Saturday, April 16, 2011

Tình Thầy Trò: Hơn 50 Năm Tìm Lại!

(Viết Kính tặng: Thầy Lý Văn Trọng,
Và các bạn: Từ Minh Tâm, Lưu Thanh Bình)


Người ta thường nói “Tìm lại” là kiếm được cái gì đã mất, tuy nhiên đây không phải là cái đã mất mà chỉ là không được khơi dậy mà thôi. Tôi chỉ làm một công việc là ôn lại những kỷ niệm của thời ấu thơ cùng với bạn bè đồng môn của trường Trung học Trịnh Hoài Đức ngày nào. Cũng chỉ viết mà chơi, đồng thời phụ họa cùng với Từ Minh Tâm và các bạn cùng trường, góp phần “hoa lá cành” cho trang nhà Cựu Học Sinh Trịnh Hoài Đức. Nhưng những sự bất ngờ đã đến, đến trong tư cách rất ư là tình cờ. Một: Người em gái ngày nào ở trọ chung mà tôi đã đề cập đến trong bài “Cho tôi một lời tạ ơn”. Rồi hôm nay tôi lại viết một bài khác để “Tạ ơn” cho người “điều hành trang Web” và người bạn khác là Lưu Thanh Bình, một cộng tác viên đắc lực của trang Web.
Bạn thử tưởng tượng tôi và Thầy tôi từ năm 1958 đã xa cách nhau rồi và từ ấy đến nay chưa hề có tin tức hay liên lạc lại. Thế mà, bây giờ chúng tôi lại trao đổi với nhau, cũng như trước đây cũng qua sự liên lạc của Từ Minh Tâm tôi đã được tin về Thầy Nguyễn Vũ Hải.
Trở lại năm 1958, quả thật là xưa phải không bạn? Thuở ấy, trường Sơ Cấp Tân Phước Khánh mới được mở thêm lớp Nhì. Tôi không nhớ rõ sỉ số trong lớp là bao nhiêu, nhưng phỏng độ hơn 50, 60 học sinh vì không phải học sinh của trường Tân Phước Khánh không thôi, mà còn cộng thêm vào số học sinh từ trường Hóa Nhựt, Tân Long, Tân Hội, Vĩnh Trường chuyển ra nữa. Một ông thầy mới trẻ, đẹp trai rất có phong độ từ Lái Thiêu lên thường hay cỡi chiếc xe gắn máy Sachs của Đức (không biết có phải là Goebel hay không hay Beta gì đó). Dù là trẻ nhưng Thầy rất chững chạc và đạo mạo đúng như là nghề nghiệp: Đó là Thầy Lý Văn Trọng. Cũng như đa số các Thầy vào thời ấy, Thầy Trọng cũng thích văn nghệ và đánh đàn Măngđôlin rất ư là dòn dã. Những giờ Hoạt Động Thanh Niên, chúng tôi luôn được Thầy Trọng dạy những bài hát mới liên tục từ “Tía em hừng đông đi cày bừa, má em hừng đông đi cày bừa…”, cho đến “Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia…” ngoài bài Quốc Ca và Suy Tôn Ngô Tổng Thống để chào cờ mỗi buổi sáng; rồi đến “Bạch Đằng Giang”, “Bóng Cờ Lau”, “Xuất Quân” (Dưới ánh ô vàng rầm rầm đoàn quân ta tiến…), Trưng Nữ Vương, “Ai bảo chăn trâu la khồ, chăn trâu sướng lắm chứ!…”, và cái bài gì mà tôi không nhớ tên tựa, nhưng mỗi lần Thầy bắt nhịp hát là thằng Em Úng nó hát thật lớn “Ắng ình inh eo ắm ươi àn a á…” khiến thằng Son phải la “mầy hát cái gì vậy Em Úng, người ta hát Nắng bình minh… còn mầy hát cái gì kỳ vậy!”. Thằng Son chỉ ghẹo thôi chứ thằng Em Úng nó ngọng cơ mà, làm sao mà nó hát cho đủ chữ được. Thằng Son mãi đến lớn không bỏ được tật lí lắc của nó. Đến năm Đệ Tứ lúc còn học ở trên Tân Uyên, sáng thứ hai chào cờ sau khi hát bài Quốc Ca xong đến hát bài “Suy Tôn Ngô Tổng Thống” đến đoạn “bài phong kiến bốc lột” không biết nó hát như thế nào đó mà những thằng bạn đứng bên nó bỗng phát lên cười khiến cả lớp cũng cười không thể hát được. Ông Tổng Giám Thị Mã Sấm tức quá bảo hát lại, tới đoạn đó lại cũng cười nữa, thế mà thằng Son không cười mới là hay. Ông Tổng Giám Thị quát cho một hồi rồi xếp hàng vào lớp, bỏ dỡ bài ca ấy. Sau 75 nghĩ lại thời ấy cũng may, nếu sau 75 mà như vậy chắc là đã có chuyện lớn rồi! Không ở tù thì cũng gặp rắc rối khó khăn!
Có bài hát mà tôi cứ nhớ mãi không thôi, nó gắn liền với những kỷ niệm dấu yêu cả trường lẫn làng quê đó là bài mà Thầy Trọng đã dạy “Trường Làng tôi” (Trường làng tôi không giây phút tôi quên dù cách xa muôn trùng trường ơi!…) của Phạm Trọng Cầu mà thuở đó tôi chỉ chép là Phạm Trọng cho nên tôi đã phạm một lỗi nghiêm trọng trong bài “Tân Khánh: Quê hương thời tôi lớn”, tôi đã viết tên Thầy tôi là Phạm Văn Trọng mà không là Lý Văn Trọng, tôi đành tạ lỗi với Thầy tôi! Một năm lớp Nhì được học giỏi, hát hay!
Sau nầy, tôi có ghi lại những kỷ niệm đáng nhớ vào thời lớp Nhì ấy trong bài “Âm Nhạc Với Đời Sống” (với bút hiệu Đồ Ngông) như sau:
“Đồ tôi vốn biết hát chút chút, hát với trẻ con mà Đồ tôi phải cầm thước gõ đầu thì được. Nhưng mỗi lần hát, trẻ con lại bụm miệng cười khúc khích vì tiếng Đồ tôi giống như vịt đẹt kêu lên khi bị người ta đuổi chạy. Thế mà Đồ tôi lại thích các bài hát, thế mới chết! Trong cuộc đời của Quý vị không biết thế nào, chứ Đồ tôi gần như có những kỷ niệm thiết tha và yêu quý không cùng mà dám chắc trẻ con Việt nam trên xứ Úc, hay bất cứ trên xứ nào cũng không thể có được. Vì rằng vào thời các giai đoạn ấy, trên đài phát thanh rất thường hay hát các bài hát ấy. Bây giờ thì có bài Đồ Ngông tôi nhớ tên, có bài chỉ nhớ được vài câu, có bài không biết tựa là gì, nhưng nó vẫn là kỷ niệm của Đồ tôi.
Ngoài bài Quốc ca: "Nầy Công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng, đồng lòng cùng đi hi sinh tiếc gì thân sống...", trong lớp học đầu tiên ấy có mấy anh mấy chị; nào là Cờ, Tướng, Tự, Sơn, Chi, Son, Gõ, Năm...Và bên nữ chị Mây, Thay, Tuyết, Mới, Khởi, Băng Tâm...đứng sắp hàng mỗi sáng "nhóng mỏ" ca thật lớn, trong khi đó thì hai bạn đứng kéo cờ lên. Xong tới bài "Suy tôn Ngô Tổng Thống". Ôi! Bây giờ trong lứa bạn có người mất, người còn, những dáng trẻ con ấy không thấy nữa, đầu đã bạc, răng bắt đầu rụng, con cháu đầy đàn. Vào cuối năm lớp nhì cả lớp lại bùi ngùi, lau nước mắt tiển thầy Trọng đi động viên vào quân đội. Và năm sau lần đầu tiên viết chánh tả với cô giáo người Bắc: Vũ thị Hồng Ngọc. Cô đọc tựa bài "Cách định bệnh", có đứa thì viết đúng, có đứa viết "Cách địch bạch", đứa thì viết "Cách định bạch" rồi "địch bệnh" cùng nhau ngơ ngác. Khi bắt lỗi đứa ít nhất cũng là 8 lỗi, đa số đều trên mười lỗi lãnh "dê rô" ốc ngỗng. Tuy nhiên trong các thời gian ấy nào là bài "Khỏe vì nước", rồi "Ngày bao hùng binh tiến lên, bờ cõi vang lừng câu quyết tiến..." hoặc "Dưới ánh ô vàng rầm rầm hùng binh ta tiến.." rất khí thế. Lúc thầy Trọng còn ở trường thầy dạy nhạc nhiều lắm, có lúc thầy đem đàn Măngđôlin đàn đệm nghe dòn dã. Rồi có những ngày, các thầy ở trường khác quy tụ về vừa bắt giọng trò ca, các thầy cũng ca, Ôi! Thật là vui vẻ cả trường!”
Bây giờ những Thầy không biết ở nơi mô? Thầy Khuê thích thể dục thể hình đã mất đi từ năm 61 trong chuyến công tác ở trên Tân Uyên, Thầy Liệu, Thầy Viễn, Cô Cúc? Thầy Hòa và Cô Nga đã về Sài Gòn từ lâu. Thầy Di cũng đã “đi” rồi!
Thời gian thấm thoát mà đã mấy mươi năm, ngày xưa trường học lèo tèo mấy xã mới có một trường; bây giờ trường Phổ thông Trung học khắp nơi. Mỗi tỉnh cũng thường có trường Đại học, học sinh ôi, sao đông ơi là đông. Mà nhân tài để làm cho đất nước tiến lên lại chẳng thấy. hay chỉ tại mình không đi đúng đường đó chăng?
Thấy bây giờ để nhớ lại thời xưa, tình thầy trò lúc ấy thật là hiếm hoi như trời hạn mà trông mưa. Thế cho nên mấy mươi năm mới có được tin thầy, quả thật là đáng quý vô ngần. Điều ấy nếu mà tôi chẳng có “duyên” để viết. Thầy tôi không có duyên để đọc thì chắc cũng chẳng bao giờ lại được bắt tin nhau. Một cuộc truy tầm vòng vo mà Lưu Thanh Bình dí dỏm trong Email như sau:

“Đúng ra là các anh nên cám ơn anh Tâm vì chính anh Tâm mới là người đầu tiên tạo điều kiện để thầy trò có cơ duyên hội ngộ sau nữa thế kỷ.
Vậy là một người VN , nhờ sự giúp đỡ của một người Mỹ , đã làm cầu nối liên lạc cho hai người Pháp và Úc gặp nhau.
Xin nói thêm anh Trọng là dân Lái Thiêu , bạn với những người anh họ của Thanh Bình , nhờ đọc bài " Người Hoa ở Lái Thiêu" trên trang THĐ mà nhìn ra đồng hương với nhau.
Anh Thạch là "sư huynh" của Thanh Bình.
Một niềm vui tinh thần cho người sáng lập ra trang nhà THĐ.
Bình”

Lưu Thanh Bình đã đúng, tôi và Thầy tôi trước tiên phải cám ơn Từ Minh Tâm mới là phải việc. Nhưng cái “duyên” mà Thầy tôi lại “mò” tới trang Web CHS Trịnh Hoài Đức mới là quan trọng. Tôi biết chắc là Thầy tôi không có học ở trường Trịnh Hoài Đức. Tôi sẽ không hỏi Thầy tôi về lý do mà chỉ để “đoán già đoán non” cho nó tăng thêm phần hấp dẫn. Thầy được sự lôi cuốn của bài Lưu Thanh Bình viết về “Người Hoa ở Lái Thiêu” để rồi Thầy “lưu ý” đến bài “Tân Khánh: Quê hương thời tôi lớn” của tôi. Thầy chỉ nhạy cảm với chữ “Tân Khánh” vì nơi đó thầy đã có dính líu trong một thời gian ngắn, Thầy cũng không ngờ trong bài viết lại có đề cập đến một năm ngắn ngủi mà đầy kỷ niệm của Thầy. Để rồi Thầy lại truy tầm Email của Lưu Thanh Bình trong “Sổ Lưu Niệm”, và Thầy rất khéo léo với Thanh Bình như sau:

“ Thân gởi chú Thanh Bình,
Xin lổi gọi là chú vì thấy email có số 1954, tôi đoán là năm sinh ,nếu đúng như vậy thì nhỏ hơn tôi mười mấy tuổi.
Tôi mới đọc bài "Ngưòi Hoa ở Lái thiêu " do Lưu Thanh Bình viết, tôi tìm trong "Sổ lưu niệm "của trường Trung học Trịnh Hoài Đức và may mắn tìm được địa chỉ nầy của chú.
Đọc xong bài viết, tôi biết ngay tác giả là người Lai Thiêu 100% , vì mọi sự kiện và nhơn vật trong truyện rất chính xác như tôi từng biết hồi còn nhỏ ở quê nhà; tôi sanh quán tại chợ Laithiêu, nhưng không có học trường THĐ, chỉ có hồi thời Tiểu học có học tường Laithieu, bạn học thửơ đó sau làm thầy giáo rất nhiều như thầy Phúc, thầy Tại , thầy Nghị,thầy Chiểu, thầy Ren,cô Lôi ,cô Khứ,cô Khiết...
Trong truyện có nói tới võ sư Quí, va bà tám Ngắn, đó là dì tám của tôi .Tôi cũng lai Tàu, 1/4 thôi, khai sanh hồi trước có ghi hai Minh Hương trong dấu ngoặc.
Dài dòng về tôi, quên hỏi chú Bình phải ở bên phía chợ củ không? vì ben chợ mới tôi biết gần hết mấy gia đình Tàu Việt.
Chú Bình có email của người tên Nguyên Thảo, tác giả bài Tân Khánh quê tôi...?nếu có cho tôi xin , có thể là người tôi quen vì tôi có ở Tân Phước Khánh một thời gian ngắn.
Rất vui mừng biết được thêm một đồng hương ,mong có dịp gặp lại.
Trọng / Paris.”

Quả thật Thầy tôi đã biết “học trò” của Thầy đã viết bài “Tân Khánh: Quê hương thời tôi lớn” rồi. Nhưng Thầy muốn truy tầm và xác minh, thế thôi! Thế là Thầy trò hội ngộ sau hơn nửa thế kỷ trôi qua.
Một người (ở) Pháp phải nhờ đến một người (ở) Việt Nam; người (ở) Việt Nam nhờ đến một người (ở) Mỹ để nối kết một người (ở) Pháp với một người (ở) Úc. Lưu Thanh Bình thật là thông minh và có óc hài hước đáo để.

Và Từ Minh Tâm cũng chia sẻ niềm vui như sau:

“Rất vui khi thấy anh em, thầy cô liên lạc được với nhau
Tâm”.
Thế là, nhờ Từ Minh Tâm mở ra trang Web mà CHS Trịnh Hoài Đức đã có tiêu điểm để nhìn, để hoạt động, để kết nối từ những thế hệ lại với nhau kể cả Thầy lẫn Trò. Còn riêng tôi, tôi lại một lần nữa “Cho tôi một lời Tạ ơn” với Từ Minh Tâm và không phải “người viết” kín đáo nữa mà với một cái tên hẳn hoi: Đó là Lưu Thanh Bình, người đồng hương Lái Thiêu với Thầy tôi!

Nguyên Thảo,
13/04/11.

Saturday, April 2, 2011

Tổng Quan Về Giáo Lý Đạo Phật:

Phần II: Xuất Thế Gian.
A-Nhân Sinh Quan.

-Theo Duy Thức Học.
-Thập Nhị Nhân Duyên
-Duyên Khởi.
-Nghiệp -Luân Hồi.
-Khổ (Khổ đế);
-Nguyên nhân của khổ (Tập đế).
-Chỉ con người mới tu được!


Theo Đạo Phật, con người là một loài trong sáu cõi luân hồi mà chúng sinh phải trải qua để trả những nghiệp báo của mình vào những kiếp trước. Dù cuộc sống có ít vui nhiều khổ, nhưng con người lại là chúng sinh có khả năng tu hành để giải thoát, để thành Phật, thành Bậc Giác Ngộ. Ngay cả những chúng sinh ở cõi sung sướng khác như cõi trời muốn thành Phật cũng phải sinh lại về cõi người để tu và mới đạt được Đạo. Sáu cõi luân hồi đó là: Thiên (Trời), A-Tu-La (Thần), Nhân (Người), Súc sinh (Loài vật), Ngạ qỷ› (Qu› đói), và Địa ngục.

I-Theo Duy Thức Học:
Như trong phần "Nhập Thế Gian" chúng ta thấy rằng con người, chúng sinh và vũ trụ được thành hình vì do sự "Vô minh" của tâm, tâm không thấu rõ "sự" và "lý" của pháp mà đã "vọng động" có "tâm phân biệt" và "vọng tưởng" để từ đó làm duyên khởi cho bao nhiêu duyên khởi khác hiện ra (trùng trùng duyên khởi) và đưa chúng sinh vào vòng "luân hồi sinh tử", khó thoát ra được.
Và cũng trong phần đó, chúng tôi đã cố gắng dẫn chứng bằng những đoạn Kinh mà Đức Phật đã giải thích về sự "ra đi" từ nơi nguồn gốc để vào "vòng luân hồi sinh tử". Như thế, chúng ta đã biết vì "trong một lúc" vọng động, phân biệt của Chơn tâm mà chúng sinh đã mượn đến tứ đại (đất, lửa, gió, nước) để kết hợp thành thân xác của mình. Với thân xác nầy đã "trói buộc" chơn tâm trong khuôn khổ, không vượt ra khỏi giới hạn của nó; vì vậy chơn tâm mất hẵn bản chất "tự sáng suốt, chiếu soi" và không còn "tự tại cùng hư không", tức là không thể lớn bao trùm cả hư không hay nhỏ ngồi trong hạt bụi vi trần được nữa. Cái "chơn tâm" bị mê muội đó đã trở thành "vọng tâm" để ôm lấy cái thân "tứ đại" vay mượn mà cứ ngỡ là thân thật của mình, để rồi yêu mến nó, phải làm lụng cực nhọc, săn sóc cho nó, tìm đủ mọi cách để chiếm hữu các thứ nhằm cung phụng cho cái thân giả tạm. Mọi chúng sinh trong "tam giới" còn luân hồi sinh tử đều là do "Tâm" ở nơi "vọng tâm" nầy mà sinh ra (Tam giới do tâm); nhưng thế nào lại là "vạn pháp do thức"? Cũng trong phần Nhập thế gian, chúng ta còn thấy "Vọng tâm" của chúng sinh lại mượn Kiến đại để "nhận thức" thấy, nghe, hay biết để làm "thức" cho mình. Điều nầy có nghĩa là chúng sinh chỉ có "thức" khi đã là chúng sinh ở trong tam giới; chính nhờ "thức" nầy mà con người, chúng sinh biết chọn con đường tu hành, chọn "pháp" để mà giải thoát, để về trở lại với Chơn Tâm. Thế là biết được "vạn pháp" cũng do "Thức", cho nên "Vạn pháp do thức" là vì vậy! Cũng kể từ đó chúng sinh có "Tâm" và "Thức" hay gọi chung lại là "Tâm thức" (khác với Thức tâm, thức tâm hay là chơn tâm là một trong 7 đại). Ngoài ra, chúng sinh và con người còn vay mượn "hư không" để thân thể được tăng trưởng lớn lên, đi đứng nằm ngồi. Nếu không có "tính hư không" thì thân thể không thể di động hay tăng trưởng. "Thức" đã đóng góp phần quan trọng vào sự "cấu thành" chúng sinh và con người, cho nên tìm hiểu "Duy Thức" cũng là điều cần thiết của chúng ta vậy!
Nếu "Tâm" khi chưa vào cõi luân hồi thì nó chỉ là "Tâm" với đầy đủ tính chất của nó. Đức Lục Tổ Huệ Năng đã diễn tả về cái Tâm, cái Tự Tánh ấy như sau:
Hà kỳ Tự Tánh bổn tự thanh tịnh
Hà kỳ Tự Tánh bổn bất sanh diệt
Hà kỳ Tự Tánh bổn tự cụ túc
Hà kỳ Tự Tánh bổn vô động diêu
Hà kỳ Tự Tánh năng sanh vạn pháp.

(Cái Tâm của ta tự nó vốn là thanh tịnh, không sanh không diệt, có đầy đủ tất cả tự nó không lay chuyển, nhưng lại "năng sanh vạn pháp" quyền biến vô cùng).

Nhưng khi chúng sinh vào cõi "sinh tử luân hồi" rồi, thì cái tâm ấy bị trói buộc trong thân thể "tứ đại", không vượt thoát ra ngoài được và "cái nhận biết" không qua khỏi các giới hạn của "căn, trần" mà "thân xác" đã cho phép. Các thức ấy là gì?
Khi chúng sinh được thân tứ đại; trên thân có được 6 giác quan, 6 giác quan ấy tiếp xúc với 6 trần cảnh bên ngoài để từ đó có thể nhận thức được vũ trụ, vạn vật chung quanh mà trong Duy thức kể đó là:

- Sắc pháp (11): sắc pháp gồm có 5 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân hay tiếng Hán là nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân- không có ý vì ý đã nằm trong các "thức" chính yếu tức là Tâm Vương) và lục trần: sắc trần, thinh trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần tức là những đối cảnh của vật chất bên ngoài được các căn nhận làm đối tượng cũng như cảnh, sắc đối với mắt; âm thanh đối với tai; mùi, hương đối với mũi; vị nếm đối với lưỡi; đụng chạm, tiếp xúc đối với thân...

Từ 6 căn chúng sinh nhận định và biết được 6 trần bằng 6 thức. Sáu thức đó mà Duy thức học gọi là:
-"Tâm Vương" (6): Nhãn thức (nhận biết của mắt); nhĩ thức (nhận biết của tai); tĩ thức (nhận biết của mũi); thiệt thức (nhận biết của lưỡi); thân thức (nhận biết của thân); ý thức (nhận biết của pháp) hay là thức thứ sáu; và trong Tâm Vương còn hai thức khác là: Thức thứ bảy hay là Mạt Na Thức (ý thức về cái Ngã, cái Ta); và Thức Thứ Tám hay A Lại Da Thức (Tàng thức, là cái túi chứa đựng mọi nghiệp Thiện, Ác hay Vô ký (không thiện, không ác) của mọi chúng sinh trong cuộc sống).
Ở đây, chúng tôi muốn lấy một ví dụ để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về các thức này:
"Cây đó có hoa. Hoa của nó màu sắc rất là đẹp, hình dáng hài hòa, thật hấp dẫn, khiến ai thấy cũng thích. Tôi muốn chiếm hữu làm của riêng mình. Nhưng có thằng bé đến muốn nhổ cây hoa. Tôi đuổi nó đi và đến bứng đem về nhà".
Trong thí dụ ấy nói đến điều gì?
-"Cây đó có hoa": ý nói "mắt" (căn) nhìn thấy được "cây có hoa" (đối cảnh hay đối tượng).
-"Hoa của nó màu sắc rất là đẹp, hình dáng hài hòa, thật hấp dẫn, khiến ai thấy cũng thích": nhận xét của "ý thức" (thức thứ sáu) về hoa của cây có hoa đó.
-"Tôi muốn chiếm hữu làm của riêng mình": "ý thức" muốn cây có hoa ấy phải thuộc "về mình", "về ta" (thuộc về cái Ngã). Ý thức này được gọi là Mạt Na Thức (Thức Thứ Bảy), hay để phân biệt với Thức thứ Sáu (ý thức) nên thức này còn được gọi là Ý Căn.
-"Nhưng có thằng bé đến muốn nhổ cây hoa": Sự "muốn chiếm hữu" của mình có nguy cơ bị mất.
-"Tôi đuổi nó đi và đến bứng đem về nhà": Tôi dùng đến sức mạnh, ỷ lớn hiếp nhỏ để đuổi thằng bé và chiếm cây có hoa làm của riêng. Như vậy theo luật nhân quả tôi đã "tạo nhân xấu" đối với thằng bé, nhân xấu ấy được "tàng chứa" trong "cái túi chứa A Lại Da Thức" (Thức Thứ Tám). Đến khi đủ nhân duyên thuận tiện "nhân" sẽ nẫy mầm, khi ấy tôi phải trả "quả" cho nó, có thể trong kiếp này, hay kiếp sau hoặc ở những kiếp lâu dài về sau không chừng.
Hi vọng với thí dụ này giúp cho chúng ta có thể hiểu về các trường hợp tương tự đối với tai, mũi, lưỡi, thân một cách dễ dàng hơn, cũng như nhận định về Duy Thức trong các trường hợp khác của cuộc sống.
Với Duy Thức này cũng còn cho chúng ta hiểu rõ hơn: Tại sao trong Đạo Phật chủ trương là "Vô Ngã"("Nhứt thế pháp vô ngã": Mọi pháp đều Vô Ngã)? Vì thực ra "Tâm" mọi chúng sinh đều như nhau, bình đẳng và "vô ngã" (không phân biệt ta, người, chúng sinh, ngay cả tướng thọ mạng), tất cả đều "viên dung" với các đại khác trong một thể "không hai" (bất nhị) ở cõi gọi là Niết Bàn, Viên Giác, Chơn Như, Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh Trí, và bằng nhiều danh từ khác nữa. Vì do "không biết" (Vô minh) mà sinh ra ý "cần có ngã" (Vọng tâm) và "có tâm phân biệt"; để rồi mượn tứ đại tạo thành "thân ngã" tạm bợ có sinh lão bệnh tử, như vậy tất cả những cái ngã đó chỉ là vay mượn tạm, không phải là Thật. Cái Ngã thật chỉ có là "Chơn Tâm", là "Phật tánh" không thôi! Muốn thoát khỏi sinh tử luân hồi thì mọi cái "ngã giả" phải trả về cho nguyên gốc của nó và "không mượn nữa" hay đúng hơn là: Trong túi chứa A Lại Da Thức không còn có nhân xấu (hay Nghiệp) nào nữa thì lúc ấy "Túi A Lại Da Thức" bị "vỡ tan" và tâm của chúng sinh lại được "khuếch tán, trương lớn" cùng khắp hư không (cảnh Đại Viên Cảnh Trí) về với "Cõi Chơn tâm" để trở thành bậc Giác Ngộ. Lúc ấy, "Tâm" của chúng sinh mới được tự tại vô ngại như thuở ban đầu trong cùng khắp hư không, muốn lớn được lớn, muốn nhỏ được nhỏ v.v... mà Đức Phật đã ví dụ "như quặng vàng đã được tôi luyện thành vàng ròng; đã là vàng ròng rồi thì không trở lại là quặng nữa", tức là sẽ không bao giờ bị "Vô minh" lôi cuốn vào cảnh Luân Hồi nữa, trừ khi vì nguyện lực mình muốn vào cảnh Luân hồi để độ chúng sinh như những Bậc Bồ Tát hay các Đức Phật đã làm!
Với cái "ngã" về thân, nó đòi hỏi chúng ta rất nhiều vấn đề, nhiều nhu cầu "phải được" đáp ứng trong cuộc sống; và nó chi phối con người phải luôn lo nghĩ, mưu cầu, hay tìm đủ mọi cách để thỏa mãn cho nó; mà "Mạt Na thức" là cái thức chính yếu để chúng sinh nghĩ về mình, làm cho mình, chấp về mình (ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái).
Với những nhận thức được từ Tiền ngũ thức (nhãn thức, nhĩ thức, tĩ thức, thiệt thức, thân thức), chúng sinh chỉ nhận định được những vật, hiện tượng, biến cố... chung quanh hay trong vũ trụ; và với "ý thức" chúng sinh lại được hiểu rõ, nhận định "chính xác, đầy đủ" hơn. Nếu chỉ với sáu thức đó thôi như các triết thuyết thế gian đã chủ trương thì khi con người, chúng sinh chết đi sẽ không còn có một cái gì để làm căn bản "tái sinh" mà duy trì sự nối tiếp của vạn vật, vạn hữu trong vũ trụ nầy cho đến ngày nay cả; vì "ý thức" dễ bị diệt không còn trong năm trường hợp mà Hòa Thượng Thích Thiện Hoa đã kể trong Phật Học Phổ Thông khóa IX, trang 154 như sau:

1/ Trời Vô tưởng; do hành giả khi tu định, nhàm ghét diệt trừ cái "tưởng", mà được sanh về cõi trời này, nên cõi trời này không có ý thức.
2/ Nhập định Vô tưởng; do hành giả diệt trừ sáu thức trước, mới được định này.
3/ Nhập định Diệt tận; do hành giả diệt trừ phần hiện hành của bảy thức trước, mới được định này. Hai định trên đây đều không có "ý thức".
4/ Khi ngủ mê không chiêm bao, cũng không có ý thức.
5/ Khi bịnh nặng gần chết, hoặc khi bất tỉnh nhân sự (chết giả) cũng không có ý thức.
Nhưng trên thế gian mọi việc vẫn được tương tục, hết cái nầy đến cái khác. Chúng sinh nầy chết đi thì chúng sinh khác được sinh ra, thế thì tại sao? Trong Đạo Phật ngoài Tiền Ngũ Thức và Ý Thức ra, còn có Thức Thứ Bảy (Mạt Na Thức) và Thức Thứ Tám (A Lại Da Thức). Mạt Na Thức là cái "Ngã", cái ngã nầy là "chủ" của mọi hành động tạo nghiệp (sát, đạo, dâm, vọng) từ thân hành động, tạo tác; ý suy nghĩ; và ngay trong ngôn ngữ lời nói nữa (thân, khẩu, ý). Rồi hậu quả của những việc làm đó đều được đưa vào "cái túi" chứa (A Lại Da Thức), như là nơi chứa những "hạt nhân" (chủng tử) truyền từ kiếp nầy đến kiếp khác. Tùy theo từng lúc, từng thời kỳ mà những hạt nhân (thiện, ác hay vô ký tức không thiện không ác) kia sẽ nẫy mầm để chúng sinh phải "trả quả". Những hạt nhân đó, có thể sẽ nẩy mầm ngay trong hiện kiếp, hay đợi đến kiếp sau, hoặc thật lâu vào những kiếp sau nữa. Hai thức nầy không bị diệt mà vẫn tiếp nối đến khi nào chúng sinh trở thành Bậc Giác Ngộ thì nó trở thành Bình Đẳng Tánh Trí hay Tha Thọ Dụng (Mạt Na Thức); và A Lại Da Thức thành Đại Viên Cảnh Trí. Lúc đó các thức trả về cho Kiến đại, thân xác trả về cho tứ đại và Tâm cũng không còn phân biệt ta người, năng sở (Vô ngã) để trở về với cõi Bất Nhị (không hai), trở về với Chơn Tâm (bản giác diệu minh minh diệu). Thế cho nên Đức Phật đã nói chúng sinh vì Vô minh đi vào cõi Luân hồi như đi vào giấc mộng. Và chính vì chúng sinh, con người có "thân giả" nên cần có "pháp giả" để lôi cuốn chúng sinh rời khỏi giấc mộng mà trở về với Chơn Tâm, chứ thực ra chúng sinh "vốn đã thành Phật từ xưa đến giờ", vì chúng sinh vốn ban đầu đã từ trong cõi Phật mà ra đi. Cho nên, Đức Phật đã thuyết giảng bao nhiêu năm dài nhưng cuối cùng Ngài đã thốt lên: "Bao nhiêu năm ta chưa nói một lời", vì "thuyết" cho những "cái giả" chỉ bằng những "lời giả" mà thôi, chứ chưa phải là "lời thật"!
Chính vì "gieo nhân, gặt quả" ấy mà đã lôi kéo con người, chúng sinh tương tục tái sinh, từ kiếp này cho đến kiếp khác trong cõi Luân hồi. Vì vậy mà: "chúng sinh thì sợ quả, còn Bậc Bồ Tát thì sợ nhân"!
Và để chúng ta có thể hiểu rõ về "tính ưu thế" của Triết học Duy Thức hơn, chúng tôi xin ghi lại đoạn giảng của Hòa Thượng Thích Tâm Thanh trong bộ băng giảng "Duy Thức Học" như sau:

"....Và chúng tôi đã so sánh hôm trước để ở phần đầu để cho quý vị nhận rõ rằng tất cả từ trước tới nay đều có những quan niệm, những khái niệm hay là những triết thuyết là Duy Tâm, Duy Vật, Duy Linh, Duy Lý, và trong đó có Duy Thức. Thế thì Duy Tâm, Duy Vật, Duy Linh, Duy Lý, tất cả những cái Duy đó đều được nhận thức một cách sai lầm, sai lầm bởi vì sao? Nếu là Duy Tâm mà hiểu Duy Tâm có nghĩa là bao hàm chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức thì đó mới gọi là Duy Tâm được. Đàng này quan niệm của Duy Tâm, khái niệm của Duy Tâm là Duy Tâm đó tách rời ra khỏi đối tượng nhận thức; hay là Duy Vật cũng tách rời ra khỏi đối tượng nhận thức; nếu Duy Vật là chủ thể nhận thức thì tâm là đối tượng nhận thức; ngược lại Duy Tâm thì tâm là chủ thể nhận thức và vật là đối tượng nhận thức. Nếu hai cái đó tách ra thì đó là nhận thức rất là sai lầm. Sai lầm vì sao? Theo Duy Thức Học thì Duy Thức có nghĩa là bao hàm cả chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức thì mới gọi là thức. Nếu có đối tượng mà không có chủ thể thì sao? Ai là người nhận thức? Và nếu có người nhận thức mà không có đối tượng thì như thế nào? Ví dụ đây là cuốn sách, thế thì tại sao biết nó là cuốn sách, tại sao? Vì có chủ thể nhận thức (à) thì mới biết đây là quyển sách; nếu không có chủ thể nhận sách mà chỉ có muôn vật trong vũ trụ này thì không có chủ thể nhận thức thì như thế nào? Thì biết vạn hữu vũ trụ là cái gì mà gọi là sông, là núi, là trăng, là sao, là biển, là hồ, là nhà, là cửa xe cộ. Cái gì biết được cái đó? Cái đó gọi là chủ thể, cái biết cái đó là chủ thể nhận thức. Ngược lại có chủ thể nhận thức mà không có đối tượng nhận thức thì chủ thể nhận thức nhận thức cái gì? Quý vị hiểu chưa? Hôm nay nắm vững cái này chưa? À! do đó mà nếu chủ thể nhận thức mà nó tách rời ra khỏi đối tượng nhận thức thì đó là điều sai lầm. Vì thế mà Duy thức học xác định rằng: Cái nhận thức là sự lãnh hội, là sự tư duy, là sự phân biệt nhưng thường thường với thế gian thường khuynh hướng rằng cái nhận thức đó tách rời ra khỏi đối tượng nhận thức; mà khi đã nhận thức như thế thì đó là sự (sai lầm). Nói tóm lại, Duy Thức Học cho cái sự nhận thức này nó bao hàm cho cả chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức thì mới gọi là Duy Thức được".

Ở trên, chúng ta đã đề cập đến 8 pháp Tâm Vương, trong đó Mạt Na Thức là Tâm Vương chi phối và điều khiển hầu hết mọi hành động từ "Thân, Khẩu, Ý" của chúng sinh. Những "tội lỗi" hay "những điều thiện" mà chúng sinh tạo ra đều có liên hệ đến Mạt Na Thức: Nếu Mạt Na Thức chú trọng đến cái Ta, để cái Ta được sung sướng, có danh vọng, có khoái lạc thì mọi hành động sẽ là "giành giựt, cướp bóc, dùng mọi thủ đoạn, chém giết, dối gạt"... để lấy cho được những gì mà "Cái Ta" cần đến. Những việc làm, hành động trong cuộc sống ấy đều được "biến" thành "nhân" bỏ vào trong "túi A Lại Da Thức" đợi chờ đến thời kỳ nẫy mầm; và chúng sinh ấy phải trả "quả" trong một kiếp nào đó! Còn nếu "Cái Ta" không được Mạt Na Thức xem là quan trọng lắm, mà Mạt Na Thức còn thấy "có người" thì Mạt Na Thức sinh tâm bố thí, giúp đỡ, nhường người... cuộc sống của chúng sinh ấy được "thiện hơn" và gây được nhiều "nhân thiện" tích chứa vào "túi A Lại Da Thức" để về sau hưởng được quả tốt. Một khi "nhân xấu" không còn hiện diện trong "túi A Lại Da Thức" thì chúng sinh ấy lập tức trở thành Phật, thành Giác Ngộ và thoát khỏi vòng luân hồi. "Túi A Lại Da Thứ"’ lúc này cũng bị phá vỡ ra, tâm viên dung khắp hư không, vô ngại: Đó là cảnh "Đại Viên Cảnh Trí" hay Niết bàn, Yêm Ma La Thức hoặc cõi Chơn Tâm... vậy! Do đó, người tu hành tức là những người "muốn chấm dứt nhân tương lai, không tạo nghiệp mới và được trả những nhân, nghiệp trong quá khứ" để họ chóng đạt được an vui, tự tại trong cõi Niết bàn!
-Đề cập đến phần nầy, Duy Thức nói đến 5 pháp Biến Hành khởi đầu khi chúng sinh bắt đầu có "căn" tiếp xúc với "trần" tức là: Mới đầu tiếp xúc với việc hay vật (xúc); rồi khởi ý (tác ý); Mạt Na Thức muốn lãnh thọ (thọ); nên thường tưởng nhớ (tưởng) và lo nghĩ, tìm cách tạo tác để chiếm hữu (tư).
-Tiếp theo là 5 pháp Biệt Cảnh: Dục (mong muốn); nhưng lại Thắng Giải (hiểu biết rõ ràng); rồi Niệm (nhớ); Định (không để tâm tán loạn); và Huệ (sáng tỏ, sáng suốt lựa chọn).
Có hai con đường lựa chọn để hành động: Theo "thiện" hoặc theo "ác".
-Tâm sở Thiện (11 pháp): Các tâm sở nầy hướng, kềm chế chúng sinh, con người khiến họ hành động theo con đường thiện, gồm có: Tín (Tin những gì chơn thật, nghiệp dụng làm cho tâm thanh tịnh); Tinh tấn (tinh chuyên và tinh tấn hơn nữa); Tàm (biết xấu hổ); Quí (biết thẹn với người); Vô tham (không tham lam); Vô sân (không sân hận); Vô si (không si mê); Khinh an (lòng nhẹ nhàng, thơ thới); Bất phóng dật (không buông lung, phóng túng); Hành xả (làm rồi không chấp trước) và Bất hại (không muốn làm tổn hại đến ai).
-Căn bản phiền não (6 pháp): Nếu Tâm sở Thiện làm cho con người chúng sinh hành động tốt, lòng thơ thới hân hoan thì bên cạnh đó tâm con người, chúng sinh còn có những tâm sở khiến chính mình phải bực bội, tức giận, phiền não và đi vào con đường ác, không thiện để phục vụ cho "cái Ngã Mạt Na Thức". Sáu pháp phiền não đó là: Tham (tính tham lam, ưa thích tài sắc, danh vọng, sung sướng); Sân (không đạt được thì giận ghét, nổi nóng); Si (sau đó thì mê muội, không biết đúng, phải trái); Mạn (đạt được thì sinh ra khinh mạn); Nghi (nghi ngờ) nhất là không đạt được thì nghi ngờ người nầy, người kia rồi sinh tâm có Ác kiến (thấy biết thuộc về tội ác, nhiễm ô. Ác kiến có: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ, và Giới cấm thủ).
-Đã vậy, ngoài 6 phiền não chính, còn có thêm 20 phiền não khác phụ theo "căn bản phiền não" ấy để làm cho con người, chúng sinh càng thêm phiền não. Thế cuộc đời mới có nhiều khổ hơn vui!
Hai mươi pháp đó gọi là Tùy phiền não.
Tùy Phiền Não gồm có:
a/ Tiểu tùy (10 pháp): Phẫn (giận); Hận (hờn); Phú (che giấu tội lỗi vì sợ mất danh giá hay lợi lộc); Não (buồn buồn, phiền muộn); Tật (Tật đố, ganh ghét những người thành công hay hơn mình); Xan (bỏn xẻn, keo kiết); Cuống (dối gạt người để lợi mình); Siễm (bợ đỡ, nịnh hót để đạt được ý muốn); Hại (Làm tổn hại đến người, loài khác); Kiêu (kiêu căng, phách lối).
b/ Trung tùy (2 pháp): Vô tàm (tự mình không biết xấu hổ); Vô quí (không biết thẹn với người).
c/ Đại tùy (8 pháp): Trạo cử (Lao chao, tâm chao động không yên tịnh); Hôn trầm (Mờ tối trầm trọng thiếu sáng suốt); Bất tín (không tin các pháp lành); Giãi đãi (biếng nhác, trễ nải không lo đoạn ác, tu thiện); Phóng dật (buông lung, phóng túng không thúc liễm thân tâm để đoạn ác tu thiện); Thất niệm (mất chánh niệm); Tán loạn (Rối loạn); Bất chánh tri (biết không chơn chánh).
-Trong 51 Tâm sở còn có 4 pháp Bất Định, tức là các pháp nầy không nhứt định thiện hay ác: Hối (ăn năn việc làm đã qua); Miên (ngủ); Tầm (tìm cầu); Tư (chính chắn xét).
Ngoài 11 Sắc Pháp, 8 Tâm Vương, 51 Tâm Sở ra Duy Thức còn có 24 pháp Bất Tương Hành Pháp cộng chung là 94 pháp của Pháp Hữu Vi (có sanh diệt, biến đổi) và 6 pháp thuộc Pháp Vô Vi (là những gì không tạo tác, không sanh diệt, không tăng giảm, vắng lặng thường còn) vị chi tất cả là 100 pháp. Tuy nhiên, chúng không nằm trong phần tìm hiểu của chúng ta, cho nên chúng tôi nghĩ không cần thiết phải ghi ra đây.
Đó là 100 pháp của "Triết lý Nhân sinh" Duy Thức Học (hay Tâm lý học của Phật giáo) để phân tích về con người, hoặc chúng sinh trên đường luân hồi hoặc những phiền não vui buồn trong cuộc sống. Sự phân tích cặn kẽ tâm lý con người từ những việc lớn như lòng tham, sân và si mê để tạo nên nghiệp, đến những chi li của tâm lý khi không thành công thì tâm lý bị rối loạn (tán loạn) hay trầm uất như hờn giận (phẫn, hận), buồn phiền (não), rồi lại sanh ra nhiều biến thái tính ý khác hoặc phải bệnh hoạn về tinh thần... Chính vì điều ấy mà Duy Thức Học đã được các nhà Phân Tâm Học chú trọng đến như là lý thuyết và thực dụng đã đi trước sự khám phá và thử nghiệm của họ cả trên hai ngàn năm.
Ngoài ra, Đạo Phật còn có "Thuyết Thập Nhị Nhân Duyên" khái quát hơn. Chúng ta cũng sẽ lược qua vậy.

II- Thuyết Thập Nhị Nhân Duyên:
Đức Phật từ lúc thành đạo đã có nhiều thời gian để suy niệm về Thập Nhị Nhân Duyên. Ngài đã suy niệm theo chiều xuôi: "Khi cái nầy (nguyên nhơn) có, thì cái nầy (kết quả) có. Với sự phát sanh của cái nầy (nhơn), cái nầy (quả) phát sanh".
Ngài thấy Vô Minh là khởi đầu cho Hành. Chính vì vô minh mà không hiểu được những lý, sự của pháp, của mọi sự việc mà đã đưa đến chọn hành động, tạo tác. Từ Hành sinh ra Thức; để rồi từ hiểu biết phân biệt đó mà mượn đến tứ đại tạo nên Danh Sắc. Có Danh Sắc thì có Lục Nhập tức 6 căn nhập vào để nhìn thấy, quán sát, tiếp cận với 6 trần. Có tiếp xúc (Xúc) thì mới cảm thọ (Thọ). Có thọ mới có thích (Ái). Thích mới muốn chiếm giữ (Thủ) để có được (Hữu). Từ đó mới có Sinh, có sinh ra thì có lớn lên rồi già (Lão), Bệnh, chết (Tử). Phiền não, Ta thán, Đau khổ, Âu sầu, và Thất vọng.

Cho nên, trong Kinh Kiến Chính, Đức Phật thuyết:

"Phật bảo:
-Này các đệ tử! Sanh tử cũng như thế đấy, thần thức là pháp khởi đầu tiên, mà sanh ra pháp ấy lại chính là Si nghĩa là vì ngu si sinh ra say đắm. Vậy Si cũng như hạt giống của cây kia, hạt nó tuy nhỏ nhưng có đủ sức thành được cây rất lớn.
Do gốc ở ngu si mà sanh ra không biết bao nhiêu nhân duyên. Vậy tất cả nhân duyên đều bởi Si (Vô minh), Vô Minh sinh ra Hành (khởi ra hành vi tạo tác), Hành sinh ra Thức (tính phân biệt hiểu biết), Thức sinh ra Danh Sắc (tên và hình, tức là Thân và Tâm), Danh Sắc sinh ra Lục Nhập (sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), Lục Nhập sinh ra Xúc (cảm xúc), Xúc sinh ra Thọ (nhận lấy như là hưởng thụ), Thọ sinh ra Ái (yêu mến say đắm), Ái sinh ra Thủ (giữ lấy), Thủ sinh ra Hữu (có), Hữu sinh ra Sinh, Sinh sinh ra Già, Bịnh, Chết. Hợp cả mười hai nhân duyên lại thành ra có thân này. Khi có thân này rồi lại phải có già, bịnh, chết. Thần thức biến chuyển đổi theo với hành nghiệp (tùy theo nghiệp thiện ác của mình mà đi tới chỗ: phưóc, tội). Bấy giờ lại có cha mẹ, lại mang hình thể khác, đổi cả sáu căn, đổi chỗ tập quen, chịu lấy mọi sự khổ vui. Tất cả phong tục cũng đều bị đổi, không còn có chi là như cũ nữa. Như thế là không còn trở lại và cũng không còn biết được các việc cũ nữa. Từ đấy theo ý kiến mới, nhận lấy chỗ mới cho là có thực, là thường còn mãi mãi, vướng mắc vào những cảnh vui, giả dối, hiện tại, nhận đấy là đúng thực, rồi cho là không có đời trước và đời sau nữa.
Có biết đâu: Đời trước và đời sau đều bởi thần thức biến chuyển dời đổi mà có; khi thần thức đã dời đổi đi thì lại có cha mẹ khác, lại mang lấy sắc thân mới, thay đổi cả sáu căn, cho chí phong tục tập quán khổ vui cũng đều thay đổi khác hết, tức khắc là không biết gì đến những việc đời khác nữa, và cũng không trở lại với sắc thân cũ nữa, cũng ví như cái cây ta trông thấy kia, không sao trở thành cái hạt được". (Trang 3-4, sách Kinh Vô Lượng Thọ...)

Và, Hòa Thượng Thích Thiện Hoa đã soạn thành bài để học, nghiên cứu trong Phật Học Phổ Thông khóa V (từ trang 390 đến 393) như sau:

"Con người do đâu mà có?
Để giải đáp vấn đề này, đạo Phật có thuyết "mười hai nhân duyên".
Trong mười hai nhân duyên ấy, vô minh là căn bản. Vô minh là gì? Tức là đối với sự lý, không rõ biết được đúng như thật. Do đó mà sanh ra mê lầm, thật cho là giả, giả cho là thật, điên đảo hư vọng chấp ngã, chấp pháp, phân biệt mình, người; rồi theo cảnh thuận nghịch mà khởi phiền não, nên cũng gọi là "hoặc". Từ mê hoặc mà tạo tác ra các nghiệp, hoặc thiện hoặc ác. Sự tạo tác ấy gọi là "Hành", chi thứ hai trong mười hai nhân duyên.
Do nghiệp lành dữ huân tập chứa nhóm thành ra "nghiệp thức". Nghiệp thức này theo chỗ huân tập thuần thục rồi thác sanh vào thai mẹ, đó là món "Thức", chi thứ ba trong mười hai nhân duyên.
Trong thai mẹ, gom tinh huyết làm nhục thể, tâm thức cùng nhục thể hòa hiệp gọi là "Danh sắc" đó là chi thứ tư trong mười hai nhân duyên, (Danh: Tâm thức; Sắc: Nhục thể).
Từ Danh sắc lần lần tượng đủ sáu căn, gọi là "Lục nhập". Đó là chi thứ năm trong mười hai nhân duyên.
Sau khi ra khỏi thai, sáu căn xúc đối sáu trần, biết nóng, lạnh, đau, êm v. v... nên gọi là "Xúc", chi thứ sáu trong mười hai nhân duyên.
Do sự xúc chạm ấy, mà tâm dần dần sanh niệm phân biệt rồi có những sự giác thọ vui, khổ v.v... Đó gọi là "Thọ", chi thứ bảy trong mười hai nhân duyên.
Do sự cảm thọ vui, khổ, khởi niệm ưa ghét, chấp đắm ấy mà sanh ra có "Ái", chi thứ tám trong mười hai nhân duyên.
Vì tham ái nên tìm cầu nắm lấy cái hay cái tốt, cái ưa thích. Đó là "Thủ", chi thứ chín trong mười hai nhân duyên.
Muốn cho thỏa mãn chỗ nhiễm trưóc, ưa thích của "Ái" và "Thủ", nên phải tạo nghiệp. Nghiệp này có thể chiêu cảm quả báo vị lai, nên gọi là "Hữu", chi thứ mười trong mười hai nhân duyên.
Đã có "Hữu" là cái mầm giống, thì thế nào cũng có "Sanh" là chi thứ mười một trong mười hai nhân duyên.
Đã có "Sanh" thì phải có "Lão và Tử" là chi thứ mười hai trong mười hai nhân duyên.
Trong mười hai nhân duyên, "Vô minh" thuộc về "hoặc" và "Hành" thuộc "nghiệp". Đó là nhơn quá khứ. Do nhân quá khứ ấy mà có năm quả "Khổ" hiện tại là: Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc và Thọ.
Do quả "Khổ" hiện tại nói trên mà khởi ra "Hoặc" là ái thủ và tạo "Nghiệp" là hữu, để làm nhơn cho quả "Khổ" sau là sanh và lão tử ở vị lai.
Như thế, từ nhơn quá khứ, sanh quả hiện tại, và quả hiện tại, lại làm nhơn cho quả tương lai, ba đời cứ nối tiếp xoay vần mãi không dứt, như một bánh xe xoay tròn, lên xuống, xuống lên không dừng nghỉ.
Cứ đó mà suy ra thì biết rằng, người chẳng sống một đời trong hiện tại này, mà trước kia, về quá khứ đã trải qua không biết bao nhiêu đời sống rồi. Và sau nầy, trong vị lai, cũng sẽ còn vô lượng đời sống nữa. Người hiện sống đây để rồi chết, mà cái chết lại là cái nhơn làm thành đời sống vị lai.
Như thế, sống, chết nối tiếp theo nhau không bao giờ dứt, như những làn sóng, cái này tan đi để hiệp lại một cái khác, không bao giờ hết, nếu còn gió. Còn người, nếu gió vô minh còn thổi, thì dòng sanh mạng còn lưu chuyển, lăn trôi, chìm nổi mãi".

Không những Đức Phật đã suy niệm theo chiều xuôi mà Đức Phật còn suy niệm theo chiều ngược lại: "Khi nguyên nhơn nầy không còn thì quả nầy cũng không còn. Với sự chấm dứt của nhơn nầy, quả nầy cũng chấm dứt".
Do đó, Vô minh chấm dứt thì Hành cũng chấm dứt. Hành chấm dứt thì Thức chấm dứt. Thức chấm dứt thì Danh Sắc chấm dứt. Danh Sắc chấm dứt thì Lục Nhập chấm dứt. Lục Nhập chấm dứt thì Xúc chấm dứt. Cũng thế, lần lượt Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Bệnh Tử, Phiền não, Ta thán, Đau khổ, Âu sầu, Thất vọng đều chấm dứt.

III- Duyên Khởi:
Thập Nhị Nhân Duyên là khởi đầu cho thuyết Duyên Khởi: Chính vì Vô minh mà đã khởi động cho Hành, có Hành mới sinh ra Thức và tiếp theo là một chuỗi các sự kiện khác, những cái sinh ra sau là kết quả của cái hoặc sự kiện có trước, và chúng lại là nhân duyên cho những cái, sự kiện sinh ra sau nữa,... Các sự kiện cứ tiếp nối như thế cho đến vô cùng tận nên được gọi là "trùng trùng duyên khởi".
Trong kiếp nhân sinh, con người không tránh được những duyên khởi đó. Nếu tính khởi đầu chỉ vì Vô minh mà chúng sinh lẫn con người đã "chuyển động" để rời cõi Phật (cõi Chơn Tâm) với "vọng tâm và tâm phân biệt" cho cá nhân mình, cho nên đã mượn tứ đại, kiến đại, hư không tạo thành thân xác làm nơi cho "Tâm" mình trú ngụ trong đó. Từ đó, tâm bị kiềm chế trong trong thân xác ấy nên nó không còn có tính "tự sáng suốt, chiếu soi" (Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu); và rồi nó bị lôi cuốn theo dòng "sự kiện tương tục" của cuộc đời tạo nên bao "nghiệp chướng" và phải chịu luân hồi để trả "quả" những gì đã gây ra trong quá khứ hay hiện kiếp.

IV- Nghiệp Và Luân Hồi:
Mỗi cá nhân, chúng sinh giờ đã trở thành riêng biệt, chỉ nhận thức được qua hình thể cùng các giác quan của mình, cũng từ đó mới phân biệt tốt xấu, thiện ác, sang hèn, giàu nghèo, đói no, ngon dở.... Để cung phụng cho thân xác của mình tồn tại, con người, chúng sinh phải kiếm thức ăn nuôi sống thân mạng, muốn ăn ngon họ phải làm việc nhiều hơn nữa. Để chống với thời tiết lạnh lẽo bên ngoài người ta cần đến nhu cầu che thân; muốn đẹp, ấm hơn thì phải lao động càng cật lực.... Nhu cầu càng nhiều, càng cao thì sự làm việc cần phải năng nỗ hơn. Đó là chưa nói đến sự ham muốn "hơn người" hoặc "đầy đủ" hơn, người ta đã không nghĩ đến thiện ác mà sinh tâm lường gạt, dối trá, giành giật, đâm chém, cướp bóc không từ nan đến chuyện giết người để chiếm đoạt cho được điều mình muốn, gây nên những tội lỗi và điều ác, tức là đi đến chỗ mà Đức Phật gọi là "sát, đạo, dâm, vọng" bằng các hành động từ thân làm, miệng nói, ý nghĩ khởi sinh (thân, khẩu, ý).
Bây giờ, do nơi "Tâm phân biệt" mà cái "Ta" trở nên quan trọng. Mọi hoạt động, việc làm, ý nghĩ gần như là để phục vụ cho cái "Ta" thân xác và cái Ta tinh thần, không từ nan bất cứ một thủ đoạn nào để cái Ta ngoi lên hoặc tiến lên hàng đầu, do vậy mà "ân oán giang hồ" đã gieo tới cho nhiều người, chúng sinh khác. Vô hình chung, con người, chúng sinh đã tạo cõi trần gian trở thành một chiến trường tranh đấu! Có vay nợ thì tất người, chúng sinh khác sẽ đòi; đã vay thì tất có trả, đã gây nhân ác và đem nhân đó "bỏ" vào trong "túi A Lại Da Thức" thì có ngày nó phải nẫy mầm lên để thành quả. Hay nói một cách khác là chúng sinh ấy đã tạo nên "nghiệp"! Khi chết đi, con người, chúng sinh không đem theo được gì cả ngoài "nghiệp" ra. Chính vì thế, các nhân "nghiệp" ấy lôi kéo "Tâm thức" của chúng sinh vào giai đoạn "tái sinh" (có kiếp sau) để trả quả, tức vào giai đoạn "Luân Hồi" bằng "oan oan tương báo" mà trong "Thập Nhị Nhân Duyên" được bắt đầu từ "Thức Tái sinh" và tiếp theo là Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu....
Đức Phật có chỉ rõ: Tùy theo những nhân xấu tốt nhiều hay ít mà chúng sinh đi vào cõi nào trong 6 nẽo của vòng luân hồi: Trời, Người, A-Tu-La, Súc sinh, Ngạ Quỷ, hay Địa Ngục. Và cũng do nhân tốt, xấu trong giai đoạn tái sinh ấy nhiều hay ít mà con người trong cõi người có "thân xác, tinh thần, hoàn cảnh" như thế nào: Xấu, đẹp hay tàn tật, nghèo hèn hay sang trọng, khốn khổ hay sung sướng, thông minh hay ngu đần ... v.v và v.v...!
Những điều giải thích và chứng minh này cho mỗi con người trong hoàn cảnh riêng biệt của họ "có vẻ" đầy tính chất khoa học, lý trí hơn là trong dân gian người ta hay nói là "Trời ban" hay "Trời đày". Tuy nhiên, ý "trời ban, trời đày" vẫn còn hay, hợp lý hơn là do "Đấng toàn năng, toàn thiện" nào đó ban cho; như vậy chẳng quá ra "Đấng Tối Cao" ấy chỉ là tạo con người để hành hạ con người mà chơi chứ chẳng là "toàn thiện, toàn năng" bao giờ!

V- Khổ Đế:
Nhiều người nghiên cứu về Đạo Phật hoặc do nhận định lầm lẫn, hoặc có nhiều nhà ngoại đạo không hiểu được cặn kẽ, cho rằng Đạo Phật chủ trương bi quan hay nhìn cuộc đời bằng sự khổ. Thực ra không là như thế! Thế giới nhân gian tự nó là khổ, không phải đến lúc Đức Phật nói khổ thì cuộc đời mới khổ. Như đã trình bày ở trên, trong cuộc sống nhân gian là một trường tranh đấu đầy những giành giựt, lừa đảo, chém giết cũng bởi muốn cái gì cũng cho "Ta": Ta cần được sung sướng, Ta phải hơn người, Ta phải được mọi người tôn vinh, cung phụng, Ta phải thống lĩnh, cai trị nhiều người... Ngay cả tư tưởng của những người lãnh đạo tôn giáo của nhiều tôn giáo khác cũng thế, chứ không riêng gì người thường. Cho nên, trong cuộc sống đưa đến những hành động "sát, đạo, dâm, vọng" từ "thân, khẩu, ý" không thể tránh khỏi. Cho nên cuộc nhân gian đã phải chịu đựng nhiều đau khổ từ thiên nhiên như: Nóng lạnh, bệnh tật, thú dữ, thiên tai... Lại phải chịu thêm những cái khổ do đồng loại đưa đến như: Chiến tranh, mạnh ăn hiếp yếu, lừa đảo, cướp bóc, bắt làm nô lệ... Ngay như trong cuộc đời con người cũng đã là khổ! Nếu không vì thấy cái khổ của già, bệnh, chết thì chắc Thái tử Siddartha cũng chưa chiêm nghiệm để mà bỏ hoàng cung đi tìm đạo trong hơn 6 năm ròng rã. Đức Phật sau khi thành đạo đã tìm thấy chân lý của thế gian: Thế gian này vốn khổ do chính con người và môi trường chung quanh tạo nên, và ngay trong cả con người lẫn những sinh vật cùng cộng hưỡng trong cùng thế giới. Và Ngài mới nói về điều đó cho mọi người biết như là một Chân lý.
Ngài cũng phân tích các sự khổ một cách cặn kẽ: Khổ từ sinh, lão, bệnh, tử. Khổ cũng đến từ tiếp nối nhau (khổ khổ); hay hoại diệt (hoại khổ); thúc đẩy phải làm dù bằng sức lực hay ý nghĩ (hành khổ); thích mà không được, phải xa rời (Ái biệt ly khổ); mơ ước, mong muốn mà không được (cầu bất đắc khổ); không thích, không ưa mà cứ mãi gặp (Oán tắng hội khổ) và những đau khổ do năm ấm đem lại (Ngũ ấm xí thạnh khổ).

VI- Tập Đế:
Người ta chỉ thấy, chú trọng cái mà Đức Phật nói lên, chỉ ra, mà người ta không để ý đến những điều mà Đức Phật sẽ phân tích trong phần Tập Đế và những Chân Lý khác tiếp theo trong phần Tứ Đế (Diệt Đế và Đạo Đế).
Sau khi nói lên một điều ‘Khổ’ hiển nhiên trong cuộc sống thế gian mà con người và những chúng sinh phải nhận lãnh, không thể tránh khỏi ấy, Đức Phật lại còn phân tích kỹ càng hơn các nỗi khổ đó từ đâu mà ra và do đâu mà có.
Vì muốn phục vụ, lo lắng cho "Cái ngã" của Ta được no ấm, sung sướng, thành công, giàu sang phú quý, hơn người khác hoặc đạt được ý nguyện... mà người ta không từ nan mọi thủ đoạn để đạt được nên đã đem khổ đến cho mình và cho người khác chỉ vì muốn "Thủ", "Hữu" cái mà mình "Ái, Dục". Lòng "Tham" lại càng gia tăng theo những thành công và thời gian nên nghiệp cũng từ đó mà lớn thêm.
Nếu vì nguyên nhân nào đó họ không đạt thành công, hoặc thất bại họ trở nên sân giận, thù hằn oán ghét. Để rồi đến một lúc si mê, họ không còn tỉnh táo mà trở nên hành động tội ác nhằm thỏa mãn căm tức của họ. Họ đã đem nhân xấu bỏ vào trong túi chứa A Lại Da Thức của họ, để một mai trong kiếp này hay kiếp sau hoặc những kiếp sau họ sẽ nhận lấy quả của nó. Lại thêm một kiếp nữa phải Luân Hồi.
Tham, Sân, Si này góp phần rất nhiều vào sự Luân Hồi của chúng sinh, cho nên Đức Phật gọi chúng là "Ba món độc". Tuy nhiên, trong Duy Thức còn có ba tâm sở thiện có thể kềm chế chúng lại là "vô tham, vô sân, vô si", nhất là "Tàm và Quý" (biết xấu hổ và thẹn, mắc cỡ) cũng hạn chế tội lỗi của con người lại cũng khá nhiều! Thế vẫn còn tốt hơn!
Ngoài ra, Đức Phật còn chỉ rõ thêm các phần khác cũng là những nguyên nhân làm cho con người đau khổ như: Mạn, Nghi, Ác kiến.
Như vậy, trong quá trình Đức Phật tìm ra Chân Lý thì phần Khổ Đế là những cái khổ mà chúng sinh tất nhiên nhận lãnh, dù bất cứ ai, dù cho là giáo chủ hay hoàng đế hoặc một người nghèo khổ, cùng đinh hiện diện trong thế gian cũng đều được sinh ra, lớn lên, già và chết. Không một ai không tránh khỏi! Như vậy Chân Lý ấy không thể xem đó là quan niệm của Đức Phật hay là Đạo Phật được. Cho nên những ai vin vào đó xem như là Đạo Phật chủ trương "Khổ" thì quả là "Quá thiển cận" và không hiểu gì về Đạo Phật cả!
Đức Phật phân tích nguyên nhân sự khổ là do từ đâu? Điều mà chúng ta có thể nhận xét là "ưu việt hay không" chính là chỗ những nguyên nhân ấy có chính xác hay không mà thôi! Nếu hoàn toàn chính xác thì đó là Chân Lý mà Đức Phật đã tìm được với trí tuệ của mình. Nương vào hai Chân Lý hiển nhiên ấy, Đức Phật mới hướng dẫn con người, chúng sinh vào hai Chân Lý sau là Diệt Đế và Đạo Đế. Đó là hai Chân Lý mới đích thực là do Đức Phật tìm thấy nhằm chấm dứt sự khổ cho chúng sinh, con người thì Đạo Phật không phải là Đạo bi quan, chủ trương cuộc đời là khổ, mà chính cuộc đời là khổ trong tự thân của nó! Cho nên ở đây, chúng tôi không đặt Khổ Đế và Tập Đế vào trong phần II của Xuất Thế Gian là vì vậy! Vì phần II là phần bàn về: "Con đường giải thoát".

VII- Con Người Là Chủ Thể Của Giải Thoát:
Đạo Phật thành hình từ sau khi Thái tử Siddartha đi tìm đạo và đạt được đạo; và Ngài truyền bá giáo pháp đó trong nhân gian hơn 45 năm đi hành đạo. Tuy nhiên, Ngài vẫn phủ nhận giáo pháp đó là của Ngài. Ngài chỉ là một "Đạo Sư"! Trong kinh điển Ngài cho biết giáo pháp đó là con đường tự nhiên mà bất cứ một người nào tu hành theo con đường đó cũng đều được giải thoát như Ngài, vì con đường ấy không phải đến Ngài mới có mà trước đó không biết bao giờ, nhiều vị Phật trong quá khứ đã hành trì và cũng đạt được đạo và thành Phật tự lâu lắm rồi, cho nên Ngài chỉ là một đạo sư chỉ lại cho con người, chúng sinh đi sau hãy nương theo con dường ấy mà tự giải thoát lấy mình, vì con đường ấy cũng chính là con đường mà các Đức Phật trong tương lai phải trải qua. Điều ấy được thể hiện qua câu chuyện mà Quảng Hiền đã ghi lại trong bài viết của mình như sau:

Một thưở nọ, tại Kỳ Viên Tịnh Xá của trưởng lão Cấp Cô Độc gần thành Xá Vệ. Trong thời gian cư trú ở đây, Đức Phật thuyết pháp cho đại chúng vào lúc bốn giờ chiều mỗi ngày. Có một chàng thanh niên mỗi chiều đều đến đây để nghe chánh pháp.
Sau một thời gian, chàng có một thắc mắc muốn hỏi Đức Phật nên một buổi chiều nọ, người thanh niên quyết định đến Kỳ Viên Tịnh Xá trước giờ thuyết pháp để có thể gặp riêng Đức Phật và nêu thắc mắc của mình.
Người thanh niên đỉnh lễ Đức Phật và nói: “Bạch Đức Thế Tôn, con có điều hoài nghi, thắc mắc, mong Đức Thế Tôn mở lòng từ bi giảng giải cho con được rõ.”
“Bạch Đức Thế Tôn, từ khi Ngài đến thành Savathi này để thuyết pháp độ sanh, trong số những người đến nghe pháp, có một số người đã chứng đắc đạo quả giải thoát, một số người khác tuy chưa chứng đắc được đạo quả giải thoát, nhưng gia đình họ trong sinh hoạt hàng ngày đã được sự an vui , một số người còn lại không những chưa chứng đắc được đạo quả giải thoát mà vẫn còn ở trong phiền não, khổ đau và trong số những người đó có con! Bạch Đức Thế Tôn, do nhân chi, xin Ngài mở lòng từ bi giảng giải cho chúng con được rõ.”
Đức Phật hỏi, “Này người thanh niên, ngươi chớ nên hoài nghi chánh pháp của Như Lai. Ngươi từ đâu đến?”
- “Dạ, con là người của Savathi này.”
Đức Phật lại hỏi, “Như Lai trông ngươi không phải là người của Savathi này, vậy ngươi từ đâu đến?”
- “Bạch Đức Thế Tôn, con là người của Vương Xá Thành, con đến Savathi này để lập nghiệp, con sống bằng nghề buôn bán.”
Đức Phật hỏi tiếp, “Này người thanh niên, tổ phụ của ngươi có còn ở Vương Xá thành không?”
- “Dạ còn.”
- “Người có thường tới lui thăm tổ phụ hay không?”
- "Dạ có.”
Đức Phật hỏi, “Vậy người có biết con đường đi từ đây đến nhà tổ phụ ngươi ở Vương Xá thành không?”
- “Bạch Đức Thế Tôn, con biết.”
- "Nếu như có một người ở Savathi này muốn đến nhà tổ phụ ngươi ở Vương Xá thành, liệu người có thể chỉ đường cho họ hay hướng dẩn cho họ đi hay không?”
- “Dạ được. Ở đây mà muốn về Vương Xá thành thì phải đi qua thành Ba La Nại, khi đến đó thì rẽ trái đi về hướng cây đa, từ đây bắt đầu đi về hướng Vương Xá thành, nhà tổ phụ con ở cách Vương Xá thành vài dặm, muốn đi thì con chỉ cho mà đi. ”
Đức Phật hỏi tiếp, “Này người thanh niên, nếu ngươi biết đường chỉ cho họ mà họ không đi thì họ có tới được nhà tổ phụ ngươi hay không?”
Người thanh niên nhìn Đức Phật, tỏ vẻ ngạc nhiên và hỏi lại, “Bạch Đức Thế Tôn, sao lạ vậy, con biết đường chỉ cho họ nhưng mà họ phải tự đi thì mới tới được, chứ không đi thì làm sao tới, con đâu có cầm tay ai mà dắt đi được đâu?”
Đức Phật trả lời: “Này người thanh niên, giáo pháp của Như Lai cũng như vậy. Con đường đi đến Niết Bàn, Như Lai đã từng đi qua, đi lại, đi tới, đi lui, Như Lai biết và chỉ cho chúng sinh, nhưng muốn đến thì chúng sinh phải tự đi, Như Lai là bậc toàn tri, toàn giác chứ không toàn năng nên Như Lai không thể đưa một người đến nơi mà họ muốn tới, nhưng họ lại không muốn tự đi.
Cũng tương tự như vậy, nếu ngươi muốn gia đình của mình được an vui thì hãy áp dụng lời dạy của Như Lai vào trong cuộc sống hàng ngày chứ Như Lai không thể ban hạnh phúc, an vui cho bất kỳ một ai được .”

Bởi thế mà Đức Phật đã kêu gọi: "Hãy tự thấp đuốc lên mà đi!".
Ngài còn cho biết trong tất cả mọi loài chúng sinh trong sáu cõi Luân Hồi của Tam giới chỉ có con người nơi thế giới Ta Bà mới tu và đạt được đạo mà thôi; mặc dù trong cuộc đời này có nhiều khổ hơn là vui. Và Ngài đã nói đến "Bát nạn" mà trong Từ Điển Phật Học Hán Việt do Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã trích từ Kinh điển và ghi như sau:

Bát Nạn: Tám chỗ khó khăn chướng nạn. Chỉ tám thứ khó khăn trở ngại cho việc thấy Phật nghe Pháp. Kinh Duy Ma, phẩm Phương Tiện, Thiên Thai sớ, q.3: "Nói tám nạn thì thứ nhất là Địa ngục, Thứ hai là Ngã Quỉ; Thứ ba là Súc sinh; Thứ tư là Bắc-Uất-Đan-Việt, tức là người ở châu Bắc-Câu-Lư sống sung sướng, nên không ham tu học. Thứ năm là Trường Thọ Thiên; người ở đây không có tâm tưởng nên không tu học được. Thứ sáu là đui điếc câm ngọng. Thứ bảy là Thế Trí Biện Thông, cậy mình thông biện, theo đòi thế sự nên không tu học. Thứ tám là sinh vào thời trước Phật, sau Phật".

Xem như thế, chúng ta được làm con người, mà là con người ở cõi Ta Bà như hiện nay thì chúng ta rất là may mắn và có nhiều phước báu trong thời quá khứ: Vì chúng ta không bị đọa trong Địa Ngục; cũng chẳng bị làm chúng sinh trong loài Súc Sinh hay ở cõi Ngạ Quỷ. Ngoài ba nạn đó ra, chúng ta cũng không là chúng sinh ở châu Bắc-Uất-Đơn-Việt hay Trường-thọ-Thiên. Được làm con người nhưng chúng ta lành lặn, không bị câm, ngọng, đui, điếc cũng là quý lắm rồi; mà chúng ta cũng không phải là người tài giỏi, ỷ vào sức mình mà không hề để tâm đến Phật pháp. Chúng ta chỉ còn có một nạn thôi, mà nạn đó cũng không tròn vì chúng ta không là người sinh ra trước Phật. Mặc dù sinh sau Phật, ta vẫn có Phật pháp của Phật để lại mà học hỏi, nghiên cứu và hành trì. Chúng ta hiện đang có nhiều lợi thế để tiến tu mà vượt ra cửa ngõ của Luân Hồi. Một cơ hội ngàn năm một thuở! Cứ nghĩ rằng chúng ta trong lúc làm con người như thế này, chúng ta thỏa mãn với hiện tại mà không lo hành thiện, hoặc thích làm ác thì liệu kiếp sau chúng ta có thể làm người nữa hay không? Hay đến khi đó thì cả ngàn kiếp sau mới được quay trở lại làm người nơi cõi Ta Bà như hiện nay. Điều ấy khiến cho chúng ta cũng nên suy ngẫm để mà sống cho tương xứng với kiếp con người, dù không là năng nỗ trong trình tự tiến tu nhưng chúng ta cũng đừng nên bỏ qua một cơ hội tiến vào bờ mà Đức Phật gọi là "Bờ Giác", lên bờ để tìm lại căn nhà xưa yêu dấu mà chúng ta đã ra đi không biết tự bao giờ để hoàn tất một cơ hội ngàn năm!

Nguyên-Thảo,
15-07-09.

Thơ Đồ Ngông (tt)

*Cuối Mùa!

“Cạn sòng mới biết rô trê” (Tục ngữ)
Cuối mùa mới biết rằng ai dữ hiền
Tưởng rằng đạo đức thâm niên
Chẳng ngờ cũng thuộc “bạn hiền lục lăng” (lục lăng thảo khấu)
“Dạ thưa” cũng lại lăng xăng
Chỉ là che đậy bản năng lọc lừa
Cố làm thiên hạ thân ưa
Chẳng qua là để “giết người sau lưng”!

Đồ Ngông,
30/03/11.



*Chuyện Hiếm Có!

Những con người vô tâm
Trở thành nhà báo
Chúng viết gây hận thù
Để làm tay sai cho Tổ chức!

Chúng đã tạo nhiều phiền phức
Làm tan nát cả một cộng đồng
Chúng là một nhóm không đông
Nhưng quậy phá chưa từng dễ thấy!

Ỷ có một tờ báo
Cò ke lục chốt lại một bầy
Tha hồ viết mà chửi
Chửi hết bên kia lại chửi tới bên nầy
Kéo thêm người từ ở phía tây
Sang phía đông thêm vài nhà thơ nổi tiếng
Thân phận “Tay sai” táp thêm vài miếng
Để cùng nhau “vác chiếu ra tòa”!

Một lủ lâu la
Quyên tiền ủng hộ
Cuộc đời chơi vui, phản đi vài vố
Dân chúng ơi! lại bị dối lừa
Tiền ủng hộ chẳng nhằm trúng chỗ
Góp cho nhiều để lại nuôi ong
Nuôi cho béo được nhiều nọc độc!

Ngẫm nghĩ cũng buồn cười
Người ta viết để có ích cho đời,
Thiếu bao nhiêu điều để viết
Sao không viết, mà lại viết chửi người?

Đôi người làm báo
Cả nhóm tay sai
Viết để được ra tòa
Ôi, quả thật là hay
Đáng được ghi vào bia lịch sử
“Viết và làm báo để được ra tòa!”
Chuyện hiếm hoi, mà lại thêm điều hi hữu!

Đồ Ngông,
30/03/11.

Đạo Phật 13- Những Điều Trích Dẫn...!

(Hay: Nhân Sinh Quan Và Vũ Trụ Quan Trong Đạo Phật).

Lời Thưa Đầu: Đây là những tài liệu được ghi lại từ trong kinh điển trên bước đường đi tìm hiểu về Đạo Phật, và chúng tôi cố gắng trình bày chúng theo một hệ thống về “nhân sinh quan” hay “vũ trụ quan” để chúng tôi dễ nhớ, đồng thời có thể giúp người đọc dễ hiểu hơn. Nay chúng tôi thấy cũng cần nên trình bày chúng ra đây để quý vị độc giả tham khảo và mong rằng chúng sẽ góp thêm tài liệu vào sự tìm hiểu của Quý vị. Xin Quý vị vui lòng tha thứ về danh từ xưng hô “bạn” trong bài. Nguyên Thảo kính ghi!

***

Trong Kinh Viên Giác ở chương Kim Cang Tạng, Đức Phật có dạy rằng: “Nầy Thiện nam! Tất cả các pháp, có thủy chung, sanh diệt, tiền hậu, hữu vô, nào tụ tán, khởi dừng, xoay dần, qua lại, các món thủ xả, mỗi niệm nối luôn. Những loại kể trên đều là luân hồi cả. Người chưa ra khỏi luân hồi mà nghĩ bàn đến Viên Giác, thì tánh ‘Viên giác’ đó cũng trở thành luân hồi (Vị xuất luân hồi nhi biện Viên giác, bỉ Viên Giác tánh tức đồng lưu chuyển). Nếu người ra khỏi luân hồi (hết mê vọng rồi) thì không còn thấy có các việc hư vọng ấy nữa”. (PHPT, khóa VIII trang 66).
Đức Phật đã nói rõ như vậy: “Người chưa ra khỏi luân hồi mà nghĩ bàn đến Viên giác, thì tánh ‘Viên giác’ đó cũng trở thành luân hồi”. Cho nên ở đây, tôi “chẳng dám nghĩ bàn đến tánh Viên giác” cùng bạn, mà chỉ qua sự yếu kém của tôi, thì tôi cũng muốn tìm hiểu với bạn vài điều mà Đức Phật đã nói trong Kinh ấy để chúng ta có thể liên kết với thực tại con người, vũ trụ tức là tìm hiểu về “Nhân sinh quan” và “Vũ trụ quan” trong Đạo Phật.
Trước hết, chúng ta cũng cần lưu ý hai điểm đặc biệt của Đạo Phật là Nhân quả và Luân hồi. Thực ra nhân quả, luân hồi là những tư tưởng của nhân loại đã có từ trước, trước khi Đạo Phật xuất hiện. Tuy nhiên đến khi Phật Thích Ca đạt được đạo qua Thiền định, rồi với Trí Huệ Ngài mới giảng rõ ràng thành một hệ thống và thành lập một “Con đường” (Đạo) khái quát, hướng dẫn đệ tử và giúp chúng sinh đời sau tu tập để trở về với nguồn gốc mà mình đã ra đi từ thời vô thỉ. Đó là sự Giác Ngộ, mà cứu cánh là nhập được Niết Bàn, hòa vào thể Chơn Như, nhập vào Pháp Tánh, vào Tạng thức của Như Lai hay sự tu tập đã hoàn toàn viên mãn: Là Phật, là Bậc Giác Ngộ.
Quả thật rất khó cho chúng ta để có thể hiểu được “Tánh Viên Giác” vì Đức Phật đã nói:
“Nầy Thiện nam! Kinh nầy nói về cảnh giới của Như Lai, nên duy có Phật mới hay biết, còn các vị Bồ Tát và chúng sinh đời sau, chỉ y theo đây tu hành lần hồi tiến đến địa vị Phật”. (PHPT, khóa VIII trang 218).
Dù kết luận như thế, nhưng Đức Phật cũng đã giảng rất nhiều, ta có thể tìm hiểu được chút ít qua nội dung của Kinh vậy.
Ngay từ đầu, Kinh đã đề cập đến cảnh giới của Phật là “Bất Nhị”, là “Không Hai” tức chỉ có một, là chỗ thể tánh Bình Đẳng của chúng sinh và Chư Phật: “Nó thanh tịnh, viên mãn khắp giáp cả mười phương cả tâm lẫn cảnh đều vắng lặng” (PHPT, khoá VIII trang 11).
Từ đó, ta có thể hiểu cảnh giới của Phật hay là Niết Bàn, Chơn Như, Bồ Đề, Ba La Mật, Yêm Ma La Thức, Pháp Tánh chỉ có một và chỉ có một mà thôi, không có cái thứ hai để so sánh. Nếu còn có so sánh tức chưa phải là Viên Giác, chưa phải tận cùng rốt ráo của Đạo Bồ Đề Vô Thượng. Đức Phật diễn tả cái thể tánh của Chơn Như (Chơn Không Diệu Hữu) mà tôi ghi lại được các điểm sau: Thể tánh bình đẳng, bất sanh, bất diệt, viên dung khắp giáp mười phương, thanh tịnh vắng lặng mà thường sáng suốt chiếu soi “Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu” (Lăng Nghiêm LN hay PHPT khóa VI-VII trang 119), trong đó bảy đại: Đất, nước, gió, lửa, hư không, cái thấy và thức tâm đều là Chơn tâm viên mãn khắp giáp tất cả (LN trang 110). Với 7 đại nầy là nguồn gốc tất cả mọi vật: “Cái có hình tướng và sanh diệt là thế giới, cái không hình tướng và yên tịnh là hư không; khác với hư không, thế giới là chúng sinh vậy” (LN, trang 121). Hay ‘Tất cả các cảnh vật, sum la vạn tượng trong thế gian nầy, đều ở trong chơn tâm; chơn tâm bao trùm khắp giáp cả mười phương thế giới” (LN, trang 111).
Và trong một đoạn khác Đức Phật dạy:
“Chơn tâm nầy, cũng tức tất cả pháp; tức là tâm, tức là đất, nước, gió, lửa và hư không; tức là nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý; tức là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; tức là nhãn thức giới cho đến ý thức giới; tức Tứ đế; tức Thập Nhị Nhân Duyên; tức là Lục Độ; tức là Phật và bốn đức Niết Bàn. Nói tóm lại, Chơn tâm tức là tất cả Pháp thế gian và xuất thế gian” (LN, trang 138-139).
Qua đoạn nầy ta có thể phân tích làm hai phần: Phần thứ nhất là Pháp thế gian từ “chơn tâm nầy” cho đến “ý thức giới”, và phần thứ hai là Pháp xuất thế gian từ “tức Tứ Đế” cho đến “bốn đức Niết Bàn”.
Có một lần tôi đã viết trong bài “Cái có và cái không trong Đạo Phật”: “Để dễ hiểu hơn, bạn thử tưởng tượng khối không khí quanh trái đất giống như là “cái không trong đạo Phật vì nó không có hình dạng bóng sắc nên bạn không thấy được. Trong khối khí đó chứa không phải chỉ có N2 , O2 , H2O, Helium, Neon, CO2 , Argon... mà chứa đầy đủ tất cả các nguyên tố, yếu tố để tạo ra mọi vật...”. Lúc đó, tôi chưa được đọc bộ Phật Học Phổ Thông nên chỉ lấy cái ví dụ ấy như là một sự kiện khoa học có thực, cũng rất là cơ bản để từ đó dẫn chứng cùng chứng minh với bạn hầu giúp bạn có thể hiểu rõ về cái không trong đạo Phật.
Nay nhân sau khi đọc bộ Phật học phổ thông, nhất là các khóa mà Hòa Thượng Thích Thiện Hoa giảng về Kinh Lăng Nghiêm (Khóa VI-VII), Kinh Viên Giác hay Khế Kinh (Khóa VIII) và Kinh Kim Cang (Khóa XII) tôi có cái nhìn “qua khía cạnh đạo” hơn. Thế nên, tôi liền viết ra đây về “cái hiểu của tôi” nhằm trao đổi ý kiến cùng bạn trong vấn đề nghiên cứu Phật học, tất nhiên nó có nhiều sai lầm, mong quý thức giả sẽ giúp tôi sửa chữa lại được đúng hơn. Nhưng ở đây, tôi sẽ cố gắng bám sát vào ý của các câu hoặc đoạn Kinh qua sự dịch thuật của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa (tức bộ Phật học phổ thông).
Như tôi đã viết ở trên, ta có thể phân tích đoạn Kinh thành hai phần: Phần pháp thế gian và xuất thế gian.
Để dễ tìm hiểu tôi xin viết lại:
“Phật dạy: Chơn tâm nầy, cũng tức tất cả pháp; tức là tâm; tức là đất, nước, gió, lửa và hư không; tức là nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý; tức là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; tức là nhãn thức giới cho đến ý thức giới”.
Tại sao Đức Phật lại nói như vậy: “Chơn tâm nầy cũng tức là tất cả...”? Trong Kinh Lăng Nghiêm Đức Phật nói về Chơn tâm là “Thể nhiệm mầu thường còn, yên lặng, sáng suốt, khắp giáp cả pháp giới, hàm chứa và sanh ra mười phương hư không thế giới, chỉ tùy theo nghiệp của chúng sinh mà hiện ra, không có phương hướng xứ sở” (LN, trang 109-110),

‘Thấy, nghe, hay, biết sáu giác quan kể là một, cùng với hư không và bốn đại thành sáu đại, tánh nó viên dung vốn không lay động, đồng một thể chơn tâm, không sanh không diệt” (LN trang 108). Hay “Các ông nên biết: Đất, nước, gió, lửa, hư không, cái thấy và thức tâm gọi chung là bảy đại, tánh của nó đều là chơn tâm viên mãn khắp giáp tất cả, vốn không sanh diệt” (LN trang 110).
Qua các đoạn trên ta có thể hiểu được chơn tâm là thể, là cái không trong đạo Phật, nó rất rộng lớn, hàm chứa tất cả, trong đó tứ đại đất, lửa, gió, nước viên dung, hòa hợp với nhau; nhưng khi nó biến hiện thành vật thể thì tính chất có thể lại đối nghịch nhau; và thân xác con người, chúng sinh cũng sanh ra từ tứ đại ấy. Vả lại, khi được xuất hiện từ “Chơn không diệu hữu” thì vật thể, con người, chúng sinh, cảnh vật, thế giới đều có đời sống, có thời hạn dù ngắn hay dài, có sanh trụ dị diệt, có thành trụ hoại không, có sanh lão bệnh tử, có đau khổ, và có luân hồi.
Đức Phật cũng nói rõ từ trong chơn tâm thường trụ ấy, chính vô minh tức là sự mê muội, cái chưa biết che phủ vì vậy mà chúng sinh “vọng thấy có sanh diệt, cho nên mới bị trầm luân trong biển sanh tử luân hồi” (Viên Giác VG trang 17). Chúng ta có thể lấy lại ví dụ: Tất cả tâm thức của chúng sinh đều ngồi trên bờ sông nhìn xuống dòng nước, vì ‘không biết’ ở trong dòng sông đó có nhiều xoáy hay những dòng nước lôi cuốn mình một cách mạnh mẽ; Nhưng vì sự tưởng tượng, nhìn thấy nghe mà mọi người cùng tiến vào dòng sông ấy. Từ đó bị chìm đắm, lặn hụp triền miên. Cũng vậy chính sự mê muội, vô minh, không biết mà tâm thức của chúng sinh đã rời cõi Chơn tâm hay Chơn không diệu hữu để vào cuộc sanh tử luân hồi: “Từ nơi chơn tâm, vì hư vọng nên hiện ra các cảm giác thấy, nghe, hay, biết. Do hòa hiệp vọng sanh ra, rồi cũng do hòa hiệp vọng diệt đi” (LN trang 88).
“Nầy A Nan, tất cả chúng sinh bị sanh tử luân hồi trong thế gian, đều do hai món điên đảo phân biệt vọng thấy, tức nơi đó phát sanh ra nghiệp, rồi theo nghiệp mà chịu khổ luân hồi” (LN, trang 84); và nhất là:
“Các ông không biết trong chơn tâm, tánh của (đất, nước, lửa) gió là thật không, tánh của không là thật gió, vốn sẵn thanh tịnh, khắp giáp cả pháp giới, tùy tâm của chúng sinh phân biệt như thế nào, thời nó hiện ra như thế nấy” (LN, trang 100).
Như vậy, đây là các giảng giải của Đức Phật về sự Vô minh đã làm cho chúng sinh mê muội sanh ra có cảm giác thấy, nghe, hay, biết và có vọng tưởng, có tâm phân biệt (Vô minh, Hành, Thức) rồi do bốn duyên là đất, nước, gió, lửa hòa hợp, nên có “Danh sắc” và từ danh sắc có “lục nhập”:
“Do bốn duyên là đất, nước, gió, lửa hòa hợp, nên vọng có sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Nhơn bốn duyên và sáu căn, trong ngoài hợp lại thành cái thân giả tạm, rồi vọng khởi ra các vọng tưởng phân biệt” (VG, trang 42).
“Các vọng tưởng tự nó nhơn nhau liên tiếp phát sanh, từ đời này đã mê rồi chất chứa thêm cái mê, cho đến nhiều kiếp” (LN, trang 142).
Khi đã có sáu căn rồi thì lại có sáu trần đối đãi nhau qua sáu thức. Tâm phân biệt càng lúc càng thể hiện rõ ràng hơn:
“Nầy Thiện nam! Tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến giờ do lầm tưởng có “thật ta và vật của ta”, rồi sanh ra lòng thương yêu cái Ta và vật của ta, cho nên gặp cảnh nghịch với ta thì giận ghét, còn thuận với ta thì tham ái, say mê theo cảnh ngũ dục” (VG, trang 108) (xúc, thọ, ái).
Do nơi tham ái mà có nghiệp lực:
“Loài nầy cướp giựt thân mạng loài kia, loài kia giết hại lại loài nầy; trả vay, vay trả lẫn nhau, đến trăm ngàn kiếp không ra khỏi sanh tử.
Trai mê sắc gái, gái thương tình trai, vì tình ân ái thương yêu lẫn nhau, nên trăm ngàn kiếp bị triền phược trong vòng luân hồi.
Tóm lại vì ba nghiệp sát, đạo, dâm làm gốc nên nghiệp (nhơn) và quả nối nhau, không bao giờ cùng tận” (LN, trang 127). Và:
“Rồi theo nghiệp lực kéo dẫn, cho nên có những loài sanh con (người và thú) loài sanh trứng (như chim và cá) loài sanh chỗ ẩm ướt (như vi trùng v.v..) loài hóa sanh (như trời và địa ngục) (LN, trang 124-125) (Thủ, Hữu, Sanh, Đau khổ).
Cuối phần nầy Đức Phật đã nói:
“Này Phú Lâu Na, các ông khi đối đãi với trần cảnh (thế giới, chúng sinh, nghiệp quả) chỉ đừng có khởi vọng niệm phân biệt thì tham, sân, si (ba duyên) không khởi. Ba duyên không khởi thời ba nhơn sát, đạo, dâm chẳng sanh”. (LN, trang143).
Như vậy, trong phần đầu Đức Phật chỉ rõ chúng sinh, con người và vạn vật đều từ Chơn tâm, nhưng do vì Vô minh mà khởi lên vọng niệm phân biệt, rồi từ tứ đại kết thành thân xác, danh sắc, phối hợp với vọng tâm để trở thành cái ta tham ái khởi lên tham sân si, đầu nguồn của ba nhơn: sát, đạo, dâm và bị luân hồi vô cùng tận vì nghiệp quả.

Thế còn xuất thế gian thì sao?
Nếu trong phần trên như con người, chúng sinh từ trong thể Chơn như mà đi vào thế gian càng ngày càng sâu đậm thì phần xuất thế gian là phần quay trở lại đoạn đường cũ để tìm về đến với Chơn tâm thanh tịnh bằng sự giác ngộ của chính mình.
“Tức Tứ đế, tức Thập nhị nhân duyên, tức là Lục độ; tức là Phật và bốn đức Niết bàn”.
Tại sao vậy? Quả thực Chơn tâm chỉ có một, không hai, nhưng vì vọng tưởng mà có tâm phân biệt, và có các huyễn hoặc, không thật, không thường còn như thân xác, gắn liền với thân xác là các giác quan, có đối cảnh là sáu trần, và sự thấy, nghe, hay, biết là thức, rồi mới có dục ái để tạo nghiệp và cứ mãi lặn hụp trong vòng luân hồi.
Đến khi suy tư, tĩnh lự, tịnh tâm, tham thiền thì mới thấy cuộc đời là chuỗi dài của đau khổ, lại tìm hiểu nguyên nhân sự khổ, rồi lại muốn diệt khổ và cuối cùng tiến về con đường giải thoát: Ấy là Tứ đế. Và để chặt đứt vòng luân hồi là cắt lìa Dục ái, cùng thực hiện Lục độ để trở thành Phật đạt được bốn đức Niết bàn: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.
Tóm lại, từ Chơn tâm sanh ra mọi thứ liên hệ đến con người, chúng sinh, vạn vật và thế giới. Rồi từ đó lại tìm trở về Chơn tâm (Trở về là Giác ngộ). Thế là mọi vấn đề đều “tức là Chơn tâm”. Không có Chơn tâm thì không có đất, nước, lửa, gió, hư không; cũng không có thân tứ đại; không thân thì không có nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý; không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; và cũng chẳng có nhãn thức giới đến ý thức giới, hay sanh tử, đau khổ. Đã không có các thứ trên thì cũng đâu cần có Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Lục độ, Phật hay Niết bàn.
Do vậy mà trong kinh Lăng Nghiêm đã nói đến các pháp tu của các vị Bồ tát, tất cả cũng không ra ngoài các pháp của thế gian để từ đó tìm về pháp xuất thế gian.
Nói như thế tức là 25 vị Bồ tát nói lên pháp tu của mình, các pháp ấy dựa vào 7 đại (đất, nước, gió, lửa, hư không, thức tâm, kiến đại); dựa vào 6 căn (nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý); dựa vào 6 trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp); và 6 thức (nhãn thức, nhĩ thức, tĩ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức). Nhất là pháp tu của Ngài Quán Âm Bồ Tát được ca ngợi hơn hết, và gọi là pháp tu Viên thông vì: “Âm thanh khi có khi không, còn cái nghe lúc nào cũng có. Khi không có tiếng, thế gian nói rằng ‘không nghe’; thật ra chẳng phải ‘cái nghe’ không có. Không tiếng, cái nghe không diệt; có tiếng cái nghe cũng không sanh. Bởi cái nghe không có sanh và diệt, nên nó mới thật là thường” (LN, trang 232-233).
“A Nan, ‘cái nghe' không phải tự nhiên sanh, do có tiếng (thinh trần) nên mới gọi rằng ‘nghe’. Nếu xoay cái nghe trở vào trong tự tánh, không chạy theo tiếng, thế là thoát ly được cái tiếng (thinh trần) lúc bấy giờ cái nghe nầy cũng không còn gọi tên là nghe nữa (vì không còn đối đãi, nên chẳng có tên kêu gọi). Một căn (lỗ tai) đã được phản vọng trở về Chơn tâm rồi, thì cả sáu căn cũng đều được giải thoát” (LN, trang 234).
Và Ngài Văn Thù Bồ Tát cũng giảng giải cho Ngài A Nan rất rõ ràng:
“A Nan, ông chỉ xoay cái nghe của mình trở về nghe chơn tánh, không chạy theo phân biệt vọng trần bên ngoài, thì ông liền thành đạo Vô thượng, đây thật là pháp tu viên thông. Các Đức Phật nhiều như vi trần cũng đều do một con đường này mà đến cửa Niết bàn. Hiện tại các vị Bồ Tát và những người tu hành đời sau, đều y pháp môn này mà thành đạo. Chính tôi cũng nhờ pháp môn này mà được chứng quả, đâu phải một mình Ngài Quán Âm tu mà thôi.
Nay Phật dạy con lựa pháp môn tu hành, để cho người đời sau tu hành mau thành đạo quả, thì duy có pháp tu của Ngài Quán Âm là hơn hết. Còn bao nhiêu các pháp tu hành khác, đều nhờ oai thần của Phật gia hộ mới được thành tựu. Các pháp ấy đều từ nơi sự tướng mà dẹp trừ trần lao, nên không phải là một phương pháp trường kỳ tu tập”. (LN, trang 236).
Đó là pháp tu Viên Thông dựa vào nhĩ căn để đạt được đạo Giải thoát. Tuy nhiên, Đức Phật cũng nói:
“Chỉ sáu căn của ông không theo sáu trần cảnh khởi vọng niệm phân biệt, tùy ông mở gút (vọng nhiễm) được một căn nào thì các căn đều được giải thoát. Nghĩa là ngoài không cùng trần cảnh gút chặt, trong thân phục phiền não trở lại với Chơn tâm sáng suốt, thì năm căn bị gút chặt kia, cũng đều được hoàn toàn giải thoát” (LN, trang 159).
Và khi tâm thanh tịnh rồi:
“Khi tâm hoàn toàn thanh tịnh rồi, thì cái trí quang sáng suốt hiện ra. Lúc bấy giờ Chơn tâm ông vừa tịch tịnh lại vừa chiếu soi bao trùm khắp cả mười phương hư không, thế giới. Lúc bấy giờ ông trở lại xem cảnh vật hiện tiền ở thế gian này như là việc trong chiêm bao” (LN, trang 235).
Hay:
“A Nan, tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến giờ vì mê mình (tâm) làm vật, bỏ mất Chơn tâm của mình, bị cảnh vật xoay chuyển (chi phối) nên thấy có lớn nhỏ, rộng hẹp, tốt xấu v.v..Nếu ai xoay được cảnh vật, thân tâm đặng sáng suốt viên mãn, thì đồng với Chư Phật. Lúc bấy giờ không rời nơi đạo tràng (chỗ này) mà ở trên đầu một mãy lông, có thể chứa đựng khắp cả mười phương thế giới” (LN, trang 60).
Và để tu hành dễ thành đạt thì Đức Phật đã nói đến “ba món tiệm thứ”:
“Ba món tiệm thứ là:
1-Trừ các trợ duyên bên ngoài: Ăn, không nên ăn những vật không hợp với người tu hành, như ăn thịt uống rượu và ngũ vị tân v.v.. Ngũ vị tân, ăn sống thì nó tăng trưởng tánh nóng giận, ăn chín hay sanh tham dục, tụng kinh trì chú chẳng hiệu nghiệm, thánh thần không bảo hộ. Còn chỗ ở tu thì tìm chỗ nào cho hợp với hoàn cảnh của người tu hành.
2-Trừ các chánh nhơn bên trong: Cốt yếu là hành giả phải nghiêm trì tịnh giới, không dâm, sát, đạo và vọng, gìn giữ ngoài thân không phạm, trong tâm không động, thân và tâm đều thanh tịnh như băng tuyết.
3-Trừ các nghiệp hiện tiền: Khi tiếp xúc với trần cảnh, không khởi vọng niệm phân biệt theo sáu trần, xoay các cảm giác trở về bản tâm thanh tịnh. Do ngoài không duyên theo trần cảnh, trong sáu căn không vọng động, đồng một thể thanh tịnh, nên mười phương thế giới đều được thanh tịnh sáng suốt; cũng như trong ngọc lưu ly có hàm chứa mặt trăng sáng. Hành giả lúc bấy giờ thân tâm thơ thới, chứng đặng vô sanh pháp nhẫn, mười phương chư Phật đều hiện trong tâm người ấy. Từ đây hành giả lần lần tăng tiến tu hành, tiến lên các quả Thánh” (LN, trang 265-266).
Khi đạt được đạo Bồ Đề thì tính Phật sẽ như thế nào? Đức Phật giảng:
“Còn Ta (Phật) thì trái với vọng trần, hiệp với chơn tâm thường trụ bất sanh bất diệt, biến khắp cả pháp giới, cho nên ta mới được tự tại vô ngại: ở trong một hiện ra vô lượng, vô lượng hiệp làm một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ, không rời nơi đạo tràng mà hiện khắp cả mười phương thế giới. Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận. Trên đầu một mãy lông hiện ra các cõi nước; ngồi trong hạt bụi, mà chuyển đại pháp luân. Vì ta diệt hết vọng trần, trở lại với bản tâm thanh tịnh trong suốt, nên mới được như vậy” (LN, trang 132-133).
Nhưng trong vấn đề tu hành Đức Phật nhắc nhở chúng ta hãy cẩn thận với các món ma (10 món ma về sắc, 10 món ma về thọ, 10 món ma về tưởng, 10 món ma về hành và 10 món ma về thức ấm) (xin xem kinh Lăng Nghiêm).
Vì:
“Bởi các loài ma kia thấy người tu hành, sanh tâm lo sợ cho bà con quyến thuộc của chúng sẽ tiêu diệt, nên chúng dùng đủ thần lực để nhiễu hại người tu. Chúng cũng đủ năm phép thần thông biến hóa chỉ chưa được lậu tận thông” (LN, trang 270).
Và khi bị ma thống trị thì:
“Chỉ lo một điều là các ông cũng như chủ nhà, nếu chủ nhà mê muội rồi thì các ma chướng kia như khách dễ bề nhiễu hại, rồi các ông trở lại làm con cái của ma, sau thành người ma” (LN, trang 270).
Cho nên trong Kinh Lăng Nghiêm, sau mỗi phần giảng về các món ma Đức Phật đều có căn dặn. Đây là đoạn trích ra sau khi Đức Phật nói 10 món ma về Thức ấm:
“A Nan, mười món ma này, do người tu thiền, khi dụng tâm phá trừ thức ấm, nên nó biến hiện ra các cảnh như vậy. Vì mất chánh tri kiến, mê lầm tánh Bồ Đề, khởi tâm chấp trước, cho mình đặng thiền, đặng đạo, thành Phật, thành Thánh v.v.. Có người sanh ra điên cuồng, nên đều đọa về ngoại đạo cả.
Vậy các ông phải giữ gìn nơi lòng, vâng lời ta dạy: Sau khi ta diệt độ rồi, các ông phải đem lời ta dạy đây mà truyền dạy cho chúng sinh đời sau, bảo hộ người tu hành, chớ để cho chúng ma làm hại. Trên đường tu hành họ được thẳng vào chỗ tri kiến của Phật chẳng gặp các đường tẽ.
Này A Nan, người trong khi tu thiền, gặp ma nó biến hiện ra nhiều cảnh rất là vi tế, nếu các ông hiểu biết, rửa sach tâm cấu nhiễm, chẳng khởi tà kiến, thì cảnh ma kia lần lần tiêu diệt, các ông sẽ thẳng đến đạo Bồ Đề.
Còn như đời sau, có chúng sinh nào chẳng dám tu thiền, sợ bị các ma nhiễu hại, thì ông nên khuyên họ nhất tâm trì chú Lăng Nghiêm này, để các ma chướng kia không thể hại được, rồi cũng thẳng đến được đạo Bồ Đề” (LN, trang 309-310).
Khi tu hành đã vượt các món ma trở ngại, thực hiện được ba món tiệm thứ thì sẽ lần tiến lên Thánh quả, đặng Đạo Bồ Đề. Lúc ấy:
“Cũng như người thức giấc mộng, mà muốn nói lại việc chiêm bao; mặc dù trong tâm nhớ biết rõ ràng, nhưng không làm sao chỉ các vật trong chiêm bao ra được, vì nó không thật có; Vả lại nó cũng không có nguyên nhân nữa” (LN, trang 142).
Hoặc trong Kinh Viên Giác:
“Bởi thế nên biết ‘sanh tử và Niết bàn’ cũng đều như giấc mộng hôm qua, vì chúng sinh vốn đã thành Phật từ xưa đến giờ” (VG, trang 56).
Như vậy thì, Đức Phật đã ví dụ chúng sinh rời cõi Chơn như, thanh tịnh vào vòng chìm đắm luân hồi giống như người đi vào giấc mơ, khi thoát ra được để trở về lại Niết Bàn thanh tịnh giống như họ đã rời giấc mộng hôm qua. Các phương tiện, các pháp tu hành trong giấc mộng cũng chỉ là của giấc mộng, nó không thật có:
“Phật dạy: ‘Tu Bồ Đề! Người phát tâm Bồ Đề chẳng nên chấp các pháp thật có, mà phải thấy các pháp là giả, biết các pháp là giả, hiểu các pháp là giả và tin các pháp là giả.
Tu Bồ Đề! Như Lai nói ‘các pháp’, không thật có ‘các pháp’; chỉ giả gọi là ‘các pháp” (Kim Cang KC, trang 185).
Đức Phật đã tìm được cách rời “giấc mộng” và chỉ con đường ấy cho chúng sinh để rời giấc mộng trở về nơi chốn cũ, cho nên sự đắc pháp ấy cũng chẳng phải là đắc pháp gì cả.
“Phật dạy tiếp: ‘Tu Bồ Đề! Có người nói ‘Như Lai đặng quả Bồ đề’. Thật ra, Như lai là bản thể như như của các pháp, nên Như Lai không đặng pháp gì cả.
Tu Bồ Đề! Như Lai đặng đạo Bồ Đề, không phải hư, không phải thật” (KC, trang 137).
Ở một đoạn khác, Ngài nói rất tha thiết, rất thành thực với tất cả nỗi lòng:
“Phật dạy: ‘Tu Bồ Đề! Như Lai nói thật, nói chơn chánh, không nói dối, không nói sai khác. Như Lai có đắc pháp, nhưng pháp ấy không thật, không hư” (KC, trang 119).
Tại sao pháp ấy lại là “không thật, không hư”. Thật là khó giải thích. Nhưng nếu ta đứng về chơn tâm thì Pháp ấy là ‘không thật’; mà đối với vọng tâm, sơn hà đại địa, thế giới, hư không và chúng sinh tức là các huyễn hoặc thì pháp ấy là ‘không hư’ (tức là có). Dùng pháp ‘hư’ diệt các huyễn để đạt được cái ‘chơn’, cái giác thì nói rằng ‘không’ cũng không đúng, mà nói ‘có thật’ thì cũng chẳng sai. Nên là ‘không hư, không thật’.
Vả lại, trong cảnh giới Viên Giác chỉ có một (bất nhị) thì không thể so sánh với cái khác, mà ‘có so sánh’ tức là ‘có tâm phân biệt’ là đầu nguồn của Vô Minh, của luân hồi; và vẫn còn chấp vào các tướng ‘Ngã, Nhơn, Chúng sinh và Thọ giả’. Các vị Phật đã biết rõ như vậy, nên không còn lâm vào tình cảnh ấy nữa. Nhưng tại sao Đức Phật giải thích với Tu Bồ Đề:
“Tu Bồ Đề! Như Lai nghĩa là không từ đâu đến và cũng không đi về đâu, nên gọi là Như Lai” (KC, trang 187).
Có phải chăng Không Như Lai Tạng, Bồ Đề, Niết Bàn, Pháp Tánh, Chơn Như, Yêm Ma La Thức, và Đại Viên Cảnh Trí vốn có “thể tánh bình đẳng, bất sanh bất diệt, viên dung khắp giáp mười phương, thanh tịnh vắng lặng mà thường sáng suốt chiếu soi”.
Còn thể tánh của Phật, Như Lai thì: “Hiệp với Chơn tâm thường trụ bất sanh bất diệt, biến khắp cả Pháp giới, cho nên ta mới được tự tại vô ngại: Ở trong một hiện ra vô lượng, vô lượng hiện làm một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ, không rời nơi đạo tràng mà hiện khắp cả mười phương thế giới. Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận. Trên đầu một mãy lông hiện ra các cõi nước; ngồi trong hạt bụi mà chuyển đại pháp luân” (LN, trang 132-133).
Thế nên với: “Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận” như vậy đã bao trùm tất cả thì Như Lai “sao lại từ đâu đến?” và “sao lại Như Lai đi về đâu?”. Không lẽ đến từ “Hư không vô tận” và đi về “Hư không vô tận” ư ?
Thế mới biết sự vĩ đại của Như Lai, và sự cao thâm của đạo Phật !!!

Nguyên Thảo.

Chuyện "Ý Kiến Độc Giả"!

Trong nhiều tờ báo người ta thường hay mở những “Ý kiến đôc giả” hay “Diễn đàn bạn đọc” hay những gì gì nữa cũng tương tự như vậy để nhằm “cải thiện, nâng cao” tính chất, hoàn thiện cho tờ báo hoặc những vấn đề nào khác trong một tập thể, một cộng đồng chẳng hạn. Với mục đích thì là tốt, nhưng bên sau đó có những gì xảy ra?
Ít ai ngờ rằng mục ấy đã đưa đến sự tan nát của một cộng đồng, tạo nên một sự muối mặt cho một sắc tộc và tệ hại hơn nữa là “đám người già bị bọn con nít, đàn con khi dễ”! Thế mà chuyện ấy đã xảy ra trong một thời gian khá lâu, lại có những nhà văn hoặc thơ có tiếng tăm “từ nơi khác” nhào vào “chửi ké” mới là một chuyện “oái oăm và tức cười”! Điều nầy khiến người ta phải “đánh giá” trở lại “Cái giá trị” của nhà văn hay nhà thơ ấy trong sự nghiệp văn chương và con người của họ.
Đồ tôi không nói ngoa chút nào cả! Và cũng chẳng thèm nói thêm hay nói bớt, vì làm như thế Đồ tôi cũng chẳng có thêm tiền hay thêm bạc, thì Đồ tôi phải làm để làm chi, tội gì mà phải “tào lao” để được thêm phần gọi là “tán phét”.
Trong chuyện nầy người được lợi nhất lại là “Tờ báo”. Quý vị không tin ư? Thì cũng chẳng sao! Đồ tôi chỉ nói chuyện “tào lao mà chơi” thôi!
Giả sử, trong một sinh hoạt nào đó Đồ tôi đã cay cú hay để tâm thù hận một tên “ranh quái, ma mãnh” đã chơi Đồ tôi một cú đau điếng mà thốt không thành lời; thế là muốn chơi lại nó, Đồ tôi phải nhờ đến mục “Diễn đàn bạn đọc” coi như là Đồ tôi nương cơ hội để “góp ý” như là một độc giả chân chánh, nhưng Đồ tôi cũng không quên lái dư luận theo cái nhìn của Đồ tôi. Tất nhiên, ý kiến được che đậy vẻ “đạo đức” chân tình ấy sẽ có người bênh kẻ chống, người ủng hộ người không. Người ta “ở không không có chuyện gì để làm” được dịp viết và được đăng báo cũng chẳng là điều hân hạnh lắm ư? Cứ thế mà “góp ý”, vừa được vui chơi mà cũng vừa có những thích thú. Tức quá, mình góp ý hay như thế đó mà tụi nó chẳng thèm nghe mà lại còn chê bay nữa chứ, sao nó ngu như thế nhỉ? Ta lại dùng đến từ ngữ “nặng nề” hơn, rồi nó cũng chẳng chịu thua thế là ta lại cãi nhau, chửi nhau trên báo chí. A! cái thằng nhà báo nó đã đăng bài của thằng kia rồi thì nó cũng phải đăng bài của mình chứ, miễn là mình đừng viết “chửi” ai đó một cách lộ liễu thì thôi! Được tha hồ chửi: Chửi người, chửi tổ chức, chửi tất những ai, những gì mình không thích chẳng là “khoái’ lắm sao? Thế là mình đã trở thành nhà văn, nhà thơ “chửi” lúc nào mà mình cũng chẳng biết. Chỉ tội cho “cái đầu óc” của độc giả bị tiêm nhiễm chất độc của những con người “vô tâm” phóng uế ra.
Nhưng trong cuộc đời sự tò mò của người đọc khiến cho sự kiện “khuấy thối” của một số người càng được “khuyến khích” và thúc đẩy nó càng đi xa hơn. “Bữa nay báo có gì lạ không? Nó có chửi người nào nữa không? Tình hình đã yên chưa? Chán thiệt! Cái đám ăn không ngồi rồi không có chuyện gì làm chỉ biết quậy phá cộng đồng, không để cho mọi người yên ổn làm ăn, quên đi đất nước nầy là của người ta chứ không phải là đất nước của mình, cứ làm hoài như thế nầy, mai mốt chúng đuổi thì đi đâu? Cái thằng nhà báo nầy là ai? Tại sao nó cứ đăng những bài “quấy rối” cộng đồng mãi như thế đó? Tại sao những hội đoàn hay tôn giáo chẳng lên tiếng để cho yên ổn?...” Những lời bình phẩm nhận xét thì nhiều lắm, nhưng người ta chỉ nói để mà nói thôi chứ người ta vẫn đi tìm tờ báo để xem coi nó có còn “chửi ai” hay không? Một cái tâm lý tai hại làm cho tờ báo cứ nương theo đó mà kéo cái chuyện quái ác ấy càng ngày càng dài ra thêm: Vì tờ báo cần đến độc giả và quảng cáo. Độc giả nhiều thì quảng cáo mới có hiệu quả thì “sự giàu có” trong nghề “kinh doanh” báo chí mới đi đến đỉnh của nó chứ! Ai chết mặc ai, tao chỉ biết có “tiền”. Tao chỉ nói “bảo vệ, duy trì” văn hóa, văn chương chỉ là nói chơi thôi! Còn thằng nào làm lợi cho tao như những thằng nhà văn hay nhà thơ “biết chửi” làm hiện tượng thu hút độc giả cho tờ báo của tao thì một trăm tao cũng trả chứ đừng nói chi vài chục bạc. Đó chỉ là chuyện nhỏ! Tao chỉ sợ là chuyện kiện tụng ra tòa mà thôi! Nhưng chuyện đời đôi lúc cũng phải sơ xẩy và hớ hênh cũng chỉ vì tụi “cò ke lục chốt” của tao thôi! Chuyện đời mà, có khi vầy khi khác, “nước lớn rồi nước lại ròng”, phải không anh bạn nhỉ?

Đồ Ngông
23/06/10.

Thơ Đó, Thơ Đây! (tt)

* Lên Núi. (Sapa- Lào Cai)

Rủ nhau lên núi mà chơi
Đi qua nhiều bậc, công viên nửa chừng
“Sapa” bông nở thơm lừng
Ngồi ra nguyên cả một bầy hò reo
Làm duyên, làm dáng, làm eo
Hình sao khi chụp kéo theo nụ cười!

Đồ Ngông,
02/08/10.



* Cổng Trời. (Sapa- Lào Cai)

Cái “ni” lại gọi cổng trời
Chỉ là tảng đá “đứng, ngồi” thênh thang
Len qua dãy đá hai hàng
Như là qua “cổng” lên “trời” đó chăng?
Ta nghe, ta lại hỏi rằng:
Cái ni được gọi cổng trời ấy sao?

Đồ Ngông,
02/08/10.



* Hàm Long. (Sapa- Lào Cai)

Đứng bên nây, ngó lên bên kia
Mõm núi vươn vươn một cái rìa
Cứ tưởng ra rằng “rồng há mỏ”
Hàm Long cứ gọi tự xưa kia!

Đồ Ngông,
02/08/10.

Thơ Nguyên Thảo (tt)

* Mai Về!

Mai về còn nửa trái tim
Nửa kia để lại lặng im bên trời
Nhìn vào khoảng trống chơi vơi
Quê hương ngày ấy, bồi hồi nhớ nhung
Lạ chi cái nhớ vô cùng
Mon men, rón rén còn chung nẻo về!

Nguyên Thảo,
23/03/11.



* Bài Ca Mùa Thu.

Thấp thoáng Thu về trên lá đỏ
Ngập ngừng bước nhỏ dưới chân vàng
Lạnh lùng ngọn gió trở Thu sang
Vạt áo tung bay em thức giấc.

Len lén, thẹn thùng Thu lại đến
Bềnh bồng tóc trắng lửng lơ cao
Khói sương nghi ngút trên hồ tỏa
Cảm được mùa Thu rón rén vào.

Thu quyến rũ, sao Thu đẹp quá!
Có mưa bay, cây cối khoe cành
Lá vàng lả tả rơi theo gió
Lại có nàng trăng lửng trời xanh!

Nguyên Thảo,
26/03/11.