2- Cũng trong Kinh Lăng Nghiêm ghi lại, Đức Phật còn chỉ cho chúng ta thấy sự triền phượt của
cái thân thể Tứ Đại mà chúng sinh mượn lấy, cùng với các yếu tố nhu cầu về vật
chất lẫn tinh thần khác đã trói buộc, che khuất khiến chúng sinh phải lăn lộn trong
những mưu cầu, cung ứng cho đời sống khiến chúng sinh tạo nghiệp để phải trôi nổi
trong vòng vay trả trả vay (vòng Luân hồi) không bao giờ dứt như đoạn sau:
- Xét lại trong thân ông, những vật cứng
dẻo (da, thịt, gân, xương) là đất; những vật đượm ướt (máu, huyết, mồ hôi, mỡ)
là nước; chất ấm, nóng trong người thuộc về lửa; những vật lưu động (hơi thở ra
vào) là thuộc về gió. Do bốn món này nó phiền phược và phân chia cái chơn
tâm của ông, thành ra có thấy, nghe, hay, biết, từ thì chí chung năm lớp ngầu đục
(ngũ trược).
Vì thế, Đức Phật chỉ con đường để chúng
sinh chọn đúng mà tu hành:
- A Nan! Nay ông muốn cho cái thấy,
nghe, hay, biết (các giác quan) trở lại để hiệp với bốn đức Niết bàn của Như
Lai: thường, lạc, ngã, tịnh, thì trước ông phải lựa ra cái gốc rễ sanh tử (vọng
tâm) và y theo chơn tâm thanh tịnh viên mãn bất sanh bất diệt làm nhơn địa tu
hành.
- Ông nên hiểu: hiện tiền sáu căn của
ông đây: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, chúng làm mai mối cho sáu giặc (sáu thức),
đến cướp giựt của báu nhà ông. Bởi thế nên các ông cùng tất cả chúng sanh, từ
vô thỉ đến nay bị triền phược trong vòng luân hồi, không vượt ra ngoài ba cõi
được.
-Các ông hãy xoay cái hư vọng sanh diệt
trở lại chơn tâm thanh tịnh không sanh diệt; phải lấy chơn tâm không sanh diệt
này làm nhơn địa tu hành, thì sau mới chứng được quả Phật thường trụ.
Cách tu hành cũng như lóng nước. Nước đục
để yên tịnh trong một cái bình, để lâu thì những bụi cát từ từ chìm lặn, mà nước
trong hiện ra; hễ càng yên tịnh thì nước càng trong. Ðây là dụ cho giai đoạn thứ
nhứt, khi mới hàng phục được phiền não khách trần (phiền não vừa lặng). Ðến chừng
lọc bỏ cặn đục chỉ còn toàn là nước trong, là dụ cho giai đoạn thứ hai, khi đã
đoạn trừ căn bản vô minh.
Ðến khi chỉ còn hoàn toàn là nước trong, thì
dù lắc cho mấy nó cũng vẫn trong. Còn khi đoạn được căn bản vô minh, chỉ còn
chơn tâm thanh tịnh hiện tiền, lúc bấy giờ dầu có tạo tác thi vi làm đủ mọi việc,
song cũng đều là chơn, vẫn hiệp với đức tánh thanh tịnh mầu nhiệm của Niết bàn,
không còn bị phiền não nhiễu loạn.
Đặc biệt nhất là trong đoạn Kinh sau:
- Chỉ sáu căn của ông không theo sáu trần
cảnh khởi vọng niệm phân biệt, tùy ông mở gút (vọng nhiễm) được một căn nào thì
các căn đều được giải thoát. Nghĩa là ngoài không cùng với trần cảnh gút chặt,
trong thâu phục phiền não trở lại với chơn tâm sáng suốt, thì năm căn bị gút chặt
kia cũng đều được hoàn toàn giải thoát. Lúc bấy giờ sáu căn tự tại, thay nhau cần
dùng, các giác quan: thấy, nghe, hay, biết, không còn bị cuộc hạn nơi các căn:
mắt, tai, mũi, lưỡi v.v... chỉ nương các căn phát ra tác dụng; không cần có trần
cảnh đối chiếu mà cũng vẫn thấy, nghe, hay, biết.
Ở đoạn nầy, Đức Phật nói rõ: “Chỉ sáu căn của ông không theo sáu trần cảnh khởi vọng
niệm phân biệt, tùy ông mở gút (vọng nhiễm) được một căn nào thì các căn đều được
giải thoát”. Như vậy,
với những giác quan dính líu với trần cảnh, không nhất thiết phải dứt hết tất cả
sáu căn mà chỉ cần “một” mà thôi. Dứt được “một” thì tất cả sẽ được hoàn toàn
giải thoát. Tiếp theo, Đức Phật lại chỉ rõ hơn về cái tầm quan trọng của các “căn”
của chúng sinh trong việc “tìm về giác ngộ” như các đoạn sau:
- Vì cứ nương theo vọng niệm phân biệt,
chẳng nương theo chơn tâm thường trụ, cho nên đời đời nhiễm ô, trôi lăn trong
vòng sanh tử. Vậy các ông phải bỏ cái vọng niệm sanh diệt, theo về với chơn tâm
thường trụ. Khi chơn tâm thanh tịnh sáng suốt hiện tiền rồi, thì căn thân, trần
cảnh và vọng thức tức thời tiêu diệt. Cảnh vọng trần và tâm cấu nhiễm đã tiêu rồi,
lúc bấy giờ lo gì chẳng thành quả Phật vô thượng.
- Này A Nan, khiến cho các ông nhiều kiếp
sanh tử luân hồi, chỉ vì sáu căn mà làm cho các ông chứng được đạo quả Bồ đề an
vui giải thoát, cũng chỉ vì sáu căn của các ông mà thôi.
- A Nan, vì có trần cảnh, nên ở nơi căn
mới khởi ra phân biệt. Vì đã có cái năng phân biệt ở nơi căn, nên mới hiện ra
cái tướng bị phân biệt là cảnh. Căn (kiến) và cảnh (tướng) đối đãi nhau vọng hiện,
chớ không thật có (vô tánh). Cũng như hình cây lau gác nhau.
- Thế nên, khi thấy, nghe, hay, biết,
mà khởi vọng niệm phân biệt, đó là gốc vô minh. Còn khi thấy, nghe, hay, biết
mà không khởi vọng niệm phân biệt, đó là Niết bàn. Ở trong chơn tâm thanh tịnh,
không có dung chứa vật gì cả.
Sau đó thì Kinh đề cập đến các vị A-La-Hán
được chứng quả bạch Phật về những pháp tu của mình thông qua 6 căn, 6 trần và 6
thức; cùng với 7 Đại (Đất, Lửa, Gió, Nước, Hư không, Thức đại và Kiến đại). Và
riêng ở vài đoạn khác, Đức Phật thuyết về phương pháp “Nhĩ căn viên thông” như
sau:
- Bạch Thế Tôn, như lời Ngài Quán Thế
Âm nói: “Ngài ở chỗ thanh vắng, mười phương đồng đánh trống, nhứt thời dồng được
nghe”; nên duy có nhĩ căn (tai nghe) mới được viên thông. Mắt xem còn bị cách
ngại; miệng, mũi, thân và ý cũng không bằng, chỉ có nhĩ căn là hơn hết. Mặc dầu
bị cách vách, hay tiếng ở xa gần, tai đều nghe được cả, nên nhĩ căn mới thật là
viên thông.
Âm thanh khi có, khi không, còn cái nghe
lúc nào cũng có. Khi không có tiếng, thế gian nói rằng: “không nghe”; thật ra
chẳng phải “cái nghe” không có. Không tiếng, cái nghe không diệt; có tiếng, cái
nghe cũng không sanh. Bởi cái nghe không có sanh và diệt, nên nó mới thật là
thường.
- A Nan, cái “nghe” nó không phải tự
nhiên sanh, do có tiếng (thinh trần) nên mới gọi rằng “nghe”. Nếu xoay cái nghe
trở vào tự tánh, không chạy theo tiếng, thế là thoát ly được cái tiếng (thinh
trần) lúc bấy giờ cái nghe này cũng không còn gọi tên là nghe nữa (vì không còn
đối đãi, nên chẳng có tên kêu gọi). Một căn (lỗ tai) đã được phản vọng trở về
chơn rồi, thì cả sáu căn cũng đều được giải thoát.
- Khi tâm hoàn toàn thanh tịnh rồi, thí cái trí quang sáng suốt hiện ra. Lúc bấy giờ chơn tâm ông vừa tịch tịnh lại vừa chiếu soi, bao trùm khắp cả mười phương hư không thế giới, lúc bấy giờ ông trở lại xem cảnh vật hiện tiền ở thế gian này, cũng như là việc trong chiêm bao. Khi ông được như thế rồi thì nàng Ma đăng già ở trong mộng kia làm gì bắt ông được!
- A Nan, ông chỉ xoay cái nghe của mình trở về chơn tánh, không chạy theo phân biệt vọng trần bên ngoài, thì ông liền thành đạo vô thượng, đây thật là pháp tu viên thông.
Các đức Phật nhiều như số vi trần cũng đều
do một con đường này mà đến cửa Niết bàn. Hiện tại các vị Bồ tát và những người
tu hành đời sau, đều y pháp môn này mà thành đạo. Chính tôi cũng nhờ pháp môn
này mà được chứng quả, đâu phải một mình Ngài Quán Thế Âm tu mà thôi.
Nay Phật dạy cho con lựa pháp môn tu
hành, để cho người đời sau tu hành mau thành đạo quả, thì duy có pháp tu của
Ngài Quán Thế Âm là hơn hết. Còn bao nhiêu các pháp tu hành khác, đều nhờ oai
thần của Phật gia hộ mới được thành tựu. Các pháp ấy đều từ nơi sự tướng mà dẹp
trừ trần lao, nên không phải là một phương pháp trường kỳ tu tập.
Nguyên Thảo,
12/09/2026.
No comments:
Post a Comment