Friday, February 20, 2026

*Vấn Đề V: Nghiệp Qua Cơ Bản Của Duy Thức Học! (Tt)

 

Trong phần trên chúng tôi đã nhân cơ hội kể về chuyện học Cách trí (năm giác quan) ngày xưa mà bàn cùng Quý vị về Tiền ngũ thức, Ý thức, Mạt-Na-Thức cùng A-Lại-Da-Thức coi như đó là những thành tố, kết cấu lại để điều khiển thân xác con người (kể cả các loài vật) hành động và tạo tác qua mọi ước muốn; từ đó tạo thành con người năng động hay một xã hội phức tạp muôn chiều, mà chúng ta phải lặn hụp trong đó với vui sướng thì ít, mà đau khổ thì nhiều. Và với những sự kiện đó khiến xã hội hay thế giới có những biến chuyển khó lường! Những “thành tố chính”, “chủ” ấy được gọi là “Tâm Vương” trong môn Duy Thức Học bằng tiếng Hán Việt:

 

(Tâm Vương: Tiền Ngũ Thức (Nhãn thức; Nhĩ thức; Tỹ thức; Thiệt thức; Thân thức); Ý Thức; Mạt Na Thức; A Lại Da Thức).

 

để rồi từ các Tâm Vương này chúng ta có thể tìm hiểu sâu hơn về biến chuyển của con người qua các yếu tố phụ thuộc khác đã tác động vào suy nghĩ, hành động, tạo tác mà người ta gọi là “Tâm Sở”.

Ở đây, chúng tôi chỉ muốn đề cập đến các vấn đề nầy như là những sự kiện thông thường, dễ hiểu, dễ cảm nhận mà không đi đến bằng cái phức tạp, khó khăn của từ ngữ; cũng như là một sự cung cấp vài ý niệm đơn giản để sau nầy Quý vị có thích thì đi xa hơn bằng những suy nghĩ của chính Quý vị. Và đây cũng chỉ là khái quát để qua các đặc tính ác lẫn thiện đó mà Quý vị có thể nhận định hay giải thích được lý do, vì sao có những hành động mà con người đã thể hiện trong cuộc sống hàng ngày.

Qua những giác quan của cơ thể và Ý thức cũng như Mạt-na-thức, chúng ta tiếp xúc với ngoại cảnh để từ đó ta có những nhận thức về ngoại cảnh ấy, rồi ta sẽ lựa chọn. Điều đó nó được thể hiện bằng một quá trình căn bản bất biến trong mọi thời gian. Năm (5) phụ thuộc đầu tiên đó gọi theo tiếng chuyên môn ấy là “5 Tâm Sở Biến Hành” tức là khi được nhìn thấy, được nghe, ngửi, nếm mùi vị, sờ và ý thức được ngoại cảnh nào đó là qua Xúc (là đã được tiếp xúc), thì người ta mới có cái ý (Tác Ý), để rồi có nhận định lấy (Thọ) hay không? Nếu mình không thích thì có thể từ bỏ hay đưa cho người khác, còn thích thì có thể để tâm (Tưởng: nhớ tưởng, hầu chiếm đoạt hay mua sắm hay bằng cách nào để có được), và “Tư” là lo nghĩ làm sao để có, hay đạt được và đạt bằng cách nào. Nếu chúng ta chỉ cần suy nghĩ thêm một chút thì sẽ thấy trong “5 tâm sở biến hành” đó đã ngầm giải thích rất nhiều hành động mà con người đã làm trong cõi đời nầy dưới nhiều hình thức, và ở bất cứ thời đại nào.

 

(5 Tâm Sở Biến Hành: Xúc, Tác Ý; Thọ; Tưởng; Tư).

 

Sau các khởi ý ấy, sẽ có những hành động tiếp theo mà có 5 điều đặc biệt hơn (5 Tâm Sở Biệt Cảnh) để làm cho người ta đạt đến những nhận thức cao cả, không bị lôi cuốn trong cuộc chơi của trần thế, ấy là “Dục”: Mong muốn, muốn có, muốn đạt được những điều, cái mình thích; bỏ hay đừa cho người khác cái điều không thích. Nhưng người ta cũng suy nghĩ để “hiểu được rõ ràng” những hành động mình sẽ làm như thế nào (Thắng Giải) mà quyết định; và họ luôn chú tâm nhớ đến điều đó có nên hành động hay không (Niệm), đồng thời làm cho tâm trí luôn được ổn định để quyết định (Định); và khi đã quyết định thì sự quyết định cho hành động ấy rất là hợp lý, đúng đắn và sáng suốt (Huệ).

 

(5 Tâm Sở Biệt Cảnh: Dục; Thắng Giải; Niệm; Định; Huệ).

 

Trong cuộc sống con người có hai hướng chính của hành động, tạo tác; và xã hội cũng phân biệt hai hướng đó tức là Thiện và Bất thiện (hay là Ác). Những hành động Thiện tức là những hành động không đem lại sự thiệt hại cho người khác về vật chất cũng như tinh thần hay tính mạng, trái lại nó còn giúp ích cho nhiều người; còn hành động bất thiện thì ngược lại, đôi khi làm hại người khác mà chỉ đem lại lợi ích cho chính mình. Chúng được phân tích bằng 11 Tâm Sở Thiện: “Tín” là tin, mình tin vào người khác và những điều của người khác là chân thật (đối ngược lại là không tin, bất tín); ở đây chúng ta nói đến lòng tin chứ không nói đến những điều dối trá của nguời khác để làm chúng ta tin; lòng tin là điều làm cho người ta được thiện. Sự củng cố và phát triển lòng tin khiến người ta càng thiện hơn, đó là sự “Tinh tấn”. Làm người mà biết cảm thấy xấu hổ (Tàm) hay là mắc cỡ, thẹn thùng (Quí) khi làm phải một điều sai quấy thì người ta sẽ không tái phạm những điều không thiện hay ác khác hoặc là chai đá với dư luận, mọi người. Người không tham lam, mong muốn (Vô Tham) thì nhu cầu không cần đòi hỏi, cho nên không cần phải lừa đảo, dối gạt, lén lấy hay áp bức người khác để có, và cũng không cần phải giận hờn, sân hận đối với kẻ khác (Vô Sân) thì họ cũng chẳng phải bị u mê (Vô Si) mà sinh ra tội ác, làm những hành động bất thiện, cho nên họ luôn được khoan khoái, thơ thới (Khinh an). Những người có lòng thiện thì họ luôn nghĩ trước những hành động của họ sẽ có tác động gì đến người khác hay không, họ không để tâm mình buông lung mà thiếu suy nghĩ tức là “Bất Phóng Dật” vậy. Họ làm mà không cần biết đến công lao, hay chấp trưóc mà chỉ nghĩ đến sự cống hiến (Hành xả) và cái tâm niệm không làm hại đến kẻ khác (Bất hại). Đó là tất cả những tâm tính của con người để hướng con người về con đường thiện lành; và xã hội đã đánh giá đó là một con người thiện trong xã hội.

 

(11 Tâm Sở Thiện: Tín; Tinh Tấn; Tàm; Quý; Vô Tham; Vô Sân; Vô Si; Khinh An; Bất Phóng Dật; Hành Xả; Bất Hại).

 

Và trong Duy Thức cũng phân tích những điều, tâm tính mà chúng khiến cho con người có nhiều lo nghĩ, phiền não, lo toan trong cuộc sống biến cuộc đời không được an lành. Đó là Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến được gọi là 6 Tâm Sở Phiền Não). “Tham” là tính tham lam, muốn có và muốn có hơn nữa những gì mình ưa thích như tiền bạc, danh vọng, nhan sắc…Muốn mà không đạt được hay bị trở ngại thì “Sân hận”, nổi nóng có những hành động nông nổi khiến thân tâm mình không được yên ổn, và người khác phải lo sợ, lánh xa. Sân rồi sẽ đưa đến sự “Si mê” (giận quá mất khôn) sẽ làm cho mình mê muội, thiếu sáng suốt, không còn định được phải quấy và có thể có những hành động phạm tội hay trở thành ác. Rồi khi con người có được những tài năng hay thành công do có được bản lĩnh hơn người hoặc thế lực, lại sinh ra kiêu ngạo, khinh “Mạn” cũng đưa đến sự phiền não do từ những phản ứng từ bên ngoài hay người khác. Cái tâm lý “Nghi ngờ” cũng làm người ta có nhiều suy nghĩ, phán đoán không nguôi chiếm đi nhiều thời gian khiến con người không thể yên tâm, an lòng trong cuộc sống mà sinh ra có Ác Kiến với người khác!

 

(6 Căn Bản Phiền Não: Tham; Sân; Si; Mạn; Nghi; Ác Kiến).


Nguyên Thảo,

21/02/2025.


No comments:

Post a Comment