Xem như thế
thì “túi nghiệp” của ai nấy mang, và những chủng tử (hạt
giống, nhân) họ đã gây nên được chứa trong túi ấy, khi đúng lúc nẫy mầm thì chính
họ phải trả quả, không ai có thể thay thế cho họ được. Nếu tạo nghiệp quá nhiều
thì đường về giác ngộ của họ sẽ kéo dài càng lâu sau khi đã trả hết nghiệp quả!
Ở đây, chúng tôi cũng muốn
bàn thêm chút ít về vài ý niệm, mà Đạo Phật đã ví dụ cuộc đời trong cõi Ta Bà nầy
như là chúng sinh chìm đắm vào trong bể khổ, đồng thời để chúng ta có thể hiểu thêm
về những ý niệm cũng như về danh từ mà trong Đạo Phật người ta dùng rất nhiều gần
như phổ thông. Ý niệm, hình ảnh ấy là gì?
Chúng ta để ý đến cái Phật
Tánh mà Đức Phật đã nói. Mỗi con người, chúng sinh đều có Phật Tánh trong mình.
Phật Tánh ấy cũng được gọi là Tâm (cái Chơn Tâm, trái với Vọng Tâm) là cốt lõi của
từng chúng sinh. Đôi khi người ta cũng nói là Tâm Thức, nhưng Thức là phần nhận
thức, nó là một trong 7 đại kết hợp từ lúc ban đầu trong vũ trụ, thiên nhiên. Đó
là: Đất, Lửa, Gió, Nước, Hư Không, Tâm, và Thức (Thức tức là Thấy, nghe, hay,
biết). Tâm kết hợp trong 7 Đại, chúng ta có thể xem nó như là “bản chất chung”
của tất cả mọi chúng sinh, chúng có thể kết hợp lại với nhau mà trong Đạo Ấn Độ
gọi là Đại Ngã, và Tâm từng chúng sinh là Tiểu Ngã. Với cái Phật Tánh ấy người
nghiên cứu nhiều về kinh điển thì chỉ thấy Đức Phật có đề cập trong Kinh Đại Niết
Bàn chứ không đề cập ở nhiều Kinh khác. Không biết điều ấy đúng hay không, nhưng
quả thật trong Kinh Đại Niết Bàn ở Phẩm Tà Chánh thứ chín, Đức Phật đã có phần đề
cập về Phật Tánh ấy như sau:
-Lại có Tỳ kheo giảng tuyên
giáo điển đại thừa rất sâu của chư Phật rằng: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh
sẽ dứt trừ vô lượng phiền não bèn thành bực vô thượng chánh giác, trừ hạng nhứt
xiển đề. Nếu có người hỏi Tỳ kheo: Nhà thầy có Phật tánh chăng? Sẽ được làm Phật
hay không? Tỳ kheo đáp: Chính tôi đây quyết định có Phật tánh, còn thành Phật
hay không chưa có thể thẩm định. Người lại nói Đại Đức không phải hạng nhứt xiển
đề, tất được thành Phật không còn nghi ngờ gì. Tỳ kheo đáp rằng: “Vâng! Đúng như
lời người đã nói”.
Và:
-Dầu tất cả chúng sanh đều
có Phật tánh, nhưng phải do nơi trì giới rồi sau mới được thấy. Do thấy Phật tánh
mà được thành vô thượng chánh giác.
Trong chín bộ kinh, không
có kinh đại thừa phương đẳng, cho nên không nói có Phật tánh. Dầu không nói, nhưng
phải biết là thiệt có Phật tánh.
Và trong Phẩm Như Lai tánh
thứ mười hai:
-Phật dạy: “Nầy Thiện nam
tử! Ngã tức là Như Lai Tạng. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh tức là nghĩa của
Ngã. Nghĩa của ngã như vậy từ nào tới giờ thường bị vô lượng phiền não che đậy,
vì thế nên chúng sanh chẳng nhận thấy được”.
-“Nầy Thiện nam tử! Phật
tánh của chúng sanh cũng như vậy, tất cả chúng sanh chẳng nhận thấy được. Khác
nào cô gái nghèo có kho vàng mà chẳng biết. Hôm nay ta chỉ bày Phật tánh sẵn có
của tất cả chúng sanh hiện bị các phiền não che đậy. Như cô gái nghèo kia trong
nhà sẵn có kho vàng nhưng không thấy được. Hôm nay đức Như Lai chỉ bày kho báu
giác tánh cho chúng sanh, đây chính là Phật tánh”.
-“Phật tánh hùng mãnh không
thể hư hoại, vì thế nên không ai có thể sát hại được. Nếu sát hại được thời Phật
tánh dứt, nhưng Phật tánh trọn không thể dứt, vì không bao giờ tánh có thể dứt được”.
Có lẽ do vì như thế mà
trong Đạo Phật mới có câu “Minh tâm, kiến tánh” (Làm cho tâm yên tịnh trong sáng,
thì sẽ thấy được tánh); và cũng từ đó Đức Phật sau khi tìm được “tánh” của mình
và trở thành Bậc Giác Ngộ đã khẳng định: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật
sẽ thành”. Nhưng chúng sinh bằng cách nào để tìm thấy “tánh” của mình. Đó là
con đường dẫn đến “Lục Độ” với 36 Phẩm Trợ Đạo, tức là con đường đến “Đạo Đế” vậy!
Giờ chúng ta trở lại vấn đề
những hình ảnh, ví dụ gắn liền với nhiều từ ngữ mà trong Đạo Phật thường sử dụng
đến, nhất là với hệ phái Bắc Tông. Ví dụ ấy như thế nào?
Phật Tánh hay Tâm từng chúng
sinh (Tiểu Ngã) vốn hòa hợp trong cùng một thể (Đại Ngã), cùng viên dung với 6 Đại
khác (Đất, Lửa, Gió, Nước, Hư Không, Thức (thấy, nghe, hay, biết) trong vũ trụ
(Pháp Giới). Nhưng vì sự vọng động của Tâm, từng chúng sinh do sự không biết, u
mê (Vô Minh) mà mượn đến tứ đại để tạo nên thân xác, rồi rời cõi yên
tịnh ấy bắt đầu bước vào cuộc sống khác, làm mất đi sự sáng suốt tự có của ban đầu
và tiến vào vùng bể mênh mông. Nơi bước xuống đó được gọi là “Mê Tân” (bến mê);
vùng bể đầy sự khổ “Khổ Hải” (biển khổ); để rồi với thân xác đòi hỏi mọi nhu cầu
ăn uống, sống, ấm no,…Chúng sinh phải cung ứng nhu cầu với hành động từ “Thân”,
suy nghĩ từ “Ý”, ngôn ngữ từ miệng (Khẩu) để đủ mọi cách đáp ứng các nhu cầu cho
thân xác. Tất nhiên có ít thì muốn nhiều do sự “Tham”; muốn mà không được trở nên
“Sân”; Sân quá không kiềm chế được thì trở nên “Si” (mê muội, u tối) mà sinh ra
những hành vi “Sát, Đạo, Dâm, Vọng” để gây “Nhân” tạo nợ với chúng sinh khác. Có
nhân tất phải trả “Quả”, cho nên bị lôi cuốn trong vòng vay trả, trả vay khó hề
dứt: Đó là “Vòng Luân Hồi”. Chúng sinh chơi trong vùng biển khổ ấy khi thì chìm
dưới đáy “Địa Ngục, Ngạ Quỷ”; hay lưng chừng “Súc Sinh”, A Tu La” hoặc ở trên mặt
nước như “cõi Trời” (Thiên), thấp hơn là “cõi Người” tức “6 nẽo Luân Hồi” (Lục Đạo
Luân Hồi). Nếu chúng sinh nào đó chán cuộc chơi thì quay đầu lại để lội vào bờ
(Hồi Đầu Thị Ngạn) bằng cách tu hành, sống tốt tạo ít nhân Ác, nhiều nhân Thiện
bằng các phương thức đến với Đạo Đế: Tích cực như “Tu Sĩ”; nửa chừng như “Tu Tại
Gia” hay thường hơn “Sống Thiện Lành” tránh gây ác. Khi trả quả gần hết thì sẽ
về đến bờ lúc nầy gọi là “Bờ Giác” (Giác Ngạn). Lúc bước lên bờ ấy là “Bậc Giác
Ngộ”, thành Phật; cõi yên tịnh đó khi còn sống gọi là “Hữu Dư Y Niết Bàn”; và lúc
chết đi thì gọi là “Vô Dư Y Niết Bàn”, và vào cõi thanh tịnh, không biến động được
gọi bằng nhiều danh từ khác là: Pháp Giới, Yêm Ma La Thức, cõi Phật, Bồ Đề, Chơn
Như, Pháp Tánh, Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh Trí.
Nguyên Thảo,
02/05/2026.
No comments:
Post a Comment