Trở lại vấn đề,
như trên trong phần Bát nạn cho ta thấy con người được sinh ra
trong cõi đầy đau khổ của Ta Bà nầy (hay còn gọi là cõi Nam Diêm Phù Đề) là một
sự may mắn và đầy phước báu hơn là những chúng sinh được sinh vào cõi Trời hoặc
Bắc Câu Lưu Châu; vì rằng ở những nơi ấy sung sướng nhưng lại không có được Phật
pháp để tu hành. Họ có muốn thành Phật cũng phải tái sinh về cõi người của chúng
ta. Mà được sinh vào cõi người lại không bị câm, ngọng, đui, điếc, tàn tật là đã
tránh khỏi nhiều “nhân xấu” đã gieo trong nhiều kiếp trước. Dù sinh sau Phật,
nhưng con người còn có được Phật pháp để nương đó mà tu hành theo con đường Đức
Phật đã chỉ để vượt thoát khỏi vòng Luân Hồi sinh tử, hòng trở về với “nguyên quán”
của mình thuở trước mà không còn phải u mê (Vô Minh); giống như Đức Phật đã ví như
“quặng vàng đã được tôi luyện thành vàng ròng”, khi đã là vàng ròng rồi thì không
bao giờ trở thành quặng nữa!
Tiếp theo, chúng tôi muốn
chứng minh cho Quý vị thấy: Tại sao làm con người mới có điều kiện để tu và thoát
khỏi Luân Hồi, và tại sao Đức Phật lại chọn ngay điểm con người để thuyết pháp?
Vì con người có nhận thức, biết khổ đau, suy nghĩ và biết quay đầu. Còn chúng
sinh ở Bắc Câu Lưu Châu hay cõi Trời Trường Thọ Thiên thì mãi mê sung sướng hưởng
phước báu mà quên bẵng đi luân hồi, không hề nghĩ đến tu hành mà cũng có thể họ
sẽ không tin những điều Đức Phật sẽ giảng giải cho họ. Các chúng sinh trong Ngạ
Quỷ, Địa Ngục thì không có thì giờ để suy ngẫm vì những hình phạt liên tục do sự
“cảm vời” từ những nhân ác mà họ đã gieo. Chúng sinh đội lốt Súc Sinh thì cứ
theo bản năng của loài mà họ cam chịu. A Tu La (thần, thánh) theo bản năng và ước
nguyện Thiện, Ác của họ mà hành xử: Thiện thì giúp đời, Ác thì quấy đời! Như vậy
trong cái Vòng Luân Hồi Lục Đạo thì chỉ “con người là có được vị trí tốt nhất” đang
đứng tại nơi có cửa thoát ra ngoài. Năm khung vòng kia không có cửa để thoát ra!
Mà nếu được làm con người mà làm ác, không biết giữ giới, giữ mình lại gây nhiều
nhân ác thì những kiếp sau sẽ bị đày vào các nơi khác thì quả là “nhân thân nan
đắc” và biết đến bao giờ mới có lại kiếp người để thoát ra khỏi luân hồi! Như vậy
chẳng hóa ra giống như con rùa mù đấy ư?
Chúng ta đã từng nghe
trong các phim truyện Tàu có câu: “Hồi đầu thị ngạn” do các nhà sư nói. Hồi đầu
thị ngạn có nghĩa “quay đầu là bờ”. Tại sao lại quay đầu là bờ? Như chúng tôi đã
dẫn từ trên là Đức Phật ví con nguời, chúng sinh rời cõi Chơn Tâm giống như họ
bước xuống “bến mê” để vào chơi trong “bể khổ”, và chìm đắm, xoay vòng trong các
cõi khổ não, đớn đau. Họ càng chơi các trò “sát, đạo, dâm vọng” gây nhiều tội ác,
thiện nhiều chừng nào giống như người lội càng xa bờ. Khi nào họ mệt mỏi, suy
nghĩ lại để lội vào bờ, đó chính là “hồi đầu”. Vào bờ là giác ngộ, lên bờ sẽ thành
Phật trở về với Chơn Tâm hay là cõi Phật. Cõi Phật là pháp giới, là toàn cõi không
bao la vô tận, cho nên “Phật pháp” mới “vô biên”!
Như vậy con người mới “Ngộ”!
Con người có bản chất là “ngộ”, chính vì bản chất nầy họ mới suy nghĩ để biết cái
điều mà Đức Phật thuyết giảng con đường Đạo Đế trong Tứ Diệu Đế. Thực ra Tứ Diệu
Đế không có gì là xa lạ đối với cuộc sống, tư tưởng của con người cả! Nhưng vì nơi
không để ý, chú trọng đến, mãi khi Đức Phật thị hiện ra đời để tuyên giảng, phân
tích, chỉ rõ thì người ta mới thấy điều ấy là đúng, là những quy luật không thể
sai trái do vậy nó mới được gọi là Tứ Diệu Đế, hay đôi khi còn gọi là Tứ Thánh Đế
theo kiểu cách gọi của nhân gian. Đó là sự ngộ đầu tiên của năm anh em Kiều Trần
Như; rồi sau đó các tăng chúng khác và những con người về sau được tiếp cận với
giáo pháp ấy! Mỗi chi tiết được tiếp cận là người được “ngộ” thêm ra giống như
cuộc đời nầy có nhiều khổ qua phần Khổ Đế; để rồi khi được phân tích rõ ràng do
thế nào là khổ, nguyên nhân của khổ là gì thì con người lại được ngộ khá hơn, mới
biết tại sao mình phải khổ; rồi làm thế nào để diệt các sự khổ trong phần Diệt Đế
và cuối cùng muốn chấm dứt khổ thì thế nào, bằng con đường Đạo Đế. Không những
thế, Đức Phật còn chứng minh nhiều điều xa hơn nữa qua sự giảng giải của Ngài
trong suốt hơn 45 năm hành đạo trong cõi đời nầy, chỉ nhằm giúp cho con người thoát
khỏi hẳn sự khổ đau, cùng được “Khai, Thị, Ngộ” và “Nhập” vào tri kiến của Phật
mà các Đức Phật trong quá khứ, hiện tại, vị lai đều thấy biết.
Như có lần chúng tôi đã có
phân tích bằng câu chuyện: Có con người nào đó lúc đầu họ không hề để ý đến giáo
lý Phật pháp, nghe dến giáo pháp họ không ưa, đôi khi còn phản bác, chối bỏ, bài
bác. Đến lúc nào đó tự dưng nhìn thấy cổng chùa ngồ ngộ, hay hay họ đứng nhìn và
bỏ đi. Có khi họ lại ngắm nghía xem cổng như thế nào, cấu tạo ra sao; rồi họ lại
đứng dưới cổng. Sau thì họ bước vào sân chùa. Rồi có duyên hơn họ vào trong chùa
ngắm nghía. Đến một khi tò mò họ vào dự lễ ở chùa. Xong lại bắt đầu tò mò về giáo
lý. Đến lúc nào đó họ lại tìm hiểu vào kinh điển và đi đến tu tại gia. Xa hơn là
xuất gia!
Tôi muốn kể với Quý vị các
điều ấy là để chứng minh cùng Quý Vị về sự ngộ từng giai đoạn, từng lúc. Mỗi
giai đoạn ấy khiến cho Quý vị hiểu hơn về cuộc đời, cuộc sống của mình trong thế
giới nầy. Khi hiểu được những gì xảy ra và các nguyên nhân gây đến thì mình cảm
thấy nhẹ lòng hơn, và thấy mọi việc trong cuộc đời nầy là những tất yếu và đương
nhiên, không có gì là không có nguyên của nó. Từ đó ta hiểu thấu được cuộc sống
và quảng đời của mình để ta có được một sự “an tâm”, “an lạc” của một cõi “niết
bàn” khi đang còn sống mà không phải vướng bận của khổ đau mà trong Đạo Phật gọi
là “Hữu Dư Y Niết Bàn”, còn Niết Bàn sau khi chết là “Vô Dư Y Niết Bàn” vậy!
Nguyên Thảo,
03/06/2025.