Trong phần trước, qua phần trích xuất các
đoạn của Kinh Lăng Nghiêm, đã thấy Đức Phật phân tích cho chúng ta biết phân biệt
thế nào là cái Chơn Tâm và Vọng Tâm, và từ đó người muốn tu hành tìm thấy cái
chính đáng để mình theo đuổi nhằm đạt đến mục đích sau cùng. Trong phần nầy, chúng
ta cố gắng thông qua các đoạn Kinh tiếp theo hầu có thể tiếp nhận được các kiến
thức mà Ngài nói về vấn đề “ngộ được đạo” như thế nào.
Trước hết ta đi vào đoạn Kinh sau:
- “Còn ta (Phật) thì trái với vọng trần,
hiệp với chơn tâm thường trụ bất sanh bất diệt, biến khắp cả pháp giới. Cho nên
ta mới được tự tại vô ngại: Ở trong một hiện ra vô lượng, vô lượng hiệp làm một,
trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ; không rời nơi đạo tràng mà hiện khắp cả
mười phương thế giới. Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận. Trên đầu một
mảy lông hiện ra các cõi nước; ngồi trong hạt bụi, mà chuyển đại pháp luân. Vì
ta diệt hết vọng trần, trở lại với bản tâm thanh tịnh sáng suốt, nên mới được
như vậy”.
Ở đây, chúng ta thấy Đức Phật phát họa một
hình ảnh của Đức Phật khi thành đạo sẽ như thế nào, lúc ấy Phật hiệp với Chơn Tâm
không còn sinh, diệt và ở khắp cả Pháp Giới tức vũ trụ bao la, do đó mà ta thường
thấy ý “Đức Phật đi khắp tam thiên đại thiên thế giới chỉ trong một niệm” trong
các Kinh. Không những thế, mà Ngài còn cho chúng ta biết “Ở trong một hiện
ra vô lượng, vô lượng hiệp làm một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ; không
rời nơi đạo tràng mà hiện khắp cả mười phương thế giới. Thân ta bao trùm mười
phương hư không vô tận”. Rồi lại đến một sự mầu nhiệm khác: “Trên đầu một
mảy lông hiện ra các cõi nước; ngồi trong hạt bụi, mà chuyển đại pháp luân”.
Vì sao? Vì Ngài đã diệt hết “Vọng trần, trở về với bản tâm thanh tịnh sáng suốt”
nên mới được như vậy! Những điều ấy nếu với ngày xưa thì ta khó tưởng tượng
ra được, nhưng với hình ảnh ngày nay ta có thể thấy được, giả sử ta đang xem
truyền hình thì trên màn ảnh đang chiếu hình ảnh khu nhà đẹp đẽ, xong họ chiếu
hình ảnh xa hơn là khu vực rồi lại đến quốc gia, và hình ảnh đi xa hơn nữa là
trái đất, rồi đến thiên hà và cuối cùng nhỏ dần thành một điểm nhỏ mà ta có thể
để trên đầu một ngọn lông. Trong điểm đó bao gồm cái vũ trụ bao la của vô số
thiên hà. Cái hình ảnh Đức Phật diễn tả cũng giống như vậy
Và để hiểu rõ hơn về “Cái cõi” mà Đức Phật
nói là “Pháp Giới”, tức là cái cõi “hư không vô tận”, “vũ trụ vô biên” đó ra
sao, như thế nào thì đoạn sau cho chúng ta hiểu nhiều hơn về các danh từ được dùng
trong giáo lý Đạo Phật khi Ngài A Nan bạch với Phật:
“- Bạch Thế tôn! Bồ đề, Niết bàn, Chơn
như, Pháp tánh, Yêm ma la thức, Không Như Lai tạng và Ðại viên cảnh trí, bảy
danh từ tuy khác, chớ cũng đồng một quả Phật thanh tịnh thường còn không hoại”.
Điều nầy cho chúng ta hiểu rõ hơn về các
danh từ mà từ lâu nay khiến mọi người lầm tưởng là mọi cảnh giới ấy đều khác
nhau, nhưng thực ra chỉ là một nhưng chúng được sử dụng tùy theo từng trường hợp
để cho thích hợp mà thôi, giả sử khi giác ngộ thì là Bồ Đề; khi chết thì nhập
Niết Bàn; khi nói về tổng quát của chúng sinh thì là Chơn Như, Chơn Tâm; khi nói
về “chất lõi” của chúng sinh để giác ngộ là “Pháp tánh”; nơi dung chứa Như Lai
là Hư Không tức là Không Như Lai Tạng; đôi lúc lại là Pháp Giới…
Ở một đoạn khác, Đức Phật cho biết về Chơn
Tâm lại là điều như sau:
- “Phật dạy: Chơn tâm này, cũng tức tất cả
pháp; tức là tâm; tức là đất, nước, gió, lửa và hư không; tức là nhãn, nhĩ, tỉ,
thiệt, thân, ý; tức là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; tức là nhãn thức giới
cho đến ý thức giới; tức Tứ đế; tức Thập nhĩ nhân duyên; tức là Lục độ; tức là
Phật và bốn đức Niết bàn. Nói tóm lại, chơn tâm tức là tất cả pháp thế gian và
xuất thế gian”.
Tại sao thế? Vì trong Chơn Tâm có Tâm của
chúng sinh, vốn tự nó là “Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu”, nhưng vì do
“không biết” (Vô Minh), nên đã mượn đến Tứ Đại (Đất, Lửa, Gió, Nước) để kết làm
cái thân xác cho mình. Cái thân xác ấy vừa che lấp cái “bản giác minh diệu”, đồng
thời có nhiều nhu cầu đòi hỏi chúng sinh phải đáp ứng cho thân xác ấy như ăn uống,
đối phó nóng lạnh của thời tiết và nhiều nhu cầu về vật lý, cũng như tinh thần
khác do nơi cảm nhận của các giác quan. Vì vậy, chúng là những nguyên nhân khiến
chúng sinh tạo nghiệp mà phải “vay trả, trả vay” trong Vòng Luân Hồi mà chúng
ta biết đó là những Pháp Nhập Thế Gian. Khi tỉnh ngộ, chán chường bèn quay trở
về để tránh tạo nghiệp thì người ta tìm thấy được Tứ Đế; hiểu được Thập Nhị Nhân
Duyên, rồi chọn cho mình con đường Lục Độ để trở về với Phật và Nhập Niết Bàn
thì đó chính là những Pháp Xuất Thế Gian; cho nên Chơn Tâm chính là “Tất cả Pháp
Thế Gian và Xuất thế Gian”! Vì vậy mà Đức Phật dẫn chứng, giải thích “Chơn Tâm
là “Tức” mà cũng là “Phi Tức”. Điều ấy chỉ có các vị Phật mới biết: Ấy là những
“Tri kiến Phật”, cho nên Đức Phật mới thuyết”:
- “Phú Lâu Na, cái chơn tâm này lại rời tất
cả “tức” và “phi”, mà cũng là “tức” và “phi tức”. Chơn tâm như thế, thì từ kẻ
phàm phu cho đến các vị thánh: Thinh văn, Duyên giác, làm sao lấy tâm trí suy
nghĩ cho đến đạo vô thượng bồ đề của Như lai, hay dùng lời nói luận bàn của thế
gian mà ngộ nhập chỗ tri kiến của Phật cho được”?
Trong một đoạn khác, Đức Phật giải thích
cho Ngài Phú Lâu Na về cái vọng niệm như sau:
“Phật dạy: Như lời ông nói: “Nếu nó không
sáng suốt chiếu soi (phân biệt) thì không phải là tâm, vì nó không phân biệt được
cái gì cả”. Vậy ông có hiểu chăng: nếu có chiếu soi phân biệt, thì không phải
là chơn (vì có năng phân biệt thì phải có bị phân biệt), còn không có chiếu soi
phân biệt, thì chắng phải là tâm. Nếu tâm mà không sáng suốt thì không phải là
chơn tâm thanh tịnh rồi. Ông nên hiểu: Chơn tâm vẫn sáng suốt, vì ông vọng chấp
cái “sáng suốt phân biệt” làm tâm, nên thành ra có năng phân biệt (tâm) và bị
phân biệt (cảnh). Chơn tâm của ông không phải cái “bị phân biệt”, nhưng vì ông
khởi ra cái “năng phân biệt”, nên nó (chơn tâm) trở lại thành cái “bị phân biệt”
(cảnh). Ðã vọng thành cái “bị phân biệt”, cố nhiên ở nơi ông phải vọng sanh ra
cái “năng phân biệt”. Thế là ở nơi chơn tâm của ông vẫn thanh tịnh không có
năng và sở, mà thoạt nhiên thành ra có năng và sở” (vô đồng dị trung, xí nhiên
thành dị)
Từ cái “Vọng Niệm, Vọng Tưởng”, Đức Phật
liên kết đến sự “Mê” nhiều đời, nhiều kiếp như sau:
-“Phật dạy: Cũng vậy đó, ông Phú Lâu Na.
Ðã nói là “vọng” thì đâu có sở nhơn, còn có sở nhơn thì không phải là vọng. Các
vọng tưởng tự nó nhơn nhau liên tiếp phát sanh; từ đời này đã mê rồi chất chứa
thêm cái mê, cho đến nhiều kiếp. Ta đã nhiều lần chỉ dạy, mà các ông hãy còn
chưa ngộ trở lại”.
- “Này Phú Lâu Na, cái “mê” như vậy đó,
nhơn mê tự có? Nếu người biết được cái “mê” ấy không nguyên nhân, thì cái “mê vọng”
đó không còn gá nương vào đâu nữa. Lúc bấy giờ dầu muốn cho nó sanh còn không
thể được, huống chi muốn diệt”.
Thế rồi, Đức Phật thuyết tiếp cho Ngài Phú
Lâu Na hiểu hơn về sự dứt được Vọng Niệm, vọng tưởng qua các đoạn Kinh sau:
- “Các ông nên biết: người đặng đạo Bồ đề
rồi (ngộ chơn tâm), cũng như người thức giấc mộng, mà muốn nói lại việc chiêm
bao; mặc dầu trong tâm nhớ biết rõ ràng, nhưng không làm sao chỉ các vật trong
chiêm bao ra được, vì nó không thật có, vả lại nó cũng không có nguyên nhân nữa.
Cũng như chàng Diễn Nhã Ðạt Ða, tự sợ cái đầu của mình, rồi nổi cuồng vụt chạy,
chớ không có sở nhơn gì cả”.
- “Này Phú Lâu Na, các ông khi đối với trần
cảnh (thế giới, chúng sanh, nghiệp quả) chỉ đừng có khởi vọng niệm phân biệt,
thì tham, sân, si (ba duyên) không khởi. Ba duyên không khởi, thời ba nhơn sát,
đạo, dâm chẳng sanh. Lúc bấy giờ anh khùng Diễn Nhã Ðạt Ða (mê) ở trong tâm các
ông tự hết, mà hết tức là Bồ đề (sáng suốt). Khi ấy chơn tâm của ông thanh tịnh
sáng suốt tự hiện bày, khắp cả pháp giới, không cần phải cực nhọc khó khăn tu
chứng, hay xin cầu nơi ai cả”.
- “Thế nên Ta nói: “Ba duyên: tham, sân,
si đoạn hết, tức là tâm Bồ đề”. Nếu cái “vọng tâm sanh diệt kia diệt, mà tâm Bồ
đề sanh”, như thế cũng còn ở trong vòng sanh diệt. Phải diệt và sanh đều hết, mới
được vô công dụng đạo” (chỗ cứu cánh).
- “Nếu các ông dùng cái vọng tâm sanh diệt
làm nhơn tu hành, mà mong cầu cho đặng quả Phật, thường còn không sanh diệt thì
không thể được. Ðây là điều quyết định thứ nhứt”.
Nguyên Thảo,
05/09/2026.