Tuesday, January 28, 2014

*Tết Trên Xứ Người!



Đến bây giờ tôi mới nghĩ đến chuyện ghi lại cái Tết trên xứ người, mặc dù mình đã xa rời quê hương gần 30 năm. Ghi lại để mà nhớ, để giữ lại một chút gì gọi là “quê hương” trong lòng người viễn xứ. Không một ai nghĩ rằng mình sẽ xa rời quê hương khi thời kỳ chiến tranh đã qua đi, nhất là tôi. Thật là bất ngờ vô cùng, với điều kiện hoàn cảnh như tôi mà tôi lại có thể “tha phương cầu thực”!

Nhiều lúc ngồi suy ngẫm mà nghĩ lại: Tại sao trong những giai đoạn chiến tranh thật là ác liệt, người ta không màng đến cái chết mà vẫn bám đất bám làng; Và tại sao trong thời gian hòa bình rồi theo lẽ người ta vui vẻ, chung sức cùng nhau để xây dựng lại quê hương bị tàn phá thì người ta lại phải ra đi! Đó là vấn đề mà tôi đã từng lý giải mà chắc nhiều người cũng thường hay nghĩ đến như tôi.

Nếu ngày xưa trong thời kỳ Pháp thuộc người ta hay đề cập đến sự chia vùng miền để cai trị của đế quốc Pháp mà ảnh hưởng của điều đó vẫn còn trong đời sống dân gian đến nhiều thế hệ sau; thì cuộc chiến tranh để thống nhất đất nước hay mang vị thế lớn hơn là “ý thức hệ” lại càng làm cho đất nước bi thảm hơn nhiều. Thế hệ thanh niên ở hai miền bắn giết nhau bằng vũ khí từ thô sơ đến hiện đại của nước ngoài, được cổ vũ từ tinh thần của hai chủ nghĩa xa xôi không thích hợp cho dân tộc. Và nhất là bị những nước lớn hay cường quốc khác lợi dụng. Thế mà đất nước chúng ta lại lao vào một cuộc chiến tranh khủng khiếp bị tàn phá hơn bao giờ hết. Hai anh em trở thành kẻ thù “không đội trời chung”. Dứt chiến tranh rồi thì phải giải quyết “kẻ thù” ra sao đây? Ai lại tin ai? Ta chẳng tin người, mà người cũng chẳng tin ta! Sự nghi kỵ, hận thù, giai cấp! Sự thực thi đường lối của một chủ nghĩa! Sự vận hành của một hệ thống kinh tế khác biệt chưa từng kinh qua! Tôi chơi vơi trong vị thế của mình, tương lai của tôi và gia đình khá bấp bênh, tôi cứ đi trong “nhạt nhẽo” của cuộc đời!

Có lẽ trong cung Thiên Di có sao Thiên mã và được sao Phượng Các xung chiếu hay sao mà cuộc đời đưa đẩy tôi phải trôi dạt nơi xứ người khi tôi không hề định trước. Tôi cứ an phận và mặc cho “con nước đưa mình về đâu”!

Những thời gian đầu cứ với những anh em cùng hoàn cảnh lo kiếm việc đi làm, chia vui xẻ buồn, nâng đỡ, nương tựa lẫn nhau trong từng hiểu biết từ ngôn ngữ, nhà cửa, xe cộ đến cả các thủ tục giấy tờ hành chánh. Đi làm không dám nghỉ vào ngày Tết. Cứ đem theo vài chai bia, chút đồ ăn rồi chia vui với nhau vào bữa ăn trưa xen lẫn những câu chuyện Tết của ngày xưa, chỉ nhắc và nhắc đến thôi! Nhắc để mà nhớ xen những lời chúc tụng cho nhau! Và với số vốn ngôn ngữ bập bẹ của mình cả bọn nói với ông chủ về ngày “Lunar New Year”. Ông tò mò cũng hỏi để mà biết coi ta ăn Tết thế nào?

Từ đó, những ông chủ càng ngày cũng biết về ngày Lunar New Year, và rồi họ cũng thông cảm cho vài người nghỉ vào ngày đó coi như là ngày linh thiêng. Họ cũng chúc mọi điều tốt lành cho mình cũng như sự vui vẻ trong năm mới. Dần dà ngày Tết cũng được người Tây biết đến khá nhiều, đôi khi lại là điều thích thú đối với họ nữa vì có nhiều nơi có tổ chức múa lân, ca hát, hái lộc mà đối với họ là tương đối lạ lẫm! Nhiều ông Tây bà Đầm hiếu kỳ dẫn theo con cháu đến coi lẫn với những vị khách được mời. Thực ra, ngày Mừng Xuân không chỉ riêng của người Việt, mà còn là của người Nhật, Đại Hàn, Tàu, Singapore tức là những sắc dân nào chịu ảnh hưởng chung một nền văn hóa của Trung Hoa. Nhưng với phong tục thương nhớ làng quê, háo hức của mình trên bước đường mới lưu vong khiến người mình “ăn Tết” có vẻ “xôm tụ”! Và được người Tây chú ý đến một cách đặc biệt hơn nhiều!

Nhưng riêng ở xứ Úc, cái thời tiết trái ngược và khắc nghiệt trong mùa hè khiến cho cái Tết ở đây chỉ có tính tượng trưng chứ không có một cái không khí tương đối mát mẻ, khô khan sau thời gian hơi lành lạnh của mùa đông đã lướt qua như ở Việt Nam.

Dịp Tết ở đây thường rớt vào những ngày cuối tháng Giêng là tháng mùa hè nóng nhất, nhiệt độ thường tăng cao như trong năm nay khoảng trên dưới 40 độ bách phân (độ Celcius). Cái nóng khiến mình không thể đi ra ngoài, hoặc nhanh chân chạy, nhất là trong nghề nông không thể làm trong thời gian nóng như vậy vì trong nhà nilông hay nhà kiếng nhiệt độ lại càng tăng cao hơn nữa; do đó mình phải nghỉ ở nhà coi như là trốn nóng vậy.

Ăn Tết chỉ có nghĩa đại khái là mua sắm hoa quả về chưng Tết làm bàn thờ cúng Ông Bà, mua chút ít quà biếu người thân, bạn bè rồi gọi điện thoại, đến thăm, chúc tụng với nhau vài câu chúc Tết để cũng mong một năm mới, một sự tốt lành đến cho nhau. Cũng lì xì cho con cháu nó mừng, nó cũng biết là Tết. Nói chung lại dù không là trang trọng, lớn lắm nhưng cái khung sườn văn hóa ngày Tết vẫn được gìn giữ cho có, tương đối đầy đủ bài bản để một mai con cháu vẫn biết mình là người Việt và Việt Nam vẫn có nét văn hóa riêng của mình.

 

Nguyên Thảo,

28/01/2014.

Sunday, January 12, 2014

*Tết!


*Thơ Đồ Ngông!        (tt)




*Xuân!


 
Tết đến rồi đây khắp phố phường

Người ta nô nức mừng xuân sang

Đón xuân hoa lá mang màu mới

Trẻ nhỏ xôn xao mặt rỡ ràng!

 

Nàng Xuân he hé còn e thẹn

Khép nép bên hiên đứng đợi chờ

Thiếu nữ dậy thì trong thổn thức

Như đang thêu dệt mấy vần thơ!

 

Một năm, năm nữa lại vừa sang

Người bước tới thêm, bước vội vàng

Nắng xế cuộc đời, đời cứ bước

Nỗi lòng, chút việc, cứ miên man!

 

Đồ Ngông,

24/12/2013.

 

 

 *Tết.

 
Tết nhứt bày chi mệt quá trời

Chạy đôn chạy đáo mệt cầm hơi

Chạy lo tiền Tết còn chưa đủ

Chạy cả áo quần trẻ nhỏ thôi!

 

Tết nhứt lại lo sắm lắm quà

Quà cho nội ngoại, Tết Ông Bà

Quà cho hàng xóm, quà ông lớn

Quà ở phương gần, lẫn ở xa!

 

Tết nhứt vui cùng đám trẻ thơ

Lì xì đôi chút gọi là cho

Mừng cho con cháu thêm năm tuổi

Mọi sự vui vầy, năm lại qua!

 

Tết nhứt ta cùng cứ chúc nhau

Một năm may mắn đủ sang giàu

Đã đầy lộc cả, thêm nhiều phước

Thêm mãi sống lâu, bạc mái đầu!

 

Đồ Ngông,

24/12/2013.

*Ngày Trở Về.



Tôi dự định ngày trở về thăm quê hương là hơi có muộn màng so với nhiều người khác; người ta đã về lại quê hương từ các năm đầu của những năm 90. Thực ra, không ít người đều tỏ ý lo lắng khi nói đến một ngày về, có người cho rằng nay thay đổi và thông thoáng hơn trước nhiều nên không chuyện gì để sợ. Riêng tôi, tôi thấy sự đi về của tôi chẳng có gì là quan trọng. Trước, sau 75 tôi chỉ là một thầy giáo quèn làm nhiệm vụ “dạy học trò”, thì có gì để phải âu lo. Mà trước đó vợ tôi lẫn em trai và ba má tôi có đi vài lần nên tôi cũng cảm thấy được chút nào sự an lòng. Tuy nhiên, tôi vẫn có vài lo lắng giống như nhiều người đã có cùng giấc mơ khi ở trại tị nạn: Trong mơ ai cũng thấy mình đã đi rồi, nhưng còn nhiều nhớ nhung luyến tiếc lại trở về để rồi lại phải “kẹt” mà không biết đường nào đi và lúc đó lại nghĩ tại sao mình lại “như thế” để rồi “khủng hoảng” quá, giật mình thức dậy với mồ hôi ra như tắm! Người ta bị ám ảnh quá nhiều!

Ai cũng vậy, khi có nhiều lo sợ thì tâm trạng thường bất an và hay nghĩ vẩn vơ; chưa đi chưa tới thì luôn có sự suy tính không biết dễ khó thế nào, nhất là trong quá khứ đôi lần người ta chưa thể có vững được niềm tin.

Lần nầy đi, vợ chồng tôi sẽ ghé qua Singapore trong vài ngày để gọi là “luôn tiện du lịch” cho biết vùng đảo quốc thế nào trước khi về Việt Nam, và cũng “gọi là” hộ tống ba má tôi du lịch luôn thể. Chỉ ghé đôi ba ngày thì cũng không thể nào biết được nhiều, nhưng cần chỉ biết đại khái thôi cho rõ sự tình, cuộc sống sinh hoạt nơi xứ người để hiểu được mình được ta; chứ đâu có là quê hương gì của mình đâu để mình cần biết cho lắm! Đôi lúc tôi nghĩ đến mà tức cười: Ngay cả cái làng quê của mình chưa chắc mình đã biết hết thì nói chi đến cái quận, cái tỉnh… mà đây lại là cái xứ của người ta.

        Qua những ngày nghe tiếng ve kêu, cũng cái khí hậu ẩm ướt, rích rích, oi oi, hâm hẩm của vùng nhiệt đới ở Singapore, chúng tôi giả từ để đáp chuyến bay về Sài Gòn. Máy bay bay qua vùng biển Vịnh Thái Lan khiến tôi lại nhớ miên man đến những ngày lênh đênh trên biển. Tôi nhớ đến những con cá bay chúng từ từ chạy trên mặt nước để rồi cất cánh bay một đoạn khá xa rồi lại nhào xuống nước tiếp tục với loài sống dưới nước. Những con cá heo cất tiếng kêu en éc chạy lên phía trước chiếc tàu cây nho nhỏ đang vượt trùng dương mà không nghĩ được bến bờ; đàn cá heo vui vẻ lắm, chúng nhào lộn để làm cho người trên tàu đỡ buồn trong nỗi lòng tha hương. Từng dòng, từng dòng bông bồ kết nỗi trôi trên biển mà tôi không biết chúng ở tự phương trời nào, sao mà chúng nhiều đến thế nầy, rồi cứ đoán già đoán non. Chúng có thể từ Thái Lan, Mã Lai hay Singapore trôi dạt về đây và như vậy tàu có thể gần đến bờ. Hi vọng trong ao ước, chứ từ khi gặp chúng đi mãi suốt mấy ngày đêm mới tới được đất liền Mã Lai. Tôi lại nhớ đến đêm gần đến dàn khoan, các tàu dầu khi thấy tàu chúng tôi tiến đến gần chúng đều tắt đèn để di động đi nơi khác, mặc cho dân “du thử du thực“ nầy đi đâu thì đi. Ngồi trên máy bay mà đầu óc tôi cứ miên man của một ngày nào đó!

Máy bay đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, đường băng không có nhiều thay đổi. Những ụ đất của những chiếc trực thăng ngày xưa vẫn còn đó, dấu vết chiến tranh không phai tàn sau nhiều năm đã chấm dứt, lòng tôi lại có nhiều bồi hồi, xao xuyến lẫn hồi hộp và có chút ít lo âu.

Qua cửa ải hải quan, tôi học được chút ít nào đó về kinh nghiệm và rồi tới việc lấy hành lý. Cuối cùng mọi việc đều êm xuôi. Ra cửa được các anh chị nội ngoại đến đón tương đối cũng khá đông vì lẽ đơn giản là do nơi có ba má tôi.

Bây giờ người trở nên đông đúc, thành phố mặc dù có mở rộng nhưng không gian gần như bị thu nhỏ lại bỡi số người quá đông, cộng thêm xe cộ nhiều lại chạy không theo trật tự nào vì vậy mà sự giao thông thường hay bị trở ngại. Xe rời khỏi phi trường khá lâu, nhưng di chuyển không được thuận lợi vì gặp thời gian cao điểm nên dễ bị kẹt xe nhất là ở những vòng xoay. Xe về đến ngã tư An Phú Đông mất hơn cả giờ đồng hồ sau. Xe tiến về hướng Nhị Bình để sang Lái Thiêu. Khung cảnh bây giờ cũng đã khác xưa: Dọc theo hai bên đường đầy hàng quán, tiệm mọc lên để buôn bán. Ở xứ ta thì cứ như vậy! Nơi nào thuận tiện để buôn bán thì người ta dựng chòi hoặc che tạm để buôn bán rồi sau đó nếu thấy được họ sẽ cất nhà lập hàng quán chắc chắn. Thế là nhà cứ mọc lên từ hai bên đường. Ở xứ người buôn bán có nơi có chỗ và khi nào được phép của Hội Đồng Địa Phương mới bán chứ không phải tự phát như ở xứ mình. Còn đa số tập trung ở những trung tâm buôn bán vì thế người ta không thích những nhà ở hai bên đường lớn vì xe chạy rất là ồn ào, nhiều bụi bậm không khí bị ô nhiễm, không được trong lành. Xe chạy ra ngõ ngoài từ Lái Thiêu ra cầu Ông Bố rồi xuôi về ngã tư Hòa Lân. Ngày xưa hai bên đường nầy chỉ lưa thưa hảng xưởng hoặc là rừng chồi nay hai bên đầy quán sá, nhà cửa nhìn không biết là nơi đâu, tôi cố nhìn lắm mới nhận định ra nỗi!

Xe cứ bóp kèn inh ỏi, tôi nghe hơi lạ hỏi đứa cháu lái xe thì nó nói để những xe gắn máy nó biết mà tránh xảy ra tai nạn. Sự giao thông xứ mình không biết đến bao giờ mới đi vào trật tự đây; nhà cửa thì cất tự phát cứ chường ra phía trước lấn cả mặt đường, xe chạy thì tranh nhau giống như tánh con người hay tranh giành, giành giựt tạo nên một cảnh hỗn độn hơn là giao thông trên đường phố thì cái cảnh tắt nghẽn giao thông cũng không có gì là lạ, nhất là những cảnh tượng tai nạn chết người thường hay bị xảy ra.

Xe đi về tới Bình Chuẩn, ngã tư ngày nào nay thật là bận rộn, xe qua đường cũng hơi khó khăn. Tới lúc tôi hồi hộp để nhìn lại quê hương thời thơ ấu của mình ra sao. Những vuông tre hay bờ đê, rừng Cây Chàm, cống Ông Huyện nhưng cảm giác ấy tôi không còn có được nữa, tôi mãi mê nhìn và nhận định lại những vị trí ấy mà bây giờ đã thay đổi quá nhiều: Nhà cửa, hàng quán, hảng xưởng, xí nghiệp đầy cả nhất là người ta sao quá là người, không biết từ đâu mà đông thế nầy. Sự thay đổi đến đổi tôi không nhìn được cả trường Trung Học Châu Thành hay trường Tiểu Học Tân Phước Khánh mà tôi đã học, đã dạy trong thời gian không quá mười sáu năm trước. Nhà của tôi không còn bóng dáng cũ, chủ mới cũng cất khác đi tôi không nhìn thấy được nó nữa rồi; rồi đến ngã sáu chợ lẫn nhà của ba má tôi, tất cả đều thay đổi cũng như cuộc sống đã hoàn toàn thay đổi. Những nhà lầu hai tầng được cất lên ở hai bên đường để đánh dấu cho một sự thay đổi tốt hơn hay chỉ là một bộ mặt sang trọng bên ngoài của một thị trấn mới hơn là của một xã của ngày xưa. Tôi cứ mãi ngẫm nghĩ về những câu chuyện cũ rích ở một thuở nào!

Ngày trở về lần đầu tiên của tôi cứ xoay vòng như thế! Và tôi vẫn mãi đi trong lẩn thẩn của cuộc đời!

 

Nguyên Thảo,

25/12/2013.

Monday, January 6, 2014

*Bến Súc.


*Thơ Về Bình Dương!          (tt)



*Bến Súc.

 

Bến Súc nghe qua tưởng gỗ rừng

Cây to cưa khúc nửa lưng chừng

Đem đưa ra bến thuyền chuyên chở

Thuyền tới, thuyền lui chẳng lúc ngưng.

 

Bến Súc ngày nao, lúc chiến tranh

Điểm “Tam Giác Sắt” hai bên giành

Đưa dân di tản về Gò Đậu

Luôn cả bò heo…Ôi! Chiến tranh!

 

Bến Súc đi rồi bỏ áo xưa

Thanh Tuyền xanh mướt đẹp duyên ưa

Dập dìu người đến, đi lưu luyến

“Bến” vẫn hãy còn, “Súc” đã xưa!

 

Đồ Ngông,

24/04/12.

 

 

 

*Bến Chùa.

 

Rằng sao lại gọi Bến Chùa

Ngày xưa ở “Bến” có “Chùa” đó chăng?

Chùa nay có có còn không

Qua thời chinh chiến có mong chi còn!

 

Đồ Ngông,

24/04/12.

 

 

 

*Bến Tranh.

 

Thuở nào rừng có lắm tranh

Cắt tranh để "đánh" (đan, bện thành tấm) lợp lên mái nhà

Hay là “Bến” chỗ đem ra

Gom tranh lại bán cho người đến mua?

 

Đồ Ngông,

24/04/12.

 

 

 

*Cỏ Trách.

 

“Trách” chi loài “Cỏ” vô tình

Thế mà “Cỏ” lại “Trách” đường nhân gian

“Cổ” hay là “Cỏ” nội ngàn

Người ưa gọi “Cỏ”, trách than làm gì!

 

Đồ Ngông,

25/04/12.

*Văn Hóa Xếp Hàng!


*Chuyện Tào Lao 2.         (tt)



Nói đến xếp hàng mà nói là văn hóa thì nó có vẻ to tát và quan trọng quá vấn đề. Mà không nói là văn hóa thì người ta không thấy rõ tầm quan trọng và ảnh hưởng của nó. Nếu một lúc nào đó ta không ưng ý một cái đầu bù xù, tóc rối như ổ quạ hay một cái sân đầy rác rến của một cái nhà bày biện giống như một sở rác, so với một cái đầu hớt chải gọn gàng hay sự sắp xếp ngăn nắp ở một căn nhà và cái sân sạch sẽ thì ta sẽ hình dung được cái nếp văn hóa như thế nào.

Người ta thường nói rằng: “Văn hóa là những cái gì còn lại sau khi đã quên hết”, lúc mới nghe câu ấy tôi cứ liên tưởng đến một ý đùa vui, hay một tư tưởng lập dị của một triết gia gật gù nào đó. Mà cũng ngộ nghĩnh, chính vì cái trái ngược lạ lùng ấy mà câu ấy cứ theo tôi mãi cho đến ngày nay, và bây giờ tôi mới ngộ được chút đỉnh của vấn đề. Trong cuộc sống con người không có cái gì là của mình chính hẳn. Mọi tư tưởng hay cử chỉ hành động đều có sự pha trộn, học hỏi, tập tành từ người nầy cho đến người khác, từ thuở còn bé tí teo cho đến lúc già đầu bạc, đó là những sự giao lưu, truyền thụ lại cho nhau hay nói nôm na là bắt chước. Đến một lúc nào đó, nó không còn là nguyên thủy của nó nữa, nó biến thể và trở thành nét đặc trưng của mình mà mình cũng không còn nhớ nguồn gốc của nó từ đâu và nó được lưu truyền từ thế hệ nầy sang thế hệ khác từ trong gia đình, dòng tộc hay của cả một dân tộc như thế nào và thế là nó trở thành văn hóa của nhóm người hay dân tộc ấy. Nhìn vào một dòng chảy của xe cộ trên đường phố, hay một dòng người đi trên đường phố ta sẽ thấy thói quen và có thể nghiệm ra rằng nhóm người đó hay trình độ của dân tộc ấy ra sao. Trên đường phố mạnh ai nấy chạy, tranh nhau mà đi, không theo một quy luật nào cả, thì nhóm người ấy không thể nào hiểu được sự an toàn và kỷ luật là gì. Nhất là trong những nơi công cộng hay những cuộc tổ chức nào đó đều có những cuộc chen lấn, ỷ mạnh lấn lướt yếu, lớn càn đứa nhỏ thì không thể đánh giá được là văn minh. Sự chen lấn làm cho người ta dễ nóng giận sanh ra ẩu đả, cãi cọ khiến con người sống với bản năng của mình chứ không thể giải quyết được nhanh chóng sự việc. Đôi khi sự chen lấn là môi trường tốt cho những kẻ lưu manh lợi dụng để móc túi, cắp của người khiến cho nhiều người thêm đau khổ. Ở những xã hội văn minh hay ý thức hơn người ta sắp hàng theo thứ tự để tới phiên mình, không gây cảnh ồn ào, không hao tổn đến mồ hôi hay quần áo trở nên dơ dáy vì chen lấn; điều ấy khiến cho người có trách nhiệm cũng không phải chật vật để giải quyết vấn đề cho mọi người. Có những buổi sáng chúa nhật vào mùa đông, người ta chỉ đi chợ bán đồ cũ ngoài trời mà phải sắp hàng dài cả cây số trong khí trời lạnh lẽo, người tới sau thì đứng sau cứ thế mà tuần tự đi tới, không ai chen lấn hay giành đi trước gì cả. Nếu bạn “vô ý” chen vào, người ta vẫn để cho bạn vào một cách vui vẻ, thế nhưng những người khác nhìn bạn như thuộc về một sắc tộc nào đó kém văn minh. Trong phòng mạch của bác sĩ, hay một nơi nào đó cũng vậy, mình tới sau ai hay ở đó đang có mấy người thì biết khi nào đến phiên người cuối của số đó là đến lượt mình, cứ tuần tự theo thứ tự không cần đến chen lấn, giành giựt. Do vậy, quả thật “xếp hàng” cũng là một nét văn hóa tốt nó vừa công bình và cũng vừa thể hiện được một nét văn minh của một xã hội, một ý thức và cũng vừa tránh được không biết bao nhiêu là phiền phức kể cả không tạo môi trường cho những kẻ cắp và móc túi. Có phải vậy không anh bạn nhỉ?

 Đồ Ngông,
27/11/2013.






Thursday, December 19, 2013

*Kinh Tế!


*Chuyện Tào Lao 2.       (tt)



Ngày xưa, lúc tôi đi học, có ông thầy dạy về Công dân, ông có một bài học về kinh tế trong đó phân tích: Những quốc gia chậm tiến thường là những quốc gia thuộc về nông nghiệp, những quốc gia mở mang thiên về công nghiệp và những quốc gia phát triển lại phát triển về vận chuyển. Lúc đó học thì học chứ tôi không có ý niệm gì cả. Nhưng đầu óc càng ngày càng chú ý tới vấn đề đó như là những tò mò, tìm hiểu.

Thế rồi sau ngày đất nước thống nhất, tôi cũng phải lao vào lãnh vực “lao động là vinh quang, lang thang là chết đói”. Ngoài giờ ở trường học, tôi phải tập sản xuất lao động trên phần đất nhỏ nhoi của gia đình để kiếm thêm với số tiền lương khiêm tốn. Trời nắng, trời mưa mình lại muốn khóc: Công việc thì bề bề mà mình thì chỉ có hai cánh tay, làm hoài công chuyện lại không dứt. Ôi! Con trâu đi trước, cái cày đi sau; không làm thêm thì sao đủ ăn và nuôi mấy đứa con. Trồng trọt cũng không dễ chút nào, không phải cứ cặm cây xuống là tự nó mọc lên tươi tốt. Người nông dân phải bỏ công sức ra để chăm sóc, bón phân làm cỏ theo từng giai đoạn; lúc đó tôi mới biết đến cái cảnh “đầu tắt mặt tối” của cảnh làm nông. Những ngày nắng phải lo “thay trời làm mưa”, trên cánh đồng bao la, dòng suối con không đủ nước cho người ta lấy để tưới, canh (chờ đợi) để lấy được nước có khi đến chiều tối và rồi còn phải xách gàu đi tưới. Đó là chưa nói đến cái nạn sâu rầy, nhất là trong giai đoạn mọi thứ đều bị ngăn chặn và thiếu thốn. Và cũng từ dạo ấy, tôi đã học được bài học “đi thực tế” vào trong công việc và đời sống người nông dân thực thụ. Có một lần tôi “cự” ông bạn khác miền khi ông ba hoa về sự lạc hậu của người nông dân miền nam. Ông đề cập đến sự lạc hậu, tôi hỏi ông ông biết họ làm như thế nào mà gọi là lạc hậu, ông chưa đi sâu vào việc làm nên chưa hiểu được những kỹ thuật mà người nông dân đã ứng dụng trong từng giai đoạn, mặc dù những kỹ thuật ấy có khi là học hỏi, có khi là sáng tạo qua kinh nghiệm và đôi khi là học lóm nữa.

Làm nghề nông thì ở đâu cũng vậy, nó có nhiều vất vả vì công việc có nhiều giai đoạn để nuôi một cây trồng được tươi tốt và cho nhiều quả. Sự chăm sóc song song với trị sâu rầy. Chỉ khác đi là máy móc nhiều hay ít mà công việc trong nông nghiệp được giảm thiểu cho người nông dân được thoải mái hơn chút ít mà thôi. Nếu ngày xưa, người nông dân phải có trâu bò để cày cho kịp thời vụ thì con cái họ phải dành nhiều thì giờ để chăn bò, cắt cỏ cho bò ăn; trâu bò còn là súc vật để kéo xe chuyên chở giúp người nông dân được nhẹ nhàng hơn. Bằng không thì người làm nông phải đợi chờ người cày mướn đến phiên mới cày thì có thể trễ vụ mùa và phải trả một số thù lao nào đó. Nhiều lúc tôi thắc mắc tại sao những người nông dân tập trung vào những vùng tương đối hẻo lánh xa các phương tiện cung ứng cho đời sống mà họ vẫn thích thú an nhàn, và con cái của họ phần đông không được đi tới trường để học. Sau nhiều năm cố tìm hiểu, tôi mới ngộ ra rằng: Để thuận tiện trong công việc đồng áng, người nông dân thường chọn nơi cao ráo hơn ở gần ruộng nương để thuận lợi trong việc cày cấy. Vì thế họ thường cất nhà ở ven rừng, phía trên của cánh đồng, ở đó người ta tập họp thành xóm, có chia vuông đất từng gia đình để trồng cây trái, rau hay những loại ngũ cốc để kiếm thêm lương thực cho sinh hoạt gia đình, hoặc chăn nuôi gia súc. Như vậy vừa thuận lợi cho việc đồng áng, vừa tiện cho cuộc sống mặc dù nó hơi hẻo lánh và khó khăn cho việc học hành của con cái. Từ đó, mới nảy sinh về nếp sống riêng biệt của nông thôn: Những việc chung đồng lòng cùng nhau làm như đình đám hội hè, đường sá, an ninh xã thôn; tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau về mặt tinh thần cũng như vật chất trong những quan hôn tương tế, vui buồn có nhau...Ngoài ra, còn có những thú vui như đờn ca xướng hát hay nhậu nhẹt sau một ngày làm lụng nhọc nhằn. Cây trái, gia súc thì sẵn tại nhà, cá thì dưới ruộng đồng…cho nên đời sống của người nông dân cũng tương đối thoải mái. Nhưng nền nông nghiệp tùy thuộc về thời tiết từng năm, từng thời kỳ, do đó nó không được vững vàng, nguồn thu nhập cũng không nhiều và thường xuyên nên người nông dân khó mà làm giàu. Cho nên, những quốc gia phần đông dân số sống về nghề nông nghiệp vẫn còn trong tình trạng yếu kém về kinh tế. Trong lịch sử về kinh tế, từ khi máy hơi nước được phát minh, người ta mới bắt đầu phát triển về công nghiệp, nền công nghiệp phôi thai thu hút nhân công từ thôn quê để tiến ra thị thành; đồng áng bị thiếu hụt nhân công, người ta phải nghĩ đến máy móc hóa nông nghiệp để đáp ứng được nhu cầu lương thực. Nền công nghiệp ngày càng được phát triển, nhiều nhà máy được mọc lên, đem lại công ăn việc làm thường xuyên cho nhiều người và thành phẩm trong xã hội càng được phong phú, mà chúng hoạt động cả trong mùa đông lẫn mùa hè không bị gián đoạn, đưa đến cuộc sống người dân càng được tốt hơn. Và nếp sống trong công nghiệp cũng thay đổi nếp sống của xã hội nông nghiệp xưa: Người ta làm công việc theo giờ giấc, tác phong nhanh nhẹn theo tiến trình của máy móc, kéo theo nhậu nhẹt, phong cách lê thê cũng giảm đi và kỷ luật cũng khá được tuân hành; cho nên những quốc gia phát triển về công nghiệp thường được tiến bộ về trình độ, phong cách làm việc cũng như thành phẩm cung ứng cho xã hội. Ý thức về trật tự, thứ lớp cũng tiến triển thêm.

Một khi nền công nghiệp được phát triển hơn thì thành phẩm cung ứng xã hội được nhiều, thị trường được mở rộng xa thì phương tiện chuyển vận là điều kiện cần thiết. Chính vì thế sự vận chuyển, phân phối là điều kiện trở nên quan trọng. Những xe vận tải hạng nặng, xe có đầu kéo, xe toa dài, một hay nhiều toa để một lần chở được nhiều hàng đến nơi khác mà cước phí lẫn giá thành phẩm không cao khi được bán ra thị trường. Theo đó cơ sở hạ tầng về giao thông cũng được củng cố tốt hơn. Lúc đó người ta chỉ cần thấy lưu lượng xe tải hạng nặng trên đường sá đi xa cũng có thể hiểu được về nền kinh tế của quốc gia ấy.

Những điều ngày xưa tôi đã học trong nhà trường mãi đến mấy chục năm sau mới có thể kiểm chứng được ở trên xứ người, và rồi tôi lại thương cho cuộc sống của nông thôn của xứ mình nhất là những năm bị thất mùa đời sống của gia đình nông dân sẽ khốn khổ không biết là dường nào!

 

Đồ Ngông,

10/11/2013.

*Mua Quan!


*Thơ Đồ Ngông!         (tt)



*Người Ta!

 

Người ta cứ nghĩ: Mình là hay

Thừa có khả năng, lại có tài

Hàng khối chuyện làm ta được tuốt

Bao nhiêu gian khó làm trôi ngay!

 

Người ta hay nghĩ ý mình ngay

Vượt trội lên trên cả mọi người

Ý tưởng của ta là bậc nhất

Coi thường của mọi người đều sai!

 

Nhóm ta cứ tưởng đông là hay

Quá sức, đâu ngờ lại quá sai

Khi đã làm rồi, thiên hạ khóc

Ngàn năm di hại, khó mà thay!

 

Đồ Ngông,

20/12/2013.

 

 

 

*Mua Quan.

 

Người ta bán chức mua quan

Tiền ra vất vưỡng để ngồi trên cao

Lên trên để được “vênh râu”

Ra tay hoạnh hẹ, người hầu kẻ lo

“Không chi…” ta chẳng thèm cho

Của kho lo lót, đưa đò bao thư

Có nhiều thì khỏi…mong chờ

Đi qua cửa ải dễ dàng như chơi

Không bằng..! Cứ để khơi khơi

Cả năm, năm nữa quan thời chẳng coi,

“Làm dân” khổ lắm, ai ơi!

 

Đồ Ngông,

20/12/2013.