Wednesday, April 14, 2010
Vấn Đề Siêu Hình.
Có lẽ Đồ Ngông tôi được mẹ sinh ra vào giờ giấc âm thịnh dương suy hay như thế nào đó mà lớn lên Đồ Ngông tôi thường hay sợ ma. Tánh thì đã hay sợ, thế mà thích nghe kể chuyện ma mới chết được đi chứ! Thuở nhỏ, Đồ tôi cùng với đám bạn mỗi tối hay tập hợp lại chơi, xong rồi được nghe kể chuyện ma, có lúc do người lớn kể, có lúc anh mười kể. Khi hết một câu chuyện thì cứ kêu kể tiếp để rồi tối về nhà ngủ, nửa đêm thức giấc vạch mền he hé mà nhìn xem có ma không? Rồi lại kéo mền trùm kín đầu. Khổ nỗi ở quê ta thì gò mả tràn lan, gần như chỗ nào cũng có vài cái mả hoặc rải rác hoặc tập trung. Đường về ngoại Đồ tôi thì phải băng qua hai gò mả, mà mẹ Đồ tôi bắt phải đem đồ về cho bà ngoại thường xuyên. Đi sáng sớm Đồ tôi ít sợ hơn như đi giữa trưa. Khi băng qua gò mả, Đồ tôi phải đạp xe chạy gấp rút để rủi "ma rượt" thì sao? Không biết ở nơi quý vị thì như thế nào? Chứ ở vùng của Đồ tôi, mấy gò mả thường đất cát, nếu mình đi bộ thì cát lún xuống kêu "lộp bộp" nho nhỏ. Nếu mình đi càng nhanh thì âm thanh ấy vang nhanh lên, cứ thế mà mình tưởng chừng như có người đi sau lưng. Khi quay lại thì không thấy người trong lòng lại sợ và mình lại chạy nhanh lên. Ôi! Tâm trạng sợ ma khó mà diễn tả hết được cái cảm giác ấy: Vừa lo âu, sợ sệt, hồi hộp lẫn hối tiếc là mình đã đến đây...!
Có người bảo: "Có ma đâu mà sợ, ma đâu tao chẳng thấy mà cũng chẳng gặp bao giờ?". Có người đi Việt Cộng bao nhiêu năm không hề gặp ma, sau về làm ruộng lại bị ma dẫn chun vào bụi tre. Ông ta bảo: "Tại sao tao đang đi thì có người tới đi chung rồi họ dẫn đi vòng vòng đả rồi, lại dẫn tao chun vào đó cũng không biết nữa". Có người chạy xe ba bánh, tự dưng đang chạy đến chỗ đó thấy có một đám con nít nhào ra đường, ông ta hoảng hồn đạp thắng, xe chạy đổ xuống ruộng, ngó lại chẳng thấy đứa con nít nào cả. Rồi có người bảo thấy chỗ nọ có ma, nhiều người khác không thấy. Trong cuộc đời Đồ tôi thắc mắc hơi nhiều về chuyện nầy và hay để ý về chuyện ma để rồi tìm phương cách giải thích thử xem sao!
Thuở còn đi học Đồ tôi có lần nghe nói đến Động điện đồ của não hay của tim, Đồ tôi lại liên tưởng đến điện của con người hay nhân điện. Dòng điện ấy khiến cho con người ấm, khiến cho mọi cơ phận con người tồn tại và hoạt động giống như nguồn điện cung cấp cho một máy thu thanh hay phát sóng để phát được sóng hay bắt sóng.
Nhân điện đã có tự khi con người thành hình, do sự phát tri‹n lần lần nhân điện trở nên tinh tế hơn và đó chính là linh hồn. Khi thân xác con người chết đi, nhân điện ấy vẫn còn tồn tại trong một khoảng thời gian nào đó trong không gian và hoạt động trên một tần số nhất định. Nếu người nào đó có nhân điện hoạt động trên cùng một nhịp độ, một tần số thì họ sẽ thấy được người kia: Thế là họ gặp ma.
Để biện minh cho điều nầy, Đồ tôi lại lấy cây mía làm thí dụ. Cây mía già thì vị ngọt càng nhiều. Khi người ta ép chết xác cây mía đi để lấy nước nấu lại thành đường. Xác cây mía mất, nhưng chất đường vẫn tồn tại giống như con người chết mà linh hồn còn phảng phất trong khoảng không vậy. Đồ tôi chỉ tạm giải thích tới đó thôi và không thể đi xa hơn nữa.
Rồi đến một ngày kia, Đồ tôi tự dưng "hành thiền" một cách bất đắc dĩ. Vì Đồ tôi vốn dĩ đã có trí nhớ kém, rồi lại gặp mấy "hùm xám" trong quê dọa nạt, hành hung lúc còn đi học, nên khả năng ký ức lại càng tồi tệ hơn. Do vậy khi Đồ tôi về làm thầy đồ ở miền xa xôi, đèo heo hút gió, phần tức giận vì bài chỉ có 5, 10 dòng mà mình cũng không nhớ nỗi, phần vì bị chứng khó ngủ, nên Đồ tôi thừa cơ hội đó mà nằm yên tĩnh, mắt nhắm lại, tưởng tượng nhìn vào khoảng không bằng tam tinh giữa trán để luyện trí nhớ. Ôi! Khoảng mười ngày sau, Đồ tôi tự dưng thấy nơi đó phát quang thành những vòng màu sắc từ vàng qua lam, tím, đỏ... chạy càng lúc càng nhanh, xa về vô cực. Đồ tôi lại có cảm giác như mình phóng hồn theo các vòng tròn màu ấy, mà quên mọi cảm giác thân xác của mình đi! Trong khi ấy thằng bạn của Đồ tôi nó lại "mớ", đập tay đánh "rầm" vào tấm ván ngủ, khiến Đồ tôi giật mình chơi vơi. Tự lúc ấy Đồ tôi mới hiểu thế nào là "Tẩu hỏa nhập ma" trong truyện kiếm hiệp của Tàu. Và từ đó, Đồ tôi bỏ đi không dám thực hành điều ấy nữa.
Rồi khoảng 10 năm trước đây, Đồ tôi lại gặp vấn nạn to để lòng buồn vô hạn, nỗi suy nghĩ cùng cực. Đồ tôi lại tiến vào con đường tương tự bằng ngõ khác. Sau đó, Đồ tôi hiểu được các kinh Phật giảng tương đối dễ dàng hơn. Và điều nầy Đồ tôi đã viết đại khái trong bài "Điều bất đắc dĩ": "Con người chết đi chẳng còn lại gì cả, tiền bạc, vợ đẹp, con ngoan, danh vọng hay ngay cả thân xác của mình cũng không thể đem theo. Xác sẽ thối rữa. Nếu ta đừng yêu mến cái xác của ta thì ta sẽ đi đầu thai, tìm cái xác mới thành hình mà chui vào làm một cuộc sống mới. Nếu ta còn yêu mến cái xác của ta quá, hồn ta cứ lởn vởn, bay bay không định hướng, không chịu tìm cái xác mới thì ta sẽ là ma hay quỷ chỉ hiện ra hù nhát mọi người, hoặc lựa người nào đó mà mình "khoái" nhập vào để nói chuyện nầy chuyện kia, hay làm cái gì đó. Ấy là thế giới siêu hình".
Tự lúc đó, Đồ tôi thấy có nét gì lạ lạ trong tư tưởng, ý nghĩ của mình về siêu hình, Đồ tôi mới bắt đầu tìm kiếm băng giảng hoặc kinh Phật để tìm hiểu. Rồi cái gì đến nó đã đến. Đến bằng một cơ duyên và bằng những duyên khởi: Điều kiện tập hợp đã đủ, thời gian chín mùi thì việc sẽ xảy đến. Việc đang xảy ra là quả của các việc trước, nhưng lại là nhân của việc sau, việc sau là quả nhưng lại là nhân của việc sau nữa...Cứ thế mà nối tiếp, ấy là "Trùng trùng duyên khởi" vậy.
Sau một thời gian tìm hiểu, Đồ tôi mới biết không phải chỉ có ma quỷ trong thế giới siêu hình mà còn có nhiều loại, theo như Đức Phật cho biết:
Trong cõi vô sắc giới còn có cõi Trời (Thánh, Tiên, Thiên vương), A Tu La (Các loại thần) ngoài loài ngạ quỷ, địa ngục. Đa số thì thuộc loại tốt giúp người, một số thì cũng hại người. Do đó cuộc sống trong các cõi tam giới lại càng phức tạp hơn. Nhưng đó cũng là do những nhân, quả mà ra. Và chung quy lại chỉ do mọi chúng sanh muốn chơi trò chơi mà thôi! Nếu không muốn chơi nữa thì tìm đến con đường Đức Phật đã chỉ để tới cửa ra. Lúc ấy mình sẽ thoát khỏi cảnh Luân hồi và đến nơi yên tịnh, bước lên bờ giác mà Đức Phật gọi là "Người đã thoát khỏi giấc mơ".
Đồ Ngông.
(“Chuyện Tào Lao Thế Sự”)
H.T Chữ Nghĩa 14: Ba Người Bạn!
Khởi đầu, khi tôi quyết định xin cộng tác với Tạp chí Né chỉ mục đích viết để mà chơi, để giúp những nông gia giải trí và mình biết những cái gì thì chia sẻ vui buồn với họ mà thôi! Nó không nhằm mục đích can thiệp vào sự xung đột chung trong cộng đồng. Nó đơn thuần giống như khi tôi đến cộng tác với Bản Tin Nông Gia! Cho nên trong bài đầu tiên giao cho Tạp chí Né, tôi viết như sau:
Bài Viết Ra Mắt.
Đồ Ngông tôi được hân hạnh chào mừng với tất cả các bạn nông gia, lẫn các thành viên trong gia đình Né và kính chúc sức khoẻ đến tất cả mọi người. Thực ra Đồ tôi -(xin lỗi tất cả các vị gốc miền Bắc đừng hiểu lầm chữ Đồ của Đồ tôi mà tội nghiệp cho Đồ tôi lắm! Nếu mà "nhỡ" có hiểu lầm thì cũng chả sao, vì con người ai cũng vốn "từ nơi ấy")- không phải là thành viên của Gia đình Né đâu, nhưng vì Đồ tôi cũng muốn "tránh" nên lại dính vào "Né" đó thôi. Nói thế, chứ khi nghe được tin có tập san Né từ dưới thành phố Adelaide, mà Đồ tôi phải chạy đôn chạy đáo, chạy "vắt giò lên cần cổ" mới xin được hai tập. Đem về đọc ngấu nghiến. Đồ tôi lại "khoái" hai bài Trâu, Chó của nhà thơ Nguyễn Nhi. Bất nhơn, Đồ tôi lại cảm động khi coi kỹ lại các tập san thì chỉ có Nguyễn Nhi, Nhi Nguyễn, N bình phương và Thần nông. Đồ tôi ráng tìm thêm tên hoặc bút hiệu nào khác, thì không thấy ngoài các bài trích. Do nơi cảm động ấy, Đồ tôi mới năn nỉ xin gia nhập. Đồ tôi vốn dĩ là tay cầm cuốc giỏi, cuốc mãi nên mấy ngón tay chai cứng. Đầu ngón tay quấn cà "hoài" lại bị nhám xàm, thế mà bà xã lại trách yêu "bàn tay gì mà làm nhột thấy mồ", nhưng rút tay lại thì bà xã không cho...! Thôi bỏ đi! Nói chuyện khác vậy!
Trở lại, Đồ tôi vốn không có máu văn nghệ, tướng tá thì xấu xí cục mịch, ăn nói giống như "dùi đục chấm mắm nêm", tướng đi thì quả thật là "vịt đẹt". Nhưng do nơi mấy tháng nay hai tờ báo Adelaide và Nam Úc có nhiều nhà "Trí thức", "Văn nghệ" làm "Thơ cay", viết văn, chuyện phiếm hay quá, cho nên Đồ Ngông tôi "tự dưng nỗi hứng" y như là bị các bài ấy điểm trúng huyệt, Đồ tôi giật nẫy mình và "bà ứng" thế nào đó lại cũng bắt đầu làm thơ, viết văn. Và cũng vì tánh mình hay gàn gàn, ngông ngông nên thôi thì làm Đồ Ngông vậy.
Đồ Ngông tôi làm thơ thì tùy theo hứng, xin quý vị đừng bắt lỗi về niêm luật, vần bằng vần trắc, hoặc cước vận, yêu vận, vần chính, vần thông hay bất cứ một khuôn phép nào về thơ; còn văn thì Đồ tôi chỉ cần ý. Vả lại, Đồ tôi sẵn là ngông cho nên chắc cũng chẳng được bình thường! Nếu bạn đọc thấy có điều gì sơ sót thì tha thứ cho Đồ tôi. Nếu Đồ Ngông viết quá bậy, không đúng thì xin gọi điện thoại về tờ báo yêu cầu Đồ Ngông sửa chữa. Thế là Đồ Ngông được thành kính tri ân và sửa sai.
Do nơi Đồ Ngông muốn bắt chước các nhà "Trí thức" viết thơ cay và chuyện phiếm mà Đồ Ngông ái mộ, nên Đồ Ngông cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều giống như bài thơ "Bắt chước" hay là bài "Thơ Ngông" sau đây:
Ngồi buồn sắp chữ lại thành thơ
Ta gọi thơ ngông chửi cuộc đời
Moi móc kiếp người bao nếp xấu
Rao cho thiên hạ xúm coi chơi!
Ta ngông, ta thích làm thơ ngông
Ở cõi đời nầy cảnh trống không
Thấy đó, nhưng rồi đà mất đó
Đi về hai cõi "có" và "không"!
Lắm kẻ tranh giành "đá" lẫn nhau
Tiền tài, danh vọng,..."sướng" hay "sầu"?
Bao nhiêu mánh lới "lừa" nhau mãi
Lôi cuốn cùng nhau ở cuộc chơi.
Như vậy bạn đọc thấy Đồ tôi chỉ là "sắp chữ lại thành thơ" trong lúc buồn thôi. "Sắp chữ" nghĩa là làm thơ gượng ép, đem chữ nầy đặt kế chữ kia, khác với những nhà thơ thiên phú, mở miệng ra đã là thơ, là vần, là điệu (xuất khẩu thành thơ) nên thơ của họ có hồn, ý tưởng dồi giàu, súc tích, lời thơ trơn tru, mạch lạc, trau chuốt (dù là chửi đi nữa) chứ không ngập ngừng, gút mắc, gãy khúc như thơ của Đồ tôi. Thơ Đồ tôi là chấp vá giống như vợ hoặc chồng chết rồi "chấp nối" với người khác vậy. Nhưng mong bạn đọc cũng thông cảm vì Đồ tôi không phải là nhà thơ mà chỉ là đệ tử học lóm của các nhà "Trí thức" thơ cay và chuyện phiếm mà thôi!
Đồ tôi vốn là người ngông, gàn gàn nên thiệt tình lắm, thấy sao nói vậy, nghĩ sao viết vậy. Chứ nếu như người bình thường thì Đồ tôi sẽ không nói là mình "học lóm" của người khác để người ta tưởng lầm Đồ Ngông là "tay đặc biệt" tạo ra được một trường phái thơ văn mới là "Trường phái văn học chửi" hoặc mở ra một luận mới là "Biếm luận" thay vì phiếm luận. Chắc bạn đọc sẽ ngạc nhiên giữa "Biếm luận" và "phiếm luận" chứ gì? Hẳn bạn đã đọc trên tờ Nam Úc tuần báo về mục "chuyện gần, chuyện xa", Bao Bất Đồng có trích vài chuyện phiếm của vài tác giả như chuyện lái heo trong đó tác giả luận từ một con, hai con đến cả giỏ heo và trả lại một con, hai con, hết giỏ. Ấy là phiếm luận có tính cách tiếu lâm, tức là một câu chuyện tưởng tượng đặt ra không dính dáng tới câu chuyện thật nào trong xã hội để mà luận bàn, suy diễn là phiếm luận. Còn lôi chuyện của người khác là "châm biếm", nếu kèm theo luận, chửi, biến thành một chuyện tiếu lâm thì lại là "Biếm luận", tức là đem tính chất châm biếm, cay cú vào chuyện đó. Và để tránh đi trách nhiệm thì người ta lại cho nó mang hình thức phiếm luận. Như vậy có nghĩa là "chửi người mà bắt người phải ngậm câm". Ấy là một "thủ đoạn văn nghệ". Thủ đoạn ấy rất là cao cơ, giống như "công an điều tra đánh chết người mà không cho có dấu vết". Còn chuyện Bao Bất Đồng viết có thể là có thực trong xã hội, có thể là phiếm để từ đó rút ra những bài học xử thế trong cuộc đời, những chuyện ấy xảy ra ở gần hoặc xa, hoặc thời gian gần hay xa, thế mới là "chuyện gần, chuyện xa". Bạn cứ nhìn lại xem coi, có phải vậy không? Đồ tôi mắc tật "nổi ứng" rồi đó.
Ngày xưa, lúc Đồ tôi còn là học trò trung học, bạn bè khen các tiểu thuyết của Chu Tử nhiều lắm! Ông ta là tác giả nổi tiếng mà đặc biệt tựa đề các tiểu thuyết của ông ta đa số là một chữ như Yêu, Sống, Ghen...Cách ấy lại càng hấp dẫn người đọc hơn. Đồ tôi vốn xuất thân là con nhà nghèo đi học thiếu thốn nên chỉ biết ráng học chứ không có mấy khi coi tiểu thuyết. Đến khi có thằng bạn cho mượn quyển "Ghen" và quyển "Sống"(?) Đồ tôi không nhớ rõ lắm. Khi xem quyển "Ghen" thì mới thấy Chu Tử đem chuyện đời của vũ nữ Cẩm Nhung bị tạt ác-xít, và trong cuốn "Sống" là chuyện gia đình của Ứng cử viên Tổng Thống thất cử Nguyễn Đình Quát để châm biếm. Từ đấy dưới mắt "đứa học trò" Đồ tôi lúc ấy không mấy thích nhà văn nổi tiếng ấy lắm! Chắc có lẽ Đồ tôi quá khích, quá khắt khe hoặc có những ý nghĩ "ngông cuồng". Đồ tôi không biết dùng đến chữ nào cho đúng. Nhưng cho đến bây giờ Đồ tôi vẫn không thích như vậy. Quả thật Đồ tôi là "Ngông"!
Đồ tôi vốn có ân oán với xã hội nên Đồ tôi thích viết các mẫu chuyện về xã hội. Đồ tôi sẽ lần lượt kể một số các câu chuyện trong đời mà Đồ tôi đã nghe, thấy, hay, biết hoặc sống "hầu" bạn vậy.
Vì Đồ tôi không có khiếu trào lộng, nên chắc chuyện có thể là khô khan, buồn chán. Tuy nhiên bạn có thể thích thì đọc, không thích thì lật sang trang. Nhưng bạn cũng vui lòng cho biết ý kiến để Đồ tôi viết ngắn lại hoặc là chấm dứt vì Đồ tôi chỉ viết thiện nguyện "cho vui bạn và tôi" thế thôi!
Xin đa tạ.
Đồ tôi.
Từ đó ba anh em tôi đi cùng nhau trên một chiếc xe, chiếc xe xập xệ nhưng kéo dài cũng nhiều năm trời, cũng làm nên việc quan trọng trong cộng đồng, mặc dù ba tháng mới có một chuyến. Tôi chỉ là một khách quá giang “ăn ké” mà thôi! Chiếc xe của “Gia đình Né” chuyển tải những kỹ thuật, kiến thức trong nghề nông như phân, thuốc, sâu bệnh... của Thần Nông; thơ văn của Nguyễn Nhi và thơ văn của tôi. Thỉnh thoảng có vài bài của người khác cùng đôi khi có bài về y học của Bác Sĩ Ngô Anh Tuấn.
Sau khi ông chủ tờ báo cũ đề nghị tôi đổi bút hiệu, tôi không thuận và bài của tôi vài lúc bị khác đi, nên tôi đã có nhiều dè dặt khi đưa bài. Tôi chỉ chọn những bài không dính dáng đến chiến cuộc của họ mà đưa. Những bài ấy thường là những bài thơ cho trẻ con để phụ giúp cha mẹ hướng dẫn cho bé nhớ đến cách cư xử giống như bài học về Đức Dục ở quê nhà. Đó là: “Những bài thơ cho bé!”. Tình hình chửi không dứt, nó cứ âm ỉ đợi có cơ hội là bùng lên. Chính vì vậy mà thơ tôi cứ từng thời kỳ mà xuất hiện nhiều hay ít. Thơ Nguyễn Nhi thì đi thẳng vào vấn đề, dứt khoát vì bản chất của Nguyễn Nhi cứng rắn, kiêu hùng, không sợ sệt. Khi lâm trận rất xông xáo, thơ càng có hồn và hay hơn lúc bình thường. Do đó rất ít khi tôi phải cứu bồ, có lần anh bạn trong bộ ba kêu tôi phụ lực với Nguyễn Nhi, tôi nói: “Không cần, một mình ổng đã đủ rồi! Ổng làm thơ giống như xe tăng, tiến chứ không lùi; gặp càng cứng thì càng hăng, gặp chiến trận thì cứ “càn tới”, ổng không thua đâu mà sợ”. Nói thế! Chứ tôi cũng sẵn sàng, chuẩn bị khi cần thiết mặc dù tôi biết rõ là sẽ không cần tôi tham dự. Những bài thơ của tôi dù vui chơi hay châm biếm, hoặc chửi thói đời hầu hết đều đăng tải trong Tạp chí Né. Mỗi số đều có một bài, có khi hai bài “Chuyện Tào lao Thế Sự” ngăn ngắn thôi để người đọc giải trí cho vui. Còn những bài dài hoặc có giá trị hơn tôi gởi anh Sơn đưa về cho tờ báo liên bang Việt Luận đăng trong đặc trang Nam Úc của tờ báo.
Khi loạt bài thơ cho bé chấm dứt. Tôi nhờ đến tờ Adelaide Tuần Báo phổ biến dùm những bài học vần do từ kinh nghiệm khi dạy lớp 1 ở trường Sơ Cấp Ấp 2 Định Thành, quận Trị Tâm (Dầu Tiếng cũ) của Tỉnh Bình Dương. Tôi cùng với vợ tôi soạn những bài nầy nhằm giúp phụ huynh học sinh hướng dẫn thêm cho các em yếu tiếng Việt hoặc trước kia không học tiếng Việt mà thôi. Tôi không nhờ tờ báo Nam Úc vì báo đã có đăng thường xuyên các bài học tiếng Việt của tác giả Thái Đức Nhương. Cũng từ khi ấy, thơ tôi thường xuất hiện trên Adelaide Tuần Báo chứ không còn đưa đăng trên Nam Úc Tuần Báo nữa.
Riêng Nguyễn Nhi đã đôi lần đưa thơ mình đăng trên Nam Úc Tuần Báo, nhưng nội dung hoặc chống đối với những kẻ gây rối, hoặc gây thất lợi cho họ nên Nam Úc Tuần Báo không nhận đăng thơ ông nữa. Điều đó tôi đã phân tích với ông ta trước, nhưng ông ta không chịu tin, để rồi sau đó ông ta gởi thơ mình đến tờ Adelaide Tuần Báo. Như vậy, Nam Úc vô tình đã đưa tôi và Nguyễn Nhi về với tờ Adelaide Tuần Báo. Và Nam Úc Tuần Báo hoàn toàn là của phe nhóm “chửi người khác”. Nguyễn Nhi nằm trong phe “đối kháng” còn tôi thuộc thành phần can ngăn nằm trong “tờ báo bị chúng chửi” muốn triệt hạ. Những con người gây rối ấy chỉ có khoảng trên 4 tên “xung kích” hung hãn, chúng luân phiên viết văn, làm thơ để triệt những ai muốn can ngăn hoặc bênh vực phía bên kia. Đối với tôi, những bài viết hay thơ chẳng chửi ai, chẳng thuộc phe bên nào mà chỉ chửi cuộc đời, những kẻ gây rối, những ông già ham danh lợi phá sự yên ổn của cộng đồng sắc tộc trên quê người. Cho nên “chúng” chẳng chửi tôi được, là vì vậy. Còn báo nào đăng tôi không cần biết miễn họ chuyển đạt bài của tôi đến với quần chúng, vì “Tôi viết cho dân chúng chứ không viết cho tờ báo nào cả”. Tôi đem lợi ích đến cho quần chúng, nên tôi cần có tờ báo không cần biết báo đó thuộc phe nào ở đây”. Họ chửi càng mạnh thì tiến độ sáng tác của tôi lại mạnh hơn, đôi khi tôi xài từ ngữ không còn nhẹ nhàng như trước, hoặc “kết án” họ mà không còn ngần ngại như xưa. Miễn sao họ hay độc giả thấu hiểu được điều tôi muốn trình bày. Còn nhận định, thái độ như thế nào tùy theo người đọc. Tôi “xiá, can thiệp” vào cũng chỉ vì một tấm lòng!
Nguyên Thảo,
03/01/2010.
(“Cuộc Hành Trình Của Chữ Nghĩa” 14)
Những Bài Thơ Cho Bé (tt):
31- Lớp Học Thân Yêu!
Nầy bạn, nầy trường, nầy lớp học
Cùng nhau góp mặt chốn thân thương
Ê, A tiếng đọc theo ngày tháng
Sách vở ghi đầy ý bốn phương.
Bao nhiêu nét đẹp, người tài giỏi
Kết lại cho em học ở trường.
Phấn trắng, bảng đen thầy cố giảng,
Em ngồi dáng nhỏ, bóng in tường.
Mỗi buổi hai lần trong lớp học
Cùng nhau yên lặng, nín nghe bài
Chỉ mong vui học, mau lên lớp
Chẳng phí công thầy, nghĩa mẹ cha!
Nguyên Thảo,
08-07-04.
32- Thầy Cô Thân Thương!
Dáng cô hơi gầy gầy
Thân thầy lại cao cao,
Nhưng cả hai đều khỏe
Dạy em học những ngày.
Em đưa tay lên hỏi
Thầy tươi cười giảng thêm.
Cô đặt tay trìu mến
Em bồi hồi, vấn vương!
Thầy, Cô theo em lớn
Hết lớp, lại hết trường
Nơi nầy sang nơi khác
Thầy và Cô thân thương!
Nguyên Thảo,
08-07-04.
33- Bạn Bè Khó Quên.
Những bạn, những bè thật dễ thương
Bao năm chung lớp dưới khung trường
Cùng chơi, cùng giỡn, cùng đua học
Những nỗi vui buồn thêm vấn vương.
Mỗi đứa, mỗi trò riêng một nét
In trong ký ức quyện vào nhau
Mai mốt rời xa thêm nỗi nhớ
Và bao kỷ niệm thuở ban đầu.
Nhớ lúc đong đưa trên nhánh cây
Khi nằm sân cỏ ngắm mây bay
Lúc cùng chạy nhảy giành banh nhỏ
Lúc lại cùng nhau rượt bướm bay.
Những lúc tan trường trên ngõ phố
Lang thang sóng bước ở trên đường
Cười vui nói giỡn thời gian ấy
In nét đậm màu với nhớ thương!
Nguyên Thảo,
12-07-04.
34- Tấm Bảng Mỗi Ngày.
Bảng đen, bảng xanh hay bảng trắng
Phấn màu, phấn trắng với mực xanh
Đều in lên bảng ngày em học
Hiện ý giúp em thuở học hành.
Từ bảng thầy cô truyền ý tưởng
Giúp em biết được những bài thơ
Những là phép tính, từng môn học
Đến cả bài ca tuổi dại khờ.
Tấm bảng uy nghi trên vách thẳng
Hàng ngày bọn nhỏ phải nhìn lên
Thầy cô in bóng che dòng chữ
Ngoái cổ, nghiêng đầu em chép nhanh.
Tấm bảng đôi lần em thấy run
Bài làm không biết sợ vô cùng
Thầy cô đừng gọi, em mong thế
Tấm bảng lắm lần, em thấy run...!
Nguyên Thảo,
13-07-04.
35- Cổng Trường Em Qua.
Cổng trường thì thật to
Thân em thì nho nhỏ
Những ngày học, đi qua
Em vào sân rộng rãi.
Cổng đứng mãi hàng năm
Không bao giờ nghiêng nón
Chào em và chúng bạn
Nhưng em cũng chẳng buồn.
Những ngày hè không học
Em lại nhớ cổng trường
Cái cổng trường yêu thương
Hàng ngày em qua đó!
Nguyên Thảo,
15-07-04.
Nầy bạn, nầy trường, nầy lớp học
Cùng nhau góp mặt chốn thân thương
Ê, A tiếng đọc theo ngày tháng
Sách vở ghi đầy ý bốn phương.
Bao nhiêu nét đẹp, người tài giỏi
Kết lại cho em học ở trường.
Phấn trắng, bảng đen thầy cố giảng,
Em ngồi dáng nhỏ, bóng in tường.
Mỗi buổi hai lần trong lớp học
Cùng nhau yên lặng, nín nghe bài
Chỉ mong vui học, mau lên lớp
Chẳng phí công thầy, nghĩa mẹ cha!
Nguyên Thảo,
08-07-04.
32- Thầy Cô Thân Thương!
Dáng cô hơi gầy gầy
Thân thầy lại cao cao,
Nhưng cả hai đều khỏe
Dạy em học những ngày.
Em đưa tay lên hỏi
Thầy tươi cười giảng thêm.
Cô đặt tay trìu mến
Em bồi hồi, vấn vương!
Thầy, Cô theo em lớn
Hết lớp, lại hết trường
Nơi nầy sang nơi khác
Thầy và Cô thân thương!
Nguyên Thảo,
08-07-04.
33- Bạn Bè Khó Quên.
Những bạn, những bè thật dễ thương
Bao năm chung lớp dưới khung trường
Cùng chơi, cùng giỡn, cùng đua học
Những nỗi vui buồn thêm vấn vương.
Mỗi đứa, mỗi trò riêng một nét
In trong ký ức quyện vào nhau
Mai mốt rời xa thêm nỗi nhớ
Và bao kỷ niệm thuở ban đầu.
Nhớ lúc đong đưa trên nhánh cây
Khi nằm sân cỏ ngắm mây bay
Lúc cùng chạy nhảy giành banh nhỏ
Lúc lại cùng nhau rượt bướm bay.
Những lúc tan trường trên ngõ phố
Lang thang sóng bước ở trên đường
Cười vui nói giỡn thời gian ấy
In nét đậm màu với nhớ thương!
Nguyên Thảo,
12-07-04.
34- Tấm Bảng Mỗi Ngày.
Bảng đen, bảng xanh hay bảng trắng
Phấn màu, phấn trắng với mực xanh
Đều in lên bảng ngày em học
Hiện ý giúp em thuở học hành.
Từ bảng thầy cô truyền ý tưởng
Giúp em biết được những bài thơ
Những là phép tính, từng môn học
Đến cả bài ca tuổi dại khờ.
Tấm bảng uy nghi trên vách thẳng
Hàng ngày bọn nhỏ phải nhìn lên
Thầy cô in bóng che dòng chữ
Ngoái cổ, nghiêng đầu em chép nhanh.
Tấm bảng đôi lần em thấy run
Bài làm không biết sợ vô cùng
Thầy cô đừng gọi, em mong thế
Tấm bảng lắm lần, em thấy run...!
Nguyên Thảo,
13-07-04.
35- Cổng Trường Em Qua.
Cổng trường thì thật to
Thân em thì nho nhỏ
Những ngày học, đi qua
Em vào sân rộng rãi.
Cổng đứng mãi hàng năm
Không bao giờ nghiêng nón
Chào em và chúng bạn
Nhưng em cũng chẳng buồn.
Những ngày hè không học
Em lại nhớ cổng trường
Cái cổng trường yêu thương
Hàng ngày em qua đó!
Nguyên Thảo,
15-07-04.
Thơ Đó, Thơ Đây (Tây Nguyên)
Mây. (Pleiku)
Mây trôi lờ lửng. mây bay qua
Phố núi chiều nay ngồi nhớ nhà
Nhìn núi, nhìn mây buồn chẳng cớ
Mây mù thoáng chốc lại bay xa.
Mây lại mây, rồi mây cứ trôi
Thời gian cứ thế mà qua thôi
Mây bay thong thả, ta thong thả
Hồn thả theo thơ, cuốn khoảng trời!
Đồ Ngông.
Mây Vào Phòng! (Pleiku)
Vừa ra mở cửa, mây vào phòng
Lồng lộng Tây Nguyên vượt khoảng không
Mây quấn bên mình, mây thổn thức,
Mây tràn khắp cả, lại vô phòng!
Đồ Ngông.
Vào Hội Chợ. (Pleiku)
Hội chợ đêm này người đông thay,
Chen chen, lấn lấn người với người
Nhìn xem chẳng thấy bao nhiêu cả
Chỉ sợ túi hờ... tiền lại bay!
Đồ Ngông.
Chiều Xem Thả Diều. (Pleiku)
Cánh diều no gió chiều lên cao
Bao nỗi ngày thơ mở cửa vào
Ký ức nhập nhằng bao kỷ niệm
Không ngờ thoáng chốc ở trên cao! (trên cao nguyên)
Đồ Ngông.
Chiều Xuống Trên Ngàn. (Pleiku)
Mặt trời lần đi ngủ
Bóng chiều vươn lên cao
Mây chiều mờ lảng đảng
Gió lạnh hây hây vào.
Non ngàn lại mờ xa
Thấp thoáng những mái nhà
Tưởng tơ chiều vơ vẩn
Ngồi buồn ta trong ta!
Đồ Ngông.
Mây trôi lờ lửng. mây bay qua
Phố núi chiều nay ngồi nhớ nhà
Nhìn núi, nhìn mây buồn chẳng cớ
Mây mù thoáng chốc lại bay xa.
Mây lại mây, rồi mây cứ trôi
Thời gian cứ thế mà qua thôi
Mây bay thong thả, ta thong thả
Hồn thả theo thơ, cuốn khoảng trời!
Đồ Ngông.
Mây Vào Phòng! (Pleiku)
Vừa ra mở cửa, mây vào phòng
Lồng lộng Tây Nguyên vượt khoảng không
Mây quấn bên mình, mây thổn thức,
Mây tràn khắp cả, lại vô phòng!
Đồ Ngông.
Vào Hội Chợ. (Pleiku)
Hội chợ đêm này người đông thay,
Chen chen, lấn lấn người với người
Nhìn xem chẳng thấy bao nhiêu cả
Chỉ sợ túi hờ... tiền lại bay!
Đồ Ngông.
Chiều Xem Thả Diều. (Pleiku)
Cánh diều no gió chiều lên cao
Bao nỗi ngày thơ mở cửa vào
Ký ức nhập nhằng bao kỷ niệm
Không ngờ thoáng chốc ở trên cao! (trên cao nguyên)
Đồ Ngông.
Chiều Xuống Trên Ngàn. (Pleiku)
Mặt trời lần đi ngủ
Bóng chiều vươn lên cao
Mây chiều mờ lảng đảng
Gió lạnh hây hây vào.
Non ngàn lại mờ xa
Thấp thoáng những mái nhà
Tưởng tơ chiều vơ vẩn
Ngồi buồn ta trong ta!
Đồ Ngông.
Thơ Đồ Ngông (tt)
Chuyện Đời!
Ra đi chỉ có riêng mình tớ
Lại nẽo trở về buồn quá cỡ
Lủi thủi bóng hình cùng sánh bước
Lơ thơ dáng dấp đều trăn trở
Chuyện đời rối rắm nhiều sân hận
Thiên hạ tranh giành bao sự cớ
Chán nản, thua buồn, sao lắm khổ
Tỉnh say - say tỉnh, về hay ở?
Đồ Ngông,
12-05-07.
Tớ Quyết...!
Tớ quyết phen này phải bắt thang
Lên cao để hỏi Ông Trời rằng:
Cớ sao Ông lại sanh người nhỉ?
Lại khiến cho người lắm khổ đau.
Tớ quyết phen này hỏi cho ra
Vì sao thiên hạ ham vinh hoa
Tham lam không đáy gây tang tóc
Gieo rắc nơi nơi khắp mọi nhà.
Tớ quyết phen này phải lật Ông
Trời cao có mắt lại không tròng
Tốt đâu không thấy, mà vô loại
Xuất hiện trùng trùng cũng tại Ông!
Đồ Ngông,
12-05-07.
Quan.
Rằng quan quan lại rất là cần
Quan sống được nhờ bọn thứ dân
Không chúng làm sao quan được chức
Mai sau thiếu họ phải sanh "bần"
Quan to ưỡn ngực ngồi vênh váo
Thiên hạ nhôn nhao phải phục hầu (hầu hạ, phục vụ)
Tiền bạc ngựa xe lo sắp sẵn
"Quan cần, dân có" lấy làm đầu!
Rằng quan, quan lại khoét mà ăn
Của đụn của kho từ chúng dân
Gom góp mong giàu cho đất nước
Quan ra công sức cố mà ăn!
Đồ Ngông,
12-05-07.
Quà Và Biếu.
-Bác có gì không, Bác có gì?
Làm quà cho cháu lúc ra đi
Lâu lâu bác biếu cho đôi chút
Gọi ấy là quà có mấy khi!
-Ông có gì không? Sao thế này?
Giấy tờ hàng hóa với tờ khai
Sao mà lộn xộn nhiều như thế?
"Trà nước" qua đường chẳng bỏ ai!
-Xã hội sao mà lắm kiếm tiền
Vì đâu nên nỗi "bạc vi tiên" (tiền làm đầu)
Công bằng được tính trên công sức
Cửa ngõ thiên đàng chỉ cõi tiên!
Đồ Ngông,
12-05-07.
Thế Đấy!
Làm quan tham nhũng đúng hoang đàng
Hoạnh họe cướp dân đúng bạo tàn,
Tổ chức bao che: Điều sĩ nhục
Lòng dân ta thán, dạ mang mang!
Đồ Ngông,
12-05-07.
Ra đi chỉ có riêng mình tớ
Lại nẽo trở về buồn quá cỡ
Lủi thủi bóng hình cùng sánh bước
Lơ thơ dáng dấp đều trăn trở
Chuyện đời rối rắm nhiều sân hận
Thiên hạ tranh giành bao sự cớ
Chán nản, thua buồn, sao lắm khổ
Tỉnh say - say tỉnh, về hay ở?
Đồ Ngông,
12-05-07.
Tớ Quyết...!
Tớ quyết phen này phải bắt thang
Lên cao để hỏi Ông Trời rằng:
Cớ sao Ông lại sanh người nhỉ?
Lại khiến cho người lắm khổ đau.
Tớ quyết phen này hỏi cho ra
Vì sao thiên hạ ham vinh hoa
Tham lam không đáy gây tang tóc
Gieo rắc nơi nơi khắp mọi nhà.
Tớ quyết phen này phải lật Ông
Trời cao có mắt lại không tròng
Tốt đâu không thấy, mà vô loại
Xuất hiện trùng trùng cũng tại Ông!
Đồ Ngông,
12-05-07.
Quan.
Rằng quan quan lại rất là cần
Quan sống được nhờ bọn thứ dân
Không chúng làm sao quan được chức
Mai sau thiếu họ phải sanh "bần"
Quan to ưỡn ngực ngồi vênh váo
Thiên hạ nhôn nhao phải phục hầu (hầu hạ, phục vụ)
Tiền bạc ngựa xe lo sắp sẵn
"Quan cần, dân có" lấy làm đầu!
Rằng quan, quan lại khoét mà ăn
Của đụn của kho từ chúng dân
Gom góp mong giàu cho đất nước
Quan ra công sức cố mà ăn!
Đồ Ngông,
12-05-07.
Quà Và Biếu.
-Bác có gì không, Bác có gì?
Làm quà cho cháu lúc ra đi
Lâu lâu bác biếu cho đôi chút
Gọi ấy là quà có mấy khi!
-Ông có gì không? Sao thế này?
Giấy tờ hàng hóa với tờ khai
Sao mà lộn xộn nhiều như thế?
"Trà nước" qua đường chẳng bỏ ai!
-Xã hội sao mà lắm kiếm tiền
Vì đâu nên nỗi "bạc vi tiên" (tiền làm đầu)
Công bằng được tính trên công sức
Cửa ngõ thiên đàng chỉ cõi tiên!
Đồ Ngông,
12-05-07.
Thế Đấy!
Làm quan tham nhũng đúng hoang đàng
Hoạnh họe cướp dân đúng bạo tàn,
Tổ chức bao che: Điều sĩ nhục
Lòng dân ta thán, dạ mang mang!
Đồ Ngông,
12-05-07.
Tuesday, March 30, 2010
Về Nhạc Trịnh-Công-Sơn.
Thú thật với tất cả Quý vị, Đồ tôi chẳng biết gì về Trịnh Công Sơn, kể cả ngay thời kỳ mà ông ta nổi tiếng nhất. Nhưng nay do nơi "buồn buồn" mà vào thư viện tìm sách đọc, lại gặp tạp chí Văn học ấn bản đặc biệt tháng 10&11/ 2001 viết về Trịnh Công Sơn: Tình yêu, Quê hương, Thân phận. Đọc chưa hết nhưng có cái gì "xui khiến" Đồ tôi lại nhớ về dĩ vãng xa xăm, vào những năm giữa 60 làm Đồ tôi lật đật lấy viết, giấy ghi lại vài điều để đọc giả coi chơi. Nhưng đây chỉ là ý ngông của Đồ tôi chứ nếu Quý vị, có khó tánh, mà trách móc thì tội nghiệp cho Đồ tôi lắm!
Có một lần Đồ tôi đã nói đến sự may mắn của mình rằng:
"Trong cuộc đời có nhiều biến cố mà người ta không thể ngờ được, biến cố ấy là bước ngoặc có thể thay đổi đời mình giống như chiếc xe chạy đến ngã rẽ bắt buộc mình phải sang đường khác, khác với dự định. Đồ tôi tưởng sự học của mình cũng chấm dứt từ đó, nhưng rồi nhờ số trời lại vượt được Vũ môn như cá Lý ngư. Cá Lý ngư thì hóa rồng, chứ Đồ tôi lại thành rắn bò ngoằn ngoèo dưới đất, chẳng cắn lấy ai mà còn bị đời đá lên đá xuống"'mềm xèo" như trái chuối".
Nhờ giai đoạn ấy Đồ tôi mới xách "tụng đệm" mang quần áo, sách vở chất lên xe đạp, gùi xuống Sài gòn giống như chuyện "Tư Ếch đi Sài gòn" để mà ngắm cảnh trong những khu nhà lao động, bùn lầy nước đọng.
Thực ra Đồ tôi vốn không biết nhiều về nhạc, nhất là mình không thuộc lấy được một bài trọn vẹn dù cố học biết bao nhiêu lần. Thích thì có thích, giọng thì khi có khi không, mà lại quá trầm, ca lên chỉ dành để "ru người ta ngủ". Nhưng, một buổi chiều nọ lại đúng vào lúc sau những tiếng chuông nhà thờ đổ thì trên đài phát thanh có giọng ca hát bài "Lời buồn thánh": "Chiều chủ nhật buồn, nằm trên căn gác đìu hiu. Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều" rồi cái gì "chăn chiếu bơ vơ còn đến bao giờ", hay "trời mưa, trời mưa không dứt, ô hay mình vẫn cô liêu". Đồ tôi chợt nghe những câu hát mà tự dưng lại cảm thấy thấm vào lòng, thấy mình đi trọ "chiều buồn và cô liêu". Khổ nổi, buổi chiều ấy trời lại chuyển mưa, gió thổi ngọn dương nghiêng qua nghiêng lại, trên cao mây đen đang vần vũ. Đồ tôi nằm trên nền xi măng tháp mộ của chùa, nhìn lên mà thấy lòng lại buồn, nổi buồn vô cớ:
Không biết vì sao một buổi chiều
Buồn dâng lấp cả cánh tim yêu..!
Nhìn dương lã ngọn, mây đen đến
Anh thấy lòng anh khó chịu nhiều.
Đó là mở đầu cho chín đoạn mà Đồ tôi gọi là chín khúc ca viết tặng cho người "cảm nhận gọi là yêu nhau", ấy là chuyện sau đó; còn đang trong lúc thì "Lời buồn thánh" đã chiếm ngự tâm hồn của Đồ tôi. Thế là vài ngày sau, Đồ tôi phải ráng mua cho được bản nhạc ấy để tập hát. Nhưng Đồ tôi chẳng được thành công. Đồ tôi cũng không tiếc mấy vì tại khả năng của mình thôi. Rồi từ đó thỉnh thoảng Đồ tôi để ý đến cái tên Trịnh Công Sơn. Có lúc bạn bè rủ đi uống cà phê nghe nhạc Trịnh Công Sơn với tiếng hát Khánh Ly, Đồ tôi không có tiền nên đành kiếm chuyện mà thoái thác.
Đồ tôi xuống Sài gòn để nhìn cuộc đời của mình đi qua, đi qua từng khu lao động hơn là trọ học; để nhìn sự không may của chính mình hơn là đi tìm tương lai. Sự thiếu thốn mọi thứ, lẫn các khung cảnh "xô bồ, xô bộn" của khu lao động, khu nhà ổ chuột ven thành phố chỉ làm cho mình buồn tủi hơn thêm. Cái cảnh ồn ào, ầm ỉ, chí chóe, chửi rũa hàng ngày bên cạnh con rạch nước đen òm, nổi lềnh bềnh phân người, chất thải, rác, giấy xông lên mùi hôi thối khó chịu. Thế mà có người vẫn tắm, vẫn bơi, ngồi trước cửa nhà trên bờ con rạch bưng chén cơm ăn ngon lành. Hầu như tất cả đã quen rồi, không còn "mắc mớ" gì với nhau nữa cả.
Từ sau năm 1963, cuộc chiến tranh càng ngày càng leo thang, chiến tranh ác liệt hơn, hậu phương luôn bận rộn, nhất là lứa tuổi của nam thanh niên lại càng chộn rộn, khẩn trương hơn ai hết. Một là học để lấy chứng chỉ hoản dịch từ Nha Động Viên, hai là chạy vô các ngành nghề, ba là hết đường binh thì ghi tên vào danh sách đến quân trường. Lâu lâu lại có vài cuộc biểu tình có cảnh sát bắn đạn cay, dùi cui bá trắc. Nhiều người đã viết các bài văn, bài thơ để diễn đạt cái tâm trạng của mình. Rồi người ta lại nghĩ đến thân phận con người, thân phận đất nước dân tộc và đi đến một cái phi lý của chiến tranh. Đồ tôi không hiểu được từ khung cảnh ấy mà chủ nghĩa Hiện sinh từ phương Tây du nhập vào dễ dàng hay là phong trào ấy đã phát triển rất nhanh đến Việt nam vào đúng thời điểm. Hiện sinh, phòng trà, "boum" hay "balle de famille" gì đó, Đồ tôi không hiểu rõ lắm. Rồi lại "mini jupe"(?), "jupe serrée" (?). Những người học trường Tây sinh ngữ giỏi thì "chưng" ra sách của Jean Paul Sartre, Albert Camus, hay tiểu thuyết của Francois Sagan, Đồ tôi choáng váng mặt mày thiếu điều bất tỉnh ở sân trường, nghĩ chắc mình phải "về học cày cho xong". Cũng may thuở ấy kế bên nhà trọ có người bạn tên Hưng, quê ở Bình định, không hiểu anh thích tôi vì giọng nói của tôi hơi na ná vùng quê anh hay vì tâm tính. Chúng tôi nhiều lần ngồi tâm tình với nhau rất lâu, cứ vài bửa kéo nhau ra quán ngồi uống cà phê nói dóc. Từ trong tâm trạng ấy, hoàn cảnh ấy Đồ tôi cũng đâm ra thích nghe nhạc Trịnh Công Sơn, mà phải qua giọng hát Khánh Ly cơ, mới nghe xoáy được vào lòng. Có nhiều bài Đồ tôi không hiểu rõ nghĩa câu nhạc, nhưng nghe những từ ngữ là lạ, hay hay, những câu rất là mơ mộng, có nét gì mờ mờ ảo ảo mà ẩn ẩn một cái gì xa xôi. Thuở ấy Đồ tôi có đọc vài tạp chí văn học, có nhiều nhà văn viết một câu dài với nhiều dấu nối như là một từ ngữ kép kiểu triết học và các nhà thơ làm thơ bí hiểm theo kiểu Tây. Đồ tôi chẳng hiểu "chút nào" hết, nhưng có nhiều người khen hay, thì Đồ tôi cũng ừ "thì hay". Nói như vậy Đồ tôi đã có ý nghĩ lời nhạc của Trịnh Công Sơn có hơi hướng của triết học trong đó, mà sao lại giống như thơ hay kiểu thơ triết học được lồng trong nhạc? Điều ấy đến nay qua số Văn học đặc biệt nầy Đồ tôi được giải thích về nghi vấn của mình xưa kia. Bạn hãy xem Tuấn Huy viết về "Trịnh Công Sơn cỏ xót xa người..." ở trang 31 đã ghi chú: (Ghi chú của người viết: TCS tốt nghiệp ban Triết trường Chasseloup Laubat, nên khi trò chuyện thân thiết, Anh thường dùng một vài tiếng Pháp chen lẫn vào câu nói). Và trong bài "Một cái nhìn về ca từ Trịnh Công Sơn" của Trần Hữu Thục ở trang 77 tác giả viết: " Ở một bài khác anh (TCS) cho biết: "Tôi vốn thích Triết học và vì thế tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình. Một thứ Triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu được như ca dao hoặc những lời ru con của mẹ".
Và điều ấy Đồ tôi nghĩ Trịnh Công Sơn đã thực hiện được vì: Trịnh công Sơn là người Huế (Huế: Xứ nhạc và thơ). Và Trịnh Công Sơn có người mẹ mà Đồ tôi nghĩ chắc bà ấy thường hát ca dao để ru con lúc nhỏ cho nên Trịnh Công Sơn đã kết cấu được các yếu tố: Triết, nhạc, thơ và âm hưởng ca dao vào trong các ca khúc của mình cho tình yêu quê hương, dân tộc, mọi người mà cho chính tình yêu của mình thì không trọn vẹn. Chính vì tình yêu quê hương và dân tộc ấy mà Trịnh Công Sơn đã phản kháng chiến tranh phi lý giết chết biết bao nhiêu người, tàn phá đất nước. Anh không đứng bên nầy mà cũng chẳng đứng theo bên kia, anh chỉ ghi nhận những cảnh đau thương thực tế, phát họa các bức tranh vào lời ca nét nhạc để diễn tả nỗi lòng của mình, của chung tầng lớp trẻ. Thế là anh có nhạc, Khánh Ly có giọng ca đã tạo được phong trào từ trong giới sinh viên lan dần ra quần chúng vào tận các quán nhạc, cà phê hòa nhập vào hiện sinh: Trầm ngâm, suy tư bên ly cà phê đen, khói thuốc, không biết ngày mai mình sẽ ra sao?
Có một hôm ngồi với bạn bè ở quán cà phê có nhạc Trịnh Công Sơn, càng về khuya trời lạnh, nghe giọng ca Khánh Ly xoáy vào lòng mà tự dưng Đồ tôi "nổi da gà". Sự cảm xúc đến thế ư? Bởi thế về sau, trước 30/4/75 không lâu có người bạn tặng Đồ Ngông tôi quyển sách "Từ Phạm Duy-Thái Thanh đến Trịnh Công Sơn-Khánh Ly". Đồ tôi chỉ lướt qua biết là hai cặp nhạc, ca sĩ lừng danh trong làng tân nhạc của Việt nam. Sáng tác của Phạm Duy có Thái Thanh mới lột hết được cảm xúc của nó- Và nhạc Trịnh Công Sơn với giọng ca của Khánh Ly. Quyển ấy Đồ tôi chưa kịp xem kỹ thì sau 30/4/75 phải soạn ra giao cho ban gọi là "Tịch thu Văn hóa đồi trụy" của nhà nước và Đảng Cộng Sản Việt nam. Thế là tiếc cho tác giả và cho Đồ tôi.
Từ giữa những năm 60 về sau, Đồ tôi cảm thấy có đến 3 phong trào ca nhạc ngoài nhạc Trẻ (mà Đồ tôi không biết gì cả):
-Phong trào dân ca: hát nhạc dân ca của Phạm Duy và các nhạc sĩ khác ghi lại từ các bài dân ca của các miền.
-Phong trào thứ hai: là nhạc Trịnh Công Sơn và giọng ca Khánh Ly hay gọi là nhạc phản chiến để ngồi uống cà phê, hút thuốc lá, trầm ngâm suy nghĩ về thân phận mình, quê hương, đồng bào, tổ quốc hòa nhập vào nét hiện sinh.
-Phong trào thứ ba: Du ca của Nguyễn Đức Quang và bạn bè được phổ biến rộng rãi trong giới Thanh niên sau những công tác xã hội, hoặc sinh hoạt, hoặc ở các Trường Sư Phạm, trường học trong các giờ Hoạt động thanh niên.
Thuở ấy, Đồ tôi vốn là Đệ tử của Khổng Tử nên thích "chơi" với con nít, vì vậy mà khoái phong trào thứ ba và một số bài dân ca của Phạm Duy cùng một số nhạc sĩ khác mà Đồ tôi không nhớ được tên. Thỉnh thoảng thì cũng bài "Nối vòng tay lớn" hay một số bài khác.
Nói đến bài “Nối vòng tay lớn” là nhắc đến cái họa của Trịnh Công Sơn. Ai bảo anh lên hát bài ấy chi trên Đài Phát thanh ngay từ những lúc đầu mà phải chịu họa. Kẻ đứng giữa rất khó mà giữ mình. Đồ tôi lúc xưa đi làm với hai ông bạn, tuy họ là bạn nhưng hai ông lại không thích nhau. Mình đứng ở giữa luôn bị nghi kỵ. Thì Trịnh Công Sơn bên Quốc gia cũng nghi ngờ, bên Cộng sản cũng không tin. Quý vị hãy xem Tuấn Huy trong bài "Trịnh công Sơn, cỏ xót xa người.." viết:
"Sau 30-4 ít ngày, tôi có gặp TCS một buổi sáng đầu tháng 5 năm 1975. Ngã ba đường Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp. TCS đang bụm tay bật lửa châm điếu thuốc. Tôi rà chiếc xe đạp cũ đến gần Anh. Thấy tôi, Anh hơi ngỡ ngàng, lên tiếng hỏi: "H. không đi à? Xe hơi đâu rồi mà đi xe đạp?" Tôi nhớ, giây phút đó, tôi không trả lời TCS mấy câu TCS vừa hỏi. Tôi hỏi TCS giọng như gay gắt: "Tại sao nông nổi vậy? Tại sao hấp tấp làm việc đó?"...(Trang 34)
"...Anh nhìn thẳng vào hai mắt tôi rồi thầm thì: "Một sự bồng bột hay đúng hơn một sự bồng bột vì bị bắt buộc phải bồng bột. Không phải tại moa muốn làm việc đó. Entre nous (giữa chúng ta) moa mới nói, nhưng H. đừng kể với ai nghe, mấy người bạn trong nhóm sinh viên Pro. com (thiên Cộng) quá khích đã bắt buộc moa phải làm...Một ngày nào đó, H. sẽ biết rõ hơn. Bây giờ moa không thể nói được, vì moa đã lấy danh dự hứa với họ". (Trang 34-35).
Ngay sau trưa 30/4/75 cả miền Nam ngơ ngác, lặng yên, sợ sệt, rồi sẽ ra sao? Và phải làm như thế nào? Những người đeo băng đỏ, băng xanh hô hào, ra lệnh. Nếu Quý vị là Trịnh công Sơn bị kêu đi, thì Quý vị sẽ làm như thế nào? Phản ứng ra sao? Và nếu Trịnh Công Sơn là Cộng sản nằm vùng thì những băng nhạc mà ông anh bạn dì mua dùm cho Đồ tôi trong năm trước (sau khi TCS chết) chắc "không phải chỉ là hoà âm không thôi!", cả chục cái CD mà Đồ tôi chẳng thỏa mãn được cái nào. Cũng chỉ vì đường lối cá biệt của Cộng sản mà Thần tượng Trịnh công Sơn bị bỏ ra bên ngoài, và bị những người chống đối với Cộng sản xem như là "kẻ theo giặc" hay "nối giáo cho giặc". Trịnh Công Sơn có thời gian dài từ 1975 sống "ngậm ngùi, sống âm thầm" trong "một cõi đi về" hay làm bạn với Họa để khỏi ồn ào mà phiền lòng hàng xóm và hàng xóm cũng khỏi phải tọc mạch, tò mò theo dõi:
Trời cao đất rộng/ Một mình tôi đi/ Một mình tôi đi.
Đời như vô tận/ Một mình tôi về.
Một mình tôi về với tôi. (Lặng lẽ nơi nầy).
Đồ tôi nhân đọc Tạp chí Văn Học, ấn bản đặc biệt tháng 10&11/2001 nổi hứng viết về giai đoạn của một thời kỳ. Đồ tôi chẳng thương tiếc gì Trịnh Công Sơn, vì Anh đã quá nổi tiếng rồi. Tuổi của Anh cũng đã đủ già để chết, thì chết cũng vừa rồi. Cần gì phải sống lâu để bệnh hoạn, đau khổ thêm cho thân xác. Và "Anh cứ chết đi" để "Những người mang quan điểm "vay mượn" của người khác thù hận Anh cho đến bao giờ". Lòng người trên thế gian là "Thế đấy"! Thì Anh cứ hãy nhắm mắt ra đi, đừng bao giờ quay nhìn trở lại, và cũng đừng nuối tiếc. Cõi đời nầy không có gì phải nuối tiếc cả! Đồ Ngông tôi thông cảm Anh và xin "Chào vĩnh biệt với Anh"!
ĐỒ NGÔNG,
16/9/02.
(“Chuyện Tào Lao Thế Sự”).
Có một lần Đồ tôi đã nói đến sự may mắn của mình rằng:
"Trong cuộc đời có nhiều biến cố mà người ta không thể ngờ được, biến cố ấy là bước ngoặc có thể thay đổi đời mình giống như chiếc xe chạy đến ngã rẽ bắt buộc mình phải sang đường khác, khác với dự định. Đồ tôi tưởng sự học của mình cũng chấm dứt từ đó, nhưng rồi nhờ số trời lại vượt được Vũ môn như cá Lý ngư. Cá Lý ngư thì hóa rồng, chứ Đồ tôi lại thành rắn bò ngoằn ngoèo dưới đất, chẳng cắn lấy ai mà còn bị đời đá lên đá xuống"'mềm xèo" như trái chuối".
Nhờ giai đoạn ấy Đồ tôi mới xách "tụng đệm" mang quần áo, sách vở chất lên xe đạp, gùi xuống Sài gòn giống như chuyện "Tư Ếch đi Sài gòn" để mà ngắm cảnh trong những khu nhà lao động, bùn lầy nước đọng.
Thực ra Đồ tôi vốn không biết nhiều về nhạc, nhất là mình không thuộc lấy được một bài trọn vẹn dù cố học biết bao nhiêu lần. Thích thì có thích, giọng thì khi có khi không, mà lại quá trầm, ca lên chỉ dành để "ru người ta ngủ". Nhưng, một buổi chiều nọ lại đúng vào lúc sau những tiếng chuông nhà thờ đổ thì trên đài phát thanh có giọng ca hát bài "Lời buồn thánh": "Chiều chủ nhật buồn, nằm trên căn gác đìu hiu. Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều" rồi cái gì "chăn chiếu bơ vơ còn đến bao giờ", hay "trời mưa, trời mưa không dứt, ô hay mình vẫn cô liêu". Đồ tôi chợt nghe những câu hát mà tự dưng lại cảm thấy thấm vào lòng, thấy mình đi trọ "chiều buồn và cô liêu". Khổ nổi, buổi chiều ấy trời lại chuyển mưa, gió thổi ngọn dương nghiêng qua nghiêng lại, trên cao mây đen đang vần vũ. Đồ tôi nằm trên nền xi măng tháp mộ của chùa, nhìn lên mà thấy lòng lại buồn, nổi buồn vô cớ:
Không biết vì sao một buổi chiều
Buồn dâng lấp cả cánh tim yêu..!
Nhìn dương lã ngọn, mây đen đến
Anh thấy lòng anh khó chịu nhiều.
Đó là mở đầu cho chín đoạn mà Đồ tôi gọi là chín khúc ca viết tặng cho người "cảm nhận gọi là yêu nhau", ấy là chuyện sau đó; còn đang trong lúc thì "Lời buồn thánh" đã chiếm ngự tâm hồn của Đồ tôi. Thế là vài ngày sau, Đồ tôi phải ráng mua cho được bản nhạc ấy để tập hát. Nhưng Đồ tôi chẳng được thành công. Đồ tôi cũng không tiếc mấy vì tại khả năng của mình thôi. Rồi từ đó thỉnh thoảng Đồ tôi để ý đến cái tên Trịnh Công Sơn. Có lúc bạn bè rủ đi uống cà phê nghe nhạc Trịnh Công Sơn với tiếng hát Khánh Ly, Đồ tôi không có tiền nên đành kiếm chuyện mà thoái thác.
Đồ tôi xuống Sài gòn để nhìn cuộc đời của mình đi qua, đi qua từng khu lao động hơn là trọ học; để nhìn sự không may của chính mình hơn là đi tìm tương lai. Sự thiếu thốn mọi thứ, lẫn các khung cảnh "xô bồ, xô bộn" của khu lao động, khu nhà ổ chuột ven thành phố chỉ làm cho mình buồn tủi hơn thêm. Cái cảnh ồn ào, ầm ỉ, chí chóe, chửi rũa hàng ngày bên cạnh con rạch nước đen òm, nổi lềnh bềnh phân người, chất thải, rác, giấy xông lên mùi hôi thối khó chịu. Thế mà có người vẫn tắm, vẫn bơi, ngồi trước cửa nhà trên bờ con rạch bưng chén cơm ăn ngon lành. Hầu như tất cả đã quen rồi, không còn "mắc mớ" gì với nhau nữa cả.
Từ sau năm 1963, cuộc chiến tranh càng ngày càng leo thang, chiến tranh ác liệt hơn, hậu phương luôn bận rộn, nhất là lứa tuổi của nam thanh niên lại càng chộn rộn, khẩn trương hơn ai hết. Một là học để lấy chứng chỉ hoản dịch từ Nha Động Viên, hai là chạy vô các ngành nghề, ba là hết đường binh thì ghi tên vào danh sách đến quân trường. Lâu lâu lại có vài cuộc biểu tình có cảnh sát bắn đạn cay, dùi cui bá trắc. Nhiều người đã viết các bài văn, bài thơ để diễn đạt cái tâm trạng của mình. Rồi người ta lại nghĩ đến thân phận con người, thân phận đất nước dân tộc và đi đến một cái phi lý của chiến tranh. Đồ tôi không hiểu được từ khung cảnh ấy mà chủ nghĩa Hiện sinh từ phương Tây du nhập vào dễ dàng hay là phong trào ấy đã phát triển rất nhanh đến Việt nam vào đúng thời điểm. Hiện sinh, phòng trà, "boum" hay "balle de famille" gì đó, Đồ tôi không hiểu rõ lắm. Rồi lại "mini jupe"(?), "jupe serrée" (?). Những người học trường Tây sinh ngữ giỏi thì "chưng" ra sách của Jean Paul Sartre, Albert Camus, hay tiểu thuyết của Francois Sagan, Đồ tôi choáng váng mặt mày thiếu điều bất tỉnh ở sân trường, nghĩ chắc mình phải "về học cày cho xong". Cũng may thuở ấy kế bên nhà trọ có người bạn tên Hưng, quê ở Bình định, không hiểu anh thích tôi vì giọng nói của tôi hơi na ná vùng quê anh hay vì tâm tính. Chúng tôi nhiều lần ngồi tâm tình với nhau rất lâu, cứ vài bửa kéo nhau ra quán ngồi uống cà phê nói dóc. Từ trong tâm trạng ấy, hoàn cảnh ấy Đồ tôi cũng đâm ra thích nghe nhạc Trịnh Công Sơn, mà phải qua giọng hát Khánh Ly cơ, mới nghe xoáy được vào lòng. Có nhiều bài Đồ tôi không hiểu rõ nghĩa câu nhạc, nhưng nghe những từ ngữ là lạ, hay hay, những câu rất là mơ mộng, có nét gì mờ mờ ảo ảo mà ẩn ẩn một cái gì xa xôi. Thuở ấy Đồ tôi có đọc vài tạp chí văn học, có nhiều nhà văn viết một câu dài với nhiều dấu nối như là một từ ngữ kép kiểu triết học và các nhà thơ làm thơ bí hiểm theo kiểu Tây. Đồ tôi chẳng hiểu "chút nào" hết, nhưng có nhiều người khen hay, thì Đồ tôi cũng ừ "thì hay". Nói như vậy Đồ tôi đã có ý nghĩ lời nhạc của Trịnh Công Sơn có hơi hướng của triết học trong đó, mà sao lại giống như thơ hay kiểu thơ triết học được lồng trong nhạc? Điều ấy đến nay qua số Văn học đặc biệt nầy Đồ tôi được giải thích về nghi vấn của mình xưa kia. Bạn hãy xem Tuấn Huy viết về "Trịnh Công Sơn cỏ xót xa người..." ở trang 31 đã ghi chú: (Ghi chú của người viết: TCS tốt nghiệp ban Triết trường Chasseloup Laubat, nên khi trò chuyện thân thiết, Anh thường dùng một vài tiếng Pháp chen lẫn vào câu nói). Và trong bài "Một cái nhìn về ca từ Trịnh Công Sơn" của Trần Hữu Thục ở trang 77 tác giả viết: " Ở một bài khác anh (TCS) cho biết: "Tôi vốn thích Triết học và vì thế tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình. Một thứ Triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu được như ca dao hoặc những lời ru con của mẹ".
Và điều ấy Đồ tôi nghĩ Trịnh Công Sơn đã thực hiện được vì: Trịnh công Sơn là người Huế (Huế: Xứ nhạc và thơ). Và Trịnh Công Sơn có người mẹ mà Đồ tôi nghĩ chắc bà ấy thường hát ca dao để ru con lúc nhỏ cho nên Trịnh Công Sơn đã kết cấu được các yếu tố: Triết, nhạc, thơ và âm hưởng ca dao vào trong các ca khúc của mình cho tình yêu quê hương, dân tộc, mọi người mà cho chính tình yêu của mình thì không trọn vẹn. Chính vì tình yêu quê hương và dân tộc ấy mà Trịnh Công Sơn đã phản kháng chiến tranh phi lý giết chết biết bao nhiêu người, tàn phá đất nước. Anh không đứng bên nầy mà cũng chẳng đứng theo bên kia, anh chỉ ghi nhận những cảnh đau thương thực tế, phát họa các bức tranh vào lời ca nét nhạc để diễn tả nỗi lòng của mình, của chung tầng lớp trẻ. Thế là anh có nhạc, Khánh Ly có giọng ca đã tạo được phong trào từ trong giới sinh viên lan dần ra quần chúng vào tận các quán nhạc, cà phê hòa nhập vào hiện sinh: Trầm ngâm, suy tư bên ly cà phê đen, khói thuốc, không biết ngày mai mình sẽ ra sao?
Có một hôm ngồi với bạn bè ở quán cà phê có nhạc Trịnh Công Sơn, càng về khuya trời lạnh, nghe giọng ca Khánh Ly xoáy vào lòng mà tự dưng Đồ tôi "nổi da gà". Sự cảm xúc đến thế ư? Bởi thế về sau, trước 30/4/75 không lâu có người bạn tặng Đồ Ngông tôi quyển sách "Từ Phạm Duy-Thái Thanh đến Trịnh Công Sơn-Khánh Ly". Đồ tôi chỉ lướt qua biết là hai cặp nhạc, ca sĩ lừng danh trong làng tân nhạc của Việt nam. Sáng tác của Phạm Duy có Thái Thanh mới lột hết được cảm xúc của nó- Và nhạc Trịnh Công Sơn với giọng ca của Khánh Ly. Quyển ấy Đồ tôi chưa kịp xem kỹ thì sau 30/4/75 phải soạn ra giao cho ban gọi là "Tịch thu Văn hóa đồi trụy" của nhà nước và Đảng Cộng Sản Việt nam. Thế là tiếc cho tác giả và cho Đồ tôi.
Từ giữa những năm 60 về sau, Đồ tôi cảm thấy có đến 3 phong trào ca nhạc ngoài nhạc Trẻ (mà Đồ tôi không biết gì cả):
-Phong trào dân ca: hát nhạc dân ca của Phạm Duy và các nhạc sĩ khác ghi lại từ các bài dân ca của các miền.
-Phong trào thứ hai: là nhạc Trịnh Công Sơn và giọng ca Khánh Ly hay gọi là nhạc phản chiến để ngồi uống cà phê, hút thuốc lá, trầm ngâm suy nghĩ về thân phận mình, quê hương, đồng bào, tổ quốc hòa nhập vào nét hiện sinh.
-Phong trào thứ ba: Du ca của Nguyễn Đức Quang và bạn bè được phổ biến rộng rãi trong giới Thanh niên sau những công tác xã hội, hoặc sinh hoạt, hoặc ở các Trường Sư Phạm, trường học trong các giờ Hoạt động thanh niên.
Thuở ấy, Đồ tôi vốn là Đệ tử của Khổng Tử nên thích "chơi" với con nít, vì vậy mà khoái phong trào thứ ba và một số bài dân ca của Phạm Duy cùng một số nhạc sĩ khác mà Đồ tôi không nhớ được tên. Thỉnh thoảng thì cũng bài "Nối vòng tay lớn" hay một số bài khác.
Nói đến bài “Nối vòng tay lớn” là nhắc đến cái họa của Trịnh Công Sơn. Ai bảo anh lên hát bài ấy chi trên Đài Phát thanh ngay từ những lúc đầu mà phải chịu họa. Kẻ đứng giữa rất khó mà giữ mình. Đồ tôi lúc xưa đi làm với hai ông bạn, tuy họ là bạn nhưng hai ông lại không thích nhau. Mình đứng ở giữa luôn bị nghi kỵ. Thì Trịnh Công Sơn bên Quốc gia cũng nghi ngờ, bên Cộng sản cũng không tin. Quý vị hãy xem Tuấn Huy trong bài "Trịnh công Sơn, cỏ xót xa người.." viết:
"Sau 30-4 ít ngày, tôi có gặp TCS một buổi sáng đầu tháng 5 năm 1975. Ngã ba đường Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp. TCS đang bụm tay bật lửa châm điếu thuốc. Tôi rà chiếc xe đạp cũ đến gần Anh. Thấy tôi, Anh hơi ngỡ ngàng, lên tiếng hỏi: "H. không đi à? Xe hơi đâu rồi mà đi xe đạp?" Tôi nhớ, giây phút đó, tôi không trả lời TCS mấy câu TCS vừa hỏi. Tôi hỏi TCS giọng như gay gắt: "Tại sao nông nổi vậy? Tại sao hấp tấp làm việc đó?"...(Trang 34)
"...Anh nhìn thẳng vào hai mắt tôi rồi thầm thì: "Một sự bồng bột hay đúng hơn một sự bồng bột vì bị bắt buộc phải bồng bột. Không phải tại moa muốn làm việc đó. Entre nous (giữa chúng ta) moa mới nói, nhưng H. đừng kể với ai nghe, mấy người bạn trong nhóm sinh viên Pro. com (thiên Cộng) quá khích đã bắt buộc moa phải làm...Một ngày nào đó, H. sẽ biết rõ hơn. Bây giờ moa không thể nói được, vì moa đã lấy danh dự hứa với họ". (Trang 34-35).
Ngay sau trưa 30/4/75 cả miền Nam ngơ ngác, lặng yên, sợ sệt, rồi sẽ ra sao? Và phải làm như thế nào? Những người đeo băng đỏ, băng xanh hô hào, ra lệnh. Nếu Quý vị là Trịnh công Sơn bị kêu đi, thì Quý vị sẽ làm như thế nào? Phản ứng ra sao? Và nếu Trịnh Công Sơn là Cộng sản nằm vùng thì những băng nhạc mà ông anh bạn dì mua dùm cho Đồ tôi trong năm trước (sau khi TCS chết) chắc "không phải chỉ là hoà âm không thôi!", cả chục cái CD mà Đồ tôi chẳng thỏa mãn được cái nào. Cũng chỉ vì đường lối cá biệt của Cộng sản mà Thần tượng Trịnh công Sơn bị bỏ ra bên ngoài, và bị những người chống đối với Cộng sản xem như là "kẻ theo giặc" hay "nối giáo cho giặc". Trịnh Công Sơn có thời gian dài từ 1975 sống "ngậm ngùi, sống âm thầm" trong "một cõi đi về" hay làm bạn với Họa để khỏi ồn ào mà phiền lòng hàng xóm và hàng xóm cũng khỏi phải tọc mạch, tò mò theo dõi:
Trời cao đất rộng/ Một mình tôi đi/ Một mình tôi đi.
Đời như vô tận/ Một mình tôi về.
Một mình tôi về với tôi. (Lặng lẽ nơi nầy).
Đồ tôi nhân đọc Tạp chí Văn Học, ấn bản đặc biệt tháng 10&11/2001 nổi hứng viết về giai đoạn của một thời kỳ. Đồ tôi chẳng thương tiếc gì Trịnh Công Sơn, vì Anh đã quá nổi tiếng rồi. Tuổi của Anh cũng đã đủ già để chết, thì chết cũng vừa rồi. Cần gì phải sống lâu để bệnh hoạn, đau khổ thêm cho thân xác. Và "Anh cứ chết đi" để "Những người mang quan điểm "vay mượn" của người khác thù hận Anh cho đến bao giờ". Lòng người trên thế gian là "Thế đấy"! Thì Anh cứ hãy nhắm mắt ra đi, đừng bao giờ quay nhìn trở lại, và cũng đừng nuối tiếc. Cõi đời nầy không có gì phải nuối tiếc cả! Đồ Ngông tôi thông cảm Anh và xin "Chào vĩnh biệt với Anh"!
ĐỒ NGÔNG,
16/9/02.
(“Chuyện Tào Lao Thế Sự”).
H.T Chữ Nghĩa 13: Tạp Chí: Né!
Nói đến tạp chí Né thì nó cũng là một giai thoại chuyển biến khá phức tạp và có liên hệ đến sự viết của tôi hơi nhiều. Khởi đầu của Tạp chí né là Gia đình Né. Gia đình Né là gì? Tại sao có gia đình Né?
Tôi không là người sáng lập ra gia đình Né nên không hiểu được mục đích thành hình của nó. Tuy nhiên gia đình Né được sinh ra trong một hoàn cảnh thật đặc biệt. Số là Hội Nông gia trước kia không có người nào đứng ra để thay thế mà chỉ có Ông Chủ Tịch và vài người phụ lực trong suốt một thời gian rất là dài: Mười mấy năm! mười mấy năm không thay đổi và hoạt động chẳng được bao nhiêu. Nhưng sau vì số nông gia và người Việt làm farm càng ngày càng đông, do đó nhu cầu củng cố Hội là điều cần thiết. Lúc đầu, người mới lẫn người cũ hăng hái cùng nhau lo chỉnh đốn để tạo thế mạnh cho Hội với số người trên cả ngàn người đang làm trên các nông trại. Họ ước mơ tạo thành Hợp Tác Xã phân thuốc; buôn bán ống nước, tiến đến thành lập nơi thu mua, phân phối đến các khách hàng sĩ để giảm thiểu tiền tiêu hao ở khâu trung gian để đem lại nhiều quyền lợi cho người sản xuất. Trên chuyện tính thì như thế, đồng thời cũng có sự đồng thuận của tất cả mọi thành viên trong Ban Chấp Hành cũng như Cố Vấn. Tuy nhiên, chỉ vì một bài viết trong Bản Tin Nông Gia mà sinh ra cớ sự: Bài Quan Điểm. Trong bài quan điểm kỳ ấy có kêu gọi mọi người hợp tác để tạo nên một Hội Nông Gia vững mạnh, nhưng nó lại viết một câu vô tội vạ “từ trước Hội Nông gia vốn là ‘hữu danh vô thực”...”, chỉ có thế, thế là ông Chủ Tịch cũ rời chức vụ Cố vấn trong Ban Chấp Hành mới, bà vợ viết bài trong mục diễn đàn bạn đọc trách móc; và ngay cả đến những người của các Ban Chấp Hành từ trước đều tỏ ra phản đối. Họ bất hợp tác, và hội nông gia có mầm chia rẽ từ ấy. Lúc đó, tôi có nhắc khéo ông bạn phụ trách Bản Tin Nông Gia nên bỏ mục Quan Điểm đi và viết bài cáo lỗi. Nhưng sự việc ấy không xảy ra, tất nhiên cơ hội hàn gắn không còn có nữa. Ít lâu sau Gia đình Né ra đời!
Nội trong ý nghĩa chữ “Né” nó đã là vấn đề: “Né tránh”! Tại sao phải né tránh? Né tránh cái gì? Né tránh trong hoàn cảnh nầy tức là bất hợp tác, mọi chuyện đều “né”. Lần đầu tiên được rủ rê vào gia đình Né, tôi đã hỏi tại sao là gia đình Né? Thì được cho biết: “Gia đình Né để vui chơi: Làm trong những ngày nóng thì mình né! Vợ cự thì mình né! Lộn xộn thì mình né!...” Vv.. và vv... Tôi từ chối không tham dự, nhưng số người tham dự cũng có hơn cả trăm người kể cả đàn bà. Gia đình Né tổ chức một buổi BBQ cũng khá tưng bừng ở “shed” của một thành viên.
Song song vào đó, Ban Chấp Hành Hội Nông Gia gặp nhiều khó khăn từ sự bất hợp tác của những người cũ, kéo theo nhiều người trong dòng họ, thân thuộc. Số ấy cũng khá nhiều. Qua vài tháng sau trong Bản Tin Nông Gia xuất hiện bài chửi Gia đình Né rất nặng. Tôi ngạc nhiên! Nói là chửi gia đình Né, nhưng thực ra trong bài ấy chửi ông Gia Trưởng gia đình Né thì nhiều hơn. Đọc trong bài ấy gần như nó mang tính cách thù hận cá nhân hơn là công việc chung, từ cá nhân người viết tưởng rằng cá nhân ấy lập gia đình Né để chống báng lại Hội Nông Gia, nên sự “mạt xát” mới đọc có vẻ nhẹ nhàng nhưng xem kỹ lại thì rất ư là nặng nề. Từ bài ấy gia đình Né gần như mất uy tín và chìm dần. Sự cộng tác “viết chơi” của tôi với Bản Tin Nông Gia cũng giới hạn đi, vì tôi không thích dùng văn chương chửi người như vậy! Có lần tôi nói với ông bạn: “Anh à, tôi thấy chửi người như vậy có kỳ không? Mình có lợi dụng vào tờ báo của mình, hay mình ỷ mình có tờ báo để rồi mình viết chửi người khác không? Hỏi thì hỏi vậy, nói thì nói, nhưng tôi cũng thừa hiểu chuyện mình hỏi thì cứ hỏi, còn chuyện người khác làm thì tùy người khác. Ông bạn tôi cũng ráng duy trì Bản Tin Nông Gia tới 24 số tức gói gọn trong nhiệm kỳ hai năm của Ban Chấp Hành Hội Nông Gia.
Sau khi mãn nhiệm kỳ, Ban Chấp Hành Hội Nông Gia không tái ứng cử nữa mà để cho những liên danh khác tranh nhau. Chính vì vậy mà tôi mới thấy có những lực lượng, bàn tay “khác” thò vào để tranh giành với nhau, mà cộng đồng phải chịu lấy nhiều bất ổn. Chuyện đó nổ lớn cho đến các kỳ bầu cử Cộng Đồng nếu có liên danh nào ra ứng cử, còn “độc diễn” thì thôi!
Bản Tin Nông Gia chết đi (đình bản), anh bạn tôi cũng thỏa mãn vì kéo dài nó cho đến hết nhiệm kỳ mà anh là Phó Chủ Tịch ngoại vụ. Điều ấy lúc nầy chẳng ảnh hưởng đến việc tôi viết hay không viết. Tôi cũng thường viết lai rai với những chủ đề nhằm phổ biến giúp ích hoặc thêm ý kiến cùng độc giả trên một vài phương diện nào đó. Đã có anh Sơn, đại diện báo Dân Việt, Việt Luận ở tại Nam Úc giúp tôi, cùng với hai tờ “báo biếu” ở địa phương. Khi giao bài (lúc nầy tôi đã biết sử dụng computer, đánh máy cũng tương đối nhuần nhuyễn lẫn trình bày) bằng floppy disk, cho nên các tờ báo không phải khó khăn vì bài của tôi; tôi thường nói một câu thường dùng: “Nếu thấy được đăng dùm tôi, tôi chỉ góp ý kiến với mọi người, độc giả thôi! Còn đăng hay không không quan trọng. Anh coi dùm!”.
Tôi chán chường cái cảnh những người có học dùng phương tiện báo chí chửi nhau lắm rồi! Nó chẳng hay ho gì cả, chỉ “tổ” cho cái sự gây rối mà thôi! Nhưng tôi không thể cản ngăn họ lại được vì họ đang cần “xả” những căm tức của họ, nếu không thì họ đã không chửi bất cứ ai góp ý cho họ để họ thôi đừng chửi nữa. Và, cũng vì vậy mà tôi cũng phải “chửi” với họ để chứng minh cho họ thấy rằng “tôi cũng biết chửi và cái chửi của tôi chẳng đụng đến ai”. Tôi chửi mông lung, chửi cuộc đời nhiều thói xấu. Tôi không moi móc, không chửi cá nhân con người, tôi chẳng “đụng chạm” tới cá nhân ai cả, tôi chửi nết xấu của xã hội, cuộc đời bằng những ngôn từ thanh cao, dễ nghe hơn họ nhiều. Tại sao họ phải dùng đến từ ngữ bẩn thỉu, đá cá lăn dưa để chửi người? Họ chỉ chứng tỏ lòng hận thù và căm tức của họ mà thôi: Chẳng qua quyền lợi của họ, của nhóm bị đụng chạm hoặc mất đi!
Nhưng điều đáng tôi trách nhất là tờ báo cũ đã đăng những bài chửi ấy, mặc dù là trên “Diễn đàn bạn đọc”. Có người kêu tôi viết bài chửi, tôi từ chối: “Tôi không làm chuyện đó được! Tôi chủ trương thà tôi không viết, mà khi tôi viết thì phải giúp ích được cho mọi người hoặc ít nhất cũng đem đến cho tôi một niềm vui thì tôi mới viết”. Tôi tuân thủ mục đích ấy cho đến ngày nay. Chính vì vậy mà bài thơ “Khích bác” được ra đời:
Có kẻ thường hay khích bác người
Muốn người "nổi trận" để coi chơi
Đôi khi đứng thủ ngoài vòng chiến
Đợi lúc người suy "đoạt món lời".
Có người thấy "Tưởng thế cô đơn"
Dùng trí đa mưu khích bác người,
Sẵn tánh anh hùng, người "nổi máu"
"Con cờ lợi dụng" khác gì hơn!
Lại lủ hèn kia chẳng dám làm
Đem lòng xui giục đứa lòng tham
Tham danh, tham vọng, tham tiền bạc
Mắc phải mưu thâm, thay hắn làm!
Ôi đời! sao lắm người gian thế!
Chỉ muốn mượn người để lợi ta
Lời ngọt, ý thâm luôn thúc đẩy
Lợi là y, chết lại là ta!
Và sau nầy tôi có làm mấy câu thơ khác để nói về sự kết hợp của hai hạng người nầy như sau:
Kẻ có dao lại thiếu đá mài
Người có đá mài lại thiếu dao
Hai kẻ cấu kết lẫn nhau
Gây ra nhiều tai họa.
Cho đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao “người ta” lại thích đăng những bài chửi người như vậy trong mục “Diễn Đàn Bạn Đọc” hay trong các mục thơ, mặc dù một lần đã bị “rắc rối về pháp luật” và thêm một lần nầy nữa, lần nầy chắc cũng phải nhiều cam go và tiêu hao không ít. Người chửi thì hăng, chửi để “khoái tỉ”; còn chủ báo thì thích thú vì độc giả tò mò lấy báo mình nhiều thì quảng cáo của khách hàng được tăng. Tuy nhiên, phía sau tất phải có một cái “gì đó” mà tôi không thể biết; nếu không thì không có ai rảnh để moi móc mà viết chửi người ta lần nào ít nhất cũng khoảng sáu tháng trời! Mà hết việc nầy lại đến vấn đề khác!
Có một lần, anh chủ báo đưa tôi cái “fax” của một người nào đó tên “Xuân” gởi về, đại khái viết: “Anh L. Mấy lúc gần đây thấy xuất hiện trên báo của anh có tên Đồ Ngông nào đó viết những bài tôi thấy ....”. Tôi mĩm cười, vì tôi đã đoán trước sẽ có lúc như vậy. Họ sẽ cố loại tôi ra vì tôi cản bước tiến, làm chậm lại kế hoạch của họ thì họ làm sao thích được. Họ phải “bứng” tôi đi! Họ đâu biết rằng, tôi đã nghe trước đó, độc giả lại thích những bài tào lao như vậy và “Đồ Ngông”, một cái tên hơi là lạ, và kỳ kỳ làm cho độc giả có một cái cảm giác “như thế nào đó”! Sau đó anh chủ kêu tôi đổi “bút hiệu” ấy đi, rồi ông ấy sẽ đăng tiếp. Nhưng, tôi “ngu gì” để đi đổi bút hiệu ấy sao? Nếu đổi, thì nhóm “gây rối” sẽ dễ dàng “dập” tôi ngay, nó là cái bẫy để họ cẩn trọng khi “chửi hội đồng” đối với tôi. Tôi nhất quyết không đổi: “Thà rằng tôi không viết nữa, chứ không đổi. Anh thấy được thì đăng, không thì thôi. Khi nào anh cảm thấy không thích hợp thì anh cho hay tôi không viết nữa”. Anh cũng đồng ý như vậy!
Trong một lần sau, anh chủ báo cho tôi hay ở trên farm có xuất hiện tạp chí Né. Tôi chưa nghe nói và chưa thấy tạp chí ấy bao giờ. Tôi ngạc nhiên hỏi lại anh. Anh cho biết anh đã thấy tạp chí đó rồi và anh kêu kiếm và xin dùm.
Tạp chí Né ra được hai số kế thời gian nhau mặc dù được đề là “ba tháng một lần”. Tạp chí là hiện thân của “Gia đình Né” in màu, trình bày khá đẹp, coi có vẻ nhà nghề lắm. Về sau tôi mới biết là người phụ trách ấn hành đã từng học qua ngành báo chí ở Đại Học Vạn Hạnh xưa kia.
Tôi xin được hai số cho cả tôi và anh chủ báo. Tôi đọc qua nội dung, tôi cũng mường tượng chỉ một vài người viết mà thôi. Trong đó tôi thích nhất hai bài thơ của Nguyễn Nhi nói về khỉ và trâu, ngụ ý đến cuộc xung đột. Thế là tôi bị chứng “Đồng bệnh tương lân, đồng khí tương cầu”.
Qua vài lần nói chuyện với người phụ trách in ấn tạp chí Né, tôi ngõ ý phụ viết cho vui nhằm giải trí cho các nông gia và tạp chí cũng có người “thêm tay thêm chưn”. Anh phụ trách không tin tôi có thể viết, và tỏ ý ngờ vực. Tôi đành năn nỉ: Nói thiệt với Th., tôi là Nguyên Thảo hay Đồ Ngông đây. Nhưng điều ấy cũng không xóa được sự ngờ vực, Th. liền nói: “Ừ! Thì bửa nào anh đưa bài đi”.
Thế là tôi và Nguyễn Nhi không hẹn mà gặp trên cùng một chuyến tuyến, chúng tôi đi cùng nhau trên một đoạn đường dài, mặc dù tôi thì chỉ đứng cửa giữa khuyên can, còn Nguyễn Nhi thì có nghiêng, nhưng với tôi có bạn đồng hành chẳng là tốt hơn sao?
Nguyên Thảo,
03/01/2010.
(“Cuộc Hành Trình Của Chữ Nghĩa” 13)
Subscribe to:
Posts (Atom)