Wednesday, October 12, 2011

* Đạo Phật 26: Bàn Về Đức Tin Trong Đạo Phật.

Tặng: Mục sư Huệ Nhật
(Một cựu Tu sĩ Phật giáo thiếu Niềm tin)

Nói đến Đức Tin trong Đạo Phật thì chúng ta có thể khẳng định rằng: Đạo Phật là tôn giáo rất thoải mái trong Đức tin, bởi vì Đạo Phật từ xưa cho đến nay vẫn cho rằng: Người đến với Đạo Phật là tùy “Duyên”. Vì vậy, mà Đạo Phật trong quá trình phát triển của nó không có những sự o ép, hay có những ràng buộc nào về giáo lý cũng như về Tổ chức. Tuy nhiên, trong thời đại hiện tại, do từ những thế lực của “ma vương” lấn áp, cho nên Đạo Phật cũng cần có nhiều thay đổi để thích ứng với công việc truyền bá chánh pháp, và đem “duyên” đến cho mọi người để có thể lôi cuốn được người “mê lầm” trở về với con đường “giác ngộ”. Có thế, thì mới không phụ lòng Đức Phật hơn 45 năm ròng rã từ nơi này đến nơi khác để nói đến con đường tu tập, hành trì; đồng thời cũng là góp phần chuyển đổi thời “Mạt pháp” biến thành “Chánh pháp“. Đạo Phật ngày nay đã được nhiều nhà trí thức cũng như những nhà nghiên cứu trên thế gian kiểm nhận từ trong kiến thức, giáo lý có thể đáp ứng với các tiêu chuẩn về khoa học, tâm lý, thiện lành, và ngay cả trong đời sống con người. Giáo lý ấy không hoang tưởng, không làm cho con người trở thành mê muội để tin theo. Sự xiển dương, truyền bá rộng rãi đến cho từng chúng sinh ấy là một sự cần thiết nhằm giúp mỗi chúng sinh tự trang bị kiến thức và “tự đốt cho mình ngọn đuốc” để mình cùng đi với nhiều chúng sinh khác!
Do vì thiếu lòng tin hay do những sự cám dỗ về vật chất mà nhiều người đã “ngã ngựa” trước những cám dỗ của thế lực ma vương để rồi phải làm tôi tớ ma, mà quay lại trong vòng luân hồi không biết đến bao giờ mới có dịp thoát ra được. Chư Phật trong ba đời cũng chỉ nương theo con đường duy nhất ấy để thành Phật thì trong thế gian này chẳng có con đường thứ hai. Nhất là con đường thứ hai được tuyên xưng bằng cái “ngã” ngã mạn của người sáng lập ra đạo giáo đó. Chúng ta có thể nghiên cứu kỹ lại 50 món ma mà Đức Phật đã cảnh giác những người tu trong Kinh Lăng Nghiêm khi dụng tâm để phá trừ các ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) thì chúng ta sẽ rõ.
Nếu đã có con đường khác để thành Đạo thì Đức Phật đã đề cập đến trong nhiều Kinh điển rồi; chứ không phải nhọc công dẫn giải và cảnh giác người tu bằng 50 món ma. Do đó, để giảng rõ hơn Đức Phật còn đề cập rất nhiều đến tính chất “Vô Ngã” cũng như tai hại của Sát, Dạo, Dâm Vọng và nhất là Tâm phân biệt trong Sự phân biệt: Ngã, Nhân, Chúng sinh và Thọ giả tướng. Theo như chúng ta đã biết Đức Phật thuyết rằng: Chúng sinh rời cõi Chân Tâm cũng chỉ vì do “Vô Minh”. Vô Minh là gì? Trong Kinh Lăng Nghiêm Đức Phật cho biết rõ hơn là do sự si mê, không biết mà chúng sinh đã “có vọng tưởng” và “tâm phân biệt”. Chính hai điều đó đã khiến chúng sinh lăn lộn trong cõi luân hồi, đau khổ bằng thân xác vay mượn, giả tạm của mình. Muốn vượt thoát chúng sinh phải tu hành, hoàn thiện lấy mình để giải những nghiệp mà mình đã gieo từ nhiều đời, nhiều kiếp; và từ bỏ từng bước về vọng tưởng, tâm phân biệt ấy để trở lại thuở ban đầu được viên dung cùng với những chúng sinh khác trong cõi Pháp Giới chỉ có Phật không thôi (Bất Nhị).
Vì vậy, những tôn giáo nào chủ trương chém giết thì còn gây nhân quả tất không thể thoát khỏi cảnh Luân hồi; cũng như phân biệt Ta, Người, Chúng sinh, Thọ mạng tướng tất không thể hòa chung trong một thế giới; cho nên nó không phải là Cứu Cánh của Đạo và không thể nói đến Chân, Thiện, Mỹ được. Nếu có người cho rằng: Được! Chẳng qua là gượng gạo và ngụy biện đó thôi, chứ về Chân lý nó đã chẳng là Chân lý rồi!
Mọi tôn giáo đều hướng con người, chúng sinh về những cảnh giới sau khi chết. Điều ấy khiến người theo hay nghiên cứu phải tưởng tượng và “nghi vấn” về những cảnh giới đó. Có tôn giáo đặt nặng về vấn đề Thần quyền nhưng vị thần không thể đáp ứng được những yếu tố đáng tin cậy từ suy luận lẫn khoa học, tính thiện lành cho nên nó chỉ là một hình ảnh do người tưởng tượng tạo ra để mà tin tưởng, cầu nguyện, an ủi cho cuộc sống đầy đau khổ trong thế gian này. Trong thời gian khi xưa khi khoa học, kỹ thuật chưa tạo được những phương tiện lên không gian để tìm hiểu, thì người ta tưởng tượng các vị thần sống và bay trên những tầng mây với hình dáng đẹp hay đầy quyền năng, có khi xem như hồn và xác của vài người nào đó được hồn xác lên trời. Nhưng khi có các phương tiện như khinh khí cầu, máy bay, phi thuyền… Bao nhiêu năm các phương tiện ấy bay hàng ngày, đầy trời ấy chẳng thấy hồn xác nào trên bầu trời cả, thì người ta quanh co, ngụy biện cách lý giải khác để lừa đảo người khác lẫn tín đồ.
Đạo Phật không đi vào đường hướng hoang tưởng đó! Đức Phật đi từ thực tiễn đời sống của con người từ những căn nguyên gây nên tội lỗi, hay những hành động nào thiện lành để dẫn chứng theo lý “nhân quả”, và tùy theo “duyên sinh” mà diễn tiến hàng loạt sự kiện tiếp theo (trùng trùng duyên khởi). Đức Phật chỉ rõ những Chân Lý chắc thật, mấu chốt trong cuộc sống cũng là những Chân lý cho lý giải của mình làm nền tảng cho giáo lý mà Ngài truyền giảng. Cuộc sống của chúng sinh vốn là khổ; Ngài phân giải nguyên nhân của khổ rồi đề cập đến con đường diệt khổ và thoát khổ để đạt đến được cái gì và sự an vui hạnh phúc đó như thế nào.
Sự tuyệt vời của Đạo Phật là giải thích được mọi khía cạnh của cuộc sống con người bằng những sự giải thích mà chúng ta có thể hiểu, tiếp cận được qua những hiện tượng, sự kiện trong thực tế, hay qua môn Tâm lý học Phật giáo (hay được gọi là Duy Thức Học). Qua đó, nhiều nhà Tâm lý, Phân Tâm, Đạo đức học cũng không thể ngờ trong Đạo Phật đã chứa đựng những lĩnh vực phân tích mà họ nghiên cứu ấy từ hàng nghìn năm về trước; cũng như những nhà khoa học ngày nay phải tán dương Đạo Phật vì tính chất thích hợp với những khám phá khoa học mà họ đã khám phá ra được. Xa hơn nữa, Đức Phật đề cập đến những siêu hình, những thế giới khác mà hiện nay các nhà khoa học chưa có thể đạt đến (mặc dù người ngoài không gian được đánh dấu như là một thực tế có thể có). Nếu Đức Phật đã đề cập đến những thế giới khác trong vũ trụ bao la (pháp giới vô biên tế, vô số tam thiên đại thiên thế giới) với những hình dạng, màu sắc khác nhau thì ngày nay khoa học thấy trong vũ trụ có nhiều thiên hà, có những thiên hà có hình dáng, ánh sáng khác nhau. Trong mỗi thiên hà là vô số Thái dương hệ lập thành. Điều đó đánh đổ thuyết thần quyền sáng tạo không thích hợp với những khám phá của khoa học! Và càng ngày sự khám phá của khoa học càng cũng cố thêm những tri thức từ trong Kinh điển và khiến cho nhiều người càng tín nhiệm hơn về giáo lý của Đạo Phật, nhất là đối với những nhà khoa học trên thế giới!
Đức Phật và Phật giáo không hề dụ dỗ, o ép, hoặc dùng quyền lực đối với một ai để buộc người đó phải theo, hoặc làm tín đồ; mà Đức Phật cũng như Đạo Phật chỉ thuyết giảng để người, chúng sinh nhận thức được mình cũng có Phật tánh, có khả năng thành Bậc Giác Ngộ. Đạo Phật giúp họ nhận chân được sự Vô Thường, Khổ của cuộc đời để đi đến con đường thoát khổ bằng ý chí, sự hành trì của chính mình trong niềm tin trí huệ, kiểm nghiệm, không cuồng tín ngông nghênh hoang tưởng như ở vài nơi nào đó. Đức Phật đã giáo huấn người dân ở Kalama cũng như hàng đệ tử trong đoạn Kinh Kalamasutta như sau:

-- "Này các Kalama, chớ có tin vì nghe truyền thuyết, chớ có tin vì theo truyền thống, chớ có tin vì nghe người ta nói, chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng, chớ có tin vì nhân lý luận, chớ có tin vì nhân suy luận, chớ có tin sau khi suy tư về những dữ kiện, điều kiện, chớ có tin theo thiên kiến, định kiến, chớ có tin vì thấy thích hợp với khả năng, chớ có tin vì vị Sa môn là bậc Ðạo Sư của mình. Nhưng này Kalama, khi nào tự mình biết rõ như sau: 'Các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này bị người có trí chỉ trích, các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận, đưa đến bất hạnh khổ đau. Thời này Kalama, hãy từ bỏ chúng' ... Nhưng này Kalama, khi nào tự mình biết như sau: 'Các pháp này là thiện. Các pháp này là không có tội. Các pháp này, được người có trí tán thán. Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận, đưa đến hạnh phúc an lạc, thời này các Kalama, hãy chứng đạt và an trú'...".

Với đoạn Kinh này chứng minh về Đức tin trong Đạo Phật cũng như sự hành trì của hành giả được nhắc nhỡ, cân nhắc chính chắn trước khi họ tự nguyện chọn con đường để đi với một tinh thần sáng suốt, trí tuệ và có nhiều so sánh cũng như kiểm chứng rồi họ mới an trú vào. Đó là điểm thù thắng, cao cả nhất mà người tin vào Đạo Phật đã có được, hơn hẳn tất cả các pháp khác đang hiện có trong thế gian này!

Nguyên Thảo,
17/08/2011.

*Đạo Phật 25: Đạo Phật Là Đạo Của Đại Chúng!

Theo như thông thường chúng ta thường nghĩ Đạo Phật như là một tôn giáo riêng tư của Đạo Phật mà thôi! Và có người lại cho rằng Đạo Phật không phải là một tôn giáo, mà chỉ là những triết lý về cuộc sống của con người. Quan niệm nào nhìn về Đạo Phật cũng chỉ đúng trên bình diện một góc cạnh mà người quan sát, nghiên cứu đã đứng nhìn. Nếu chúng ta đứng trên tổng thể thì Đạo Phật có khía cạnh tổng thể của nó.
Chúng tôi không muốn làm một cuộc “biện minh” hay để chứng minh “Đạo Phật là một tôn giáo” trong bài này, mà chúng tôi chỉ muốn trình bày một số khía cạnh mà Đạo Phật đã đem lại hay cống hiến cho cuộc đời, cho một số nền văn hóa cũng như nó đã đóng góp vào tiến trình “đi tìm” Chân, Thiện, Mỹ cho nhân loại.
Thuở xưa, khi chúng tôi còn trên ghế nhà trường có vị thầy vốn là Linh Mục đã nhận xét về một số Đạo Đông Phương như là những triết thuyết chứ không là những tôn giáo. Sau này chúng tôi mới hiểu ra vị Thầy Linh Mục ấy chỉ đứng trên bình diện của một người truyền giáo để nói về Triết Tây, đồng thời cũng là người để kiếm thêm “con chiên” cho Chúa vì thế mà cái nhìn của Thầy có một khía cạnh khác, với quá nhiều chủ quan và thiên kiến; đồng thời, cũng là để người khác hiểu Đạo của Thầy mới là Tôn giáo. Sự đánh lừa ấy cho đến một ngày chúng tôi được nghe điều răn đầu tiên trong mười điều răn: “Tin có Đức Chúa Trời và chỉ phượng thờ một mình Đức Chúa Trời mà thôi!” (Đúng ra điều răn ấy được học là “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự”), khiến cho chúng tôi liên tưởng đến định đề Euclide trong toán học: “Qua hai điểm ta chỉ kẻ được một đường thẳng và chỉ một đường thẳng mà thôi!”. Chính vì chữ “mà thôi” ấy mà chúng tôi mới khám phá ra rằng: “Tin có Đức Chúa Trời” cũng chỉ là một “định đề” như bao nhiêu định đề khác! Trong toán học, với định đề thì chúng ta không chứng minh, mà chỉ có chấp nhận hay không; nếu chấp nhận “định đề” thì chúng ta có hệ thống toán học ấy, và nếu không chấp nhận thì chúng ta sẽ không có hệ thống toán học đó. Chính thế mà chúng ta mới có các hệ thống toán học “non-Euclide” khác như hệ thống toán học của Riemann hoặc Lobachevsky… chẳng hạn. Cho nên từ đó chúng tôi có cái nhìn khoa học hơn về hệ thống tôn giáo của Thầy tôi.
Theo thời gian của tuổi đời và nhất là sau cơn bạo bệnh, chúng tôi đã có “duyên” tìm đến Đạo Phật; và từng bước “cơ hội” lại được tìm hiểu vào kinh điển.
Đạo Phật, nếu chúng ta nói là cho riêng những người Phật tử hay những ai theo đạo Phật thì không hẳn đúng như vậy. Đức Phật khi ngộ được chân lý, qua cái nhìn của trí tuệ đã không phân biệt con người với những chúng sinh khác; con người cũng chẳng có giai cấp sang hèn, hay chủng loại. Tất cả chúng sinh trong sáu đường, ba cõi đều như nhau: Đều cùng có Phật tánh cũng như đều có khả năng giác ngộ; chỉ khác chăng là do nghiệp của chính mình tạo tác ra mà lãnh quả khác nhau trong thời gian ngắn hay dài để trả nghiệp! Nhưng cuối cùng, nếu ai cũng biết “tự mình đi” trên con đường “đạo” để giải thoát ra khỏi sinh tử, đau khổ thì sẽ được thoát khỏi cảnh luân hồi không sai khác! Điều đó mà Thường Bất Khinh Bồ Tát đã tán dương trong Kinh Pháp Hoa: “Tôi chẳng dám khinh quí ngài, quí ngài đều sẽ làm Phật”. Con đường đạo ấy đã được chính Đức Phật trải nghiệm qua và chỉ lại, và cũng chính con đường đó mà các Đức Phật trong ba đời: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai phải trải qua để trở thành Bậc Giác Ngộ. Xem như vậy, con đường giác ngộ không phải để dành riêng cho phật tử hay những vị Bồ Tát, Phật mà cho tất cả mọi chúng sinh trong ba cõi, sáu nẽo Luân hồi. Nhưng do căn cơ của mỗi chúng sinh khác nhau vì thế đến với Đạo Phật cũng còn có nhiều khó khăn và nhận thức không được đồng đều. Do vậy, trong Đạo Phật có nhiều pháp môn cũng như sự hành trì có khác nhau tùy theo trình độ của người hành trì, hay những nhóm thực hiện đường lối tu, đó chỉ là những cách để “dắt dìu” và cùng nhau tìm con đường “đúng” để mà đi! Và cũng có thể nhờ đó mà người hành trì sẽ tránh được ma chướng, con đường ma (do ma giới tạo nên) nhằm khiến con người tu phải “lụy” mà không thoát khỏi được cảnh Luân hồi theo ý muốn của những loài ma ấy!
Trong thế gian, mặc dù những ai được sinh trong cõi Ta-Bà này đều đã có nhiều phước báu vì được sinh vào cõi có Phật pháp (các cõi khác không có) để có thể biết, nhận thức, tiến tu mà giải thoát. Tuy nhiên, nơi đây cũng chính là nơi có nhiều thử thách, và những ma chướng giăng đầy để người tu phải nỗ lực vượt qua các chướng ngại trước khi “đến được bờ giác ở bên kia” giống như cá lý ngư phải vượt qua được Vũ Môn mới hóa thành rồng. Nếu vật chất, phương tiện tiến bộ khoa học cung ứng cho cuộc sống con người sung sướng bao nhiêu, thì cũng chính chúng khiến cho con người đam mê trong vật chất, bạc tiền, hay tình dục (như hiện nay) thì sự tiến đến “thành đạo” không dễ dàng chút nào. Đó là chưa kể vì ham mê vật chất, giàu sang con người không từ nan đến những hành động tội ác từ “tham, sân, si” để gây nhân ác do “sát, đạo, dâm, vọng” mà nên, để họ phải quay trở lại trong vòng Luân hồi sinh tử.
Rượu bia ngon, thức ăn được chế biến trở nên khoái khẩu, phương tiện cung ứng cho cuộc sống trở nên dồi giàu, những trò chơi xa xỉ tiêu tiền tốn bạc như đua ngựa, casino, cờ bạc, các máy pokies cũng nhằm đưa con người tới chỗ ham vui, chạy theo vật chất để trở về với sự sa đọa, tội phạm… Và rồi, tự chính mình giam hãm mình “ở lại” trong nhà tù luân hồi vĩ đại, không biết đến bao giờ mới ra! Cho nên được làm thân người ở cõi Ta-Bà đã là khó; được nghe, biết, ngộ, nhập vào tri kiến Phật có lẽ cũng khó (nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn) hơn nhiều! Không những thế, loài ma và những ma chướng đã khiến cho nhiều người bị sa ngã trên đường tu, họ tưởng họ đã đạt được đạo, họ xa rời “Vô Ngã” để họ thấy chính họ là những Đấng Cao Cả (do sự Ngã Mạn) thay mặt cho một Đấng Sáng Tạo nào đó trong thiên nhiên, để rồi dẫn dắt những con người, tín đồ của họ đi vào con đường ma đạo như chính họ “đã là tôi tớ của ma”! Một cuộc chiến đấu “cuối cùng” nơi cõi Ta-Bà giữa Giác Ngộ và Ma: Vượt qua khỏi là Bậc Giác Ngộ; kẻ ngã ngựa, bị lôi cuốn sẽ trở lại với dòng sông Luân hồi trong muôn vạn nghìn ức kiếp không biết đến bao giờ thì gọi là theo Ma!
Giáo lý Đạo Phật không dành riêng cho người theo Phật, mà cho tất cả những ai có thể tri ngộ được dù là sớm hay muộn bởi vì khi Đức Phật thuyết giảng là cho tất cả mọi người đã có mặt trên thế gian. Những “Chân lý” Đức Phật vạch ra cho chúng sinh thấy rằng: Cuộc đời trong nhân thế là “Những khổ đau” tự nó đã hiện hữu trong cuộc sống; để rồi sau đó Đức Phật đi đến lý giải những nguyên nhân của khổ đau, và muốn thoát khỏi khổ đau mình sẽ phải chọn con đường hoàn thiện để thoát khỏi vòng khổ đau ấy. Những giai đoạn ấy là “cần có” và “điều kiện đủ” để thí sinh vượt qua ngưỡng cửa của kỳ thi sau cùng mà tiến đến Giác Ngộ! Đức Phật cũng chỉ rằng “không ai có thể cứu mình ra khỏi những nghiệp mình đã gieo, mà chỉ có mình tự nỗ lực cứu chính mình mà thôi!”; vì những nghiệp mình gieo đã biến thành dây oan trái vô hình trói buộc mình với những ai mà mình đã ân oán với họ, dù ân oán ấy thật là nhỏ nhoi! Con người hoàn thiện và giải nghiệp bằng sự tu tập của chính mình!
Trong sự tu tập, con người cố làm nhiều việc thiện, từ bỏ đi những việc ác; tức là mình “thi ân” việc tốt (nhân thiện) cho người khác nhưng không nghĩ đến đền bồi (bố thí ba-la-mật); nhưng những gì làm ác ngay thời điểm hiện tại hoặc những việc ác trước kia chúng vẫn là những hạt nhân đợi đến thời điểm, điều kiện thích hợp sẽ nẫy mầm và chúng sẽ lôi cuốn tâm thức người gieo đến nơi mà họ phải trả quả. Ý thức rõ được như vậy, thì đời sống con người dễ dàng hướng thiện hơn và với sự hiểu được lý nhân quả thì người ta mới tự kiềm chế lấy mình khi khởi nên ý ác. Có như thế thì một xã hội sẽ được thiện lành mà không cần phải áp dụng đến luật pháp.
Nhưng sự tiến đến với Phật pháp của từng chúng sinh không đồng nhất, có người ngộ, hiểu, có thể chấp nhận; nhưng có người chẳng hề quan tâm hay để ý. Thế cho nên Đức Phật đã thấy rằng những chân lý Ngài lĩnh hội được khá cao siêu, khiến không nhiều người có thể nhận hiểu dễ dàng nên Ngài không muốn thuyết giảng; nhưng rồi Ngài cũng phải lặn lội trên 45 năm ròng rả để truyền bá giáo pháp ấy.
Một giáo lý mãi đến ngày hôm nay, trên khía cạnh khoa học hay khía cạnh tâm lý; ở khía cạnh giải thoát, tự cứu độ của một tôn giáo hoặc trên bình diện triết học Chân, Thiện, Mỹ thì Đạo Phật luôn vẫn đáp ứng được những tính chất về Chân lý hay khoa học, tâm lý… hoàn thiện con người cho cuộc sống an vui trong một thế giới đại đồng của mọi loài chúng sinh, mà chúng ta không thể tìm thấy ở một tôn giáo nào khác để có được!

Nguyên Thảo,
2/8/2011.

*Thơ Đó, Thơ Đây! (tt)

*Cửa Bình Đại. (Tiền Giang)

Tưởng rồi cuộc đã xong
Lướng vướng nửa giờ trong
Lòng người buồn vô hạn
Cứ van cầu ước mong!

Thế rồi sự đã qua
Ơn trên thực đã là
Chuyện đời qua trời tính
Bình Đại thoát đã xa!

Đồ Ngông,
19/08/10.



*Đi Ra Biển Khơi!

Đã qua rồi nỗi lo âu
Đã qua rồi lòng buồn rầu
Tàu vươn vươn ra cồn cát
Trời lại sáng, sáng mau mau!

Thôi nhé! Giờ ta lại đi
Đi, đi trong nỗi phân kỳ
Lìa xa, xa cả hoài niệm
Cùng với nỗi sầu phân ly!

Ngước nhìn, nhìn lại phía sau
Núi xa xanh nhạt, nhạt màu
Ngẫng đầu nhìn về phía trước
Thẫm xa, với sóng bạc đầu!

Đồ Ngông,
19/08/10.



*Từ Biệt Quê Hương!

Bây giờ ta lại bỏ quê hương
Thất thểu đi trên vắng nẻo đường
Chẳng biết nơi đâu là bến đỗ
Lênh đênh thân phận, niềm thê lương!

Đồ Ngông,
19/08/10.



*Phà Rạch Miểu. (Tiền Giang)

Thôi đã hết rồi những chuyến phà
Đâu còn chi, đi lại đi qua
Ồn ào những lúc ngày xưa cũ
Cầu nối đôi bờ, phà đã xa!

Ngày ấy..., bây giờ lần sẽ quên
Không còn vội vả lẫn chân chen
Không còn tiếng gọi mời la nữa
Cầu đã Nam xong, Bắc lại liền!

Đồ Ngông,
19/08/10.

*Quan Điểm!

Nói đến quan điểm thì phải nói đến cái nhìn giới hạn ở một khía cạnh nào đó; nói đến một góc nhìn không được toàn diện và nói đến một sự què quặt của những con người dị tật. Thế nhưng, người ta lại thích quan điểm mới là chết chứ! Nhất là quan điểm của mình hay là quan điểm của phe nhóm mà mình đã đi theo. Người ta dính phải “bùa mê thuốc lú” lúc nào mà họ cũng chẳng hề hay biết! Bao nhiêu rắc rối, bao nhiêu hận thù xảy ra cũng từ góc nhìn hay khía cạnh của vấn đề quan điểm. Chúng ta hãy thử tưởng tượng ở một hội nông gia nọ, lúc khởi đầu người làm nghề nông ít, họ là những người thân thiết họp mặt để giúp đỡ lẫn nhau trong vấn đề thuốc men phân phướng lẫn kỹ thuật canh tác. Theo thời gian số người vào nghề nông khá nhiều, từ nhóm bạn bè biến thành hội nông gia để gọi là nương tựa vào nhau trong sinh hoạt cũng như quyền lợi được chánh phủ giúp đỡ và hỗ trợ. Với thời gian quá lâu, ban điều hành hội nông gia với tinh thần thiện nguyện ai cũng bận công việc của mình tíu tít nên chẳng sinh hoạt được nhiều, giống như chỉ là có hình thức để đi giao thiệp với những hội đoàn ở địa phương mà không có một sự “thực chất” nào trong sự hoạt động của nó. Với sự tăng trưởng về người vào nghề nông khá nhiều, nên nhu cầu một hội nông gia có tinh thần hoạt động tích cực được thành hình với nỗ lực của người cũ cũng như người mới. Sự hăng say hoạt động của Ban Chấp Hành mới được đánh giá là cao, họ có cả Bản tin để thông tin và văn nghệ vui chơi hàng tháng. Nhưng chỉ có mục “quan điểm” mà trở thành sự rối ren và phân hóa. Tại sao là do mục quan điểm? Mục quan điểm để nói lên tinh thần hoạt động, cũng như đường hướng theo đuổi hay ý muốn của riêng hội. Chỉ qua vài ngôn từ “hữu danh vô thực” mà đã là nguyên nhân cớ sự. Trong một bài quan điểm, người viết quan điểm như báo cho độc giả biết từ xưa hội nông gia chỉ có tiếng mà không có miếng tức là sự hoạt động không có kết quả là bao, để từ đó kêu gọi sự hợp tác của mọi người nông dân. Nhưng bài viết ấy không được hiểu đúng theo ý nghĩa đó mà nó lại được hiểu theo một chiều hướng khác. Chính vợ người cựu Chủ tịch hội nông gia lên tiếng liền theo sau bài viết ấy để gọi là phản bác, vì bà cho là bài quan điểm ấy phủ nhận công lao của chồng bà trong bao nhiêu năm; tiếp theo chồng bà “từ chức” chức danh “cố vấn” của hội. Từ đó, kéo thêm tay chân bộ hạ bất hợp tác với Hội Nông Gia hiện hữu, và yễm trợ người khác cũng như quay lưng lại với Hội Nông Gia hoàn toàn. Đó là kinh nghiệm của một lần quan điểm!
Và rồi, cũng vì quan điểm mà nhiều nơi trở thành của phe nhóm để trấn áp người khác; loại bỏ người không thuộc phe nhóm của mình ra khỏi nơi mà phe ta muốn chiếm độc quyền, nhất là về phương diện chính trị!
Tôi nhớ lại thuở xưa khi còn bé thật là bé! Cái thời con nít ấy chưa chi cũng đã lắm sự đời! Những thằng lớn không thích nhau cũng bắt đầu chia phe chửi hay là đánh lộn. Chỉ khổ cho những thằng nhỏ, cò ke lục chốt như tôi. Muốn được chơi phải theo hẳn phe của một thằng, không được đứng hàng hai. Nếu lỡ phe mình bị thua thì tôi là những thằng nhỏ tuổi lẫn nhỏ con bị làm nô lệ, trở thành tay sai, phải làm theo những gì mà phe thắng muốn đày đọa. Nó muốn đày đọa cho mình khổ chừng nào thì nó lại càng thích thú chừng nấy! Thế là những hình thức khổ sai, đánh đập, chửi mắng, hành hạ đủ điều trong tiếng cười vui của chúng nó. Tôi bắt đầu thắm thía cuộc đời từ thuở ấy!
Sau này lớn lên trong thời gian chiến tranh, tôi cũng nhìn được những kẻ thù với nhau từ trên chiến trường cho đến khi tàn cuộc chiến tranh. Những gương mặt, thân xác đều là anh em, giống nòi, nhưng trang bị để giết nhau bằng súng đạn của người bên ngoài; “Tụi bây cứ giết nhau đi; tàn phá đất nước chúng mầy đi; tao sẽ cung cấp cho chúng mầy đủ mọi thứ để tụi bây được thắng”! Thế rồi hỏa tiển, bom đạn, máy bay bắn rơi xuống ruộng đồng, trên nương rẫy, trong thành phố. Người người máu me lênh láng, thây đầy trên đường sá, tàn tật; cô nhi quả phụ khắp nơi nơi! Đã vậy mà người ta cũng đành lòng đánh giết lẫn nhau. Bao nhiêu mạng người, tài sản thay gì để làm giàu cho đất nước lại đem ra tàn phá chính đất nước của mình; đồng thời lấy làm thích thú khi mình giết được nhiều người, tàn phá được nhiều tài sản của đồng bào. Quả thật, sau bao nhiêu năm chiến tranh đất nước trở thành “một nấm đầy mồ” như Trịnh Công Sơn đã từng viết.
Hận thù trong chiến tranh; hận thù giai cấp vẫn hiện hữu trong hòa bình. Đày đọa, giết chóc để trấn áp người theo quan điểm của mình, của tổ chức, phe phái vẫn còn tiếp diễn không biết đến bao giờ mới chấm dứt. Không ngờ những chủ nghĩa ngoại lai đã trở thành là nguyên nhân một dân tộc bị tan nát, hận thù không đội trời chung đến với những người con dân cùng chung một nòi giống. Thế mà, hai bên vẫn hãnh diện cho lý tưởng của mình; chống nhau cho đến tận cùng, không màng đến một thằng to lớn đói khát đang muốn nuốt chửng hai con mồi ruột thịt cấu xé lẫn nhau, mà miệng hắn luôn nói hòa bình để che đậy, đánh lừa thiên hạ hầu thực hiện kiểu “dương đông kích tây” cho thiên hạ không để ý, lưu tâm theo dõi những hành động hắn đang làm. Thật tội nghiệp thay cho một dân tộc và đất nước!
Thế mà người cùng nòi giống cũng vẫn hãy còn “gầm gừ”, toan cắn lẫn nhau! Quên một đất nước tang thương!

Đồ Ngông,
5/10/2011.

Wednesday, September 14, 2011

*Thơ Đó, Thơ Đây! (tt)

*Cù Lao Phụng. (Tiền Giang)

Cù lao Rồng lại thêm cù lao Phụng
Giang sơn Đạo Dừa ngày xưa thao túng
Ông xây cầu nối giữa Bắc và Nam
Làm một cuộc giải hòa trong mộng tưởng!

Đồ Ngông,
18/08/10.



*Ngã Ba Trung Lương (2). (Tiền Giang)

Tớ nhớ ra rồi một năm xưa
Tớ xuống nơi đây, đỗ chỗ nầy
Ngồi xe lôi đạp vào thành phố
Mua khúc bánh mì ở tại đây!

Thơ thẩn, ngơ ngơ con ngáo ộp
Lạ người, lạ chỗ như trên mây
Thiên hạ ngó chừng đâu dân lạ
Đi đâu mà lại đến chỗ nầy!

Đồ Ngông,
18/08/10.



*Con Đò Chợ Cá! (Tiền Giang)

Láo ngáo, lơ mơ lại mấy “tay” (mấy người)
Đi theo cái lão dẫn đường này
Chen chen, lấn lấn người đông quá
“Không xuống, còn chi, đứng ở đây?”

Chiếc đò bóng dáng của năm xưa
Một thoáng chiều trôi, lại ít mưa
Bước xuống ghe nhìn nơi xứ lạ
Lòng đi mà biết nói sao vừa!

Đồ Ngông,
18/08/10.



*Đêm Nằm Bến Đợi! (Tiền Giang)

Đêm nằm nghe sóng vỗ lao xao
Không biết nơi đây ở chỗ nào
Gặm khúc bánh mì cho đỡ đói
Đợi chờ mà lòng mãi nôn nao!

Tàu đến dây rồi, tàu vượt sông
Ồn ào một khúc, cảnh người đông
Tiếng nói, tiếng la đầy bóng tối
Mà sao, ta lại chạnh trong lòng?

Đồ Ngông,
18/08/10.



*Nỗi Lòng. (Tiền Giang)

Chiếc ghe nho nhỏ
Đậu ở bến bờ
Nằm trong bóng tối
Lòng mình bơ vơ.

Nhiều mối lo âu
Nghĩ nhớ rầu rầu
Xa đi tất cả
Nỗi buồn đêm thâu!

Đồ Ngông,
19/08/10.



*Tiếng Tàu Trong Đêm. (Tiền Giang)

Tàu đi giữa dòng sông
Nước chảy bao nhiêu giòng
Mình còn nhiều vướng bận
Mà xao xuyến trong lòng!

Ra đi, đâu chắc xong
Nào ai thỏa ước mong
Chuyện ngày mai khó biết
Chỉ mơ được toại lòng.

Một đoàn người lặng yên
Đầy trĩu nặng ưu phiền
Chất lên con tàu nhỏ
Cho giấc ngủ bình yên!

Đồ Ngông,
19/08/10.

*Đạo Phật 23: Đạo Phật Và Tín Ngưỡng Nhân Gian!

Đã từ lâu và cho đến tận ngày nay, người ta vẫn còn cho rằng Đạo Phật mang nhiều tính chất “mê tín dị đoan” trong cách hành đạo của mình. Nhưng vấn đề ấy như thế nào? Quả thật đó là vấn đề không đơn giản! Đạo Phật đến nước ta đã qua những chặng đường từ Ấn Độ sang Trung Hoa và đến Việt Nam với phái Đại Thừa; và phái Tiểu Thừa chịu ảnh hưởng đối với dòng phát triển từ Ấn Độ đến Tích lan, hay Miến Điện, Thái Lan, Lào, Kampuchia. Ở đâu cũng vậy, Đạo Phật có một đặc điểm là dễ hòa hợp, thích ứng với những tập tục của địa phương hay bất cứ nơi nào mà nó đã đến. Điều ấy khiến cho Đạo Phật có khác đi, nên nhiều người lại hiểu lầm và nhìn đạo Phật qua khía cạnh “mê tín dị đoan”!
Trong hệ phái Tiểu Thừa có thể vì còn giữ căn bản phương thức tu hành theo chân Đức Phật ngày xưa, nên sự biến đổi không nhiều và tập tục những xứ mà nó đã đi qua cũng không lưu lại những điều sâu đậm trong cách hành trì hay thể hiện, tu tập của người thực hành cũng như người tin tưởng nơi Đạo Phật.
Nhưng với phái Đại Thừa có nhiều vấn đề hơn, nhất là chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa cộng với tập tục dân gian của chúng ta xen lẫn vào.
Giáo lý Đạo Phật không đề cập đến vấn đề “mê tín dị đoan”, mà chỉ giải thích một cách biện chứng, có cơ sở trên đời sống con người. Sự quan trọng là mỗi con người đều có một bản thể riêng: Đó là tâm của mỗi chúng sinh. Trước kia, Tâm mỗi chúng sinh đều cùng “viên dung” (hòa hợp nhau như là một thể, một khối) ở trong cõi Chơn Tâm (cõi sau này khi tu hành đắc đạo trở về thì cõi đó được gọi là cõi Phật, hay Niết Bàn hoặc bằng những danh từ khác nhau), nhưng vì “không biết” (Vô Minh) tâm chúng sinh mới nảy ra “vọng tưởng” (mơ màng, mơ mộng huyễn ảo), và có ý “phân biệt” ta với người, chúng sinh khác; nên cõi Chơn Tâm ấy bị phá vỡ và Tâm mỗi chúng sinh mới mượn đến các Đại (đất, lửa, gió, nước) để làm thân và các giác quan; mượn Kiến đại để Thấy, nghe, hay, biết; và mượn Không đại để được tăng trưởng và lớn lên. Từ khi có thân xác, những nhu cầu nuôi thân, hưởng thụ khiến cho chúng sinh đi vào “Sát, đạo, dâm, vọng” gây những nghiệp ác, cùng với Thiện và “Vô ký” (không thiện, không ác); nhu cầu càng cao thì càng muốn thêm (ái dục; tham), không được thì “sân”, sân quá thì trở nên mê muội (si) để gây nghiệp ác từ Thân, Khẩu, Ý. Gây nghiệp tức là tạo “nhân” để rồi ngay trong kiếp hiện tiền nhận quả, hoặc là trong kiếp sau hay trong những kiếp lâu dài về sau.
Tùy theo những nhân tốt hay xấu nào trong kiếp kế tiếp sẽ đồng loạt trổ “quả”, cộng với nguyện lực (ý nguyện dũng mãnh trước và ngay lúc lâm chung) thì sẽ định con đường đi của sự tái sinh trong sáu nẽo Luân hồi (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A-tu-la, Người, Trời). Khi chết rồi, nhưng đợi chờ để đi sang một kiếp khác được gọi là thân Trung ấm. Nếu Tâm người chết không luyến lưu hay do sự thù hằn nào “níu chân” thì họ sẽ đi đầu thai ở một thân xác khác; bằng không họ cứ lởn vởn, chập chờn trong một cõi vô hình đợi giải quyết xong rồi mới đi. Trong quá trình dài về số kiếp nếu ai có nhiều phước báu thì được sinh vào cõi Trời, hay hơn nữa là cõi người của Nam Diêm Phù Đề (Nam Thiệm Bộ Châu) hay cõi Ta Bà của chúng ta đây để mà tu hành, mong cầu được giải thoát thành A-la-hán, Bồ Tát hay Phật; vì chỉ có cõi Ta Bà này mới có Phật pháp và chỉ chúng sinh ở cõi Ta Bà mới tu thành Phật mà thôi! Nếu xét kỹ như vậy, thì đâu có gì gọi là “mê tín dị đoan”. Vả lại, trong đời sống con người, đạo Phật phân tích tâm lý con người một cách rất là khoa học và đầy “tính lý luận” (logic) qua Duy Thức Học hay còn được gọi là “Tâm lý học Phật giáo” đến đỗi những nhà Phân Tâm Học nỗi tiếng trên thế giới cũng phải “sững sờ” thì sao gọi là mê tín dị đoan nhỉ?
Con người thực hiện theo đường tu của Đức Phật, một giáo pháp “Thiện” từ đầu chí cuối và ngay cả “đoạn giữa” nữa; một phương pháp giải thoát rất hệ thống và khoa học không mang tính chất “lừa đảo” từ nơi người giáo chủ lẫn giáo hội như nhiều tôn giáo khác đã làm, thì thế nào để gọi là “mê tín dị đoan”? Một tôn giáo chân thật, thiện hoàn toàn; một giáo pháp hoàn chỉnh; một đường lối tu để “hoàn thiện lấy chính mình” và xã hội; một chủ trương mọi chúng sinh đều như nhau, bình đẳng từ bản chất cho đến tính Phật, thì không thể là “mê tín dị đoan” được.
Vậy thì “mê tín dị đoan” từ đâu xâm nhập vào? Đây là vấn đề mà chúng ta cần cùng nhau phân tích, tìm hiểu tận ngọn nguồn để trả lại sự trong sáng cho Đạo Phật vậy!
**Người ta thường bảo rằng: “Đạo Phật là đạo cho người chết”, vì người ta thấy những nhà tu thường tụng niệm cho người chết. Nhưng người ta không nghĩ rằng mọi tôn giáo đều dành cho người chết, vì tôn giáo nào cũng đưa về cảnh tượng (dù là thực hay tưởng tượng của vị giáo chủ) vẫn dành cho người chết cả: Những thiên đàng, những hình ảnh tốt đẹp nhất nhằm đáp ứng cho sự mong muốn của người trần gian -trong cuộc sống đầy đau khổ- mà họ đã mơ ước. Điều này cũng khiến cho những giáo hội qua những người học cao, học rộng lại càng thêu dệt thêm để lừa đảo tín đồ của họ, lừa đảo những người thiếu nhận thức, suy nghĩ. Người ta đâu hiểu rằng: Theo đạo Phật, thần thức người chết trong trạng thái chơi vơi ấy cần đến sự câu thông, giúp đỡ của chư tăng (ni) và nhiều người để hỗ trợ tinh thần, đem Phật pháp đến với họ để họ được nhẹ nhàng và cũng nhờ đó như là ánh sáng để soi rọi con đường tốt hơn cho họ đi tới của một kiếp sau. Việc tụng niệm để cho những “tâm thức” người mất như vậy không phải là mê tín dị đoan, mà là một phương thức cứu độ những vong hồn đã chết. “Cầu siêu” cho những linh hồn để họ hiểu Phật pháp mà đi tái sinh, không còn lẩn quẩn trong cõi vô hình hay “làm ma” để đôi lúc phá phách người khác; và chính đó cũng là “cầu an” cho người sống vậy. Vẹn cả hai, cũng có ích cho cả hai! Tại sao lại gọi là “mê tín dị đoan”?
**Tục đốt vàng mã, cúng kiến. Điều này chúng ta nên nghiên cứu trở lại. Chúng tôi không nghĩ rằng Đạo Phật chủ trương điều ấy. Tuy nhiên, trong tín ngưỡng dân gian có những hiện tượng mà người ta không muốn tin cũng không thể được. Điều ấy qua những nhà ngoại cảm hiện nay, hay những ông đồng, bà bóng thực sự (chứ không phải giả) thì chúng ta cũng khó phủ nhận. Có những linh hồn vất vưỡng, lang thang thiếu đói, hiện hồn về báo mộng, hay qua các nhà ngoại cảm hoặc đồng, bóng để muốn cái này hay cần cái kia khiến cho người nhà phải cúng kiến, cung phụng như người đó khi còn sống. Từ đó trở thành một tập tục, cộng với “tinh thần hiếu thảo” của người Đông phương theo kiểu Nho giáo, lần nó xen vào trong hình thức tế lễ của Đạo Phật. Do đó, việc đốt vàng mã, xe hơi, nhà lầu bằng giấy… (đồ mã) thể theo yêu cầu của người nhà mà trở nên là “tập tục” của Đạo Phật; chứ thực ra trong Kinh Vu Lan Bồn, Đức Phật có đề cập đến:
Muốn cho cứu đặng mạng người
Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng
Pháp cứu tế Ta toan giải nói,
Cho mọi người thoát khỏi ách nàn.
Mười phương Tăng chỉ tụng kinh, hợp thần lực lại để giúp những linh hồn nghiệp chướng nặng được siêu thoát, chứ không đề cập gì đến vàng mã cả. Chắc chắn tập tục ấy không phải là của Đạo Phật mà chỉ là của tín ngưỡng dân gian pha trộn vào.
**Người ta cũng thường hay đề cập đến vấn đề cầu xin, xin xăm, xin keo,… Đây, theo chúng tôi nghĩ cũng là tập tục hay tín ngưỡng dân gian nữa thôi! Vì trong cuộc đời quá khổ, làm ăn có nhiều trở ngại... Cho nên trong dân chúng thường hay cầu xin vào những thần lực siêu nhiên nào đó để giúp đỡ. Họ được may mắn thành công, từ đó trở thành phong trào cầu xin đối với một bà chúa, hay ông thần … cũng như người ta đã hay cầu trời, và nay thêm “khẩn Phật” thế thôi! Tuy nhiên, riêng về Đức Bồ Tát Quán Thế Âm:
““Phật bảo ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát: “Thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sinh chịu các khổ não, nghe Quán-Thế-Âm Bồ-Tát này một lòng xưng danh. Quán-Thế-Âm Bồ-Tát tức thời xem xét tiếng tăm kia, đều được giải thoát” (Kinh Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản 1994, trang 493).
Hay:
“Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát đó thành tựu công đức như thế, dùng các thân hình, dạo đi trong các cõi nước để độ thoát chúng sinh, cho nên các ông phải một lòng cúng dàng Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.
Quán-Thế-Âm Đại Bồ-Tát đó ở trong chỗ nạn gấp sợ sệt hay ban sự vô úy, cho nên cõi Ta-Bà này đều gọi Ngài là vị Thí-Vô-Úy” (Kinh Pháp Hoa đã dẫn, trang 500)
Thì người ta cầu đến Bồ Tát Quán Thế Âm thì cũng hợp lý thôi!
Vì cầu với một lực siêu nhiên nên người ta không biết kết quả như thế nào, vì thế nhân gian bày ra “xin keo” để xác định ơn trên có đồng ý cho hay không? Hoặc ở một hình thức khác là “lắc xăm” rồi mới xin keo, để rồi người cầu xin hi vọng với điều cầu xin ấy mà sống với một niềm tin lạc quan yêu đời hơn!
** Coi ngày tháng tốt xấu, bói toán, tử vi, cúng sao, giải hạn: Có lẽ xác định đây không phải là công việc của những nhà sư; tuy nhiên chúng ta cũng có thể hiểu được rằng:
Ngày xưa, nếu nói về những người có nhiều Nho học thì không ai hơn những nhà sư ngoài các Thầy đồ và các Thầy thuốc. Bởi thế cho nên những nhà sư thường được dân gian nhờ coi trong lịch Tàu để biết những ngày nào tốt, xấu để dựng nhà, xây cất; dựng vợ gã chồng; đi xa; khai trương cửa tiệm… Mãi thành một thói quen. Rồi cũng với số vốn Nho học ấy, nhà tu có thích thú vào nghiên cứu Tử vi, Bói Toán, Bốc phệ, Dịch… thì đó đâu phải là Đạo Phật chủ trương mê tín dị đoan mà chỉ là do nhu cầu của dân gian mà nhà sư lại kiêm thêm vấn đề ấy. Chúng ta cũng nên hiểu đó không là của Đạo Phật! Đó là vấn đề cá nhân theo thị hiếu, yêu cầu của dân gian mà thôi!
Đồng thời với những môn đó, dân gian còn nhờ đến phương thức Cúng sao, giải hạn. Thực ra cúng sao giải hạn không phải của đạo Phật mà là công việc của những đạo sĩ (người tu theo đạo Lão). Nhưng đi tìm đạo sĩ không phải là dễ cho nên nó dần dần được dân gian nhờ đến cửa chùa và nhà chùa kiêm nhiệm, cho nên người ta tưởng chùa tạo cho dân gian thành mê tín dị đoan!
Đạo Phật là Đạo ra đời để hướng dẫn chúng sinh được Khai hóa với Trí Tuệ sẵn có của mình để giúp con người, chúng sinh đó tiến đến sự Giác Ngộ, thì tất nhiên Đạo Phật không thể đem điều mê tín dị đoan đến cho chúng sinh được. Nhưng trong quá trình phát triển, Đạo Phật khi đi vào dân gian bị “dân gian hóa” theo những tín ngưỡng của từng địa phương mà có ít nhiều biến thái hay thay đổi, để rồi qua thời gian dài, người ta cứ nghĩ là Đạo Phật là đạo mê tín dị đoan. Sự nghiên cứu nông cạn ngày nào đó, tất phải nhường bước cho sự thật và Chân lý của Đạo Phật mà những nhà nghiên cứu chân chính và khoa học hiện nay đang tìm hiểu, và nghiên cứu về Đạo Phật vậy!
Đã là Chân lý thì cho dù có bị xuyên tạc, bao giờ nó luôn vẫn là Chân lý!

Nguyên-Thảo,
29/6/2011.

Tuesday, September 13, 2011

Đạo Phật 24: Thế Giới Cõi Âm!

Có hay không có một thế giới cõi âm? Điều đó trước kia chắc chúng ta còn phải ngập ngừng để nói là có hay không? Tuy nhiên trong những thời gian gần đây với những hiện tượng của các nhà ngoại cảm liên hệ được với những “Linh Hồn” (tạm gọi là như thế) của người chết, để giúp gia đình tìm được thân xác của họ; hay làm một vài điều gì đó. Điều ấy khiến người ta phải đặt lại vấn đề: “Mê tín dị đoan” hay “là một sự thật huyền bí”, hoặc một môn “cận tâm lý” ra đời!
Đã từ lâu, người ta đã nói nhiều đến một cõi âm; nhưng người thì tin tưởng rằng có thế giới cõi âm, còn những người chẳng hề gặp “ma” bao giờ thì họ cho rằng không có! Chính vì thế mà những người đồng bóng, hay những người làm nghề liên hệ đến cõi âm được xem như là làm nghề “mê tín dị đoan”! Nhưng dù gì trong dân gian vẫn không thể xóa được những điều kỳ lạ mà họ không thể giải thích được. Đó là nguyên nhân cho những tín ngưỡng dân gian được phổ quát cho đến ngày hôm nay:
Một linh hồn bị chết oan hiện về báo mộng cho người nhà để người nhà đi lấy xác về chôn. Một người bị bệnh, tưởng chết đi nhưng khi sống lại lại có khả năng kỳ lạ tiếp xúc với người cõi âm. Hay một người nọ bỗng dưng sau cơn bệnh lại trị bệnh cho người bằng nước lạnh. Đôi khi người chết lại báo mộng cho người nhà mình bị đói rách cần cơm ăn, áo mặc… Những điều kỳ lạ đó đã khiến cho người đời đôi lúc “không tin cũng không được”! Chính chúng là đầu mối của những tín ngưỡng mà dân gian đã duy trì trong thời gian thật là dài mà trong xã hội về sau này thấy có vẻ phản khoa học nên gọi là “mê tín dị đoan”!
Những hiện tượng “siêu hình” đó khiến cho con người ngày xưa không thể giải thích nỗi; cũng như những hiện tượng “mượn xác” lên đồng để trị bệnh hay giúp thân nhân liên hệ đến người đã khuất; Và những “bà cô”, “ông cậu” nhập thể vào thân xác người khác tự xưng là người này hay người nọ để “độ đời, cứu người”, là những nguyên nhân để đưa đến “tín ngưỡng dân gian”. Và với tín ngưỡng dân gian này đã đưa con người tin tưởng vào những vị “siêu nhiên” nào đó, hay những vị thần như thần sông, thần núi… và xa hơn nữa là đến ông thần độc quyền mà tượng trưng là “mặt trời” như: Thượng Đế, Ông Trời, hay Đức Chúa Trời chẳng hạn! Hay nói một cách khác, chính những hiện tượng đó bắt đầu cho một số tôn giáo được thành hình!
Nhưng nếu khi chúng ta cho rằng: Đấng nào đó toàn thiện, toàn năng… mà Đấng ấy đã tạo ra sóng thần, động đất, thiên tai, dịch bệnh, hồng thủy, bão lụt… để sát hại sinh linh; thì hóa ra Đấng ấy lại cũng là một Đấng tàn ác vô tiền khoáng hậu, chứ không là thiện như những người thừa hành hay giáo hội đã tuyên xưng; những điều thuyết giảng đó chỉ là ma mị để lừa đảo người khác, tín đồ!
Đạo Phật thì không như vậy! Đạo Phật không là đạo “mê tín dị đoan” như người ta lầm tưởng; nhưng nó có thể giải thích thỏa đáng được những thắc mắc về siêu hình mà trong dân gian đã gặp phải. Đối với những tôn giáo khác không có luận cứ nào để giải thích được, vì nếu một Đấng Tạo Hóa tạo ra loài người, cho họ sống trong một đời và họ lại sống, hành động theo ý muốn của Đấng đó thì thật là khó giải thích khi con người trở nên ác, và Đấng Tối Cao ấy trở nên là Đấng có tàn ác lẫn thiện lành… Nếu một tôn giáo không mang “được” tính chất Chân, Thiện, Mỹ thì tôn giáo ấy đã chẳng phải là Tôn giáo nữa; mà chỉ là một tổ chức, một giáo hội lừa phĩnh, lợi dụng tôn giáo để thực hiện một âm mưu hay ý đồ nào đó của con người, dù nó được mang tính chất địa phương hay trên toàn thế giới!
Nếu chúng ta lấy giáo lý để suy niệm về “thế giới cõi âm” thì có lẽ không mấy tôn giáo trên thế gian này có thể giải thích nỗi, ngoại trừ chỉ có Đạo Phật mà thôi!
Theo như chúng ta đã biết, sau khi chứng đạo, Đức Phật đã dùng đến Phật nhãn để nhìn trong vũ trụ, nhận thức và thuyết giảng về những thế giới, cõi Phật khác cũng như kể lại những câu chuyện trong thời quá khứ, hiện tại hay vị lai như trong Kinh điển đã ghi.
Đức Phật đã cho biết trong Luân hồi có nhiều chúng sinh “vô sắc giới” ở cõi Trời, cõi A-tu-la, Địa ngục, Ngạ quỷ. Tức là cõi “vô hình” có nhiều chúng sinh hơn cõi “hữu hình” như người và súc sinh. Vậy thì chúng sinh nào trong “thế giới cõi âm”?
Có lẽ, chúng ta nên phân biệt thế giới thần quyền của những chúng sinh trong cõi trời và đôi khi từ thế giới A-tu-la nữa. Đó là những vị “nhập xác” vào chúng sinh nào đó để thực hiện mục đích cứu người, độ đời mà những “xác” đó đã thực hiện với những việc làm cao quý, từ tâm và thiện lành, không tư lợi vì những ước nguyện, hay hạnh nguyện của chúng sinh “mượn xác” đó đã phát nguyện như vậy.
Còn những chúng sinh trong cõi địa ngục, ngạ quỷ thì họ đang chịu những hình phạt triền miên do họ “chiêu cảm”, vì những hành động họ đã làm trong những kiếp trước thì họ không thể thoát ra được để mà họ có mặt trong cõi âm, như trong Kinh Địa Tạng có ghi:

“Ngài Địa Tạng Bồ Tát nói với Ngài Phổ Hiền Bồ Tát rằng: “Thưa Nhơn Giả! Đó đều là do chúng sanh trong cõi Diêm-Phù-Đề làm những điều ác mà tùy nghiệp chiêu cảm ra những địa ngục như thế.
Nghiệp lực rất lớn, có thể sánh với núi Tu-Di, có thể sâu dường biển cả, có thể ngăn đạo thánh.
Vì thế chúng sanh chớ khinh điều quấy nhỏ mà cho là không tội, sau khi chết đều có quả báo dầu đến mảy mún đều phải chịu lấy” (Kinh Địa Tạng, HT Thích-Trí-Tịnh dịch, Chùa Pháp Bảo- Sydney ấn tống 1994, trang 80-81).

Hay:

“Nhơn giả! Những quả báo như thế trong mỗi mỗi ngục có trăm nghìn thứ khí cụ để hành hình, đều là bằng đồng, bằng sắt, bằng đá, bằng lửa. Bốn loại khí cụ nầy do các hạnh nghiệp quấy ác của chúng sanh mà cảm vời ra” (Kinh Địa Tạng đã dẫn, trang 83).

Như vậy, những chúng sinh trong “thế giới cõi âm” từ đâu mà có? Họ có những lúc hiện ra để làm cho người khác phải sợ; hoặc bắt người sống phải làm theo ý mình, nếu không thì hành hạ người đó trong một tinh thần ích kỷ, phá phách… Họ là những ai?
Chúng ta hay nghe người nhân gian phân biệt “cõi âm” và “cõi dương”. Cõi dương hay là dương thế là cõi của con người đang sống, cõi ban ngày ; và “cõi âm” là cõi của người chết hay cõi lạnh lẽo, ban đêm mà người đã chết thường hay xuất hiện ra với hình dáng ảo ảo, hư hư. Thông thường, những chúng sinh bị chết thình lình, những người lính chiến chết trên trận mạc, chết sông nước, tai nạn trên đường sá, hay oan ức, bị hại… người ta mệnh danh là những “cô hồn, các đảng” và người ta cũng tin tưởng những “oan hồn” của người ấy chưa được siêu thoát nên vẫn lẩn quẩn trong thế gian, vương vấn cõi hồng trần. Đôi lúc họ lại hiện ra để làm cho người sống phải sợ sệt; và có những lúc nhu cầu phụng dưỡng, thiếu đói nên họ cần thiết nhu cầu đòi hỏi qua những đồng, bóng để rồi trong thế gian có những “thầy cúng” cùng với vàng mã; vàng mã cũng theo thời đại mà tăng tiến từ nhà tô, đến nhà lầu, xe hơi, điện thoại, máy bay cùng giấy tiền vàng bạc, quần áo giấy… để đốt, mong cho người chết nhận được mà không phải thiếu thốn, lạnh lẽo trong thế giới của người cõi âm. Từ những tín ngưỡng nhân gian này mà trước kia người đời đã phân tu sĩ Phật giáo thành: Thầy tụng (thầy cúng) và thầy chùa. Ngày nay, với tinh thần và đường lối tu được hiểu rõ hơn, cũng như trình độ tăng sĩ được nâng cao; cho nên chuyện tu hành, làm Phật sự và cầu cho vong linh người chết được siêu thoát đã làm thay đổi khá nhiều quan niệm của người thế gian đối với Đạo Phật ở nước ta.
Và trong sự giao tiếp với người “cõi âm” của các nhà ngoại cảm có đề cập đến những vị đã chết lâu đời, nhưng vong linh vẫn chưa siêu thoát; cho nên nhà ngoại cảm hãy còn tiếp xúc được. Vậy thì, tại sao?
Trên nguyên tắc, sau 49 ngày vong linh người chết đi tìm một thân xác mới thành hình để chuyển sang một kiếp khác, tiếp nối những “quả” mà mình đã gây “nhân” ở kiếp vừa rồi hay “nhân” còn lại của những kiếp xa xưa. Trong thời gian đó, vong linh được gọi là “thân trung ấm”, tức là “thần thức” của xác trước đã mất và đang đợi chờ thân xác mới để “nhập thai” bắt đầu cho một kiếp sau. Nguyên tắc thì như thế! Nhưng trong Đạo Phật có đề cập đến “Cận Tử Nghiệp” và “Nguyện lực”. Hai vấn đề này rất quan trọng đối với một con người trước và khi lâm chung. Giả sử trước khi chết người ta còn nghĩ đến con cái còn nhỏ “cần” được săn sóc, và trong khi chết họ nghĩ họ “phải” săn sóc cho con; và “nguyện lực” bám theo con. Chính nguyện lực ấy mà họ không nỡ rời xa, và “thần thức” hay “thân trung ấm” của họ không đành đi, để rồi họ lẩn quẩn không biết đến bao giờ. Khi nào họ xong để ra đi? Cho nên có thể cả trăm năm sau của thế gian, họ vẫn còn có thể nhận ra con cháu qua những nhà ngoại cảm, ông đồng hay bà bóng!
Cho nên, Đức Phật đã giảng giải: “Trong vô lượng kiếp, chúng sinh đã từng là thân thuộc, cha mẹ lẫn nhau” nên sự luyến lưu, ân nghĩa, ganh ghét hay hận thù chỉ là kết nặng giây oan trái, gắn bó khiến cho người chết không nỡ phải ra đi; điều ấy chỉ làm cho người chết càng kéo dài thêm thời gian luân hồi của chính mình. Trong Đạo Phật không đề cập đến phải khóc lóc than van vì sinh, tử là vấn đề tự nhiên của con người. Khóc lóc, kể lễ thảm thiết, làm ra vẻ ưu sầu là theo tập tục báo hiếu của con cái đối với cha mẹ trong Đạo Khổng (Nho giáo), chứ trong Đạo Phật thì:

“Thần hồn người chết đó khi chưa được thọ sanh, ở trong bốn mươi chín ngày, luôn luôn trông ngóng hàng cốt nhục thân quyến tu tạo phước lành để cứu vớt cho”. (Kinh Địa Tạng đã dẫn, trang 111).

Và:

“Hàng thân quyến của người lâm chung đó, nên phải sắm sửa làm sự cúng dường lớn, tụng đọc Tôn kinh, niệm danh hiệu của Phật và Bồ Tát, tu tạo nhân duyên phúc lành như thế, có thể cho người chết thoát khỏi chốn ác đạo, các thứ ma, quỉ, ác thần thảy đều phải lui tan cả hết”. (Kinh Địa Tạng đã dẫn, trang 127-128).

Hay:

“Như có người nào sắp mạng chung, hàng thân quyến trong nhà nhẫn đến một người vì người bịnh sắp chết đó mà niệm lớn tiếng danh hiệu của một Đức Phật, thời người chết đó, trừ năm tội lớn vô gián, các nghiệp báo khác đều tiêu sạch cả.
Năm tội lớn vô gián kia dầu rất nặng nề đáng lẽ trải qua ức kiếp hẳn không ra khỏi đặng quả khổ, nhưng bỡi lúc lâm chung, nhờ người khác vì đó mà xưng niệm danh hiệu của Phật cho nên những tội nặng đó cũng lần lần tiêu sạch.
Huống là chúng sanh tự mình xưng danh hiệu của chư Phật, người nầy đặng vô lượng phước lành, trừ diệt vô lượng khổ”. (Kinh Địa Tạng đã dẫn, trang 137-138).

Và Ngài Địa Tạng Bồ Tát cũng bạch cùng Đức Phật rằng:

“Vì lẽ trên đó nên nay con đối trước Đức Phật Thế Tôn cùng với hàng Trời, Rồng, tám bộ chúng, người với phi nhơn vv… mà có lời khuyên bảo những chúng sanh trong cõi Diêm-Phù-Đề, ngày lâm chung, kẻ thân thuộc phải cẩn thận chớ có giết hại và chớ gây tạo nghiệp duyên chẳng lành, cũng đừng tế lễ Quỉ, Thần, cầu cúng ma quái.
Vì sao thế? Vì việc giết hại cho đến tế lễ đó, không có một mảy mún chi lợi ích cho người chết cả, chỉ có kết thêm tội duyên của người đó làm cho càng thêm sâu nặng hơn thôi”. (Kinh Địa Tạng đã dẫn, trang 106).

Vì, Ngài Địa Tạng giải thích như sau:

“Hàng thân thuộc nỡ nào lại làm cho tội nghiệp của người ấy nặng thêm!
Cũng ví như, có người từ xứ xa đến, tuyệt lương thực đã ba ngày, đồ vật của người đó mang vác nặng hơn trăm cân, bỗng gặp kẻ lân cận lại gởi một ít đồ vật nữa, vì vậy mà người xứ xa đó càng phải khốn khổ nặng nề thêm”. (Kinh Địa Tạng đã dẫn, trang 107).

Theo như vậy, “Thế giới cõi âm” chỉ là thời gian kéo dài “Thân trung ấm” của những chúng sinh đã mất đi, do vì sự luyến lưu, yêu mến những gì mình chưa thể xa lìa hay kết tụ những thù hằn, oán ghét mà mình chưa xóa được; hoặc vì “yêu quá cuộc đời, thân xác” này; hay là người thân “van nài, luyến lưu” làm họ chưa muốn ra đi, chưa muốn rời dòng sông đã chơi, để đi tìm một thân xác khác tái sinh. Họ cứ lởn vởn, khi ẩn khi hiện mà người dân gian gọi là “ma”; hay họ phá phách, dữ tợn hơn thì gọi là “quỷ”. Đó là thế giới “ma quỷ” hay là thế giới của “Cõi âm” vậy!

Nguyên Thảo,
7/8/2011.