Friday, February 20, 2026

*Vấn Đề V: Nghiệp Qua Cơ Bản Của Duy Thức Học! (Tt)

 

Trong phần trên chúng tôi đã nhân cơ hội kể về chuyện học Cách trí (năm giác quan) ngày xưa mà bàn cùng Quý vị về Tiền ngũ thức, Ý thức, Mạt-Na-Thức cùng A-Lại-Da-Thức coi như đó là những thành tố, kết cấu lại để điều khiển thân xác con người (kể cả các loài vật) hành động và tạo tác qua mọi ước muốn; từ đó tạo thành con người năng động hay một xã hội phức tạp muôn chiều, mà chúng ta phải lặn hụp trong đó với vui sướng thì ít, mà đau khổ thì nhiều. Và với những sự kiện đó khiến xã hội hay thế giới có những biến chuyển khó lường! Những “thành tố chính”, “chủ” ấy được gọi là “Tâm Vương” trong môn Duy Thức Học bằng tiếng Hán Việt:

 

(Tâm Vương: Tiền Ngũ Thức (Nhãn thức; Nhĩ thức; Tỹ thức; Thiệt thức; Thân thức); Ý Thức; Mạt Na Thức; A Lại Da Thức).

 

để rồi từ các Tâm Vương này chúng ta có thể tìm hiểu sâu hơn về biến chuyển của con người qua các yếu tố phụ thuộc khác đã tác động vào suy nghĩ, hành động, tạo tác mà người ta gọi là “Tâm Sở”.

Ở đây, chúng tôi chỉ muốn đề cập đến các vấn đề nầy như là những sự kiện thông thường, dễ hiểu, dễ cảm nhận mà không đi đến bằng cái phức tạp, khó khăn của từ ngữ; cũng như là một sự cung cấp vài ý niệm đơn giản để sau nầy Quý vị có thích thì đi xa hơn bằng những suy nghĩ của chính Quý vị. Và đây cũng chỉ là khái quát để qua các đặc tính ác lẫn thiện đó mà Quý vị có thể nhận định hay giải thích được lý do, vì sao có những hành động mà con người đã thể hiện trong cuộc sống hàng ngày.

Qua những giác quan của cơ thể và Ý thức cũng như Mạt-na-thức, chúng ta tiếp xúc với ngoại cảnh để từ đó ta có những nhận thức về ngoại cảnh ấy, rồi ta sẽ lựa chọn. Điều đó nó được thể hiện bằng một quá trình căn bản bất biến trong mọi thời gian. Năm (5) phụ thuộc đầu tiên đó gọi theo tiếng chuyên môn ấy là “5 Tâm Sở Biến Hành” tức là khi được nhìn thấy, được nghe, ngửi, nếm mùi vị, sờ và ý thức được ngoại cảnh nào đó là qua Xúc (là đã được tiếp xúc), thì người ta mới có cái ý (Tác Ý), để rồi có nhận định lấy (Thọ) hay không? Nếu mình không thích thì có thể từ bỏ hay đưa cho người khác, còn thích thì có thể để tâm (Tưởng: nhớ tưởng, hầu chiếm đoạt hay mua sắm hay bằng cách nào để có được), và “Tư” là lo nghĩ làm sao để có, hay đạt được và đạt bằng cách nào. Nếu chúng ta chỉ cần suy nghĩ thêm một chút thì sẽ thấy trong “5 tâm sở biến hành” đó đã ngầm giải thích rất nhiều hành động mà con người đã làm trong cõi đời nầy dưới nhiều hình thức, và ở bất cứ thời đại nào.

 

(5 Tâm Sở Biến Hành: Xúc, Tác Ý; Thọ; Tưởng; Tư).

 

Sau các khởi ý ấy, sẽ có những hành động tiếp theo mà có 5 điều đặc biệt hơn (5 Tâm Sở Biệt Cảnh) để làm cho người ta đạt đến những nhận thức cao cả, không bị lôi cuốn trong cuộc chơi của trần thế, ấy là “Dục”: Mong muốn, muốn có, muốn đạt được những điều, cái mình thích; bỏ hay đừa cho người khác cái điều không thích. Nhưng người ta cũng suy nghĩ để “hiểu được rõ ràng” những hành động mình sẽ làm như thế nào (Thắng Giải) mà quyết định; và họ luôn chú tâm nhớ đến điều đó có nên hành động hay không (Niệm), đồng thời làm cho tâm trí luôn được ổn định để quyết định (Định); và khi đã quyết định thì sự quyết định cho hành động ấy rất là hợp lý, đúng đắn và sáng suốt (Huệ).

 

(5 Tâm Sở Biệt Cảnh: Dục; Thắng Giải; Niệm; Định; Huệ).

 

Trong cuộc sống con người có hai hướng chính của hành động, tạo tác; và xã hội cũng phân biệt hai hướng đó tức là Thiện và Bất thiện (hay là Ác). Những hành động Thiện tức là những hành động không đem lại sự thiệt hại cho người khác về vật chất cũng như tinh thần hay tính mạng, trái lại nó còn giúp ích cho nhiều người; còn hành động bất thiện thì ngược lại, đôi khi làm hại người khác mà chỉ đem lại lợi ích cho chính mình. Chúng được phân tích bằng 11 Tâm Sở Thiện: “Tín” là tin, mình tin vào người khác và những điều của người khác là chân thật (đối ngược lại là không tin, bất tín); ở đây chúng ta nói đến lòng tin chứ không nói đến những điều dối trá của nguời khác để làm chúng ta tin; lòng tin là điều làm cho người ta được thiện. Sự củng cố và phát triển lòng tin khiến người ta càng thiện hơn, đó là sự “Tinh tấn”. Làm người mà biết cảm thấy xấu hổ (Tàm) hay là mắc cỡ, thẹn thùng (Quí) khi làm phải một điều sai quấy thì người ta sẽ không tái phạm những điều không thiện hay ác khác hoặc là chai đá với dư luận, mọi người. Người không tham lam, mong muốn (Vô Tham) thì nhu cầu không cần đòi hỏi, cho nên không cần phải lừa đảo, dối gạt, lén lấy hay áp bức người khác để có, và cũng không cần phải giận hờn, sân hận đối với kẻ khác (Vô Sân) thì họ cũng chẳng phải bị u mê (Vô Si) mà sinh ra tội ác, làm những hành động bất thiện, cho nên họ luôn được khoan khoái, thơ thới (Khinh an). Những người có lòng thiện thì họ luôn nghĩ trước những hành động của họ sẽ có tác động gì đến người khác hay không, họ không để tâm mình buông lung mà thiếu suy nghĩ tức là “Bất Phóng Dật” vậy. Họ làm mà không cần biết đến công lao, hay chấp trưóc mà chỉ nghĩ đến sự cống hiến (Hành xả) và cái tâm niệm không làm hại đến kẻ khác (Bất hại). Đó là tất cả những tâm tính của con người để hướng con người về con đường thiện lành; và xã hội đã đánh giá đó là một con người thiện trong xã hội.

 

(11 Tâm Sở Thiện: Tín; Tinh Tấn; Tàm; Quý; Vô Tham; Vô Sân; Vô Si; Khinh An; Bất Phóng Dật; Hành Xả; Bất Hại).

 

Và trong Duy Thức cũng phân tích những điều, tâm tính mà chúng khiến cho con người có nhiều lo nghĩ, phiền não, lo toan trong cuộc sống biến cuộc đời không được an lành. Đó là Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến được gọi là 6 Tâm Sở Phiền Não). “Tham” là tính tham lam, muốn có và muốn có hơn nữa những gì mình ưa thích như tiền bạc, danh vọng, nhan sắc…Muốn mà không đạt được hay bị trở ngại thì “Sân hận”, nổi nóng có những hành động nông nổi khiến thân tâm mình không được yên ổn, và người khác phải lo sợ, lánh xa. Sân rồi sẽ đưa đến sự “Si mê” (giận quá mất khôn) sẽ làm cho mình mê muội, thiếu sáng suốt, không còn định được phải quấy và có thể có những hành động phạm tội hay trở thành ác. Rồi khi con người có được những tài năng hay thành công do có được bản lĩnh hơn người hoặc thế lực, lại sinh ra kiêu ngạo, khinh “Mạn” cũng đưa đến sự phiền não do từ những phản ứng từ bên ngoài hay người khác. Cái tâm lý “Nghi ngờ” cũng làm người ta có nhiều suy nghĩ, phán đoán không nguôi chiếm đi nhiều thời gian khiến con người không thể yên tâm, an lòng trong cuộc sống mà sinh ra có Ác Kiến với người khác!

 

(6 Căn Bản Phiền Não: Tham; Sân; Si; Mạn; Nghi; Ác Kiến).


Nguyên Thảo,

21/02/2025.


Thursday, February 19, 2026


 Kính chúc Quý Vị và gia đình một Năm Mới (Bính Ngọ 2026)

An Khang Thịnh Vượng; Hạnh Phúc tràn đầy; Vạn Sự Như Ý!

Friday, February 6, 2026

*Vấn Đề V: Nghiệp Qua Cơ Bản Của Duy Thức Học!


Khi đề cập đến vấn đề nầy, chúng tôi lại nhớ đến truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Bộ truyện ấy cũng là kỷ niệm đáng nhớ của mình trong thời niên thiếu. Thuở ấy chúng tôi mới vào học ở lớp Ba của trường Tiểu học trong làng quê. Học chung có thằng bạn tên Nghi, nhà nó có quen thân với nhà đối diện bên kia đường của Bác Ba Keo. Nhà đó cho mướn truyện Tàu và tiểu thuyết để ai thích thì đến mướn đem về nhà đọc. Trong khoảng thời gian ấy lại có phong trào người ta thích kể về chuyện Tam Tạng đi thỉnh kinh, trong đoàn nổi bật là Tôn Hành Giả. Nhân vật nầy rất thu hút bọn nhỏ của chúng tôi. Vì vậy, một ngày tôi lên chơi với Nghi, thì Nghi hỏi muốn xem chuyện Tề Thiên Đại Thánh hông? Tôi tò mò trả lời “Muốn”. Thế là Nghi đến nhà Bác Ba hỏi mượn truyện Tây Du Ký về hai đứa xem. Hai thằng nhỏ kiếm một cái hốc ở góc nhà bên cạnh gốc cột, chui vào đó mà lật từng trang quyển truyện, rồi xúm nhau đọc. Đứa nào đọc xong trước rồi đợi đứa sau mới lật sang trang kế tiếp. Đọc mê quá, rồi cứ mỗi chiều hai đứa lại chui vào cái hốc đó mà đọc tiếp tục. Một ngày nọ, má tôi có việc cần nhưng không thấy ở nhà, bà đi kiếm và kêu về cho tôi một trận đòn đích đáng, và cấm hẳn tôi không được xem truyện nữa. Thế là từ đó, tôi không còn thói quen mê đọc truyện.

Lớn lên, khi vào Trung học bạn bè thường hay nói về truyện nầy truyện nọ, đứa thì kể về truyện Tàu, đứa nói về truyện kiếm hiệp. Tôi chằng biết chuyện nào cả kể cả những chuyện của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, hay tiểu thuyết nổi tiếng thời bấy giờ như “Tuấn, chàng trai nước Việt” của Nguyễn Vỹ; “Phi lạc Sang Tàu” của Hồ Hữu Tường; hoặc “Đò Dọc” của Bình Nguyên Lộc, “Yêu” “Ghen” “Sống” của Chu Tử. Thế rồi, tôi cũng được đọc vài quyển truyện hay tiều thuyết một cách muộn màng do bạn bè cho mượn vì nó khen quá hay.

Thế nhưng, đến một ngày khá lâu sau đó có ông thầy là Thầy Nguyễn Duy Cần lại đề cập đến truyện Tây Du Ký vì nó mang tính chất khá quan trọng trong Đạo Phật. Những nhân vật được kể trong đó đều tượng trưng cho một tính cách của con người, mặc dù những nhân vật ấy đều tưởng tượng ngoại trừ Đường Tam Tạng. Tác giả mượn chuyện Đường Tam Tạng đi sang Tây Trúc (Ấn Độ) để học hỏi về Đạo Phật mà trong truyện được kể như là “Đi thỉnh Kinh”, rồi tác giả Ngô Thừa Ân mượn các con vật, mỗi con vật tượng trưng cho đặc tính của con người mà thêu dệt nên câu chuyện “Tây Du Ký” hay bọn nhỏ chúng tôi thường gọi nôm na bằng “Chuyện Tề Thiên Đại Thánh”. Gọi như thế có lẽ vì Tề Thiên Đại Thánh là con khỉ chọc trời khuấy nước dám đánh lên tới cả ông Trời và khiến cho triều đình nhà Trời phải “thất điên bát đảo” và phải phong cho con khỉ đó là “Tề Thiên Đại Thánh”. Tuy nhiên, con khỉ ngang tàng đó vẫn không thoát khỏi bàn tay của Phật Tổ dù vận dụng thần thông đằng vân đi đến đâu. Bọn nhỏ chúng tôi khoái con khỉ đó vì nó mang cái tính ngang tàng vốn có trong con người của mình dù cái thân của mình chỉ còn chút xíu. Nói chung lại, cả hai con vật Khỉ “Tề Thiên Đại Thánh” hay là “Tôn Ngộ Không” và con Heo ham ăn, ham ngủ, ham mê nữ sắc, ham mê nhiều thứ “Trư Bát Giới” thì cũng là điều hấp dẫn đối với con nít chúng tôi! Còn Sa Tăng thì không có gì lôi cuốn cả, cho nên nó không được chúng tôi quan tâm nhiều.

Rồi, đến khi tôi có thì giờ tìm hiểu vào Đạo Phật, nhất là khi đọc ngấu nghiến bộ Phật Học Phổ Thông của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa do vị sư thân thuộc tặng cho, để hiểu chút nào về giáo lý Đạo Phật. Khi đọc về phần Duy Thức Học thì chúng tôi cũng mường tượng được những điều phân tích tổng quát, mà triết lý của môn “Tâm Lý Học Phật Giáo” nầy cung ứng; mặc dù những phần về Siêu Hình thì quá khó chúng tôi không thể lĩnh hội. Quả thực, môn Duy Thức Học hay còn gọi là Tâm Lý Học Phật giáo đúng là thật khó hiểu, khó lĩnh hội được, cho nên hiểu hết tất nhiên chúng tôi không thể nắm bắt được. Tuy nhiên về tổng quát môn nầy giúp cho chúng tôi có thể hiểu phần nào, và giải thích được kết quả những gì mà con người hành động cùng chịu trách nhiệm về những việc làm của mình trong cuộc đời, tức là những gì đã tạo nên “nghiệp”, đã tạo thành “nhân” để sau nầy phải trả “quả”; đó là nguyên nhân của chuyện “sinh tử trong luân hồi”!

Theo như quý vị sư, học giả chú trọng vào sự phân tích các nhân vật của Tây Du Ký thì có nhiều cái nhìn khá khác về chuyện Tây Du Ký và các nhân vật. Theo bọn con nít chúng tôi thì các nhân vật, nhất là con khỉ Tề Thiên Đại Thánh là con vật năng động, khôn ngoan, chọc trời khuấy nước là thần tượng với sức sống năng động của mình dù thân thể chỉ còn chút xíu. Còn Trư Bát Giái, chúng tôi thích chữ “Giái” hơn là chữ “Giới” vì nó mang được tính cách hơi tục, nhưng cũng nói lên được tính cách của anh chàng “con heo lòng” thích ăn, ham ngủ, nạnh hẹ, ham mê nữ sắc mà con người nào, nhất là con trai, nam giới đều có ở trong con người của mình. Và bây giờ, con người, những nhà nghiên cứu lại có nhiều cái nhìn, quan niệm về Tây Du Ký vì có thể tìm thấy trong Tây Du Ký những bài học để dạy cho con cái, hay những nhà chính trị khai thác về các lĩnh vực của họ. Chúng ta không rõ mục đích của Ngô Thừa Ân khi sáng tác ra chuyện Tây Du Ký như thế nào, chứ ngày nay nhiều học giả cho rằng Tây Du Ký mang tính chất người ra giúp nước; phản ánh sự đấu tranh của người dân; ca tụng sự phản kháng của chính nghĩa; ca tụng sự vùng lên của dân qua nhân vật tôn Ngộ Không; sự kiên trì, bền bỉ, vượt gian lao của các nhân vật đi thỉnh kinh cũng như quan niệm Tây Du Ký là một sổ tay đi thỉnh kinh của tôn giáo; một câu chuyện ngụ ngôn, hay là chuyện đùa cợt cuộc đời đôi khi có hơi đùa cợt về Đạo Phật vì có những đòi hối lộ… Có lẽ với “phong trào moi tìm những ngóc ngách” vào truyện nầy thì trong tương lai sẽ có nhiều quan niệm khác nữa tùy theo người đọc và nhận xét mà họ tìm ra. Tuy nhiên, truyện Tây Du Ký cũng thoát ra ngoài cái chuyện Đường Tăng đi sang Tây Trúc để thỉnh kinh của Ngài Đường Tam Tạng vì Ngài đã tốn những 17 năm đến Ấn Độ vừa đi, vừa học và vừa về; để sau đó Ngài đã bỏ công sức để dịch tam tạng kinh điển của Đạo Phật từ Phạn Văn sang Hán Văn mà phổ biến ở Trung Hoa, cũng là phần lớn cho nền Phật Giáo ở Việt nam.

Đó là những quan niệm bên lề của truyện Tây Du Ký, nhưng dù gì Tây Du Ký vẫn phản ánh câu chuyện đi thỉnh kinh đến Ấn Độ của Đường Tam Tạng mà các quan niệm Phật giáo vẫn phổ biến, mặc dù chuyện có vài chi tiết không thể hiện đúng với đường hướng trong giới nghiên cứu hay thực hành đạo Phật. Có cái nhìn các nhân vật đi theo Đường Tăng trên đường thỉnh kinh như Tôn Ngộ Không, con khỉ nầy giống như cái Trí khôn nhìn thấy biết nhiều chuyện nhưng đầy sự Sân Hận; còn Trư Bát Giới giống như con heo lòng đầy mong muốn, tham lam, ham nhiều thứ đại diện cho sự Tham Lam của con người; Sa Tăng đại diện cho sự Ngu Si chỉ làm theo nhu cầu, bản năng không có sự suy tính, năng động; Và con ngựa Bạch mã tượng trưng cho sức khỏe, sự mạnh mẽ của cơ thể để có thể đạt được mục đích trên con đường thỉnh kinh. Còn một cái nhìn khác là qua môn Duy Thức: Đường Tăng tượng trưng cho con người giống như cái Tàng Thức tức Đệ Bát Thức trong môn học ấy; Tôn hành Giả là Ý Thức tức Đệ Lục Thức và Trư Bát Giới đại diện cho Đệ Thất Thức là Ý Thức nhưng ý thức nầy hướng về con người của mình tức nặng phần Chấp Ngã. Còn con ngựa tượng trưng về phần Sắc trong Ngũ Uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Thế là với cái nhìn nầy hướng về Duy Thức Học mà chúng ta muốn được tìm hiểu để có thể hiểu hơn chút nào về con người của chúng ta theo quan niệm của Đạo Phật.

Theo Duy Thức Học tức là môn học phân tích về con người mà người ta dùng một danh từ khác là Tâm Lý Học Phật Giáo. Nói đến Tâm Lý là một phần học được xếp đặt trong môn Triết Học bao gồm Tâm Lý, Đạo Đức và Luận Lý mà người ta đã nghiên cứu. Nhưng trong Tâm Lý Học Phật giáo khá khác biệt hơn là đào sâu hơn nữa về sự phân tích đối với con người để từ đó có thể giải thích những điều thâm sâu về con người sẽ trải qua trong quá trình sống và tái sinh trong cõi Luân Hồi.

Theo như chúng ta học từ hồi còn nhỏ về môn Cách Trí hay sau nầy đổi lại là Khoa Học Thường Thức thì con người có 5 giác quan dùng để nhận biết những gì bên ngoài ảnh hưởng đến thân thể của mình như: Mắt (Thị giác) để nhìn, thấy, quan sát; Tai (Thính giác) để nghe; Mũi (Khứu giác) để ngữi, nhận biết các mùi; Lưỡi (Vị giác) để nếm, nhận biết các vị chua, đắng, ngọt, cay…; và Da (Xúc giác) để rờ, đụng chạm nhận biết các tình trạng các thứ mà sờ, đụng, tiếp xúc đến. Nhưng trong Tâm Lý Học Phật Giáo vẫn có các giác quan ấy nhưng phân tích kỹ hơn và xem các giác quan trước hết mắt, tai, mũi, lưỡi, da xem như là thân thể, tất cả đó là “Căn” gọi là Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỹ căn, Thiệt căn, Thân căn; và ở phần nầy thêm một phần khác là ý nghĩ gọi là Ý căn. Đó là Lục căn. Lục căn nầy sẽ tiếp xúc với các thứ bên ngoài gọi là Lục trần:

-Mắt (Nhãn căn) để nhìn được hình dáng, màu sắc (Sắc trần),

-Tai (Nhĩ căn) để nghe âm thanh, tiếng động (Thanh trần),

-Mũi (Tỹ căn) để ngữi các mùi (Hương trần),

-Lưỡi (Thiệt căn) để nếm được các vị (Vị trần),

-Thân (Thân căn) để sờ mó, đụng cham mọi vật (Xúc trần),

-Ý (Ý căn) là những suy nghĩ về mọi vật, hiện tượng hữu hình lẫn trừu tượng (pháp trần).

Từ các căn nầy mà con người, sinh vật mới tiếp xúc được những gì trong trần gian để rồi mới nhận biết về chúng mà được gọi là Thức. Sáu giác quan sẽ có sáu thức mà tiếng Hán Việt gọi là Lục Thức, tức là Nhãn thức (của mắt), Nhĩ thức (của tai), Tỹ Thức (của mũi), Thiệt thức (của lưỡi), Thân thức (của thân). Năm thứ nầy gọi chung lại bằng danh từ “Tiền Ngũ Thức” mà trong truyện Tây Du Ký người ta cho là Sa Tăng đóng vai trò ấy; tức là chúng chỉ thấy, nhận biết thôi sự vật chỉ là như thế thôi. Nhưng cái anh quan trọng hơn là Ý Thức giống như cái bộ não mới tổng hợp, phân tích lại để biết sự vật, hay sự kiện bên ngoài như thế nào để chọn, đánh giá các tính chất của chúng giống như vai trò thông minh, đầu óc sáng suốt, phân biệt được rõ ràng như thế nào giống như là Tôn Ngộ Không. Phần nầy danh tử chuyên môn gọì là Ý Thức hay Thức Thứ Sáu, vì nó đến sau 5 thức kia. Xong đến anh Thức Thứ Bảy hay một danh từ khác khá lạ là Mạt Na Thức làm nhiệm vụ. Mạt Na Thức người ta cũng cho là Ý căn, nhưng các ý nầy không phải là nhận định tổng quát mà nó lại ý chiếm hữu, lấy đem về cho bản thân mình giống như sự sanh nạnh, ham ăn, thích ngủ, sung sướng...như là Trư Bát giới vậy. Ý thức ấy chỉ là mục đích cho mình, cho cái Ngã của ta. Còn Đường Tam Tạng như thế nào cũng nhận, cũng chịu giống như một cái túi đựng mọi việc, mọi hậu quả mọi cái “nhân” đưa đến dù nó là Thiện hay Ác; hay không thiện, không ác gọi là (Vô Ký). Thức nầy gọi là Thức Thứ Tám hay các danh từ đặc biệt khác là Tàng Thức (thức chứa), hoặc A Lại Da Thức.

 

Nguyên Thảo,

07/02/2026.

  

Friday, January 23, 2026

*Vấn Đề IV: Những Trụ Đá Của Vua A-Dục. (tt)

 

Theo như chúng ta đã biết ở trên: Dưới triều đại của vua Ashoka, Đạo Phật đã phát triển mạnh mẽ nhờ vào sự thay đổi cái nhìn về các cuộc tàn ác của chiến tranh; nhất là sau trận chiến ở Kalinga, cuộc chiến khiến Ông đã theo tư tưởng của Đạo Phật, cùng thay đổi về con người. Từ đó, Ông hộ trì Phật Giáo cho xây nhiều chùa chiền, dựng các trụ đá và xây bảo tháp ở khắp trong lãnh thổ do Ông cai trị cho đến vùng Iran, Afghanistan, Trung Á. Không những thế, Ông còn gởi các đoàn truyền giáo đi các nơi để phổ biến về đạo Phật, kể cả hai người con đi sang Tích Lan để rao giảng. Trong thời, Ông còn cho cữ hành cuộc kết tập lần thứ III toàn bộ Tam tạng kinh trong vòng 9 tháng ở Pataliputta dưới sự chủ trì của Moggaliputta Tissa cùng khoảng 1,000 vị tì kheo ưu tú. Ở lần kết tập nầy, kinh điển được ghi chép lại bằng tiếng Pali viết trên lá bối (lá buông).

Tuy nhiên, đến Thế kỷ thứ 7 thì Đạo Phật lần bị suy vi, và biến mất trên đất Ấn Độ từ cuối Thế kỷ thứ 12. Với sự kiện hiếm hoi nầy, những người nghiên cứu về Đạo Phật, cũng như các nhà sử học lẫn học giả cố gắng truy cứu, tìm hiểu thì có thể do các nguyên nhân sau:

1/- Do sự phân hóa trong Đạo Phật: Vì từ Thế kỷ thứ 7, Đạo Phật đã có nhiều tông phái mới xuất hiện cùng các đường lối dị biệt khiến phẩm chất bị mất dần ảnh hưởng trong dân chúng. Lại nữa, với sự ra đời của phái Mật Tông đã khiến Đạo Phật không xa mấy với Ấn Độ giáo.

2/- Sự xuất hiện của Đạo Hindu hay là Ấn Độ Giáo, tức là sự cải đổi ít nhiều từ căn bản của Đạo Bà La Môn (danh từ Hán Việt phiên âm từ từ ngữ Brahman); do trước đó Đạo Bà La Môn đã có thời kỳ truyền bá rất là rộng rãi trong xã hội Ấn Độ cổ xưa, nhưng sau bởi sự ra đời của Đạo Phật khiến Đạo Bà La Môn bị suy thoái. Tuy nhiên, đến thế kỷ thứ 8, thứ 9 thì Đạo Bà La Môn biến đổi, có thêm nhiều yếu tố mới; trong đó đạo nầy xem Đức Phật chỉ là một hóa thân của Thần Vishnu và biến thành tôn giáo mới là Hindu. Đồng thời, tín đồ theo Phật lại bị bức hại vì trước kia khi Phật giáo thịnh hành, nhiều người thuộc giai cấp hạ tiện của Bà La Môn đã bỏ theo khá nhiều làm cho đạo bị suy yếu; nên sự bức hại lúc nầy được xem như là sự trả thù của người theo Đạo Bà La Môn. Hơn nữa, trên giáo lý có nhiều điểm khá tương đồng về Luân Hồi, tái sinh, nghiệp báo, cho nên người theo Đạo Phật dần quay trở lại với Đạo Hindu cải tiến nầy. Thế rồi, trong vài thế kỷ sau lại một nguyên nhân khác khiến Đạo Phật khó tồn tại tại nơi sản sinh ra nó.

3/- Đó là sự xăm lăng của Hồi Giáo: Trước hết chúng ta sẽ xét qua vài điều trong Kinh Thánh phần Cựu Ước để có thể thấy rõ hơn nhiều vấn đề liên quan. Trong chương “Xuất Ê-Díp-Tô ký” có các đoạn sau:

“Ngươi chớ quì lạy và hầu việc các thần chúng nó; chớ bắt chước công việc của họ, nhưng phải diệt hết các thần đó và đập nát các pho tượng họ đi. Ngươi hãy hầu việc Giê-Hô-Va Đức Chúa Trời ngươi” (23:22-25)

Và:

“Nhưng các ngươi hãy phá hủy bàn thờ, đập bể pho tượng và đánh hạ các thần chúng nó” (34:13)

Tại sao chúng ta cần phải chú ý đến các đoạn ấy? Vì rằng Hồi Giáo vẫn xem Kinh Cựu Ước và Tân Ước là kinh sách của Thánh Allah. Và các Ngài như Adam, Noah, Abraham, Moise, Jesus đều là các sứ giả đến trước Muhammed, và Muhammed là vị Sứ Giả cuối cùng. Vả lại Muhammed trước khi thành lập Hồi Giáo cũng rất tường tận Đạo Do Thái lẫn Thiên Chúa Giáo, tất nhiên có sự rút kinh nghiệm từ các tôn giáo có trước nầy không phải là điều không có.

Ở đây, chúng ta sẽ đi ra ngoài lề một chút nữa: Để cung ứng cho một cuộc chiến tranh nào đó dù ngắn hạn hay lâu dài là sự hun đúc, thúc đẩy tinh thần chiến sĩ là quan trọng. Thế cho nên những phần thưởng về vật chất lẫn tinh thần cho chiến binh là điều cần thiết. Những phần thưởng đó là gì nếu đứng về phương diện của một tôn giáo? Vậy thì những cái hình ảnh cao cả và sự sung sướng hạnh phúc trong tương lai ở cái thế giới bên kia là tốt đẹp nhất, phải đúng là một Thiên Đàng đích thực, đáp ứng đủ mọi mơ ước của con người; dù Thiên Đàng ấy không hẳn là thực, ngoài cái tin tưởng vào đức tin của mình. Và điều khác nữa, là làm thế nào để có nhân lực cung ứng vào các cuộc chiến tranh, nếu người chết quá nhiều? Cho nên nguồn sản xuất con người phải được chú trọng. Những sự suy tính ấy có thể sẽ xảy ra, như là chiến binh có thể có nhiều vợ chẳng hạn!

Hồi Giáo được sản sinh từ Mecca, nhưng phải khi đến Medina mới bắt đầu phát khởi để sau đó chỉ 10 năm, sau khi Muhammed qua đời (632), Hồi Giáo phát triển ra khắp vùng Trung Đông. Rồi 2 năm sau nữa, chiếm trọn vùng Bắc Phi và tiến vào lãnh thổ Tây Ban Nha, là nước sùng đạo Công Giáo nhất Châu Âu (711-716) thời bấy giờ. Với sự phát triển, bành trướng nầy đưa đến các cuộc Thánh Chiến tàn khốc giữa hai tôn giáo Thiên Chúa và Hồi Giáo trong những thời gian dài của lịch sử. Sở dĩ như vậy, vì trong Kinh Koran có công khai kêu gọi tín đồ Hồi Giáo phải chống lại tất cả những ai không tin theo Đạo Hồi, hoặc ở trong lãnh thổ kiểm soát người ngoại đạo phải nạp thuế thân và chịu địa vị thấp kém.

Thế cho nên, Đạo Phật vốn dĩ nhân từ và nhân ái nên trên con đường phát triển của nó không phải là hình thức chiến tranh, hay bắt người khác tin theo. Không một sự áp bức, ép đặt nào, ngay cả cũng không có luật lệ bắt người khác phải theo đạo, dù là trong hôn nhân. Đạo Phật đi đến đâu cũng hòa đồng cùng phong tục, tập quán hay văn hóa của khu vực ấy, kể cả những tín ngưỡng dân gian của địa phương. Điều ấy được minh chứng rõ ràng ở các quốc gia mà Phật Giáo đã ảnh hưởng tới! Thêm một điều khác nữa là với hàng tu sĩ Phật Giáo chỉ khuyến khích người tin theo làm thiện, tránh ác và không hề trang bị vũ trang, không có tinh thần chiến đấu nên các tu sĩ sẽ bị tàn sát là chuyện thường tình. Nếu gặp những sự xâm chiếm quá khích thì tu sĩ, tín đồ Phật Giáo sẽ hoàn toàn bị truy sát, và Phật Giáo sẽ lụi tàn không hơn không kém. Và với tư tưởng tàn phá tất cả, thì những công trình của vua Ashoka không còn tồn tại thì cũng chẳng có gì phải nghĩ bàn. Thực tế đã minh chứng cho đến thế kỷ hiện nay, mà hai tượng Phật lớn nhất thế giới được đục trong núi ở Bamiyan, vẫn bị tàn phá hoàn toàn dù chúng đã được xem là di sản thế giới của nhân loại. Và, chúng tôi có nhiều điều thắc mắc là: Tại sao những khu vực di tích Phật Giáo được đục trong núi rất là công phu ở những vùng cao của Ấn Độ như Ajanta, Ellora… nơi mà không có nhiều thức ăn, thực phẩm như thế? Và Tại sao ở Nam Dương hãy còn một di tích Phật Giáo lớn nhất thế giới là Borobudur, trong khi nước nầy là một quốc gia Hồi Giáo đông dân nhất địa cầu. Có phải chăng trước kia Phật Giáo đã phát triển rất mạnh ở quốc gia nầy trước khi Hồi Giáo xâm chiếm? Và Hồi Giáo là tôn giáo như thế nào mà đã tàn phá một cách khủng khiếp như vậy, trên con đường phát triển? Điều đó khiến tôi có nhiều suy nghĩ về quan niệm: Thế nào là một tôn giáo?

 

Nguyên Thảo,

24/01/2026.

 


Monday, January 5, 2026

*Vấn Đề IV: Những Trụ Đá Của Vua A-Dục.


Nhiều người, kể cả các học giả có nhiều thắc mắc về sự biến mất của Đạo Phật ở trên chính quê hương của mình, đến đỗi có nhiều ngộ nhận: Đức Phật như chỉ là một nhân vật không thật, và chỉ có trong các câu chuyện thần thoại mà thôi. Rồi, người ta cũng tìm thấy hình ảnh Đức Phật hiện diện trong Ấn Độ Giáo như là một hóa thân của Thần Vishnu. Nhưng về sau khi những nhà thám hiểm, khoa học khám phá ra những trụ đá của vua A Dục để lại, thì người ta có cái nhìn thật hơn về nhân vật Thích Ca được vua A Dục nói đến; và chứng tỏ Đạo Phật đã có một thời sáng rỡ trong cái vương quốc rộng lớn mà nhà vua nầy cai quản. Từ đó, nhiều người lại nghiên cứu xem vì sao Đạo Phật bị mất đi trên vùng đất sản sinh ra chính nó, điều ấy thực là khác biệt với nhiều tôn giáo khác!

Tuy nhiên, có một điều lạ hơn, là người ta lại nghi ngờ vua A Dục chỉ là vị vua không có thật. Vì vào năm 1837, có một nhân viên hành chánh của Thành phố Calcutta là James Princep tìm cách giải đoán những chữ ghi, được khắc trên hai cột trụ bằng đá đã tìm thấy ở Delhi, và Allahabad (thuộc Tiểu bang Uttar Pradesh miền Bắc Ấn). Trong giải đoán đó có tên một vị vua là Devanampiya, mà vị vua ở Tích Lan là Devanampiya Tissa khiến sự giải đoán trở nên khó khăn, khó tìm ra manh mối và có nhiều nghi vấn. Mãi đến năm 1915, có một kỷ sư hầm mỏ người Anh tên là Beadon tìm được một trụ đá khác ở vùng Maski (phía Nam Ấn Độ), trên trụ đá nầy có tên vua Devanampiya Piyadasi của triều đại Maurya với vương hiệu là Ashoka (A Dục). Do đó, việc quay trở lại hai trụ đá trước, người ta mới biết đó chính là vua A Dục. Như vậy vua A Dục nầy là một vị vua lịch sử của triều đại Maurya.

Ashoka là vị vua thứ ba của triều đại Maurya Ấn Độ, sau vua Chandragupta và vua Bindusara; Ông cai trị đế quốc nầy từ năm 273 đến năm 232 trước Tây Lịch. Đế Quốc của ông rộng lớn ở vùng Nam Á kéo dài từ Afghanistan, Iran đến tận miền Nam vùng Mysore, Bengal. Người ta xem triều đại Ông là triều đại sáng chói nhất lịch sử thời cổ của Ấn Độ qua những tài liệu phong phú, chính xác được ghi lại bằng chữ viết lưu truyền cho đến ngày nay. Các tài liệu ấy được ghi trên các văn bản qua hai loại: Các văn kiện chính thức của triều đình khắc ghi trên đá; và các tư liệu di tích văn hóa không mang tính cách hành chính. Các văn kiện nầy ghi bằng ngôn ngữ địa phương thời bấy giờ là chữ Brahmi và Karosti.

Theo tài liệu thì khi lên ngôi chừng khoảng 11 năm đầu, vua Ashoka cho khắc các pháp dụ trên vách đá, hay các trụ đá tùy vào nội dung dài hay ngắn, và còn chia ra thành những Đại Thạch Pháp Dụ và Tiểu Thạch Pháp Dụ. Phần lớn các trụ hay vách đá chứa pháp dụ nầy thường bị hư hỏng khá nhiều. Tuy nhiên, với một số còn lại cũng khiến người ta truy cứu đưọc niên kỷ của các sự kiện dưới thời Vua Ashoka trị vì. Đến nay, người ta phát hiện được 14 Đại Thạch Pháp Dụ ở các nơi khác nhau như Sopara (tiểu bang Bombay); Ginar (bang Saurahtra); Mansehra và Shabazgarhi ở vùng tây Pakistan; Kalsi ở phía bắc (bang Uttar Pradesh; một ở phía nam Erragudi (thuộc Andhra Pradesh); và hai pháp dụ Kalinga được tìm thấy ở Dhauli, Jaugada thuộc Orissa gần bờ biển Đông vịnh Bengal.

Còn các Tiểu Thạch Pháp Dụ được tìm thấy ở nhiều nơi thường tập trung ở giữa và phía nam của vương quốc. Người ta chia ra: Tiểu Thạch Pháp Dụ I tìm thấy ở các nơi thuộc phía Bắc như: Bairat, Gavimath, Maski, Palkigundu, Gujarra, Rupnath và Sahasram; Tiểu Thạch Pháp Dụ II được tìm thấy ở miền Nam Ấn như: Brahmagiri, Jatinga-Ramesvara, Siddaoura (bang Mysore); và Erragudi, Rajula-Mandagiri (bang Andhra); Tiểu Thạch Pháp Dụ III được tìm thấy ở Bairat.

Rồi người ta còn ước tính vào những năm thứ 27, 28 của triều Hoàng Đế Ashoka, Ông còn cho dựng các cột đá có khắc pháp dụ được chà bóng loáng, điêu khắc trên đầu trụ với hình sư tử, bò hay ngựa một cách tinh xảo, dựng ở thung lũng sông Hằng hay các đường lớn trong vương quốc; có kích thước khoảng từ 12 đến 15 thước, nặng đến 50 tấn gọi là Thạch Trụ Pháp Dụ. Các trụ nầy lấy từ mỏ đá ở Chunar phía Nam của Varanasi kéo đến. Đến nay chỉ còn tìm thấy được 10 trụ rải rác các nơi trong toàn cõi của đế quốc Maurya như Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Afghanistan.

Với sự hiện diện của những thạch trụ nầy, chúng đã minh chứng có một triều đại huy hoàng cổ xưa của xứ Ấn Độ dưới thời Hoàng Đế Ashoka, và cũng từ đó chứng thực một tôn giáo đã cải hóa một hoàng đế tàn ác trở thành hoàng đế nhân từ trong lịch sử của nhân loại, và ông đã xiển dương chánh pháp một cách tích cực. Nhờ đó mà Đạo Phật hiển hiện chứng minh được phát sinh từ một nhân vật lịch sử, đó là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứ không phải từ câu chuyện thần thoại nào khác!

Tương truyền lúc còn trẻ Ashoka là hoàng tử xuất sắc trong lĩnh vực quân sự và các khả năng khác. Khi trưởng thành Ông là vị tướng thông minh và chưa hề chiến bại. Đúng ra, Ông không phải là người kế vị của vua cha, mà là người anh cùng cha khác mẹ là Susima; nhưng vì Susima sợ A Dục được thay thế mình nên tìm cách để vua cha Bindusara đưa A Dục đi đày vào vùng Kalinga. Vì vùng Ujjain có nổi loạn nên A Dục được điều về nơi đó để đánh dẹp. Do sự điều trị bí mật khi bị thương để tránh những ám hại của tay chân Susima, nên Ông đã được tiếp xúc với các nhà sư Phật Giáo và biết đến những lời dạy của Đức Phật.

Khi hoàng đế Bindusara bị bệnh, hấp hối, các vị đại thần chán ghét Susima đã mời A Dục về lên ngôi. Cuộc lên ngôi nầy khiến tình hình trở nên rối loạn và A Dục nổi giận, tương truyền Ông đã giết chết các người anh em cùng cha khác mẹ gồm tới 99 người và bày ra nhiều hình phạt tàn nhẫn giống như địa ngục, nên trong giai đoạn nầy ông được gọi là Chanda Ashoka, nghĩa là “Ashoka bất nhân”! Vào thời gian đầu sau khi lên ngôi, Ashoka liên tục tổ chức các chiến dịch, trận đánh khá đẫm máu, tàn khốc để mở rộng lãnh thổ, đế quốc của mình. Nhưng, cuộc chiến ở Kalinga quá khốc liệt khiến mọi thứ bị tàn phá, hàng 100,000 người thiệt mạng và khoảng 150,000 bị trục xuất. Từ đó làm cho vua Ashoka thay đổi và tìm đến với Phật pháp; và với đường lối cai trị nhân đạo nầy nhà vua được gọi lại là Dharmashoka (A Dục sùng đạo). Giáo lý Phật giáo được phổ biến lan truyền trong đế quốc của nhà vua; các chùa chiền được xây cất; cùng các trụ đá được dựng lên khắp nơi trong đế quốc bằng loại đá sa thạch màu đỏ chỉ có ở vùng trung Ấn Độl chứng tỏ chúng được làm ở một nơi rồi mới chuyển đến các nơi khác. Vua Ashoka trở thành phật tử hộ trì Phật pháp, đem chính pháp truyền bá khắp đế quốc của mình; và Ông còn phái các phái đoàn truyền giáo đi khắp nơi để từ đó Phật pháp được truyền về phía Đông sang tận Trung Hoa rồi sang Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam. Về phía Nam thì đã có hai người con của Ông là Hoàng tử Mahinda và Công chúa Sanghamitra đem Phật pháp truyền sang Tích Lan theo phái bộ Theravada để rồi được phát triển ở Miến Điện, Thái Lan và Kampuchia.

Các sử gia đã so sánh sự hộ trì Phật pháp của nhà vua Ashoka giống như là công trình của Đại đế Constantine đối với Thiên Chúa Giáo trong lịch sử. Tuy nhiên, theo chúng tôi thì hộ trì đạo pháp tuy có những công trạng tương đối giống nhau, nhưng có điều khác biệt rất lớn là đối với nhà vua Ashoka là người đã nhận thức được sự tàn ác của chiến tranh, mà ngưng đi các hành động chém giết của mình để trở thành người ăn năn, hối cải mà xiển dương cho một giáo pháp đầy nhân ái trong tinh thần nhân đức, hòa ái … Chứ không nương vào tôn giáo để tiếp tục xây dựng đế chế của mình, biến mọi người trong phạm vi lãnh thổ của mình phải theo cái đạo mà mình mong muốn, hay sử dụng tôn giáo để tạo nên đế chế của mình. Điều ấy, trong lịch sử cũng xảy ra một lần nữa dưới triều đại thời Đại đế Charlemagne của Đế quốc Frank vào nhiều thế kỷ sau đó. Chính vì sự ép chế đó và với những luật lệ nghiêm ngặt của giáo hội, mà tôn giáo ấy đã phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay. Nhưng thông thường với tính tình con người, có áp bức thì sẽ có đấu tranh; cho nên có vài tôn giáo thành hình về sau, đã rút kinh nghiệm và phản kháng bằng tạo nên tôn giáo mới với luật lệ được xây dựng chắc chắn và phát triển bằng hình thức mạnh bạo hơn, phát triển từ trong chiến tranh và bắt người khác phải theo đạo hay là chết. Nên những cuộc chiến về tôn giáo từ đó đã dai dẳng và khủng khiếp nhất liên tiếp trong những thời gian dài; vì chúng là những cuộc chiến về tâm linh với sự dũng mãnh của Đức Tin! Đó cũng là một trong những nguyên nhân mà Đạo Phật phải biến mất khỏi quê hương của nó, mà không một tôn giáo nào giống được!

 

Nguyên Thảo,

06/01/2026.

  

Saturday, January 3, 2026

*Sự Công Bằng Và Bình Đẳng!

 

Trên thế giới, trong thời gian dài người ta đã bỏ nhiều công sức, trí não, thậm chí đến những cuộc đấu tranh đổ máu để đi tìm một sự bình đẳng về giới tính, về cuộc sống con người hay bình đẳng trên bình diện quốc gia và quốc tế. Nếu đứng về lịch sử, từ trong thiên nhiên con người đã có những sự bất bình đẳng về hình thể, sức khỏe hay giới tính vì đó là những bản chất của thiên nhiên. Chẳng hạn như người thì cao, người thì thấp; người khôn ngoan, người đần độn; người sung sướng hạnh phúc, người gian nan nghèo khổ; người bệnh hoạn yếu đuối, người mạnh mẽ yêu đời; kể cả người nam lẫn người nữ… Ấy là những sự bất bình đẳng thiên bẩm mà không ai có thể tránh khỏi khi được sinh ra đời. Chính vì thế mà người ta phải nương tựa lẫn nhau: Đàn bà nương tựa vào đàn ông để trở thành một gia đình, người đàn ông gánh vác những công việc nặng nề, lo lắng cho gia đình; người nữ giữ vai trò nội trợ từ việc sanh đẻ, trông nom con cái, bếp núc, hỗ trợ cho người nam, cột trụ của gia đình. Sự nương tựa vào nhau ấy trở thành nền tảng của một gia đình; nhiều gia đình tập hợp thành một xã hội. Các thành viên trong xã hội nương tựa vào nhau để chống, đối ứng lại những hiện tượng thiên nhiên như bão lụt, động đất, nói chung là thiên tai, kể cả bệnh hoạn và chống chọi lại các thú dữ để làm cho cuộc sống được an toàn hơn. Sự hỗ trợ trong cộng đồng ấy bắt đầu từ đời sống du mục, săn bắn cũng như là bắt cá, sò ốc cho đến khi họ biết định cư sống bằng nông và ngư nghiệp.

Đến thời kỳ con người có quyền tư hữu thì với sự chiếm hữu, xã hội đi vào giai đoạn bất bình đẳng được thể hiện nhiều hơn. Người mạnh hiếp yếu, đông đè ép ít để đem ích lợi về cho mình hay nhóm của mình. Những cuộc tranh giành, chiến đấu để giành thắng lợi về cho mình càng lúc càng nhiều. Tất nhiên những kẻ yếu thế đành phải chịu thua và mất đi các phần của mình có được. Từ đó chế độ phong kiến thành hình. Những vương triều mở các cuộc chiến tranh để càng phát triển thế lực mình càng nhiều và tàn ác để đạt được mục đích to lớn nhất, khởi đầu cho thời kỳ đế quốc! Đó là những thời kỳ mà sự phân tích của Đạo Phật được chứng tỏ do lòng tham lam từ con người càng ngày càng được đẩy cao hơn, vì sự chiếm hữu đem đến nhiều lợi lộc cho chính bản thân, hay nhóm hoặc quốc gia của họ. Sự bất công, áp bức, bốc lột đầy dẫy trong thời kỳ nầy. Chính vì thế mà nhiều phong trào chống đối, đấu tranh từ sự giành lại độc lập cho quốc gia, hay đòi lại quyền sống, chống áp bức, bốc lột công sức đã xảy ra. Cuộc cách mạng kỹ nghệ và sự phát kiến, phát minh ra những phương tiện làm cho đời sống của con người càng lúc càng được phong phú, sung sướng hơn; nhưng cũng là công cuộc làm cho người đàn bà tham gia vào sự sản xuất trong xã hội được tích cực như những người đàn ông, thanh niên. Từ đó phong trào đòi sự bình đẳng giữa nam, nữ giới được tiến hành đẩy cao thêm, rồi sau đó là phong trào đòi hỏi người phụ nữ đi bầu cử như nam giới cũng được tranh đấu, đòi hỏi. Những tính cách tương đối công bằng, bình đẳng ngày nay có được phải trải qua thời gian dài qua những tiến trình của xã hội. Tuy vậy, vẫn không ít tình trạng mạnh hiếp yếu, to lấn nhỏ xảy ra hàng ngày trên thế giới hiện nay.

Đó là những hình ảnh hiển hiện trong xã hội ở những thời gian dài. Còn trong tôn giáo thì cũng có nhiều phức tạp hơn, vì nó là những biểu hiện từ trong tâm tính, đức tin cho nên nó cũng không thoát ra được quan niệm cố hữu bằng những hình thức trói buộc; nên sự bình đẳng, công bằng khó được lạm bàn. Nhưng có những sự kiện khiến chúng ta không thể không lưu tâm từ trong lịch sử: Tôn giáo nào cũng có những giáo lý tốt đẹp, nhằm đem đến cho loài người sự an ổn trong tinh thần, nương tựa vào những Đấng thiêng liêng để được cầu nguyện, giao phó các ưu tư, buồn khổ khi gặp phải tình trạng bất an, gian khó; nhưng do vì con người, người lãnh đạo một khi đặt đức tin của mình quá đáng vào niềm tin tôn giáo đã biến tôn giáo thành điều quá khích bắt buộc người khác phải tin vào tôn giáo mà mình đã tin, ái mộ; đôi khi bằng hình thức ép buộc theo hoặc là chết. Chính vì điều ấy đã khiến có vài tôn giáo được hình thành bằng sự đối kháng, và sáng lập tôn giáo khác với đầy đủ đấu tranh, vũ lực cực đoan. Điều ấy đã tạo nên nhiều cuộc chiến tranh giữa nhiều tôn giáo trong hoàn cảnh tàn khốc và thương đau; mà nhiều lúc nó lại còn tàn nhẫn hơn với những cuộc chiến tranh tiêu diệt lẫn nhau. Nhất là trong tinh thần xem tôn giáo của mình phải thống trị, hơn hẳn các tôn giáo khác. Lịch sử đã chứng minh điều ấy! Vậy thì, tôn giáo làm như thế nào để thể hiện được sự bình đẳng, công bằng và hài hòa trong một thế giới văn minh và tiến bộ?

Sự bất công trong xã hội loài người đó đã khiến nhiều triết gia, những nhà tư tưởng phải nhiều đắn đo, suy nghĩ và phân tích để sản sinh ra nhiều lý thuyết san bằng làm cho con người bớt khổ hơn. Từ những nhà xã hội học; những người đấu tranh cho sự bất công, thiếu bình đẳng đã đưa ra những lý thuyết về một xã hội tiến bộ, công bằng hơn: Đó là cái chủ nghĩa xã hội! Thế nhưng chủ nghĩa xã hội ấy đã làm được những gì và kết quả đã ra sao?

Theo như ở trên, chúng ta đã phân tích lần theo từng giai đoạn khi mà con người có những sự bất bình đẳng từ thiên nhiên, cho đến những nhu cầu cần đấu tranh tạo nên được bình đẳng thêm mỗi khi xã hội được phát triển hơn. Nhưng khi đến thời kỳ chiếm hữu trở nên to lớn, và người ta biết tôn xưng người nào đó có khả năng để lên làm vua, cai trị toàn một vùng lãnh thổ, và rồi gia đình ấy lập nên một triều đình trong thời phong kiến. Trong chế độ ấy lại dần đi đến sự bốc lột và bất bình đẳng thêm nhiều. Khi tới thời kỳ phát triển của kỹ thuật, kỹ nghệ chủ nghĩa tư bản thành hình, phát triển mạnh hơn trở thành đế quốc xâm chiếm các vùng yếu, thì sự đàn áp, bốc lột, bất bình đẳng còn nhiều hơn nữa. Những nơi là thuộc địa lại nghèo khổ, cùng cực thì các đế quốc lại sống sung túc, giàu có; cho nên phát sinh những phong trào tranh đấu chống lại kể cả giành độc lập. Rồi từ đó chủ nghĩa xã hội được phát triển mạnh, nhiều phong trào khắp nơi trên thế giới hợp lực cùng đòi hỏi sự công bằng và bình đẳng. Tuy nhiên, trong các bước thực hiện chủ nghĩa xã hội ấy lại tạo nhiều sự bất công khác. Chúng ta nhớ lại những chuyện kể trong quá khứ như phong trào Robinhood ở Anh hay các chuyện “cướp của nhà giàu, chia cho nhà nghèo” thì nó cũng giống như vậy. Chủ nghĩa xã hội mà chính quyền độc quyền quản lý và phân phối, đã tạo ra nhiều khó khăn khiến mọi sinh hoạt trong xã hội bị đình trệ vì các thủ tục hành chánh giữa các cơ quan, làm cho người dân trở nên chật vật về mọi phương diện, kéo theo dân chúng thiếu thốn mọi nhu cầu; mà chính quyền thì loay hoay giải quyết; khiến tình trạng chẳng đi đến đâu làm cho dân chúng càng ngày càng bị đói khổ, đất nước không thể giàu có; mà nạn cửa quyền tham nhũng, bè phái, hối lộ tràn lan, phá hoại cả một đất nước, lý tưởng mà không phương cứu chữa. Còn xã hội chủ nghĩa qua sự phát triển tư bản thì lại đưa đến tình trạng bốc lột khác: Đó là sự bốc lột người giàu, hay của những kẻ siêng năng đi làm! Tại sao thế? Vì trong nhưng xã hội nầy: Muốn giúp đỡ người tàn tật, cô đơn, những kẻ khó khăn thì chính quyền cần có nhiều tiền, cho nên ngoài tiền tài nguyên quốc gia, đánh thuế ở mọi thứ thuế, người ta còn đánh thuế nặng vào những người đi làm. Nhưng những sự giúp đỡ đó đôi khi bị lợi dụng trầm trọng mà người ta không thể “bắt tội” được. Giống như y tế miễn phí thì người ở không, có những bệnh không cần thiết vẫn đi thăm bác sĩ thường xuyên tạo nên sự lãng phí, khiến tốn tiền ngân sách nhà nước. Sự trợ giúp một người tàn tật, người già trong một năm gần bằng số lương của hai người đi làm. Người thất nghiệp, đơn thân được hưởng nhiều quyền lợi, được chính phủ trợ giúp giảm bớt các chi phí; mà con cái khi vào đại học được cộng thêm nhiều điểm để vào ngành nghề mà con cái của những người làm việc không được hưởng. Rồi người đi làm khi đi khám bệnh phải mua thuốc tốn tiền, đóng tiền bảo hiểm, viện phí, tất cả các hóa đơn không được giúp… Rất nhiều thiệt thòi cho người đi làm, cho nên với đường lối nầy khiến cho người ta phải tính toán lại thiệt hơn, làm cho sự tiêu cực trở nên trầm trọng. Nói một các tổng quát là xã hội chủ nghĩa nầy đưa đến những sự bất công khác mà những nhà xã hội học, những nhà làm cách mạng phải suy nghĩ và điều chỉnh cho hợp lý; để tránh trường hợp “bốc lột người đi làm để tạo điều kiện cho những người không muốn đi làm dễ lợi dụng”. Cho nên một điều quan trọng trong lịch sử mà chúng ta cần lưu ý: “Vì sao cơ cấu xã hội nguyên thủy phải tan rã, có phải là người làm nhiều làm ít; người lười sống bám vào người siêng năng chăng?”. Đâu là sự bình đẳng và công bằng? Xã hội chủ nghĩa ngày nay đã có tạo được sự công bằng cho xã hội hay không? Đó là vấn đề cần nhiều sự truy cứu và sửa sai!

 

Đồ Ngông,

20/11/2025.