Thế thì Ngài
nói như thế nào về con đường tu tập? Chúng tôi sẽ không đi vào
con đường tu tập của Ngài qua tiểu sử như chúng ta đã nói như trước kia, mà chúng
ta sẽ đi vào Kinh điển, nhất là qua Kinh Lăng Nghiêm, xin mời Quý vị cùng đồng
hành!
Theo như trong Kinh cho
biết: “Sau khi A Nan bị nàng Ma Đăng Già dùng huyễn thuật, thần chú bắt đưa vào
phòng để dụ dỗ tình duyên. Đức Phật biết được nên sai Ngài Văn Thù đem thần chú
đến chỗ Ma Đăng Già phá tà chú và cứu nạn cho A Nan. Khi trở về A Nan kính lạy
và bạch với Phật:
-Bạch Thế Tôn! Con từ hồi
nào đến giờ có lòng ỷ lại: Con là em Phật, được Phật thương yêu, chắc chắn Phật
sẽ ban cho con thần thông trí huệ, hay đạo quả Bồ đề, nên chỉ lo học rộng nghe
nhiều, chẳng cần tu niệm, không ngờ ai tu nấy chứng, mặc dù con là em của Phật,
nếu không tu, thì cũng bị đọa như ai; học nhiều mà không tu, thì cũng chẳng có
ích gì! Cúi xin Phật rộng lòng từ bi, chỉ dạy cho con phương pháp nào mà mười
phương các Đức Phật tu hành đều được thành chứng quả?”.
Đoạn Kinh trên chứng tỏ một
lần nữa là “Ai tu nấy chứng, không ai tu thế, gánh nghiệp cho ai, và cũng không
thể nhờ đến thần thông của ai để thành đạo được; mà phải qua sự tu tập, giải
nghiệp của chính mình”. Đó là căn bản của “sự thành đạo” mà Đức Phật đã hướng dẫn!
Điều đầu tiên Đức Phật đề
cập đến là “sự cần thiết” phải hiểu rõ về “Tâm”:
- Phật
dạy: Ông nay muốn đặng đạo vô thượng Bồ đề, thì điều cần nhứt là phải hiểu rõ
hai món căn bản:
· Một căn bản của sanh tử luân hồi là vọng tâm.
· Một căn bản của Bồ đề, Niết bàn, là chơn tâm.
Nếu ông nhận lầm căn bản của sanh tử (vọng tâm) làm nhơn tu hành, thì không bao giờ giải
thoát được. Cũng như người nhận giặc làm con, thì chỉ thêm bị phá hoại gia sản
của mình mà thôi. Và cũng như người nấu cát làm cơm, dầu trải bao nhiêu năm
cũng chẳng thành cơm được.
Rồi sau đó Đức Phật chỉ cho cách phân biệt
thế nào là cái “Chơn Tâm” của mình, giống như khi không có âm thanh nào, mà “cái
nghe” vẫn không mất vì “cái nghe” “vẫn nghe được là không có âm thanh nào cả”;
hoặc người mù không thấy gì cảnh vật bên ngoài, nhưng “cái thấy” cũng không mất
vì “chỉ thấy cái tối đen”, để từ đó cho chúng ta biết:
- Phật dạy rằng: này Anan nếu ông chấp cái
"suy nghĩ, phân biệt" là tâm của ông, thì khi rời cảnh vật hiện tiền,
cái tâm "hiểu biết, phân biệt" ấy cũng vẫn còn, thì mới phải là chơn
tâm của ông. Nếu rời cảnh vật hiện tiền, mà tâm hiểu biết phân biệt ấy mất đi, thì
không phải là chơn tâm của ông rồi.
-- Ông phải biết rằng: trong thế gian tất
cả người tu hành, không được thành đạo, đều do chấp lầm cái "vọng tưởng
sanh diệt" (vọng tâm) này làm chân thật (chơn
tâm).
Và để bao quát, mở rộng hơn, Kinh tiếp:
- Phật dạy tiếp: - Cái nào có co, có mở,
có động, có tịnh, có sanh, có diệt, thì cái đó là vọng, thuộc về
"khách" không phải ông. Còn cái nào không động tịnh, co mở, không
sanh diệt, thì cái đó là "chơn", thuộc về "chủ" chính là
ông. Như thế chơn và vọng rất rõ ràng, ông còn chưa hiểu hay sao!
- Phật dạy, này Đại vương thân thể mặt
mày ông tuy già, vậy cái nào có già, thì cái ấy sẽ bị biến đổi, tiêu diệt; còn
cái nào không già, thì cái đó không bị biến đổi tiêu diệt. Nó đã không sanh diệt,
thì đâu có bị ông làm cho nó sanh tử luân hồi được. rõ ràng như thế, ông không
hiểu sao mà còn dẫn lời của ngoại đạo Mạt-già-Lê nói: Thân này chết rồi hoàn toàn
diệt mất?
Rồi tiếp theo Đức Phật cho biết những điều
quan trọng hơn, trong đó hai từ “Vô Minh” giữ vai trò quan trọng khiến mọi chúng
sinh từ giã cõi “Chơn Tâm” để làm chúng sinh; và luôn giữ cái “Vọng Tâm” mà nhìn
vào mọi cảnh vật trong vũ trụ, thế giới hiện tiền:
- Phật thấy vậy thương xót mới dạy tiếp:
Ta thường nói: "Các pháp đều duy tâm biến hiện, cho đến thân và tâm ông
ngày nay, cũng đều là vật ở trong chơn tâm hiện ra". Tại sao các ông lại bỏ
cái bản thể chơn tâm đi. Các ông vẫn ở trong ngộ (chơn tâm) làm mình (điên đảo là đó), thật
đáng buồn thương!
-Này A-Nan, bởi vô minh vọng động nên biến
hiện ra có hư không, thế giới và chúng sanh. Trong thân chúng sanh vì có vọng
tưởng lẫn lộn, nên nó vọng động leo chuyền bên trong (như vượn, như ngựa); khi các giác quan mở ra, thì
nó rong ruổi theo trần cảnh bên ngoài (như vượn sút xiềng, ngựa tong chuồng).
Rồi các ông chấp cái tướng vọng tưởng lăng xăng bên trong đó, cho là tâm tánh của
mình. Một phen chấp nó làm tâm, thì không sao khỏi mê lầm cho rằng "tâm ở
trong thân". Chứ đâu biết rằng: Thân này, tâm này, cho đến núi, sông, thế
giới và hư không đều là vật trong chơn tâm hiện ra cả.
Để chứng minh rõ cho Ngài Anan, Đức Phật
chỉ rõ hơn về “cái Thấy” nhằm giúp Anan cũng như các đệ tử hiểu thấu đáo hơn về
Chơn Tâm
- A-Nan, tất cả các cảnh vật, mặc dù có
cao thấp, xa gần, ngàn sai muôn khác, song cũng đều là "vật bị thấy" của
ông cả. Các vật loại tuy có sai khác, mà cái thấy của ông không khác. Thế thì
cái "thấy" này chính là "tâm" của ông chứ không phải vật.
- Cái "thấy" của ông cũng thế,
không có vuông tròn hay lớn nhỏ, mà lớn nhỏ, vuông tròn là tại cảnh vật.
Đức Phật kết luận và cảnh giác đại chúng
trên con đường tu tập:
- A-Nan, tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến
giờ vì mê mình (tâm) làm vật, bỏ mất chơn tâm của
mình, bị cảnh vật xoay chuyển (chi phối) nên thấy có lớn nhỏ, rộng hẹp,
tốt xấu v.v... Nếu ai chuyển xoay được cảnh vật, thân tâm đặng sáng suốt viên
mãn, thì đồng với chư Phật. Lúc bấy giờ không rời nơi đạo tràng (chổ nầy)
mà ở trên đầu một mảy lông, có thể chứa đựng khắp cả mười phương thế giới.
- Phật dạy: Nếu các ông lấy vọng tâm nghe
chánh pháp (chơn tâm) thì chánh pháp này cũng trở
thành ra vọng, không thể nghe đặng chánh pháp. Các ông nên biết: ta cũng như
người dùng ngón tay chỉ mặt trăng, các ngươi phải nhơn ngón tay mà xem mặt
trăng. Nếu chấp ngón tay cho là mặt trăng, thì chẳng những không thấy được mặt trăng,
mà cũng không biết luôn cả ngón tay. Vì cho ngón tay là mặt trăng, thì không những
không biết ngón tay là gì, mà cũng không biết thế nào là tối và sáng. Vì mê chấp
ngón tay là mặt trăng, thì tối và sáng làm sao rõ được.
Tiếp theo, Đức Phật chỉ rõ hơn về những
tiến trình sinh ra các sự việc do từ Vô Minh và Vọng Tâm ấy:
- Này A-Nan, tất cả chúng sanh bị sanh tử
luân hồi trong thế gian, đều do ha món điên đảo phân biệt vọng thấy, tức nơi đó
phát sanh ra sự nghiệp, rồi theo nghiệp mà chịu khổ luân hồi.
- Từ nơi chơn tâm, vì hư vọng nên hiện ra
các cảm giác thấy, nghe, hay, biết. Do hòa hiệp vọng sanh ra, rồi cũng do hòa
hiệp vọng diệt đi. Nếu các ông xa lìa được các duyên hòa hiệp cùng bất hòa hiệp,
và trừ hết các nhơn sanh tử rồi, thì cái chơn tâm thường trụ thanh tịnh, bất sanh
bất diệt hiện ra, và các ông được viên mãn đạo Bồ Đề.
- Các ông không biết: nào sanh, diệt, khứ,
lai đều gốc ở nơi chơn tâm thường trụ. trong thể tánh chơn như thường trụ này,
tìm kiếm cái khứ, lai, mê, ngộ, sanh tử v.v... quyết không thể được.
- Tùy theo tâm của chúng sanh tạo nghiệp
như thế nào, thì nó hiện ra như thế ấy.
- Các ông không biết: Trong chơn tâm,
tánh (bản thể) của sắc là chơn không (tâm);
tánh (bản thể) của không là chơn sắc (tâm). Nó vốn sẵn thanh tịnh,
khắp giáp cả pháp giới; tùy theo tâm của chúng sanh tạo nghiệp và phân biệt như
thế nào, thì có ứng hiện ra như thế nấy. Chúng sanh không biết, chấp là nhơn
duyên sanh, hay tự nhiên có v.v... những cái chấp đó, đều do thức tâm phân biệt
so đo cả. Phàm có nói năng, phân biệt, thì đều không đúng.
Nguyên Thảo,
09/08/2026.
No comments:
Post a Comment