnh kinh của tôn giáo; một câu chuyện ngụ ngôn, hay là chuyện đùa cợt cuộc đời đôi khi có hơi đùa cợt về Đạo Phật vì có những đòi hối lộ… Có lẽ với “phong trào moi tìm những ngóc ngách” vào truyện nầy thì trong tương lai sẽ có nhiều quan niệm khác nữa tùy theo người đọc và nhận xét mà họ tìm ra. Tuy nhiên, truyện Tây Du Ký cũng thoát ra ngoài cái chuyện Đường Tăng đi sang Tây Trúc để thỉnh kinh của Ngài Đường Tam Tạng vì Ngài đã tốn những 17 năm đến Ấn Độ vừa đi, vừa học và vừa về; để sau đó Ngài đã bỏ công sức để dịch tam tạng kinh điển của Đạo Phật từ Phạn Văn sang Hán Văn mà phổ biến ở Trung Hoa, cũng là phần lớn cho nền Phật Giáo ở Việt nam.

Đó là những quan niệm bên lề của truyện Tây Du Ký, nhưng dù gì Tây Du Ký vẫn phản ánh câu chuyện đi thỉnh kinh đến Ấn Độ của Đường Tam Tạng mà các quan niệm Phật giáo vẫn phổ biến, mặc dù chuyện có vài chi tiết không thể hiện đúng với đường hướng trong giới nghiên cứu hay thực hành đạo Phật. Có cái nhìn các nhân vật đi theo Đường Tăng trên đường thỉnh kinh như Tôn Ngộ Không, con khỉ nầy giống như cái Trí khôn nhìn thấy biết nhiều chuyện nhưng đầy sự Sân Hận; còn Trư Bát Giới giống như con heo lòng đầy mong muốn, tham lam, ham nhiều thứ đại diện cho sự Tham Lam của con người; Sa Tăng đại diện cho sự Ngu Si chỉ làm theo nhu cầu, bản năng không có sự suy tính, năng động; Và con ngựa Bạch mã tượng trưng cho sức khỏe, sự mạnh mẽ của cơ thể để có thể đạt được mục đích trên con đường thỉnh kinh. Còn một cái nhìn khác là qua môn Duy Thức: Đường Tăng tượng trưng cho con người giống như cái Tàng Thức tức Đệ Bát Thức trong môn học ấy; Tôn hành Giả là Ý Thức tức Đệ Lục Thức và Trư Bát Giới đại diện cho Đệ Thất Thức là Ý Thức nhưng ý thức nầy hướng về con người của mình tức nặng phần Chấp Ngã. Còn con ngựa tượng trưng về phần Sắc trong Ngũ Uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Thế là với cái nhìn nầy hướng về Duy Thức Học mà chúng ta muốn được tìm hiểu để có thể hiểu hơn chút nào về con người của chúng ta theo quan niệm của Đạo Phật.

Theo Duy Thức Học tức là môn học phân tích về con người mà người ta dùng một danh từ khác là Tâm Lý Học Phật Giáo. Nói đến Tâm Lý là một phần học được xếp đặt trong môn Triết Học bao gồm Tâm Lý, Đạo Đức và Luận Lý mà người ta đã nghiên cứu. Nhưng trong Tâm Lý Học Phật giáo khá khác biệt hơn là đào sâu hơn nữa về sự phân tích đối với con người để từ đó có thể giải thích những điều thâm sâu về con người sẽ trải qua trong quá trình sống và tái sinh trong cõi Luân Hồi.

Theo như chúng ta học từ hồi còn nhỏ về môn Cách Trí hay sau nầy đổi lại là Khoa Học Thường Thức thì con người có 5 giác quan dùng để nhận biết những gì bên ngoài ảnh hưởng đến thân thể của mình như: Mắt (Thị giác) để nhìn, thấy, quan sát; Tai (Thính giác) để nghe; Mũi (Khứu giác) để ngữi, nhận biết các mùi; Lưỡi (Vị giác) để nếm, nhận biết các vị chua, đắng, ngọt, cay…; và Da (Xúc giác) để rờ, đụng chạm nhận biết các tình trạng các thứ mà sờ, đụng, tiếp xúc đến. Nhưng trong Tâm Lý Học Phật Giáo vẫn có các giác quan ấy nhưng phân tích kỹ hơn và xem các giác quan trước hết mắt, tai, mũi, lưỡi, da xem như là thân thể, tất cả đó là “Căn” gọi là Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỹ căn, Thiệt căn, Thân căn; và ở phần nầy thêm một phần khác là ý nghĩ gọi là Ý căn. Đó là Lục căn. Lục căn nầy sẽ tiếp xúc với các thứ bên ngoài gọi là Lục trần:

-Mắt (Nhãn căn) để nhìn được hình dáng, màu sắc (Sắc trần),

-Tai (Nhĩ căn) để nghe âm thanh, tiếng động (Thanh trần),

-Mũi (Tỹ căn) để ngữi các mùi (Hương trần),

-Lưỡi (Thiệt căn) để nếm được các vị (Vị trần),

-Thân (Thân căn) để sờ mó, đụng cham mọi vật (Xúc trần),

-Ý (Ý căn) là những suy nghĩ về mọi vật, hiện tượng hữu hình lẫn trừu tượng (pháp trần).

Từ các căn nầy mà con người, sinh vật mới tiếp xúc được những gì trong trần gian để rồi mới nhận biết về chúng mà được gọi là Thức. Sáu giác quan sẽ có sáu thức mà tiếng Hán Việt gọi là Lục Thức, tức là Nhãn thức (của mắt), Nhĩ thức (của tai), Tỹ Thức (của mũi), Thiệt thức (của lưỡi), Thân thức (của thân). Năm thứ nầy gọi chung lại bằng danh từ “Tiền Ngũ Thức” mà trong truyện Tây Du Ký người ta cho là Sa Tăng đóng vai trò ấy; tức là chúng chỉ thấy, nhận biết thôi sự vật chỉ là như thế thôi. Nhưng cái anh quan trọng hơn là Ý Thức giống như cái bộ não mới tổng hợp, phân tích lại để biết sự vật, hay sự kiện bên ngoài như thế nào để chọn, đánh giá các tính chất của chúng giống như vai trò thông minh, đầu óc sáng suốt, phân biệt được rõ ràng như thế nào giống như là Tôn Ngộ Không. Phần nầy danh tử chuyên môn gọì là Ý Thức hay Thức Thứ Sáu, vì nó đến sau 5 thức kia. Xong đến anh Thức Thứ Bảy hay một danh từ khác khá lạ là Mạt Na Thức làm nhiệm vụ. Mạt Na Thức người ta cũng cho là Ý căn, nhưng các ý nầy không phải là nhận định tổng quát mà nó lại ý chiếm hữu, lấy đem về cho bản thân mình giống như sự sanh nạnh, ham ăn, thích ngủ, sung sướng...như là Trư Bát giới vậy. Ý thức ấy chỉ là mục đích cho mình, cho cái Ngã của ta. Còn Đường Tam Tạng như thế nào cũng nhận, cũng chịu giống như một cái túi đựng mọi việc, mọi hậu quả mọi cái “nhân” đưa đến dù nó là Thiện hay Ác; hay không thiện, không ác gọi là (Vô Ký). Thức nầy gọi là Thức Thứ Tám hay các danh từ đặc biệt khác là Tàng Thức (thức chứa), hoặc A Lại Da Thức.

 

Nguyên Thảo,

07/02/2026.