Saturday, September 26, 2026

*Vấn Đề X: Đức Phật thuyết Về Chơn Tâm Và Ngộ! (TT)

 

3- Nhưng, cái giới luật quan trọng, trước tiên nhất trong Đạo Phật là “giữ năm giới”. Tại sao lại như vậy? Trong Kinh Lăng Nghiêm nầy Đức Phật chỉ rõ và giải thích như sau:

(Xin ghi chú: Trước các đoạn Kinh có những con số thứ tự, hay gạch dưới ở vài nơi nào đó là do chúng tôi ghi nhận, đánh dấu, để dễ nhớ các ý quan trọng trong Kinh khi bắt đầu tìm hiểu vào Đạo Phật. Kể từ nay, chúng tôi sẽ giữ nguyên các số ấy giống như là những kỷ niệm, và mong Quý độc giả sẽ tìm thấy những ý khác hữu ích hơn, khi có dịp đọc lại Bộ Phật Học Phổ Thông hay đào sâu vào các Kinh Lăng Nghiêm, Viên Giác hoặc Kim Cang mà Hòa Thượng Thích Thiện Hoa đã dịch hay lược dịch. Chúng tôi mạnh dạn dẫn chứng, trình bày các đoạn kinh ấy với Quý Vị thay những lời của mình phân tích, giảng giải, luận bàn; vì chúng tôi nghĩ các đoạn Kinh ấy là những minh chứng đích thực, là những ý nghĩa hùng hồn, giải thích chính xác về giáo lý Đạo Phật hơn là sự nghĩ bàn của chúng tôi. Do vậy, chúng tôi mong Quý Vị thông cảm và chấp nhận chúng như là một phần tài liệu nhằm hỗ trợ Quý Vị trên con đường “Tìm hiểu vào Đạo Phật” như chúng tôi đã làm! Và trong những phần sau sau bài nầy, chúng tôi sẽ ghi thêm số trang trong sách điện tử để Quý Vị tiện bề theo dõi và kiểm chứng! Xin đa tạ!).

58- Phật khen A Nan và dạy rằng: -Ông hỏi phương pháp tu hành để độ chúng sanh trầm luân đời sau, vậy ông nên chú ý nghe, ta sẽ vì ông chỉ dạy.

- Này A Nan, ông đã thường nghe ta dạy, người tu hành quyết định phải đủ ba điều cần yếu:

1. Dùng giới luật nhiếp phục tự tâm

2. Nhơn giữ giới, tâm mới sanh định

3. Nhơn định, tâm phát huệ

Ðây gọi là ba món tu vô lậu (Vì tu ba phép này, thì không còn sa đọa).

A. Trước đoạn lòng dâm: -A Nan, tại sao dùng giới luật để nhiếp phục tự tâm? - Này A Nan, nếu các chúng sanh trong tâm không còn nghĩ đến việc dâm dục nữa, thì sẽ ra khỏi sanh tử luân hồi. Ông tu hành quyết cầu ra khỏi trần lao, nếu tâm dâm dục không trừ, thì cảnh trần lao không bao giờ ra khỏi. Dầu cho ông hiện tiền đặng nhiều trí huệ và thiền định, cũng sẽ đọa vào ma đạo. Thượng phẩm làm ma chúa, trung phẩm làm ma dân, hạ phẩm làm ma nữ. Các loài ma kia cũng đều có đồ đệ và tự xưng đã thành đạo vô thượng Bồ đề. Sau khi ta nhập diệt rồi, vào đời mạt pháp, chúng ma này rất thạnh hành trong thế gian, ưa làm việc tham dục, xưng là thiện tri thức của chúng sanh, khiến cho chúng sanh đọa vào hầm tà kiến, mất con đường Bồ đề. A Nan, ông tu thiền định, nếu không đoạn lòng dâm, thì cũng như người nấu cát muốn cho thành cơm, dầu trải bao nhiêu kiếp cũng không thể thành cơm được. Ông đem tâm dâm dục để cầu quả Phật, dầu cho ông có được diệu ngộ đi nữa, cũng không ra khỏi tam giới, vì gốc của nó là dâm thì làm sao ra khỏi sanh tử luân hồi được; huống chi quả Niết bàn của Phật, ông làm sao chứng được. Nên quyết định phải đoạn trừ dâm cơ: trong tâm ngoài thân đều đoạn, cho đến cái biết đoạn cũng không còn, được như thế thì đối với quả Phật Bồ đề, ông mới có hy vọng! Vậy ông nên dạy người tu hành, điều thứ nhứt là quyết định phải đoạn trừ lòng dâm, đây là lời chỉ dạy sáng suốt trong sạch của ta và của các đức Phật quá khứ. Như lời ta dạy đây mới gọi là Phật nói, trái lại là Thiên Ma Ba tuần nói.

B. Ðoạn lòng sát hại: A Nan, nếu các chúng sanh trong tâm không nghĩ tưởng đến việc sát hại, thì không còn bị sanh tử luân hồi nữa. Ông tu hành quyết cầu ra khỏi trần lao, nếu ông không đoạn trừ tâm sát hại, thì cảnh trần lao không bao giờ ra khỏi. Dầu cho hiện tiền ông được nhiều trí huệ hay thiền định, nếu không đoạn tâm sát hại, thì ông chỉ đọa vào thần đạo. Bực thượng làm Ðại lực quỷ, bực trung làm Phi hành dạ xoa và các loài quỷ soái, bực hạ làm Ðịa hành La sát và các quỷ thần. Các loài quỷ thần này cũng có đồ đệ, đều tự cho mình thành đạo vô thượng. Sau khi ta diệt độ rồi, trong đời mạt pháp, các loài quỷ thần này rất thạnh hành trong thế gian, và tuyên bố rằng “Ăn thịt cũng được Bồ đề”. A Nan, trước kia ta cho các ông ăn ngũ tịnh nhục, là vì ở nhằm địa phương đất chai, nhiều đá sỏi, không trồng rau cải đưọc, nên ta tạm cho các ông dùng. Sau khi ta diệt độ rồi, tại sao những người ăn thịt chúng sanh, mà cũng xưng là tăng lữ.

  A Nan, những người ăn thịt, dầu cho có đặng tâm trí khai ngộ, cũng thành quỷ Ðại la sát, đến khi mãn kiếp quỷ La sát rồi, quyết định phải trầm luân trong biển khổ sanh tử. Giết hại ăn thịt lẫn nhau, thì làm sao ra khỏi sanh tử luân hồi được. A Nan, ông tu thiền định, nếu không trừ tâm sát hại mà muốn cầu được đạo, thì cũng như người tự bịt hai lỗ tai của mình, la tiếng thiệt lớn, mà muốn cho mọi người không nghe, thì không thể được. A Nan, ông nên dạy người tu hành, điều thứ hai là quyết định phải đoạn trừ lòng sát hại. Ðây là lời sáng suốt trong sạch của ta cũng là lời các đức Phật quá khứ đã chỉ dạy. Như lời ta dạy đây mới gọi là Phật nói, trái lại là Thiên Ma Ba Tuần nói.

C. Ðoạn trừ trộm cướp: A Nan, nếu các chúng sanh, trong tâm không nghĩ tưởng đến đến việc (tham lam) trộm cướp, thì không còn sanh tử luân hồi nữa. Các ông tu hành quyết cầu ra khỏi cảnh trần lao, nếu tâm (tham lam) trộm cướp không trừ, thì không bao giờ ra khỏi. Dầu cho hiện tiền ông đặng nhiều trí huệ hay thiền định, nếu không đoạn tâm (tham lam) trộm cướp thì quyết định đọa vào tà đạo, bực thượng làm loài tinh linh, bực trung làm loài yêu mỵ, bực hạ làm người tà, bị các loài tinh yêu này nhập (dựa). Bọn này cũng có đồ đệ, đều tự xưng rằng đặng đạo vô thượng. Sau khi ta diệt độ rồi, trong đời mạt pháp, chúng tinh yêu tà mị này rất thạnh hành trong đời, tự xưng là thiện trí thức, dối gạt phỉnh phờ người, khiến cho người mất tâm chánh tính; chúng nó đi đến đâu thì làm cho người tiêu hao tài sản đến đó. A nan, ông tu thiền định, nếu không đoạn trừ tâm trộm cướp, mà muốn cầu cho được đạo quả, thì cũng như người rót vào chén bể, mà muốn cho đầy, dầu trải bao nhiêu kiếp cũng không thể đầy được. Ông nên dạy người tu hành, điều thứ ba là quyết định phải đoạn trừ tâm trộm cướp. Ðây là lời nói sáng suốt trong sạch của ta cũng như của các đức Phật quá khứ. Ðúng như lời ta dạy gọi là Phật nói, trái lại là Thiên Ma Ba Tuần nói. *

D. Ðoạn trừ vọng ngữ: A Nan, nếu các chúng sanh, đã giữ hoàn toàn ba hạnh trên là không sát, đạo, dâm rồi mà còn đại vọng ngữ, thì tâm cũng không thanh tịnh, mất hột giống Phật, thành ma ái kiến.

(59)- Thế nào là đại vọng ngữ? Nghĩa là chưa đặng đạo nói mình đặng đạo, chưa chứng quả nói mình chứng quả. Ðối với người đời, nói: “Ta đã chứng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật”, để trông cầu người lạy cúng. Những người nói dối như thế, làm tiêu diêu hột giống Phật, sẽ đọa vào trong bể khổ. Cũng như cây Ða la khi bị chặt đứt đọt rồi (như cây cau xứ ta) thì không thể mọc chồi đâm tược được.

(60)- A Nan, ta có dạy các vị Bồ tát và A La Hán: “Sau khi ta diệt độ rồi, các ông phải thị hiện thân hình, trong đời mạt pháp để cứu độ các chúng sanh đang trầm luân, làm thầy sa môn, cư sĩ, vua, quan, đồng nam, đồng nữ, cho đến hiện đàn bà góa, kẻ dâm nữ, người gian giảo, kẻ trộm cướp, người hàng thịt, kẻ buôn bán, để lẫn lộn trong từng lớp người, chung một nghề nghiệp, đặng giáo hóa chúng sanh trở về chánh đạo”. Nhưng các vị ấy quyết chẳng bao giờ nói: “Ta đây thật là Bồ tát hoặc A La Hán v.v.” hay tỏ ra một vài cử chỉ gì làm tiết lộ sự bí mật, để cho người ta biết mình là Thánh nhơn thị hiện. Chỉ trừ sau khi mạng chung rồi, các vị ấy mới âm thầm để lại một vài di tích cho người biết thôi.

 

Nguyên Thảo,

27/09/2026.


Friday, September 11, 2026

*Vấn Đề X: Đức Phật thuyết Về Chơn Tâm Và Ngộ! (TT)


2- Cũng trong Kinh Lăng Nghiêm ghi lại, Đức Phật còn chỉ cho chúng ta thấy sự triền phượt của cái thân thể Tứ Đại mà chúng sinh mượn lấy, cùng với các yếu tố nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần khác đã trói buộc, che khuất khiến chúng sinh phải lăn lộn trong những mưu cầu, cung ứng cho đời sống khiến chúng sinh tạo nghiệp để phải trôi nổi trong vòng vay trả trả vay (vòng Luân hồi) không bao giờ dứt như đoạn sau:

- Xét lại trong thân ông, những vật cứng dẻo (da, thịt, gân, xương) là đất; những vật đượm ướt (máu, huyết, mồ hôi, mỡ) là nước; chất ấm, nóng trong người thuộc về lửa; những vật lưu động (hơi thở ra vào) là thuộc về gió. Do bốn món này nó phiền phược và phân chia cái chơn tâm của ông, thành ra có thấy, nghe, hay, biết, từ thì chí chung năm lớp ngầu đục (ngũ trược).

Vì thế, Đức Phật chỉ con đường để chúng sinh chọn đúng mà tu hành:

- A Nan! Nay ông muốn cho cái thấy, nghe, hay, biết (các giác quan) trở lại để hiệp với bốn đức Niết bàn của Như Lai: thường, lạc, ngã, tịnh, thì trước ông phải lựa ra cái gốc rễ sanh tử (vọng tâm) và y theo chơn tâm thanh tịnh viên mãn bất sanh bất diệt làm nhơn địa tu hành.

- Ông nên hiểu: hiện tiền sáu căn của ông đây: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, chúng làm mai mối cho sáu giặc (sáu thức), đến cướp giựt của báu nhà ông. Bởi thế nên các ông cùng tất cả chúng sanh, từ vô thỉ đến nay bị triền phược trong vòng luân hồi, không vượt ra ngoài ba cõi được.

-Các ông hãy xoay cái hư vọng sanh diệt trở lại chơn tâm thanh tịnh không sanh diệt; phải lấy chơn tâm không sanh diệt này làm nhơn địa tu hành, thì sau mới chứng được quả Phật thường trụ.

Cách tu hành cũng như lóng nước. Nước đục để yên tịnh trong một cái bình, để lâu thì những bụi cát từ từ chìm lặn, mà nước trong hiện ra; hễ càng yên tịnh thì nước càng trong. Ðây là dụ cho giai đoạn thứ nhứt, khi mới hàng phục được phiền não khách trần (phiền não vừa lặng). Ðến chừng lọc bỏ cặn đục chỉ còn toàn là nước trong, là dụ cho giai đoạn thứ hai, khi đã đoạn trừ căn bản vô minh.

Ðến khi chỉ còn hoàn toàn là nước trong, thì dù lắc cho mấy nó cũng vẫn trong. Còn khi đoạn được căn bản vô minh, chỉ còn chơn tâm thanh tịnh hiện tiền, lúc bấy giờ dầu có tạo tác thi vi làm đủ mọi việc, song cũng đều là chơn, vẫn hiệp với đức tánh thanh tịnh mầu nhiệm của Niết bàn, không còn bị phiền não nhiễu loạn.

Đặc biệt nhất là trong đoạn Kinh sau:

- Chỉ sáu căn của ông không theo sáu trần cảnh khởi vọng niệm phân biệt, tùy ông mở gút (vọng nhiễm) được một căn nào thì các căn đều được giải thoát. Nghĩa là ngoài không cùng với trần cảnh gút chặt, trong thâu phục phiền não trở lại với chơn tâm sáng suốt, thì năm căn bị gút chặt kia cũng đều được hoàn toàn giải thoát. Lúc bấy giờ sáu căn tự tại, thay nhau cần dùng, các giác quan: thấy, nghe, hay, biết, không còn bị cuộc hạn nơi các căn: mắt, tai, mũi, lưỡi v.v... chỉ nương các căn phát ra tác dụng; không cần có trần cảnh đối chiếu mà cũng vẫn thấy, nghe, hay, biết.

Ở đoạn nầy, Đức Phật nói rõ: “Chỉ sáu căn của ông không theo sáu trần cảnh khởi vọng niệm phân biệt, tùy ông mở gút (vọng nhiễm) được một căn nào thì các căn đều được giải thoát”. Như vậy, với những giác quan dính líu với trần cảnh, không nhất thiết phải dứt hết tất cả sáu căn mà chỉ cần “một” mà thôi. Dứt được “một” thì tất cả sẽ được hoàn toàn giải thoát. Tiếp theo, Đức Phật lại chỉ rõ hơn về cái tầm quan trọng của các “căn” của chúng sinh trong việc “tìm về giác ngộ” như các đoạn sau:

- Vì cứ nương theo vọng niệm phân biệt, chẳng nương theo chơn tâm thường trụ, cho nên đời đời nhiễm ô, trôi lăn trong vòng sanh tử. Vậy các ông phải bỏ cái vọng niệm sanh diệt, theo về với chơn tâm thường trụ. Khi chơn tâm thanh tịnh sáng suốt hiện tiền rồi, thì căn thân, trần cảnh và vọng thức tức thời tiêu diệt. Cảnh vọng trần và tâm cấu nhiễm đã tiêu rồi, lúc bấy giờ lo gì chẳng thành quả Phật vô thượng.

- Này A Nan, khiến cho các ông nhiều kiếp sanh tử luân hồi, chỉ vì sáu căn mà làm cho các ông chứng được đạo quả Bồ đề an vui giải thoát, cũng chỉ vì sáu căn của các ông mà thôi.

- A Nan, vì có trần cảnh, nên ở nơi căn mới khởi ra phân biệt. Vì đã có cái năng phân biệt ở nơi căn, nên mới hiện ra cái tướng bị phân biệt là cảnh. Căn (kiến) và cảnh (tướng) đối đãi nhau vọng hiện, chớ không thật có (vô tánh). Cũng như hình cây lau gác nhau.

- Thế nên, khi thấy, nghe, hay, biết, mà khởi vọng niệm phân biệt, đó là gốc vô minh. Còn khi thấy, nghe, hay, biết mà không khởi vọng niệm phân biệt, đó là Niết bàn. Ở trong chơn tâm thanh tịnh, không có dung chứa vật gì cả.

Sau đó thì Kinh đề cập đến các vị A-La-Hán được chứng quả bạch Phật về những pháp tu của mình thông qua 6 căn, 6 trần và 6 thức; cùng với 7 Đại (Đất, Lửa, Gió, Nước, Hư không, Thức đại và Kiến đại). Và riêng ở vài đoạn khác, Đức Phật thuyết về phương pháp “Nhĩ căn viên thông” như sau:

- Bạch Thế Tôn, như lời Ngài Quán Thế Âm nói: “Ngài ở chỗ thanh vắng, mười phương đồng đánh trống, nhứt thời dồng được nghe”; nên duy có nhĩ căn (tai nghe) mới được viên thông. Mắt xem còn bị cách ngại; miệng, mũi, thân và ý cũng không bằng, chỉ có nhĩ căn là hơn hết. Mặc dầu bị cách vách, hay tiếng ở xa gần, tai đều nghe được cả, nên nhĩ căn mới thật là viên thông.

Âm thanh khi có, khi không, còn cái nghe lúc nào cũng có. Khi không có tiếng, thế gian nói rằng: “không nghe”; thật ra chẳng phải “cái nghe” không có. Không tiếng, cái nghe không diệt; có tiếng, cái nghe cũng không sanh. Bởi cái nghe không có sanh và diệt, nên nó mới thật là thường.

- A Nan, cái “nghe” nó không phải tự nhiên sanh, do có tiếng (thinh trần) nên mới gọi rằng “nghe”. Nếu xoay cái nghe trở vào tự tánh, không chạy theo tiếng, thế là thoát ly được cái tiếng (thinh trần) lúc bấy giờ cái nghe này cũng không còn gọi tên là nghe nữa (vì không còn đối đãi, nên chẳng có tên kêu gọi). Một căn (lỗ tai) đã được phản vọng trở về chơn rồi, thì cả sáu căn cũng đều được giải thoát.

 - Khi tâm hoàn toàn thanh tịnh rồi, thí cái trí quang sáng suốt hiện ra. Lúc bấy giờ chơn tâm ông vừa tịch tịnh lại vừa chiếu soi, bao trùm khắp cả mười phương hư không thế giới, lúc bấy giờ ông trở lại xem cảnh vật hiện tiền ở thế gian này, cũng như là việc trong chiêm bao. Khi ông được như thế rồi thì nàng Ma đăng già ở trong mộng kia làm gì bắt ông được!

 - A Nan, ông chỉ xoay cái nghe của mình trở về chơn tánh, không chạy theo phân biệt vọng trần bên ngoài, thì ông liền thành đạo vô thượng, đây thật là pháp tu viên thông.

Các đức Phật nhiều như số vi trần cũng đều do một con đường này mà đến cửa Niết bàn. Hiện tại các vị Bồ tát và những người tu hành đời sau, đều y pháp môn này mà thành đạo. Chính tôi cũng nhờ pháp môn này mà được chứng quả, đâu phải một mình Ngài Quán Thế Âm tu mà thôi.

Nay Phật dạy cho con lựa pháp môn tu hành, để cho người đời sau tu hành mau thành đạo quả, thì duy có pháp tu của Ngài Quán Thế Âm là hơn hết. Còn bao nhiêu các pháp tu hành khác, đều nhờ oai thần của Phật gia hộ mới được thành tựu. Các pháp ấy đều từ nơi sự tướng mà dẹp trừ trần lao, nên không phải là một phương pháp trường kỳ tu tập.

 

Nguyên Thảo,

12/09/2026. 

Friday, September 4, 2026

*Vấn Đề X: Đức Phật thuyết Về Chơn Tâm Và Ngộ!

 

Trong phần trước, qua phần trích xuất các đoạn của Kinh Lăng Nghiêm, đã thấy Đức Phật phân tích cho chúng ta biết phân biệt thế nào là cái Chơn Tâm và Vọng Tâm, và từ đó người muốn tu hành tìm thấy cái chính đáng để mình theo đuổi nhằm đạt đến mục đích sau cùng. Trong phần nầy, chúng ta cố gắng thông qua các đoạn Kinh tiếp theo hầu có thể tiếp nhận được các kiến thức mà Ngài nói về vấn đề “ngộ được đạo” như thế nào.

Trước hết ta đi vào đoạn Kinh sau:

- “Còn ta (Phật) thì trái với vọng trần, hiệp với chơn tâm thường trụ bất sanh bất diệt, biến khắp cả pháp giới. Cho nên ta mới được tự tại vô ngại: Ở trong một hiện ra vô lượng, vô lượng hiệp làm một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ; không rời nơi đạo tràng mà hiện khắp cả mười phương thế giới. Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận. Trên đầu một mảy lông hiện ra các cõi nước; ngồi trong hạt bụi, mà chuyển đại pháp luân. Vì ta diệt hết vọng trần, trở lại với bản tâm thanh tịnh sáng suốt, nên mới được như vậy”.

Ở đây, chúng ta thấy Đức Phật phát họa một hình ảnh của Đức Phật khi thành đạo sẽ như thế nào, lúc ấy Phật hiệp với Chơn Tâm không còn sinh, diệt và ở khắp cả Pháp Giới tức vũ trụ bao la, do đó mà ta thường thấy ý “Đức Phật đi khắp tam thiên đại thiên thế giới chỉ trong một niệm” trong các Kinh. Không những thế, mà Ngài còn cho chúng ta biết “Ở trong một hiện ra vô lượng, vô lượng hiệp làm một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ; không rời nơi đạo tràng mà hiện khắp cả mười phương thế giới. Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận”. Rồi lại đến một sự mầu nhiệm khác: “Trên đầu một mảy lông hiện ra các cõi nước; ngồi trong hạt bụi, mà chuyển đại pháp luân”. Vì sao? Vì Ngài đã diệt hết “Vọng trần, trở về với bản tâm thanh tịnh sáng suốt” nên mới được như vậy! Những điều ấy nếu với ngày xưa thì ta khó tưởng tượng ra được, nhưng với hình ảnh ngày nay ta có thể thấy được, giả sử ta đang xem truyền hình thì trên màn ảnh đang chiếu hình ảnh khu nhà đẹp đẽ, xong họ chiếu hình ảnh xa hơn là khu vực rồi lại đến quốc gia, và hình ảnh đi xa hơn nữa là trái đất, rồi đến thiên hà và cuối cùng nhỏ dần thành một điểm nhỏ mà ta có thể để trên đầu một ngọn lông. Trong điểm đó bao gồm cái vũ trụ bao la của vô số thiên hà. Cái hình ảnh Đức Phật diễn tả cũng giống như vậy

Và để hiểu rõ hơn về “Cái cõi” mà Đức Phật nói là “Pháp Giới”, tức là cái cõi “hư không vô tận”, “vũ trụ vô biên” đó ra sao, như thế nào thì đoạn sau cho chúng ta hiểu nhiều hơn về các danh từ được dùng trong giáo lý Đạo Phật khi Ngài A Nan bạch với Phật:

“- Bạch Thế tôn! Bồ đề, Niết bàn, Chơn như, Pháp tánh, Yêm ma la thức, Không Như Lai tạng và Ðại viên cảnh trí, bảy danh từ tuy khác, chớ cũng đồng một quả Phật thanh tịnh thường còn không hoại”.

Điều nầy cho chúng ta hiểu rõ hơn về các danh từ mà từ lâu nay khiến mọi người lầm tưởng là mọi cảnh giới ấy đều khác nhau, nhưng thực ra chỉ là một nhưng chúng được sử dụng tùy theo từng trường hợp để cho thích hợp mà thôi, giả sử khi giác ngộ thì là Bồ Đề; khi chết thì nhập Niết Bàn; khi nói về tổng quát của chúng sinh thì là Chơn Như, Chơn Tâm; khi nói về “chất lõi” của chúng sinh để giác ngộ là “Pháp tánh”; nơi dung chứa Như Lai là Hư Không tức là Không Như Lai Tạng; đôi lúc lại là Pháp Giới…

Ở một đoạn khác, Đức Phật cho biết về Chơn Tâm lại là điều như sau:

- “Phật dạy: Chơn tâm này, cũng tức tất cả pháp; tức là tâm; tức là đất, nước, gió, lửa và hư không; tức là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý; tức là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; tức là nhãn thức giới cho đến ý thức giới; tức Tứ đế; tức Thập nhĩ nhân duyên; tức là Lục độ; tức là Phật và bốn đức Niết bàn. Nói tóm lại, chơn tâm tức là tất cả pháp thế gian và xuất thế gian”.

Tại sao thế? Vì trong Chơn Tâm có Tâm của chúng sinh, vốn tự nó là “Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu”, nhưng vì do “không biết” (Vô Minh), nên đã mượn đến Tứ Đại (Đất, Lửa, Gió, Nước) để kết làm cái thân xác cho mình. Cái thân xác ấy vừa che lấp cái “bản giác minh diệu”, đồng thời có nhiều nhu cầu đòi hỏi chúng sinh phải đáp ứng cho thân xác ấy như ăn uống, đối phó nóng lạnh của thời tiết và nhiều nhu cầu về vật lý, cũng như tinh thần khác do nơi cảm nhận của các giác quan. Vì vậy, chúng là những nguyên nhân khiến chúng sinh tạo nghiệp mà phải “vay trả, trả vay” trong Vòng Luân Hồi mà chúng ta biết đó là những Pháp Nhập Thế Gian. Khi tỉnh ngộ, chán chường bèn quay trở về để tránh tạo nghiệp thì người ta tìm thấy được Tứ Đế; hiểu được Thập Nhị Nhân Duyên, rồi chọn cho mình con đường Lục Độ để trở về với Phật và Nhập Niết Bàn thì đó chính là những Pháp Xuất Thế Gian; cho nên Chơn Tâm chính là “Tất cả Pháp Thế Gian và Xuất thế Gian”! Vì vậy mà Đức Phật dẫn chứng, giải thích “Chơn Tâm là “Tức” mà cũng là “Phi Tức”. Điều ấy chỉ có các vị Phật mới biết: Ấy là những “Tri kiến Phật”, cho nên Đức Phật mới thuyết”:

- “Phú Lâu Na, cái chơn tâm này lại rời tất cả “tức” và “phi”, mà cũng là “tức” và “phi tức”. Chơn tâm như thế, thì từ kẻ phàm phu cho đến các vị thánh: Thinh văn, Duyên giác, làm sao lấy tâm trí suy nghĩ cho đến đạo vô thượng bồ đề của Như lai, hay dùng lời nói luận bàn của thế gian mà ngộ nhập chỗ tri kiến của Phật cho được”?

Trong một đoạn khác, Đức Phật giải thích cho Ngài Phú Lâu Na về cái vọng niệm như sau:

“Phật dạy: Như lời ông nói: “Nếu nó không sáng suốt chiếu soi (phân biệt) thì không phải là tâm, vì nó không phân biệt được cái gì cả”. Vậy ông có hiểu chăng: nếu có chiếu soi phân biệt, thì không phải là chơn (vì có năng phân biệt thì phải có bị phân biệt), còn không có chiếu soi phân biệt, thì chắng phải là tâm. Nếu tâm mà không sáng suốt thì không phải là chơn tâm thanh tịnh rồi. Ông nên hiểu: Chơn tâm vẫn sáng suốt, vì ông vọng chấp cái “sáng suốt phân biệt” làm tâm, nên thành ra có năng phân biệt (tâm) và bị phân biệt (cảnh). Chơn tâm của ông không phải cái “bị phân biệt”, nhưng vì ông khởi ra cái “năng phân biệt”, nên nó (chơn tâm) trở lại thành cái “bị phân biệt” (cảnh). Ðã vọng thành cái “bị phân biệt”, cố nhiên ở nơi ông phải vọng sanh ra cái “năng phân biệt”. Thế là ở nơi chơn tâm của ông vẫn thanh tịnh không có năng và sở, mà thoạt nhiên thành ra có năng và sở” (vô đồng dị trung, xí nhiên thành dị)

Từ cái “Vọng Niệm, Vọng Tưởng”, Đức Phật liên kết đến sự “Mê” nhiều đời, nhiều kiếp như sau:

-“Phật dạy: Cũng vậy đó, ông Phú Lâu Na. Ðã nói là “vọng” thì đâu có sở nhơn, còn có sở nhơn thì không phải là vọng. Các vọng tưởng tự nó nhơn nhau liên tiếp phát sanh; từ đời này đã mê rồi chất chứa thêm cái mê, cho đến nhiều kiếp. Ta đã nhiều lần chỉ dạy, mà các ông hãy còn chưa ngộ trở lại”.

- “Này Phú Lâu Na, cái “mê” như vậy đó, nhơn mê tự có? Nếu người biết được cái “mê” ấy không nguyên nhân, thì cái “mê vọng” đó không còn gá nương vào đâu nữa. Lúc bấy giờ dầu muốn cho nó sanh còn không thể được, huống chi muốn diệt”.

Thế rồi, Đức Phật thuyết tiếp cho Ngài Phú Lâu Na hiểu hơn về sự dứt được Vọng Niệm, vọng tưởng qua các đoạn Kinh sau:

- “Các ông nên biết: người đặng đạo Bồ đề rồi (ngộ chơn tâm), cũng như người thức giấc mộng, mà muốn nói lại việc chiêm bao; mặc dầu trong tâm nhớ biết rõ ràng, nhưng không làm sao chỉ các vật trong chiêm bao ra được, vì nó không thật có, vả lại nó cũng không có nguyên nhân nữa. Cũng như chàng Diễn Nhã Ðạt Ða, tự sợ cái đầu của mình, rồi nổi cuồng vụt chạy, chớ không có sở nhơn gì cả”.

- “Này Phú Lâu Na, các ông khi đối với trần cảnh (thế giới, chúng sanh, nghiệp quả) chỉ đừng có khởi vọng niệm phân biệt, thì tham, sân, si (ba duyên) không khởi. Ba duyên không khởi, thời ba nhơn sát, đạo, dâm chẳng sanh. Lúc bấy giờ anh khùng Diễn Nhã Ðạt Ða (mê) ở trong tâm các ông tự hết, mà hết tức là Bồ đề (sáng suốt). Khi ấy chơn tâm của ông thanh tịnh sáng suốt tự hiện bày, khắp cả pháp giới, không cần phải cực nhọc khó khăn tu chứng, hay xin cầu nơi ai cả”.

- “Thế nên Ta nói: “Ba duyên: tham, sân, si đoạn hết, tức là tâm Bồ đề”. Nếu cái “vọng tâm sanh diệt kia diệt, mà tâm Bồ đề sanh”, như thế cũng còn ở trong vòng sanh diệt. Phải diệt và sanh đều hết, mới được vô công dụng đạo” (chỗ cứu cánh).

- “Nếu các ông dùng cái vọng tâm sanh diệt làm nhơn tu hành, mà mong cầu cho đặng quả Phật, thường còn không sanh diệt thì không thể được. Ðây là điều quyết định thứ nhứt”.

 

Nguyên Thảo,

05/09/2026.