Tuesday, March 30, 2010

Những Bài Thơ Cho Bé (tt)

26- Mùa Thu trên Đường.

Mùa Thu rơi trên đường
Những lá vàng thân thương,
Xôn xao từng cơn gió
Em tung tăng đến trường.

Con chim đứng trên cành,
Trơ vắng lá màu xanh
Coi chừng như lạnh lẽo
Chẳng buồn hót nhanh nhanh.

Em chạy với chàng mây
Coi ai chạy nhanh nầy
Em tới trường sớm trước
Chàng mây còn đang bay!

Mùa Thu gió heo may
Mưa bụi lại bay bay
Gió vào nghe lành lạnh
Em tới trường vui thay!

Nguyên Thảo,
22-05-04.

27- Buổi Sáng Mù Sương.

Sương mai đọng trên cỏ
Sương tỏa khắp mù mù
Em đến trường chân nhỏ
Tung tăng giữa mùa Thu.

Cùng bạn nhanh nhanh bước
Kẻo lạnh lẻn vào da
Áo quần mau thấm ướt,
Không khéo trễ nữa là..!

Đến trường nhiều công khó
Của mình, của mẹ cha
Cùng bao thầy cô giáo
Em gắng học vượt qua!

Tương lai theo ngày tháng
Em nhất định mai sau
Trở nên người có ích
Bù những tháng gian lao.

Nguyên Thảo,
26-05-04.
28- Xã Hội Nầy Cho Em!

Người làm nông trên đồng
Trong hảng người nhân công,
Biên cương người lính chiến
Góp phần xây non sông.

Văn phòng người phục vụ
Khu phố buổi chợ đông,
Mọi người đều làm việc
Để giúp em đến trường.

Xã hội nầy cho em
Cho em tuổi êm đềm
Chỉ đến trường, cắp sách
Sao em đành lại quên!

Em lấy làm tâm niệm
Mọi người đã cho em,
Em cần nhiều hiểu biết
Học mai sau đáp đền!

"Đời có nhiều ơn nghĩa,
Nhất định chẳng hề quên!"

Nguyên Thảo,
26-05-04.

29- Khung Trường Tuổi Thơ.

Tuổi thơ em đặt vào trường nhỏ
Từng dãy lớp liền, thật dấu yêu
Hàng cột xinh xinh, em trốn bạn
Những lá em gom, rụng thật nhiều!

Chiếc sân trường rộng ngày còn bé
Nắng ấm tung tăng tuổi dại khờ,
Đưa tay che mắt như không đủ
Dáng hình nho nhỏ, đẹp như mơ!

Những cây bóng mát, tàng che rộng
Em, bạn vui đùa với lủ chim
Chim hót, chúng em cùng ríu rít
Cùng mơ thế giới của thần tiên.

Trường yêu âu yếm bao nhiêu trẻ,
Đồng cất tiếng vang tuổi học trò
Ngày nay đi học, mong sau lớn
Đem sức vẫy vùng, giúp thế nhân!

Nguyên Thảo,
27-05-04.

30- Hành Lang Yêu Dấu!

Hành lang che nắng, che mưa
Em từng qua lại sớm, trưa êm đềm.
Mái che ngói đỏ ru êm,
Từng cơn gió nhỏ bên thềm lá bay.
Giọt mưa những buổi mưa ngày
Hai tay em hứng, giọt dài chảy đi.
Bàn tay em bé bây giờ
Với cây viết nhỏ, em chờ mai sau
Mai sau em được lớn mau
Đem tài giúp nước, nhân quần lợi hơn!

Nguyên Thảo,
27-05-04.

Thơ Đó, Thơ Đây (Tây Nguyên)

Nhà Rông. (Kontum)

Bước lên độc mộc lại sân sàn
Một gian nhà gỗ rộng thênh thang
Vách phên chắn gió làm nơi họp
Đôi mái vút cao, lộng gió ngàn!

Đồ Ngông.

Dòng sông Xê-xan. (Kontum)

Phía dưới chân cầu, một nhánh sông
Xê-xan tên gọi chảy xuôi dòng
Dăm ba thuyền nhỏ trôi lờ lửng
Nắng rãi long lanh, khách thả lòng.

Đồ Ngông.

Cầu treo. (Kontum)

Cầu treo nối lại đôi bờ
Đưa ai về bản, lựa lần sớm trưa
Những chiều thơ mộng đong đưa
Nhìn trời đi ngủ trên dòng Xê-xan.

Đồ Ngông.

Thảm Họa Chiến Tranh!

Có đi trên dãy Trường Sơn
Mới ra thấm thía nỗi hờn chiến tranh
Rừng xưa đã mất màu xanh
Những đồi trơ trọi, vẫn là đồi hoang.
Điều, tiêu, cà phê ngút ngàn
Hãy còn chưa đủ thay rừng nguyên sinh
Đã rồi chất độc da cam
Đại ngàn đánh mất, còn nghìn nỗi đau!

Đồ Ngông

Trên Đỉnh Trường Sơn.

Trên đỉnh Trường Sơn nhiều gió lộng
Chói chang nắng đổ trời nung nóng
Mưa rừng gió núi buồn giăng giăng
Cỏ nội hoa ngàn vui ngập lối
Đồi núi, núi đồi nối với nhau
Hồ khe, khe hồ liền như bóng
Khách xa lạ mắt ưa mà ngắm
Ngoáy cổ lại nhìn trông với ngóng!

Đồ Ngông.

Một chuyến Tây Nguyên.

Tây Nguyên có tiếng là buồn
Không đi sao biết nguồn cơn thế nào?
Qua đồi, qua núi, qua truông
Qua bao ruộng rẫy, rừng, nương chập chùng
Cao su rung lá mông lung
Cà phê vẫy gọi; tiêu, điều nhấp nhô
Quê hương tiếng gọi vô bờ!

Đồ Ngông.

Thơ Đồ Ngông (tt)

Những Điều Lạ!

Trên thế gian này có những điều lạ
Ở con người và cả những Chính phủ to
Không hiểu tuổi hưu như thế nào
Mà những kẻ lãnh đạo
Ngồi hoài chưa muốn xuống
Thân đã già
Trí đã mỏi
Sức khỏe cũng đã cùn
Hay họ tiếc nuối danh vị và chiếc ghế ngồi vững chải.

Có những chế độ độc tài
Đàn áp nhân dân, giết người như ngóe
Cả thế giới làm thinh
Không can thiệp, cũng chẳng rằng lên tiếng
Đến khi bị sụp đổ
Họ đòi đưa ra tòa quốc tế
Xử cái gì đây?
Khi hàng triệu người đã chết
Ôi, quả thật là kỳ!

Có những quốc gia to
Ỷ sức mạnh ăn hiếp những thằng nhỏ
Có ai lên tiếng
Khi quyền lợi mình chưa bị đụng tới
Vậy cũng là quốc tế
Thế cũng Tổ chức Liên Quốc gia
Âu đó cũng là điều lạ!

Cho nên
Trên thế gian này
Chỉ là một trò chơi
Diễn cho hết một vở tuồng ngờ nghệch.

Đồ Ngông,
28-04-07.

Thương Quan.

Này! Tớ thương quan thân béo tròn
Ăn chơi phè phỡn, ngủ thêm ngon
Lai rai nhậu nhẹt vài ba cữ
Thỉnh thoảng "thăm em" sáu bảy lần
Tiền biếu, tiền quà vô tới tấp
Kẻ đưa, người rước cứ xoay vần
Làm quan như thế: Là quan chứ!
Dân thứ là gì? Kệ thứ dân.

Đồ Ngông,
02-05-07.

Rằng quan...!

Tớ tưởng rằng quan sẵn giúp dân
Đem tài giúp nước chuyển xoay vần
Biến đời đổi thế đưa vận nước
Chuyển cuộc thay thời đến canh tân.
Những tưởng năm châu cùng sánh bước
Nhiều mơ kinh tế sắp đằng vân (cưỡi mây lên cao)
Ai ngờ quan lại là tham nhũng
Mối mọt ăn bòn để khổ dân!

Đồ Ngông,
02-05-07.

Tội Nghiệp Quan Ngài!

Nghe nói rằng quan ăn của dân
Không no, ăn cả của người thân
Ăn luôn ngân quỹ ban từ thiện
Quan nghĩ thế nào với thế nhân?

Nghe nói rằng quan cứ ậm ừ,
Đòi tiền thiên hạ, cũng không từ
Dân nghèo khố rách, quần xà lỏn
Để đám con quan rộ tiếng cười!

Nghe nói rằng quan cấu kết sâu
Quan ăn xây dựng, ăn gầm cầu
Quan chơi phung phí, cho vào "lổ"
Tội nghiệp quan Ngài, đạo đức đâu?

Đồ Ngông,
02-05-07.

Cái Chức Quan.

-Cái chức quan mày, đi bỏ lổ
Ê ê coi lại chừng sai chỗ
Học tài: Chữ nghĩa treo cây mít
Thi phận: Văn bằng không đợi đỗ.
-Khéo khéo tiền vô chưa cản kịp
Khôn khôn quà tới không còn chỗ
Ăn chơi nhấm chút như hoa nở
Ai nói chức này đi bỏ lổ.

Đồ Ngông,
02-05-07.

Sunday, March 21, 2010

Viết, Và Viết Cho Ai?

Đầu đề nầy không phải của Đồ Ngông đâu? Quý vị đừng tưởng lầm mà Đồ tôi lại trở thành kẻ đạo văn, ăn cắp đầu đề. Đó là vấn đề của Ngự Thuyết đăng trong tạp chí sáng tác nhận định văn nghệ Văn Học số 180 tháng 4-2001. Trong dịp tình cờ, vào một hôm rảnh rang Đồ tôi lại "ngẫu hứng qua cầu" xách xe chạy nhong nhong. Thế rồi tắp vô thư viện, lại chỗ kệ sách tiếng Việt đứng xa xa, nhắm mắt lại lấy tay quay một vòng chỉ đại vào một chỗ. Mở mắt ra, lục chỗ đó thấy có tạp chí Văn Học và Tú Xương: Con người và Tác Phẩm, bèn mượn về đọc. Lật Văn Học ra thấy "Lãng tử văn học" của Tạ Quốc Tuấn, Đồ tôi lại khoái, khoái cái tiêu đề "lãng tử" ấy. Xong lại thấy Ngự Thuyết "Viết, và Viết cho ai?" Đồ tôi lại càng khoái hơn.

Đọc xong rồi, Đồ tôi ngẫm nghĩ, gật gù "Ờ! Đúng há, thế mà có lý!". Và lẩm rẩm Đồ tôi viết cũng gần ba năm. Đồ tôi viết cho mình thì ít, viết cho người thì nhiều! Mà nhiều lúc Đồ tôi lại không hiểu tại sao mình viết được, hay là mình mắc bệnh "sanh tật" rồi chăng? Hay tới lúc "sắp về miền?". Cả mấy mươi năm lăn lộn trong các nhà trường mà không viết, còn viết thì bạn bè cứ gọi là ngông, viết như thế nầy chỉ là "bút pháp" của mấy thằng ngông, "viết vậy mà cũng viết"; cũng có thằng bảo "văn chương của học trò lớp 6, lớp 7". Thế rồi, lúc quăng cây viết mất tiêu, gần như quên hẳn nó, chỉ dòm thấy có cây cuốc. Tự dưng "bà ứng thế nào" lại nhảy ra viết. Viết chỉ để thích thú cho mình; viết không có đồng bạc đồng xu nào; viết rồi "copy" vào dĩa đem cho, in ra để biếu. Chỉ làm công việc tốn thì giờ, tốn tiền lại chẳng có cơm ăn. Nhưng Đồ tôi chỉ nghĩ "Viết để trả nợ xã hội". Những gì Đồ tôi gom lại từ trong cuộc đời đem nhét vào trong trí óc; bây giờ lại moi ra, cái nhớ cái không "tửng tửng" mà viết, viết để cho hết nặng nề trong thân xác, mong một mai "về miền" đừng nặng quá, miễn xa lánh "địa ngục" là được rồi. Thế mà thắm thoát đã gần ba năm!

Ngự Thuyết viết: "Bây giờ ta cũng thử đặt vấn đề "viết cho ai?" đối với một nhà văn lưu vong đang sống nơi đất khách quê người, nơi số lượng độc giả chắc chắn không đông đảo.

Có bao nhiêu người đọc tiếng Việt ở hải ngoại? Hiện nay chưa có con số thống kê nhưng ta cứ thử làm một con tính nhỏ, dựa vào ước đoán mà thôi." (Trang 12)

Ngự Thuyết bỏ ra gần một trang để làm thử bài tính. Nếu chép lại thì quá dài, thôi thì Đồ Ngông tôi tóm lược sơ sơ vậy.

Tác giả cho con số người Việt ở hải ngoại khoảng 2 triệu rưỡi, lứa tuổi 20 trở xuống là 40% (khoảng 1 triệu), số nầy đi học, tiếng Việt không rành không thể thưởng thức "văn chương viết bằng tiếng Việt"; 60% còn lại (1 triệu rưỡi) chia làm hai hạng: 20 đến 50 tuổi chiếm 70% (1 triệu người) bận làm, bận học thì liệu "có bao nhiêu người chịu khó đọc thêm văn chương viết bằng tiếng Việt". Số còn lại hạng tuổi trên 50 (khoảng nửa triệu) mà không phải người nào cũng thích đọc. Số độc giả thích đọc tiếng Việt có khoảng 1%, tức là 5000 người sống rãi rác khắp nơi trên thế giới và chia cho bao nhiêu ngòi bút ở hải ngoại. Đổ đồng mỗi ngòi bút có 100 độc giả hay 50?

Trong hoàn cảnh như thế, Tại sao viết? Viết cái gì? Viết như thế nào? (Trang 14).

Và rồi tác giả đi vào kết luận:

"Vậy tôi viết cho ai? Những suy nghĩ, những nhận xét rãi rác từ đầu bài viết nầy đã đưa tôi đến kết luận hiển nhiên rằng, trước hết và quan yếu nhất, tôi viết cho tôi. Henry Miller trong "Remember to remember" nói: "Sáng tạo là ám ảnh của tôi" (Creation is my obsession). Tôi thì viết để trút bỏ một ám ảnh, viết để làm vơi đi những băn khoăn, viết để soi chiếu một sự thật nào đó theo cái nhìn của mình, viết để đi tìm một an ủi. Và khi có người đọc tri kỷ, thì thêm vào đó, viết để san sẻ. Toàn là những lý do rất cá nhân. Ngoài ra, và điều này cũng chi phối tôi rất nhiều, viết vì nghe theo một tiếng gọi mơ hồ, bí mật, nhưng dai dẵng của ngôn ngữ." (trang 14)

Đồ tôi thì không dám nghĩ như vậy, vì Đồ tôi chỉ viết "tào lao", không phải là một nhà văn nên không có "vào các tiêu chuẩn ấy". Đồ tôi viết chỉ để trút bỏ những tâm sự, hay đem những suy nghĩ của mình đóng góp ý kiến với người khác, hay trình bày những ưu tư về một hay vài vấn đề xã hội hoặc chung của Cộng Đồng... mà thôi! Tất nhiên người thích thì có thể gật gù "cũng được!", người không ưa "chửi tán loạn xà ngầu" lên, thì cũng chẳng sao. Vì rằng "Ở sao cho vừa lòng người- Ở rộng người cười, ở hẹp người chê". Và cứ vậy mà Đồ tôi lại viết, viết các đề mục hoặc nội dung, miễn đừng gây hại là được rồi. Mình làm việc không công, chẳng lấy một cắc bạc đồng xu của ai, mà còn tốn tiền tốn thì giờ nữa, thì chẳng đã là "thiệt thòi" lắm ư?

Đồ tôi tự dưng "nổi hứng" mà viết, nhiều lần ráng cố gắng "từ bỏ sự hứng khởi ấy" đi, nhưng làm như có một cái gì cứ thôi thúc mãi. Không viết thì thấy lòng áy náy, ăn năn. Suy nghĩ hoài, thôi thì cứ viết vậy, coi như đó là "cái nghiệp" theo nghĩa của nhà Phật, hoặc là "cơ duyên"? Đồ tôi không biết "xài" đến chữ nào cho đúng. Và nếu mà "chúng chửi", hoặc "chúng không ưa" thì cũng là do nơi cái "nhân" trước kia mình gieo quá nặng, nên bây giờ là "cơ hội" để gặt "quả" vậy! Thế là Đồ tôi rất an tâm với tất cả mọi hậu quả dù tốt hay là xấu. Nhưng ít ra một điều mà Đồ Ngông tôi không dám ngông khi mình viết một đề mục: Dù đề mục nào đi nữa, cũng phải đắn đo, suy nghĩ xem nó có đem ích lợi đến cho nhiều người không? Và cẩn trọng lúc viết, khi viết ra rồi liệu có ảnh hưởng gì không? Nhất là trong các câu chuyện và phải bình phẩm chẳng đem đến sự hài lòng cho người khác. Tuy nhiên, điều ấy cũng khó có thể tránh hoàn toàn vì "con mắt, ý niệm" chủ quan của mình. Thấy những từ ngữ, ý niệm ấy mình cho là được, nhưng người đọc hiểu sang một ý khác chẳng hạn; hoặc sai sót thiếu kỹ lưỡng lại trở thành không hay. Thôi thì ráng cố tránh được chừng nào hay chừng đó, hoặc phải tạ lỗi cũng không chừng!

Từ hồi đi học Đồ Ngông tôi sợ làm lớn lắm, dù là ở trong lớp học. Vừa là nhiệm vụ phải thi hành đối với cấp trên, vừa là cái gương cho đám dưới, nếu không họ lại không nghe, không làm; vừa là cái bia cho chúng chửi: khó cũng bị chửi, dễ nó lừng lên rồi cũng chửi. Trong hành chánh nó khác quân đội. Quân đội thì có kỷ luật sắt và hẳn hoi, còn hành chánh thì thật là khó, thì khi viết lên giấy tờ phổ biến cũng giống như vậy. Nó là cái bia để có thể bắn tên, vấy bùn hay quăng trứng thối tùy theo ý thích.

Nhưng Đồ tôi chỉ là đưa ý kiến, góp ý vào những ý kiến chung, thế thôi! Ai khó tánh thì cứ việc chửi, ai thấy không thuộc "phe mình" thì cứ la, hoặc "tẩy chay". Đồ tôi chỉ có khả năng đến thế, chứ không hơn nữa được.

"Viết, và viết cho ai?" của Ngự Thuyết nhắc nhở cho Đồ tôi nhớ đến mục tiêu của sự viết. Nhưng Đồ tôi cố gắng viết những gì có ích và cho đa số người trong tập thể, mặc dù Đồ tôi cũng viết cho chính mình: Viết để nhằm xoa dịu nỗi lòng, viết để nhằm tìm được kẻ hiểu mình, và viết để trao đổi một số kinh nghiệm nào đó của cuộc đời...

Viết, viết cái gì? Và viết cho ai?

Dư âm câu ấy vang dội như những dòng âm thanh ở mức độ "echo" luôn ẩn hiện trong đầu óc của Đồ tôi..!


ĐỒ NGÔNG,
23-8-02.
(“Chuyện Tào Lao Thế Sự”)

Một Giấc Mơ.

Đồ tôi vốn từ xưa rất dở về văn chương, đến năm Đệ Tam (Lớp 10) viết văn còn bị thầy chê là văn chương của học trò Đệ Thất (Lớp 6), Đệ Lục (Lớp 7). Đã dở trí nhớ mà lại mau quên. Quả thật trong cuộc đời không có “thằng” nào giống như Đồ tôi. Và Đồ tôi cũng không bao giờ dám mơ ước mình trở thành người viết văn. Thế mà, đùng một cái Đồ tôi lại nổi chứng “ngông” trở thành tên “Đồ Ngông” dám “múa rìu qua mắt thợ”, dám nhảy vào mảnh đất văn chương với hình tướng “chân lấm, tay bùn”, “dân ngu, cu đen” mà quơ. Đã vậy, còn bày đặt làm “Thơ ngông” rồi “moi móc thói đời bao cái xấu, đem rao thiên hạ xúm coi chơi!”. Ngông ơi là ngông! Ngông hết chỗ chê! Ngông hết phương cứu chữa!

Vừa rồi chắc vì mê quá, Đồ tôi lại nằm mơ thấy mình “trở cơn” muốn làm văn sĩ. Ôi, chui choa! Học cày chưa xong, trồng dưa chết lên chết xuống, dưa dài thườn thượt mà không chịu quấn lại muốn làm “văn lòi xĩ”. Thật là buồn cười! Nhưng nghĩ lại không viết ra chuyện nầy cho độc giả coi thì ấm ức trong lòng cũng không sao chịu nỗi, bèn tay trái đánh “tù tì” với tay phải. Tay phải thắng, cái đít phải ngồi xuống để viết. Đồ tôi viết rằng:

“Tôi ngồi lặng yên để nhìn...! Nhìn thằng bé ngồi bên cạnh bàn. Cái bàn khá to có vài món đồ để ngổn ngang, lại có thêm mấy cuốn sách. A! Mà không phải là mấy cuốn sách. Sách đâu mất tiêu rồi, chỉ còn lại mấy cái bìa sách thôi! Một bìa có tựa là “Đất nước và Dân tộc”, một tựa là “Để xây dựng...” gì đó mà tôi không thấy rõ, tựa khác là “Bí Quyết Thành Công” và nhiều bìa sách nữa. Tôi giật mình: “Thằng bé nầy ghê tợn!”, nó nghiên cứu để làm gì mà toàn là những tiêu đề lớn không vậy? Mà tại sao lại là những bìa sách không thôi? Tôi lặng yên nhìn thằng bé...!

Ô hay! Thằng bé lại lấy ly rót gần đầy nước. Nó trút cả vợt lăng quăng vào trong đó để làm gì? Tôi không hiểu nỗi! Tôi ngồi lặng yên nhìn thằng bé...! Thằng bé lại lấy cái nghiên ra. Nó thò tay xuống bàn lấy ra một thỏi đen một cách lẹ làng, giống như mực tàu. Đúng rồi! Mực tàu! Nó cặm cụi nó mài. Nó mài lâu lắm! Xong rồi, nó không lấy viết “lông mèo” để chấm như các nhà nho đã làm. Nó lại lấy ống nhỏ giọt rút mực vào trong ống. Nó nhỏ từng giọt mực vô ly nước. Ôi! Tội nghiệp cho mấy con lăng quăng. Trời đang trong sáng lại trở thành tối đen. Tôi có cảm tưởng bầy lăng quăng sẽ chết đến nơi, không thì chúng cũng sẽ ngộp thở. Nhưng chúng cũng còn lặn hụp, chìm nổi lên mặt nước. Tôi còn thấy mặt nước rung rinh. Thằng bé làm thế để chi cà! Tôi lặng thinh ngồi nhìn thằng bé...! Những thằng bạn của nó cũng nhìn nó nữa. Tụi nó khá đông, mãi mê nhìn thằng bé mà tôi quên mất chúng đi. Không biết chúng có giận tôi không? Nhưng mà không sao! Chắc chúng cũng không biết đâu, mà biết thì chúng có giận cũng chốc lát thôi. Không lẽ chúng ăn cơm nhà mà giận người ta chi cho mệt. Nhất là những người không mắc mớ gì như tôi! Nghĩ vậy mà tôi cứ lặng thinh nhìn thằng bé...!

Thằng bé hất chân, thò tay xuống lấy lên chiếc đủa. Không phải chiếc đủa thần. Chỉ là chiếc đủa thường thôi! Nó thọc đủa vào trong ly mà quậy. Nó quậy mạnh lắm! Đến đổi có vài giọt nước văng ra ngoài cùng với mấy con lăng quăng xấu số đang ngo ngoe giãy chết. Nhưng ô kìa! Thằng bé quá mạnh tay khiến ly nước ngã đổ trên bàn. Nước đen chảy lênh láng. Cái ly nhỏ như vậy, sao mà nước nhiều thế! Nước đen nhuộm mọi thứ trên bàn kể cả các bìa sách, tay chân, mặt mũi thằng bé. A! Lại cả những bạn của nó nữa. Tất cả một màu đen u ám. Tôi dụi mắt ngồi lặng yên nhìn thằng bé...!

Chiếc bàn lung lay, xê dịch. Có một bàn tay to lớn đưa lên. Một bóng người thật to đẩy thằng bé đứng lên, cả người cũng đen thui vì mực. A! Thì ra họ đang diễn một vở tuồng! Nhưng mà tôi không thích thú mấy. Vở tuồng thật là chán chường!

Tôi thở dài la: “Chán quá! Chán quá...!”. Vợ tôi đập nhẹ vào mình tôi: “Anh!.. Anh!.. Gì mà anh la dữ vậy!”.

Tôi giật mình ú ớ: “Đâu có gì! Nằm mơ đó mà!”. Thế rồi tôi thức dậy luôn vì trời đang rựng sáng! Tôi lại cười với tôi!”.



Với câu chuyện nầy, có một người từ trên tiểu bang khác xuống có dịp đọc được, hỏi anh bạn tôi rằng: “Đồ Ngông viết câu chuyện nầy là một giấc mơ thiệt hay là giấc mơ giả?”. Anh bạn tôi trả lời: “Không biết, Đồ Ngông đưa thấy được thì đăng, chứ không có hỏi là thiệt hay giả”. Nhưng với Đồ Ngông thì đó là một giấc mơ mà đàng sau giấc mơ ấy có nhiều vấn đề hệ trọng liên hệ đến sự chửi lộn và tình hình bất ổn của một cộng đồng sắc tộc tại một địa phương ở nơi xứ người!

Nguyên Thảo,
31/12/2009.
(“Cuộc Hành Trình Của Chữ Nghĩa” 12)

H.T Chữ Nghĩa 12: Sự Chuyển Hướng Của Tôi!

Tôi khởi đầu viết phụ chơi trên Bản Tin Nông Gia, nhưng ngay từ lúc ấy tôi đã chọn những đề tài để vừa giải trí cũng vừa có ích đúng như khuynh hướng xã hội của tôi ngay từ khi còn là thanh niên. Tôi vẫn thường xuyên gởi bài cho Bản Tin Nông Gia, điều ấy không khó vì Bản Tin ra mỗi tháng có một lần. Trong khi đó, báo địa phương thì mỗi tuần có một số. Tôi có thể đáp ứng được. Cái viết của tôi nay tương đối nhuần nhuyễn. Muốn viết tôi cứ chọn đề tài, rồi viết theo tùy hứng của tư tưởng ngay trên máy vi tính. Tôi cứ viết theo dòng tư tưởng và suy nghĩ, đến khi hết bài tôi mới in ra rồi sửa lại, có khi phải hoán đổi cả một đoạn văn. Sau đó, tôi vận dụng số vốn học được từ thuở học Văn với Thầy Trần Văn Khánh ở trường Trung học Phước Thành (Tân Uyên- Bình Dương ngày nay), tức là nhớ lại những gì mình đã học được trong quyển: “Những lỗi thông thường trong thuật viết văn” của Nguyễn Văn Hầu để mà sửa câu hay đoạn văn cho nó tốt hơn. Tôi chỉ được có một cái tương đối gọi là “sắc nét” là tôi chọn từ ngữ hoặc sử dụng từ tạm gọi là được và khá đúng chỗ. Điều ấy làm cho câu văn trở nên mạnh mẽ hơn!

Chính vì vậy mà khi nhìn vào bài của những người đã viết đăng tải trên báo để chửi người khác, tôi thấy họ không vượt qua cái tâm địa hẹp hòi, lòng đầy oán hận của họ; cũng như một số người chỉ biết a dua, chửi ké giống như trong dân gian người ta thường hay xài đến chữ “chó hùa”. Tại sao gọi là “chó hùa”? Nếu ai ở trong thôn quê có nuôi chó hay quan sát loài chó đều thấy chúng có tánh “hùa”. Con nầy sủa, những con khác không biết “ất giáp” gì cả cũng sủa, con nầy tru thì con kia cũng tru. Lủ chó nhiều lúc làm ầm lên trong khi một cặp đực cái “mắc lẹo” (giao hợp và dính nhau) ở ngoài đường.

Chứng kiến cảnh đó lòng tôi cũng ngao ngán: “Tại sao những người già cũng có học, cũng từng mang lon trong quân đội mà phải làm những chuyện đó. Đây không phải là xứ của mình, mình chỉ ăn nhờ ở đậu cùng với bao nhiêu đồng hương khác của mình thôi mà! Mình không muốn yên ổn ở đây thì cũng nên để cho đồng bào của mình được yên ổn chứ! Không lẽ chỉ vì tranh giành, tức khí mà gây nên cảnh hỗn loạn như vậy sao?”. Nhiều câu hỏi được đặt ra đối với tôi. Tôi trách luôn cả chủ báo mà tôi đã cộng tác, mặc dù cũng nhờ tờ báo đó mà tôi đã đạo đạt những điều mình muốn giúp cho những bậc phụ huynh được chuyển tải đến với mọi người. Vì danh, vì lợi, vì căm tức, vì tự ái... mà ngưòi ta quên tất cả, và họ làm đủ thứ chuyện để đạt được thỏa mãn cho chính mình.

Sau ba bài như đã trích ở trên, tôi thấy “nhóm họ” còn đang hăng máu; tình hình lúc đầu dường như có chợt khựng lại để rồi sau đó vẫn tiếp diễn. Cuộc chiến nầy có thể kéo dài hơi lâu. Chẳng ai dám nhảy vào can thiệp; chắc có lẽ tôi phải trường kỳ, cho nên tôi phải chuyển hướng đồng thời là dịp để tôi thử “bản lĩnh thơ văn” của mình tới đâu.

Tôi nhớ ngày xưa, ngày mới ra trường đi dạy, tôi đã từng bị ăn hiếp và người ta đã dùng thủ đoạn để ghép tôi vào lỗi nầy, lỗi kia để Ty có cớ phạt kỷ luật tôi; nhưng tôi làm một việc đúng và có ích cho mọi người cùng học trò nên tôi không có gì để sợ. Tôi sẽ sử dụng đến cách ứng phó vào thuở ấy cho sự việc nầy!

Tôi tự hạ mình xuống để không “còn chỗ” mà người ta còn khinh dễ, moi móc mình được trước khi vào cuộc... Mà trên thực tế cũng quả đúng như vậy; tôi là một nông dân thì chẳng thuộc thành phần “dân ngu, cu đen” là gì, nông dân thì cũng chẳng có học bao nhiêu. Tôi chuẩn bị cho mình một tư thế và luôn sẵn sàng “can ngăn” với “những ai” muốn quậy phá cộng đồng bằng văn, thơ. Tôi chỉ mong họ phải ý thức được “hành động của họ làm”. Do đó, dứt khoát tôi phải tìm đủ mọi cách để chặn đứng họ lại vì “sự yên ổn của mọi người trong cộng đồng sắc tộc trên xứ người”. Những bài văn, bài thơ của tôi xuất hiện có khi nhiều bài cùng lúc trên báo và những bài ấy thường có đến hai mục đích: Thứ nhất dành cho những người chửi, gây rối phải suy nghĩ để giảm bớt cường độ hoặc chấm dứt “thói tật” của họ; hai là vạch thái độ của họ cho độc giả thấy những tác hại với cộng đồng chung như thế nào để từ đó độc giả chửi những “người” ấy, làm cho họ phải e dè khi tiếp tục chuyện mình làm. Lắm bài có mục đích thứ ba là vui chơi hoặc phổ biến một vài nhận xét, kinh nghiệm cỏn con nào đó trong đời mà tôi đã thu lượm được từ trong cuộc sống.

Cái viết của tôi cũng phải uyển chuyển, luồn lách như thế nào để tránh được “đối đầu trực tiếp” với họ để khỏi bị họ tấn công ồ ạt, có thể nhận chìm mình trong bất cứ lúc nào; cũng như không đụng chạm đến tự ái của họ để họ không gây khó khăn đối với mình vì đến lúc nầy họ đã thừa biết “Đồ Ngông là ai?”. Điều đơn giản dễ hiểu là vì tôi can dự vào chỉ là “cô thân độc mã” mà thôi! Tôi không có hậu thuẫn nào cả: Không đoàn thể, đảng phái, không nhóm, không bạn bè... Tôi phải đánh hỏa mù trong các bài viết và lập lờ trong lập trường của tôi, vì tôi thừa biết ở phía sau những người đó là ai, tổ chức nào? Và có thể đoán được họ làm như vậy với mục đích gì? Vì trong khoảng thời gian nầy tôi vừa tìm hiểu vừa thu thập tin tức để phối kiểm tìm hiểu xem tại sao họ làm như vậy, vì nếu ghét nhau, tranh lợi thì cũng không đến đỗi phải kéo dài lâu và có vài kẻ từ xa “ké” vô. Diễn biến càng ngày càng phức tạp, sự can thiệp của tôi cũng cần có nhiều biến chuyển cam go.

Mời các bạn đọc 4 bài thơ sau đây và đoán được bài nào tôi nói về tình trạng ấy. Bốn bài thơ được đăng cùng một lúc trên báo gọi là:” Những bài thơ tháng bảy!”


1- Tháng Bảy Vu Lan:

Tháng Bảy Vu Lan ngày của Mẹ
Mà bao năm tháng bẳng quên đi
Đến nay sực nhớ thì mẹ đã
Đã quá già nua, yếu hẳn rồi!


Một chiều nhạt nắng, nhìn lên tóc
Tóc trắng vương vương bóng áng mây
Dưới đất, trên trời cùng một sắc
Nương che gương mặt đã hao gầy.


Con ngồi bên mẹ, lòng hối lỗi
Muốn nói lên lời: "Hỡi, Mẹ ơi!
Bây giờ mới nhớ tình thương Mẹ
Mẹ đã cho con cả cuộc đời!"



2- Tháng Bảy Siêu Hồn.

"Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân" (ca dao)
Cũng nhờ Tăng, Chúng lo nhau tụng
Nguyện độ Cô hồn các đẳng siêu
Không làm ma quỷ luôn vất vưởng
Gây rối cho người ở thế gian.
Đức Phật chỉ đường mau cứu giúp
Cùng nhau họp mặt tụng cầu an
Mong cho hồn phách người lỡ bước
Biết nẻo quay về thế giới yên!



3- Tháng Bảy Mưa Ngâu:

Tháng Bảy mưa Ngâu khóc sụt sùi
Mắt nàng Chức Nữ lệ tuôn rơi.
Thương chàng cô độc tròn năm chẵn,
Tủi thiếp lẽ mình năm trọn y
Ô Thước bắt cầu đầu chịu sói
Sông Ngân ngăn trở cách đôi bờ
Trời đày bởi thiếp không canh cửi
Chàng để trâu ăn cả lúa trời.



4- Tháng Bảy Nhân Gian:

Tháng Bảy nhân gian mùa "chó động..."
Đực, cái ngoài đường "nhảy tùm lum"
giữa sá, giữa đường coi chướng mắt
Mấy bà "mắc cỡ" vội đi nhanh!

Một cặp trước nhà đang "vướng mắc"
Xung quanh, một lủ lại ầm vang
Ông bực xách cây xua đuổi mãi
Đánh nhiểu, chúng lại sủa càng hăng.

Bà bực mắng rằng: "Đồ lủ chó!
Xấu hỗ không? Sao lại giữa đường
Lại lủ chó hùa thêm nhốn nháo,
Tạt nước cho mầy, biết tay tao!"

Nói đoạn bà bưng thau nước lớn
Tạt ào vào lủ chó hung hăng
Cả đám hoảng lên lo nhảy thoát
Cái, đực "quên vui" chạy mất hồn!



Trong các bài đó bài “Tháng bảy nhân gian” là bài chính yếu can dự vào cuộc chiến, giống như hình ảnh hai con chó đực cái “mắc lẹo”; một đám chó hùa bên ngoài làm rối rắm thêm. Chỉ có vậy thôi mà tôi phải làm thêm ba bài thơ khác trong đó bài “Tháng bảy siêu hồn” cũng thể hiện một số ý hạn chế để khi đăng báo lên người ta không biết tôi muốn nói đến cái gì với những bài thơ đó, ngoài cái tựa chung là “Những bài thơ tháng bảy!”

Sự xung đột ấy ngấm ngầm “nổ lớn” đến những sự kiện lớn xảy ra thật sự khó lường (hay là với một sự trùng hợp ngẫu nhiên?), như tôi diễn tả trong bài viết về việc phá chùa Pháp Hoa ở Nam Úc như sau:



Những Người Tù Của Lương Tâm.

Đồ tôi rất là đau đớn, chán chường, tủi thân mà viết về vấn đề nầy. Nó có đến 3 niềm đau trong câu chuyện chứ không phải 1: Một là cái "shock" của một người Phật tử; hai là cái đau của một người dân "Việt"; ba là nỗi buồn của một người "tị nạn", "ăn nhờ ở đậu" trên xứ người, hoặc nói cho ngon lành hơn là ở trên "quê hương thứ hai" của mình.

Câu chuyện nầy không phải là một câu chuyện có tính chất vui vui mà là một câu chuyện "khá buồn có cần nhiều nghiền ngẫm", nghiền ngẫm cho chính chúng ta, đồng thời nghiền ngẫm cho chính "người gây chuyện" hay nhiều hơn nữa!

Câu chuyện nầy "được" xảy ra chiều ngày 26/6/03, trước ngày vui bầu cử Hội Đồng Quản Trị Cộng Đồng nhiệm kỳ thứ 16 (2003-2005) của Cộng Đồng người Việt Tự do ở Nam Úc hơn một ngày, một chuyện buồn "tự dưng" xảy đến khiến cuộc bầu cử của toàn Cộng Đồng mất bớt đi niềm vui trọn vẹn.

Vào khoảng 3 giờ chiều ngày nói trên có một người "Việt nam" đập bể cửa kiếng đột nhập vào Chùa Pháp Hoa đập phá nơi thờ vong linh người quá cố bên tay phải Chánh điện, đồng thời "tàn phá" từ các đồ trang trí, các pháp khí để hành lễ, đến "tất cả" các tượng trong Chánh điện. Tượng Phật Thích Ca cũng bị xô ngã và bị "người ấy" chọt vào mắt, miệng, tai, trán và ngực. Các tượng khác thì đều đập bể đầu, gãy tay. Nửa giờ sau Cảnh sát Úc đến bắt "người ấy". Người ấy cứ nói là "Thiên Lôi", nhưng có người biết, gọi đến tên thì "người ấy" giật mình quay lại.

Có người thì bảo "người ấy" bị bệnh "tâm thần", người lại hỏi: "Bệnh tâm thần mà biết trước khi vào chùa phá thì đi hớt đầu trọc và mặc "track suit" màu xám để giả dạng Phật tử à?". Người thì bảo "người ấy" hút, xì ke. Có người lại hỏi: "Hút xì ke tại sao không phá các thùng công đức để lấy tiền mà lại phá toàn bộ trong Chánh điện và chỗ thờ vong linh của người quá cố, may là bên chỗ thờ tro cốt của người chết chưa bị đập phá. Và, tại sao người ấy lại biết chọt vào mắt, vào tai, miệng, trán và ngực của tượng Phật?". Đồ tôi nghe mà phân vân không biết nên nghĩ và suy luận như thế nào "để được đúng". Thôi thì dù gì chuyện cũng xảy ra rồi. Quả thật là: "Một sự khủng bố do Vô Minh sai khiến" đúng như Hòa Thượng đã nói trong Thông Bạch.

Như ở trên Đồ tôi đã nói đến 3 niềm đau trong câu chuyện: Niềm đau của người Phật tử, niềm đau của một người dân Việt, và niềm đau của một người "ăn nhờ ở đậu, lấy nhà người khác làm nhà mình".

Đồ tôi mạn phép trình bày về niềm đau "ăn nhờ ở đậu" trước. Để bắt đầu, Đồ tôi xin kể một câu chuyện, chuyện xảy ra vào mùa Hè đỏ lửa: Mùa Hè năm ấy (1972), cuộc chiến bắt đầu sôi động và ác liệt trên khắp cùng các mặt trận. Đồ tôi đưa vợ con cùng một số ít đồ đạc rời nhà đi tìm nơi lánh nạn, đến vùng an ninh hơn mà tạm trú. Đến ở nhà của một ông Cậu vợ, tại đây cũng có vài gia đình đến xin trú ngụ. Chen chút mà trú ngụ qua ngày, đợi chờ tình hình lắng dịu mà hồi cư. Nhưng có một cặp vợ chồng ngày nào cũng chửi lộn nhau ỏm tỏi, thậm chí có lúc lại đánh nhau. Có nhiều người can, khuyên răn nhưng rồi họ vẫn thế! Ông Cậu vợ của Đồ tôi rất ư là buồn! Nhưng người ta đang gặp khó khăn không lẽ ông lại đuổi người ta đi! Ông đành lẳng lặng chịu đựng cảnh ấy cứ liên tục xảy ra trong nhà ông cũng khá lâu. Sau có người "có uy tín" đối với cặp vợ chồng ấy, họ phân tích cho vợ chồng đó nghe: "Mình đang ở đậu trong nhà của người ta, mà ngày nào tụi bây cũng làm như vậy tao thấy kỳ quá đi. Tại sao tụi bây không nghĩ, nếu người khác tới nhà tụi bây ở nhờ mà cũng gây lộn chửi nhau như tụi bây làm bây giờ, tụi bây có thích hông? Hay là tụi bây vác chổi chà mà đuổi họ đi? Tụi bây không muốn ở tạm ở đây thì tụi bây cũng làm ơn nghĩ đến người khác đặng cho thiên hạ nhờ với chớ!". Không biết lời nói ấy có tác động "trong óc" của cặp vợ chồng ấy không, mà sau đó Đồ tôi thấy họ ít gây gổ nhau hơn, và khi nào họ sắp gây nhau thì chỉ sừng sộ rồi "chợt nhớ", lại thôi! Mấy chục năm qua, Đồ tôi lại thấy tình trạng giống như vậy xảy ra trên xứ người. Chắc cũng tại vì: "Mình không xác định được vị trí của mình đang ở đâu? Và đang giữ vai trò gì tại đó? Và cũng không thấy những sắc tộc khác đang nhìn mình như thế nào? Và chủ nhà đang đánh giá ta ra sao?". Ôi! Hoàn cảnh lớn nhỏ khác nhau, nhưng tình hình lại cũng giống như nhau! Thế cho nên nhà viết sử đã chẳng thốt ra câu: "Lịch sử là một sự lập đi lập lại của các sự kiện" hay là "Lịch sử lại tái diễn" đó ư?

Nghĩ xa hơn chút nữa, lại là niềm đau của người dân Việt: Chính người của ta lại hại ta, đem danh dự của dân tộc bêu rếu lên các phương tiện truyền thông của Úc. Nếu Quý vị không tin điều Đồ tôi viết thì mời Quý vị hãy rót nước trà vào ly, ngồi trầm tĩnh "nhâm nhi" tách nước trà, rồi tính lại những điều xảy ra được ghi nhận trên các phương tiện truyền thông, Quý vị sẽ thấy: Vụ thanh niên đâm chém ở Melbourne; vụ Ngô Cảnh Phương; vụ thanh toán nhau ở Tây Úc; vụ đánh bạc ở Casino; vụ Việt kiều Úc về Việt Nam tổ chức đường dây nhập bạch phiến, ma túy sang Úc bị bắt; vụ tàu tị nạn Việt Nam tới đất Úc, rồi tới vụ chùa Pháp Hoa bị đập phá... Ôi! Cuộc đời sao lắm sự! Không biết một ngày nào đó người Việt của ta có giống như người Do Thái bị Hitler đưa vào các trại tập trung không? Hay bị "Cáp duồn" như ở Kampuchia, hoặc giống như người Tàu bị Mã Lai đã xua đuổi họ qua hai thời kỳ. Nếu tới lúc đó ta sẽ đi đâu? Về Việt Nam ư? Đồ tôi không thể tiên đoán được vấn đề? Đồ tôi chỉ cầu mong được yên ổn sống cho hết cuộc đời. Thế thôi!

Những gì xảy ra trong mai sau đó chính là "Hậu quả" của chúng ta "Gây nhân" trong ngày hôm nay vậy!

Niềm đau thứ ba là niềm đau của một người Phật tử: Ngôi chùa nơi thờ phượng tâm linh của mình bị đập phá không đau sao được? Mặc dù Đức Phật đã nói trước rất là lâu trong thời gian không thể tính được (Chư Phật trong quá khứ) mọi vật trên thế gian là "vô thường" không tồn tại, có Sanh, Trụ, Dị, Diệt - Thành, Trụ, Hoại, Không - Sanh, Lão, Bệnh, Tử. "Có rồi sẽ mất, mất đi rồi sẽ sanh ra".

Chỉ trong vài tiếng đồng hồ những người Phật Tử phải tốn hàng trăm ngàn. Ôi! Những con người "Vô Minh": Quý vị có thấy không? Rồi Quý vị có thấy một vết nhơ khác của chính người của ta làm cho dân tộc ta trên truyền hình toàn quốc của Úc không? Nếu người đó là xì ke, ma túy vậy những ai đã làm cho họ như vậy, họ chỉ phá hoại xã hội thôi sao? Tại sao chúng ta không tạo được những điều tốt đẹp cho xã hội mà chúng ta lại làm những điều xấu nhiều như vậy? Vết nhơ ấy sắc tộc ta rửa đến bao giờ mới sạch được đây? Con cháu chúng ta sẽ lãnh mọi hậu quả sẽ xảy ra bằng sự "Vô minh" của chúng ta ngày hôm nay trên tất cả mọi phương diện.

Quý vị tưởng rằng Đạo Phật chỉ là Đạo của những người Phật tử thôi sao? Đó là một sự lầm lẫn thật là to lớn. Đức Phật không phải là Giáo chủ của Phật giáo, mà Ngài chỉ là một Đạo sư, người chỉ đường để chúng sanh khai mở Trí Huệ của mình ra. Ngài là Giáo chủ của cõi Ta Bà trong giai đoạn Ngài là Giáo chủ. Chữ Phật nó có nghĩa là Giác Ngộ thì Đạo Phật chẳng qua là "Đạo Giác Ngộ". Đạo hướng dẫn "Tâm thức" con người, hay nói chung là tất cả chúng sinh, của mọi loài có sự sống, có linh hồn đến chỗ giác ngộ, nhận chân được sự thật của cuộc đời, biết và tìm về nơi chốn thường hằng, vĩnh cữu. Đạo Phật là cho cả mọi loài chứ không riêng của người Phật tử. Con đường giải thoát bằng cách "yên lặng, tĩnh lự, trầm lắng" Tâm của mình lại; dừng lại mọi nghiệp Sát (giết), Đạo (trộm cướp), Dâm (Tà dâm), Vọng (nói dối, đâm thọc); trong sạch Thân, Khẩu, Ý thì sẽ đạt được đạo Tối Cao Giác Ngộ (Vô Thượng Bồ Đề).

Còn Quý vị tưởng Chùa là của Ông Thầy ư? Lại thêm một sự lầm lẫn khác! Chùa là của Thập phương bá tánh. Người khắp nơi đóng góp xây dựng nên, Thầy góp công sức. Chùa là nơi Thầy ở để phụng sự công việc tế lễ thay thế bá tánh, phục vụ cho bá tánh, tu tập và hướng dẫn Phật tử tu tập (nếu thích) theo hình thức Đại Thừa. Thầy là người lái xe, Phật tử là người ngồi trên xe để cùng nhau tiến về mục tiêu Tối hậu.

Đồ tôi nghĩ cũng tức cười: Một tượng Phật ngồi trầm ngâm yên lặng, không màng đến thế sự như vậy mà còn bị xô lật xuống, bị đâm vào mắt, tai, miệng trán và ngực. Một biểu tượng "Giác Ngộ" của "Tâm Thức" như thế mà bị lật đổ thì quả thật thế gian nầy đã quá là "Vô Minh".

Con người, chúng sinh vào vòng Luân Hồi cũng vì Vô Minh. Đã ở trong Luân Hồi rồi vẫn lại thêm quá Vô Minh, vậy biết đến bao giờ mới ra khỏi. Thế cho nên cũng không trách gì chúng sinh đã đóng đinh Chúa Giê-Su trên Thập Tự Giá; đã bắt nhốt giáo chủ Đạo Bahai 's trong tù khoảng 50 năm.

Đồ tôi không biết rồi đây "người gây chuyện" sẽ suy nghĩ như thế nào? Cứ mỗi lần nhớ lại "thấy" tượng Phật "như" nhìn mình với đôi mắt, tai, miệng, trán, ngực bị đâm thì họ sẽ ra sao? Hoặc nhớ lại cảnh tượng tàn phá đó thì họ sẽ thế nào? Chứ trong quá khứ Ông Nobel đã hối hận sự khám phá chất "Cốt mìn" (TNT) mà chiến tranh lại tàn hại thêm, do đó mới có giải Nobel về Hòa bình. Viên phi công thả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki đã phải sống trong ân hận. Mấy năm trước đây trên truyền hình của Úc có chiếu lại vụ làng Mỹ Lai trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, những anh Mỹ đen Mỹ trắng, trong khi trả lời phỏng vấn, kể lại với những làn nước mắt chảy dài, cả thân mình run rẩy. Đó là những người tù của Lương Tâm. Liệu "người ấy" có "không phải" là người tù của Lương Tâm chính mình hay không? Chúng ta chờ xem vậy!

Những Bài Thơ Cho Bé (tt)

21- Rèn Luyện Thân Thể.

Một hôm nọ,
Có Ông Thầy
Người trông mạnh khoẻ
Gỏ cửa lớp con
Cô giáo cho vào.

Ông bảo tụi con
Cùng nhau đứng dậy
Giơ tay, đưa chân
Khum xuống, đứng lên
Nghiêng qua, nghiêng lại
Làm vài cử động,
Vui thật là vui!

Rồi Ông lại hỏi,
Các cháu làm gì,
Cháu có biết không?
"Dạ! Con không biết!"

"Đó là thể dục,
Tập rèn thân thể
Mỗi ngày con tập
Thân thể khoẻ ra
Ta sẽ yêu đời
Đời vui hơn nữa.

Thầy chỉ chỉ sơ,
Mai mốt Cô dạy
Con tập nhiều hơn
Ráng gìn thân thể.

Tinh thần sáng suốt,
Được ở bên trong
Thân hình khoẻ mạnh".

Con ráng ghi nhớ,
Và siêng năng tập.

Nguyên Thảo,
08-07-03.

22- Giúp Người Tàn Tật, Yếu Già.

Con thấy người già yếu
Con thấy người tàn tật,
Nên thường hay giúp đỡ
Hoặc tránh, nhường họ đi.

Ngoại con hay nói vậy,
Bà cũng lại dạy rằng:
"Người già thì yếu đuối,
Không thể đứng được lâu
Cho nên con nhường chỗ
Nếu xe "bus" đông người.

Nếu với họ qua đường,
Vì họ thường chậm chạp
Hoặc đi đứng khó khăn,
Con cần nên giúp họ.

Con đừng hay chen lấn,
Hoặc chèn ép người già,
Nhường tàn tật đi qua
Ấy là con giúp đỡ.

Chỉ cử chỉ nhỏ thôi,
Lại mang điều ý thức
Tỏ ra mình hiểu biết
Và kính trọng người già.
Giá trị con từ đó
Được người mến thêm ra.

Trong cuộc sống ở đời
Hơn nhau từ ý thức,
Con ghi tạc vào lòng
Để về sau mà nhớ!

Nguyên Thảo,
09-07-03.

23- Chọn Bạn Mà Chơi.

Ông Ngoại con bảo rằng:
"Tục ngữ đã có câu:
"Gần mực thì sẽ đen,
Gần đèn thì được sáng"
Để chỉ dạy người ta
Lớn lên nên có ý:
Biết: "Chọn bạn mà chơi!"

Mình gần những người xấu,
Mình cũng bị xấu lây
Bạn bè mình được tốt
Lại cùng nhau siêng học.
Không phải đi bê tha
Không mê thích rượu chè
Không ham gì cờ bạc,
Cố gắng học với hành
Mai sau thì sẽ giỏi
Giúp ích được cho đời
Lợi nhiều cho con cháu
Xứng đáng sống một đời.

Con nên thường ghi nhớ
Cố khắc ở trong lòng,
Ngày sau nên danh tốt.

Nguyên Thảo,
10-07-03.

24- Đến Trường.

Hôm nay em đến trường
Mẹ dìu tay em bước
Trong tình mẹ yêu thương
Em vào trường đi học.

Buổi sáng gió hây hây
Mưa nhè nhẹ bay bay,
Mưa luồn qua vành nón
Hôn má em ngất ngây.

Trên trời mây lang thang
Đuổi nhau nối hàng hàng.
Mây ơi! Mau dừng lại
Xuống đây đi học cùng.

Bạn bè khắp sân trường
E ấp và vấn vương
Khép nép bên chân mẹ,
Bôn chôn buổi tựu trường.

Nguyên Thảo,
22-05-04.

25- Ba Mùa Tới Trường.

Mùa Thu trời vẩn đục,
Mây xám bàng bạc trôi
Sách vở cùng đồng hành,
Em vào trường nhập học.

Đông đến, thời gian qua
Khí trời thêm ẩm ướt
Cái lạnh thấm vào da
Đến trường em học tập.

Mùa Xuân hoa nở rộ
Cây cối nẩy, đâm chồi
Chim trong cây đua hót
Em tới trường học thôi!

Mùa Hè đang chuyển sang,
Hoa tím nở vội vàng
Chim như buồn trốn nắng,
Em lại chào chia tay.

Nguyên Thảo,
22-05-04.