Thursday, June 11, 2026

*Vấn Đề VIII: Tại Sao Đức Phật Nói Là “Thị Hiện”?

 

Theo như chúng ta được nghe kể, hoặc đọc các sách viết về tiểu sử Đức Phật thì Đức Phật xuất thân là một hoàng tử của nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) thuộc Ấn Độ, có vua cha là Tịnh Phạn (Sudhodana) và mẹ là hoàng hậu Ma Da (Maya), tên Ngài là Tất Đạt Đa (Shiddarta). Mặc dù lúc nhỏ Ngài có nhiều trí tuệ, khả năng phi thường, nhưng những nhận thức về cuộc sống có nhiều ưu tư; và cuối cùng Ngài từ giả hoàng cung đi tu để tìm chân lý. Sau sáu năm tìm thầy học đạo với nhiều lối tu nhưng không đạt được kết quả như mong muốn. Cho nên, sau đó Ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh, ép xác đi đến gần bên sông Ni Liên Thiền thiền định dưới cội cây Bồ Đề với ý chí dũng mãnh: “Nếu không thành đạo, thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy khỏi chỗ nầy”. Sau 49 ngày ráo riết, Ngài đã sáng rõ chân lý, để rồi từ đó Ngài dong ruổi nhiều nơi để truyền bá, giảng giải, thu nhận đệ tử, giúp những người Ngài gặp hiểu được cái giáo lý mà Ngài đã nhận được, thấy biết suốt trong thời gian dài hơn 45 năm. Và sau cùng Ngài nhập Niết Bàn ở thành Câu Thi Na, trong rừng Sa La song thọ, thọ 80 tuổi.

Đó là chuyện thế gian của Ngài với những gian khổ như thế! Nhưng trong Kinh Pháp Hoa ở phẩm “Phương tiện” thứ hai, Ngài có đề cập đến vài chi tiết như sau:

“Xá Lợi Phất! Các Đức Phật theo thời nghi nói Pháp ý thú khó hiểu. Vì sao? Ta dùng vô số phương tiện các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ diễn nói các pháp.

Pháp đó không phải là suy lường phân biệt mà có thể hiểu, chỉ có các Đức Phật mới biết được đó. Vì sao? Các Đức Phật Thế Tôn, chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời”.

Theo như đó, những pháp khi được Đức Phật nói ra không phải là dễ hiểu, người nghe cũng khó có thể tin để chấp nhận, do đó các Đức Phật phải dùng đến nhiều ví dụ và tùy theo nhân duyên từng lúc nói những gì, khi nào để cho người nghe dễ tiếp nhận và hiểu được; mà quả thực như vậy, Đức Phật đã thuyết pháp đến những thế giới mà đời thực không có, hay người nghe phải tưởng tượng ngoài những chi tiết cuộc sống con người trải qua cũng khiến con người trở nên nghi vấn để tin.

Nhưng sau đó, Đức Phật cho biết Phật ra đời để làm gì? Và vì sao?

“Xá Lợi Phất! Sao nói rằng các Đức Phật Thế Tôn chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời? Các Đức Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sinh khai tri-kiến-Phật để được thanh tịnh mà hiện ra nơi đời; vì muốn chỉ tri-kiến-Phật cho chúng sinh mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sinh tỏ ngộ tri-kiến-Phật mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sinh chứng vào đạo tri-kiến-Phật mà hiện ra nơi đời.

Xá Lợi Phất! Đó là các đức Phật do vì một sự nhơn duyên lớn mà hiện ra nơi đời”.

Với ý ấy, người ta đã kết lại: “Đức Phật ra đời là muốn “Khai, Thị, Ngộ, Nhập” cho chúng sinh, con người về những điều mà chỉ có Đức Phật mới biết”. Những điều mà Đức Phật biết tức là cái giáo lý mà Đức Phật đã thuyết giảng trong nhiều năm dài, để qua đó chúng sinh hiểu, thực hành để tự giải thoát khỏi những chướng ngại, trói buộc qua “nghiệp” mà mình đã gieo với những chúng sinh khác dù là thiện hay ác.

Ở đây, chúng tôi muốn trích dẫn những đoạn trong vài Kinh để cùng nhau tham khảo và biết tính chất của Phật như thế nào. Như đoạn Kinh sau đây trong Kinh Hoa Nghiêm ở phẩm “Như Lai Xuất Hiện”:

“Ví như hư không đến khắp tất cả chỗ sắc phi sắc, chẳng phải đến chẳng phải chẳng đến. Vì hư không chẳng có thân.

Cũng vậy, thân Như Lai khắp tất cả chỗ, khắp tất cả chúng sanh, khắp tất cả pháp, khắp tất cả quốc độ, chẳng phải đến chẳng phải chẳng đến.  Vì thân Như Lai là không có thân. Vì chúng sanh mà thị hiện thân Phật”.

Thế rồi, thêm một điều khác nữa:

“Chư Phật Như Lai vì muốn làm cho chúng sanh có lòng mến thích nên xuất hiện ra đời. Vì muốn chúng sanh luyến mộ mà thị hiện Niết Bàn. Nhưng thiệt ra Đức Như Lai không có xuất thế cũng không Niết Bàn. Vì Đức Như Lai thường trụ thanh tịnh Pháp giới, tùy theo tâm của chúng sanh mà thị hiện”.

Hay:

“Chư Phật tử! Thân của Đức Như Lai không có phương xứ, chẳng thiệt chẳng hư, chỉ do bổn thệ nguyện lực của chư Phật, hễ chúng sanh đáng được độ thời bèn xuất hiện”.

Và:

“Chư Phật tử! Đức Như lai trụ nơi vô lượng vô ngại cứu cánh Pháp giới, hư không giới, chơn như, pháp tánh, vô sanh, vô diệt và thiệt tế, vì các chúng sanh mà tùy thời thị hiện. Do bổn nguyện giữ gìn nên không thôi nghỉ. Chẳng bỏ tất cả chúng sanh, tất cả cõi, tất cả pháp”.

 

Trong Kinh Pháp Hoa ở phẩm: “Như Lai Thọ Lượng” thứ mười sáu, Đức Phật còn cho chúng ta biết không phải trong thời hiện tại Đức Phật mới thành Phật, mà thực ra Đức Phật đã thành Phật rất lâu đời, nhưng trong kiếp nầy Ngài mới thị hiện để giáo hóa chúng sinh như đoạn Kinh sau đây:

 

“Nhưng thiện nam tử! Thực ta thành Phật nhẫn lại đây, đã vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức na-do-tha kiếp. Ví như năm trăm nghìn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ cõi tam thiên, đại thỉên, giả sử có người nghiền làm vi trần qua phương đông, cách năm trăm nghìn muôn ức na-do-tha a-tăng kỳ cõi nước, bèn rơi một bụi trần, đi qua phía đông như thế cho đến hết vi trần đó.

Các thiện nam tử! Ý ông nghĩ sao? Các thế giới đó có thể suy gẫm so tính biết được số đó chăng?

Di Lặc Bồ Tát, thảy đều bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Các thế giới đó vô lượng vô biên, chẳng phải tính được, đếm được, cũng chẳng phải tâm lực biết đến được. Tất cả Thanh Văn, Duyên Giác dùng trí vô lậu, chẳng có thể suy nghĩ biết được hạn số đó, chúng con trụ bậc bất thối, ở trong việc này cũng chẳng thông đạt.

Thế Tôn! Các thế giới như thế, nhiều vô lượng vô biên”.

Bấy giờ, Phật bảo các chúng Bồ Tát: “Các Thiện nam tử! Nay ta sẽ tuyên nói rành rõ cho các ông. Các thế giới đó, hoặc dính vi trần hoặc chẳng dính, đều nghiền cả làm vi trần, cứ một trần là một kiếp, từ ta thành Phật nhẫn lại đến nay, lại lâu hơn số đó trăm nghìn muốn ức na-do-tha a-tăng-kỳ kiếp. Từ đó nhẫn lại, ta thường ở cõi Ta-Bà này nói pháp giáo hóa, cũng ở trong trăm nghìn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ cõi nước khác dắt dẫn lợi ích chúng sinh”…

 

Trong Kinh Hoa Nghiêm ở phẩm Như Lai Xuất Hiện có đoạn như sau:

 

“Ví như hư không đến khắp tất cả chỗ sắc phi sắc, chẳng phải đến chẳng phải chẳng đến. Vì hư không chẳng có thân.

Cũng vậy, thân Như Lai khắp tất cả chỗ, khắp tất cả chúng sanh, khắp tất cả pháp, khắp tất cả quốc độ, chẳng phải đến chẳng phải chẳng đến. Vì thân Như Lai là không có thân. Vì chúng sanh mà thị hiện thân Phật”.

 

Nguyên Thảo,

12/06/2026.


Tuesday, June 2, 2026

*Vấn Đề VII: Người Và Ngộ! (Tt)


Trở lại vấn đề, như trên trong phần Bát nạn cho ta thấy con người được sinh ra trong cõi đầy đau khổ của Ta Bà nầy (hay còn gọi là cõi Nam Diêm Phù Đề) là một sự may mắn và đầy phước báu hơn là những chúng sinh được sinh vào cõi Trời hoặc Bắc Câu Lưu Châu; vì rằng ở những nơi ấy sung sướng nhưng lại không có được Phật pháp để tu hành. Họ có muốn thành Phật cũng phải tái sinh về cõi người của chúng ta. Mà được sinh vào cõi người lại không bị câm, ngọng, đui, điếc, tàn tật là đã tránh khỏi nhiều “nhân xấu” đã gieo trong nhiều kiếp trước. Dù sinh sau Phật, nhưng con người còn có được Phật pháp để nương đó mà tu hành theo con đường Đức Phật đã chỉ để vượt thoát khỏi vòng Luân Hồi sinh tử, hòng trở về với “nguyên quán” của mình thuở trước mà không còn phải u mê (Vô Minh); giống như Đức Phật đã ví như “quặng vàng đã được tôi luyện thành vàng ròng”, khi đã là vàng ròng rồi thì không bao giờ trở thành quặng nữa!

Tiếp theo, chúng tôi muốn chứng minh cho Quý vị thấy: Tại sao làm con người mới có điều kiện để tu và thoát khỏi Luân Hồi, và tại sao Đức Phật lại chọn ngay điểm con người để thuyết pháp? Vì con người có nhận thức, biết khổ đau, suy nghĩ và biết quay đầu. Còn chúng sinh ở Bắc Câu Lưu Châu hay cõi Trời Trường Thọ Thiên thì mãi mê sung sướng hưởng phước báu mà quên bẵng đi luân hồi, không hề nghĩ đến tu hành mà cũng có thể họ sẽ không tin những điều Đức Phật sẽ giảng giải cho họ. Các chúng sinh trong Ngạ Quỷ, Địa Ngục thì không có thì giờ để suy ngẫm vì những hình phạt liên tục do sự “cảm vời” từ những nhân ác mà họ đã gieo. Chúng sinh đội lốt Súc Sinh thì cứ theo bản năng của loài mà họ cam chịu. A Tu La (thần, thánh) theo bản năng và ước nguyện Thiện, Ác của họ mà hành xử: Thiện thì giúp đời, Ác thì quấy đời! Như vậy trong cái Vòng Luân Hồi Lục Đạo thì chỉ “con người là có được vị trí tốt nhất” đang đứng tại nơi có cửa thoát ra ngoài. Năm khung vòng kia không có cửa để thoát ra! Mà nếu được làm con người mà làm ác, không biết giữ giới, giữ mình lại gây nhiều nhân ác thì những kiếp sau sẽ bị đày vào các nơi khác thì quả là “nhân thân nan đắc” và biết đến bao giờ mới có lại kiếp người để thoát ra khỏi luân hồi! Như vậy chẳng hóa ra giống như con rùa mù đấy ư?

Chúng ta đã từng nghe trong các phim truyện Tàu có câu: “Hồi đầu thị ngạn” do các nhà sư nói. Hồi đầu thị ngạn có nghĩa “quay đầu là bờ”. Tại sao lại quay đầu là bờ? Như chúng tôi đã dẫn từ trên là Đức Phật ví con nguời, chúng sinh rời cõi Chơn Tâm giống như họ bước xuống “bến mê” để vào chơi trong “bể khổ”, và chìm đắm, xoay vòng trong các cõi khổ não, đớn đau. Họ càng chơi các trò “sát, đạo, dâm vọng” gây nhiều tội ác, thiện nhiều chừng nào giống như người lội càng xa bờ. Khi nào họ mệt mỏi, suy nghĩ lại để lội vào bờ, đó chính là “hồi đầu”. Vào bờ là giác ngộ, lên bờ sẽ thành Phật trở về với Chơn Tâm hay là cõi Phật. Cõi Phật là pháp giới, là toàn cõi không bao la vô tận, cho nên “Phật pháp” mới “vô biên”!

Như vậy con người mới “Ngộ”! Con người có bản chất là “ngộ”, chính vì bản chất nầy họ mới suy nghĩ để biết cái điều mà Đức Phật thuyết giảng con đường Đạo Đế trong Tứ Diệu Đế. Thực ra Tứ Diệu Đế không có gì là xa lạ đối với cuộc sống, tư tưởng của con người cả! Nhưng vì nơi không để ý, chú trọng đến, mãi khi Đức Phật thị hiện ra đời để tuyên giảng, phân tích, chỉ rõ thì người ta mới thấy điều ấy là đúng, là những quy luật không thể sai trái do vậy nó mới được gọi là Tứ Diệu Đế, hay đôi khi còn gọi là Tứ Thánh Đế theo kiểu cách gọi của nhân gian. Đó là sự ngộ đầu tiên của năm anh em Kiều Trần Như; rồi sau đó các tăng chúng khác và những con người về sau được tiếp cận với giáo pháp ấy! Mỗi chi tiết được tiếp cận là người được “ngộ” thêm ra giống như cuộc đời nầy có nhiều khổ qua phần Khổ Đế; để rồi khi được phân tích rõ ràng do thế nào là khổ, nguyên nhân của khổ là gì thì con người lại được ngộ khá hơn, mới biết tại sao mình phải khổ; rồi làm thế nào để diệt các sự khổ trong phần Diệt Đế và cuối cùng muốn chấm dứt khổ thì thế nào, bằng con đường Đạo Đế. Không những thế, Đức Phật còn chứng minh nhiều điều xa hơn nữa qua sự giảng giải của Ngài trong suốt hơn 45 năm hành đạo trong cõi đời nầy, chỉ nhằm giúp cho con người thoát khỏi hẳn sự khổ đau, cùng được “Khai, Thị, Ngộ” và “Nhập” vào tri kiến của Phật mà các Đức Phật trong quá khứ, hiện tại, vị lai đều thấy biết.

Như có lần chúng tôi đã có phân tích bằng câu chuyện: Có con người nào đó lúc đầu họ không hề để ý đến giáo lý Phật pháp, nghe dến giáo pháp họ không ưa, đôi khi còn phản bác, chối bỏ, bài bác. Đến lúc nào đó tự dưng nhìn thấy cổng chùa ngồ ngộ, hay hay họ đứng nhìn và bỏ đi. Có khi họ lại ngắm nghía xem cổng như thế nào, cấu tạo ra sao; rồi họ lại đứng dưới cổng. Sau thì họ bước vào sân chùa. Rồi có duyên hơn họ vào trong chùa ngắm nghía. Đến một khi tò mò họ vào dự lễ ở chùa. Xong lại bắt đầu tò mò về giáo lý. Đến lúc nào đó họ lại tìm hiểu vào kinh điển và đi đến tu tại gia. Xa hơn là xuất gia!

Tôi muốn kể với Quý vị các điều ấy là để chứng minh cùng Quý Vị về sự ngộ từng giai đoạn, từng lúc. Mỗi giai đoạn ấy khiến cho Quý vị hiểu hơn về cuộc đời, cuộc sống của mình trong thế giới nầy. Khi hiểu được những gì xảy ra và các nguyên nhân gây đến thì mình cảm thấy nhẹ lòng hơn, và thấy mọi việc trong cuộc đời nầy là những tất yếu và đương nhiên, không có gì là không có nguyên của nó. Từ đó ta hiểu thấu được cuộc sống và quảng đời của mình để ta có được một sự “an tâm”, “an lạc” của một cõi “niết bàn” khi đang còn sống mà không phải vướng bận của khổ đau mà trong Đạo Phật gọi là “Hữu Dư Y Niết Bàn”, còn Niết Bàn sau khi chết là “Vô Dư Y Niết Bàn” vậy!

 

Nguyên Thảo,

03/06/2025.