Giống như phân tích để chứng minh “Đất” từ Chơn Tâm biến hiện, Đức Phật cũng chỉ rõ các yếu tố khác là Lửa, Nước,
Gió, Hư Không, các Giác Quan, và các Thức, cũng từ Chơn Tâm biến hiện:
- A-Nan, ông nên biết: hiện tiền tánh của
năm đại: đất, nước, gió, lửa và hư không vốn viên dung khắp giáp, không lay động,
đều là chơn tâm cả, không có sanh và diệt. Chỉ tại các ông mê muội không biết
mà thôi.
- Thấy, nghe, hay, biết sáu giác quan kể
là một, cùng với hư không và bốn đại, thành ra sáu đại, tánh nó viên dung vốn không
lay động, đồng một thể chơn tâm, không sanh không diệt, thế gian vì mê lầm
không biết, sanh tâm phân biệt, chấp cho nhân duyên sanh, hoặc tự nhiên có đều
không đúng cả.
- Các ông không biết trong chơn tâm, tánh
của thức là tâm, tâm mới thật là thức (chơn thức), nó nhiệm mầu yên lặng, sáng
suốt, khắp giáp cả pháp giới, hàm chứa và sanh ra mười phương hư không thế giới,
chỉ tùy theo nghiệp của chúng sanh mà hiện ra, không có phương hướng xứ sở. Thế
gian không biết, khởi thức tâm phân biệt chấp trước, cho là nhân duyên sanh hoặc
tự nhiên có v.v... đều không đúng cả.
- Các ông nên biết: đất, nước, gió, lửa
hư không, cái thấy và thức tâm gọi chung là bảy đại, tánh của nó đều là chơn
tâm viên mãn khắp giáp tất cả, vốn không sanh diệt. Các ông vì mê muội nên
không biết.
- Khi ấy A-Nan và đại chúng nhờ Phật chỉ
dạy rất cặn kẽ, nên mỗi người đều ngộ được chơn tâm của mình rộng lớn khắp cả
mười phương hư không. Lúc bấy giờ ông lại thấy cả mười phương thế giới rất nhỏ
hẹp và rõ ràng cũng như một lá cây cầm trong tay. Tất cả các cảnh vật sum-la
vạn-tượng trong thế gian này, đều ở trong chơn tâm; chơn tâm bao trùm khắp giáp
cả mười phương thế giới. Khi ấy ông xem trở lại cái thân do cha mẹ sanh
đây, thật nhỏ nhen làm sao! Như một hạt bụi nhỏ ở trong mười phương hư-không,
dù còn, dù mất cũng không thấm vào đâu và cũng như một hòn bọt nhỏ, nổi ở trong
bể cả rộng khơi, dầu sanh dầu diệt cũng không nhằm gì.
- Phật day: Này Phú Lâu Na, như lời ông hỏi:
“Chơn tâm đã vốn thanh tịnh, tại sao lại sanh ra sơn hà đại địa, thế giới và
chúng sanh”. Vậy ông có thường nghe ta nói: “Chơn tâm nhiệm-mầu vắng-lặng mà
thường sáng suốt chiếu soi” không? (Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu)
- Từ một thể chơn tâm không khác, vì vọng
niệm phân biệt, có năng sở, bỉ thử sai khác, nên hiện ra có hư không và thế giới.
Nhơn có hư không thế giới nên mới có chúng sanh. Ðã có thế giới và chúng sanh
lăng xăng đối đãi nhau, nên khởi lên vô số vọng tưởng phân biệt: tốt, xấu, phải,
chẳng v.v... Vì thế mà sanh ra đủ các phiền não trần lao nhiễm ô. Cái có hình
tướng và sanh diệt là thế giới, cái không hình tướng và yên tịnh là hư không;
khác với hư không, thế giới là chúng sanh vậy.
- Tóm lại, vì ở trong tâm chúng sanh, các
vọng tưởng xen nhau phát sanh, nên ứng hiện ra ngoài thế giới có các cảnh vật.
Bởi nhân duyên này mà thế giới nối nhau sanh mãi không dứt.
Cũng trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật lại
chỉ rõ hơn bằng cách nào sinh ra vũ trụ và thế giới. Đầu tiên là vì do “Vô Minh”
vọng động mà từ nơi Chơn Tâm sinh ra Hư Không. Hư Không mờ mịt vì vọng, nhưng có
chất động là gió để duy trì thế giới. Lại vì tánh cố chấp, phân biệt mà ứng hiện
ra các chất cứng như vàng ngọc, kim loại; rồi do sự vọng động tạo thêm gió thổi
kim khí, cọ xát mãi nóng lên tạo lửa, ánh sáng. Lửa xông lên, nên có hơi nước rịn
ra, đó là nguyên nhân có nước bao bọc. Lửa thì bốc lên cao tạo thành núi cao
(do vậy khi đập đá thì có lửa, mà nung quá nóng thì chảy thành chất lỏng, nước);
nước thì chảy xuống chỗ thấp nên tạo sông biển, cồn đảo. Nước rút vào đất tạo
thành cây cỏ (nếu đốt chúng thành tro, đất; ép chúng thì lại ra nước).
Đó là khái niệm mà Đức Phật giải thích về
nguyên nhân tạo ra vũ trụ, nhưng trong Kinh Hoa Nghiêm lại cho ta khái niệm rõ
hơn qua Phẩm “Thế Giới Thành Tựu” như sau:
-Lúc đó Phổ-Hiền Bồ-Tát lại bảo đại-chúng rằng:
‘Chư Phật-tử! Thế-giới-hải có nhiều hình tướng sai khác, hoặc tròn, hoặc vuông,
hoặc chẳng phải tròn vuông, hoặc hình như nước xoáy (có phải chăng là các galaxy thiên hà mà chúng ta biết theo
khoa học ngày nay?), hoặc hình như núi, hoặc
hình như cây, hình như bông, hoặc hình như cung điện, như hình chúng-sanh, như
hình Phật, có thế-giới vi-trần-số hình sai khác như vậy.
- Lúc đó Phổ-Hiền Bồ-Tát lại bảo đại-chúng rằng:
‘Chư Phật-tử! mỗi mỗi thế-giới-hải có thế-giới-hải vi-trần-số chỗ nương trụ. Hoặc
nương tất cả trang-nghiêm mà trụ. Hoặc nương hư-không mà trụ. Hoặc nương bửu-quang-minh
mà trụ. Hoặc nương bửu-sắc quang-minh mà trụ. Hoặc nương thinh-âm chư Phật mà
trụ. Hoặc nương Kim-Cang hình đại-lực a-tu-la chúng-sanh như huyễn mà trụ. Hoặc
nương thân các Thế-Chủ mà trụ. Hoặc nương thân chư Bồ-Tát mà trụ. Hoặc nương tất
cả biển trang-nghiêm sai khác hạnh-nguyện Phổ-Hiền mà trụ.
Tiếp theo, Kinh Lăng Nghiêm cho thấy Đức Phật còn
cho chúng ta biết vì nguyên cớ nào mà chúng sinh được sinh ra qua các đoạn sau:
- Ông Phú Lâu Na, cái “hư vọng phân biệt”
đó không có gì lạ, chỉ vì ông chấp cái “phân biệt chiếu soi” làm tâm. Ðã có
phân biệt, tất nhiên phải có cái “bị phân biệt” đối đãi nhau. Vì thế nên cái
“năng phân biệt” không vượt ngoài cảnh “bị phân biệt” được. Do nhân duyên này,
nên nghe không ngoài tiếng, thấy không ngoài sắc, ngửi không ngoài mù, nếm
không ngoài vị v.v... vọng thành 6 căn và 6 trần đối nhau, nên phân ra có: thấy,
nghe, hay, biết.
Rồi theo nghiệp lực kéo dẫn, cho nên có
những loài sanh con (như người và thú) loài sanh trứng (như chim và cá) loài sanh
chỗ ẩm ướt (như vi trùng v.v...) loài hóa sanh (như trời và địa ngục)
Thần thức khi đầu thai, nhơn thấy ánh
sáng (lửa dục) của cha mẹ phát ra, rồi nó khởi ra cái “tưởng” chung chạ làm việc
dục ấy. Nếu nó sẽ là trai thì ưa mẹ mà ghét cha, còn nó sẽ là gái thì thương
cha mà ghét mẹ. Vì tình lưu luyến nơi ái dục không rời được, nên nó tự kết nạp
tư tưởng của nó với tinh huyết của cha mẹ khi giao cấu đó, kết thành ra thai.
Vì có nhân duyên với nhau và đồng nghiệp kéo dẫn, nên kết thành thai nghén.
Loài sanh thai, sanh trứng, sanh nơi ẩm thấp, hoặc sanh đều tùy theo nghiệp của
mỗi loài mà cảm ứng.
Loài sanh trứng là do nơi tưởng nhiều,
loài sanh thai là do nơi tình nặng, loài thấp sanh là do hiệp với chỗ ẩm thấp,
loài hóa sanh thì rời cảnh vật tự nó hóa hiện. Bốn loài biến đổi, tùy theo nghiệp
lành hay dữ mà cảm thọ quả báo có thăng và trầm. Do nhân duyên ấy mà chúng sanh
bỏ thân này thọ thân kia, nối nhau không dứt.
Khi các loài đã được sinh ra, rồi do những
điều kiện, ước muốn của thân xác mà phải tương tục trong vòng nghiệp quả, vay
trả, trả vay, xoay vòng:
1. Tham dục: Này Phú Lâu Na, chúng sanh
vì tình ân ái kết chặt, thương tưởng quyến luyến nhau không rời, cho nên trong
thế gian, cha mẹ, con cháu tiếp tục sanh ra không cùng tột, gốc tại lòng tham dục
vậy.
2. Tham sát: Loài nào cũng thương yêu
thân mạng, muốn cho mình được sống nên tham ăn những vật bổ dưỡng. Vì thế mà
trong thế gian này, loài mạnh ăn thịt loài yếu, loài khôn giết loài dại. Bốn
loài (noãn, thai, thấp, hóa) ăn nuốt lẫn nhau, gốc tại lòng tham sát hại.
3. Tham trộm cướp: Bởi loài người ăn thịt
loài vật, loại vật trở lại ăn thịt người. Người chết làm vật, vật chết làm người,
các loài chúng sanh, sanh sanh tử tử, nối tiếp nhau. Các ác nghiệp đã tạo ra rồi,
thì cùng nhau vay trả, cho đến nghìn đời không tột, gốc tại lòng tham lam trộm
cướp.
Chính vì vậy mà chúng sinh phải lăn lộn
trong vòng Luân Hồi để trả nghiệp:
Loài này cướp giựt thân mạng loài kia,
loài kia giết hại loài này; trả vay, vay trả lẫn nhau, đến trăm ngàn kiếp không
ra khỏi sanh tử.
Trai mê sắc gái, gái thương tình trai, vì
tình ân ái thương yêu lẫn nhau, nên trăm ngàn kiếp bị phiền trược trong vòng luân
hồi.
Tóm lại, vì ba nghiệp sát, đạo, dâm làm gốc,
nên nghiệp (nhơn) và quả nối nhau, không bao giờ cùng tận.
Này ông Phú Lâu Na, thế giới, chúng sanh
và nghiệp quả ba món điên đảo tương tục này đều ở trong chơn tâm, vì vô minh vọng
động sanh ra “năng phân biệt” và “sở phân biệt” tương đối, nên vọng thấy có sơn
hà đại địa, thế giới và chúng sanh, rồi tiếp tục sanh hóa, vô cùng hư vọng.
Nguyên Thảo,
23/08/2026.
No comments:
Post a Comment