Wednesday, November 7, 2018
*Người Muốn Hóa Thành Robot.
Trong xu thời hiện đại
Người muốn tạo rô-bô
Để làm nhiều công việc
Thay thế sức con người.
Càng ngày càng tân tiến
Rô-bô lại tinh vi
Mang nặng lên cầu thang
Làm xướng ngôn truyền hình.
Nhưng chuyện đời quái ác
Nhà khoa học tiến lên
Nghiên cứu để văn minh
Con người vơi gánh nặng.
Thì chính trị mở đường
Cho hàng loạt con người
Biến thành loại rô-bô
Để xây thành Chủ Nghĩa.
Ai mộng hay ai mơ
Một Thiên Đường Lý Tưởng
Nhưng chỉ khổ con người
Trong khốn cùng Địa Ngục!
Đồ Ngông,
08/11/2018.
*Quê Người! (22)
Hôm nay cuối tuần chẳng có gì để làm, tôi vào phòng lấy mấy chữ Tiếng Anh ra để xem, còn Thành thì đi rảo vòng quanh trong trại. Nhưng chợt nhớ đến Bác Phạm Văn Tuynh, người tôi quen trong thời gian đi vào thư viện ở trại Sungai Bési, nên vội viết vài chữ gởi thư cho Bác. Bác đi định cư ở Sydney trước tôi khoảng nửa tháng, do được con bảo lãnh. Trước khi đi Bác cho tôi địa chỉ để liên lạc. Viết thư cho Bác thì dễ, nhưng chẳng biết viết gì nhiều chỉ hỏi thăm sức khỏe cùng cho bác biết là tôi đã đến Adelaide rồi. Thư ngắn gọn, nhưng không biết mình sẽ lấy địa chỉ nào đây, ở trong trại nầy chăng? Thôi để đến sau sẽ tính.
Lẩn quẩn lại đến giờ ăn trưa ở căng-tin. Tôi đi cùng Bác Vỹ và Bác Phương. Căng-tin vào trưa ngày Chủ Nhật thường vắng vì có nhiều người đi ra ngoài chơi, hay ai đến chở đi ăn ở đâu đó. Tôi cùng hai Bác vừa ăn, vừa tính chuyện tương lai. Chỉ ước lượng hướng đi, chứ tình hình như thế nào thì chưa nắm rõ, nên định hướng còn là cả một vấn đề.
Về phòng, tôi không biết gì làm nên lấy cái bản đồ Nam Úc của Anh Nhu cho ra xem qua coi cái tiểu bang mình đang định cư có gì đặc biệt. Xem đại khái, chứ Tiếng Anh có chữ biết chữ không đành cứ đoán mò thêm thôi. Lúc đó, tôi mới thấy rõ Tiếng Anh là rất cần thiết trong mọi vấn đề, nhất là trong hoàn cảnh “Ăn nhờ ở đậu nơi quê người, mà quê hương đó lại là sử dụng tiếng Anh”. Tôi nghĩ mình phải nỗ lực hơn nhiều! Cái vốn của mình tiếp thu lúc còn học trong trường chẳng thấm vào đâu. Ngay lúc đó thì có tiếng xe đậu bên ngoài, thì ra Trọng vào thăm tôi và thằng Thành. Hôm nay Trọng không có làm, rảnh rang nên vào chơi, tôi hỏi Trọng nếu mình viết thư ở đây thì nên lấy địa chỉ nào? Trọng cho biết nếu mình lấy địa chỉ ở đây về sau mình đi ra ngoài thì sẽ mất công hơn nhiều, thôi thì lấy địa chỉ của Trọng qua hộp thư mà nó đã mướn ở Bưu Điện thì tiện hơn. Nó nói: “Mình chỉ tốn mười mấy, hai chục đồng mà tiện được nhiều thứ, thứ nhất là mình dời nhà đi đâu thì thư cũng về hộp thư của mình, thứ hai là khi nào mình rảnh thì đến lấy, thư không bị thất lạc”. Tôi còn hỏi Trọng nhiều vấn đề khác, nhờ Trọng cho thêm vài ý kiến. Chúng tôi ngồi nói chuyện cũng khá lâu, rồi khi về Trọng cho biết tối nay sẽ đến rước tôi, Thành đến nhà Huynh để xem phim vidéo.
Tôi đang tò mò về bản đồ Nam Úc thì có tiếng gõ cửa phòng. Thì ra Bác Vỹ lại rủ tôi sang uống nước trà cùng chuyện trò với anh bạn mới vào ghé thăm. Bác Vỹ giới thiệu: “Đây là Anh Vũ Minh, chủ nhân võ đường Thái Cực Đạo Hắc Long đến thăm bọn mình đấy”! Tôi chào anh Vũ Minh rồi cùng vào chuyện với nhau. Tất nhiên là chúng tôi hỏi anh Vũ Minh nhiều hơn là anh tìm hiểu ở chúng tôi, vì dù sao anh tới trước cũng đã quen với cách sinh hoạt, nếp sống ở Úc rồi; còn chúng tôi là những người mới tới, chân ướt chân ráo nên cần phải tìm hiểu, học hỏi rất nhiều thứ, cái gì cũng mới lạ, đôi khi lại trái hẳn với sinh hoạt ở quê mình. Đến gần đến giờ ăn ở căng-tin, anh Vũ Minh mới ra về để chúng tôi đi ăn và hứa hẹn sẽ đến thăm. Phòng tôi và Thành ở kế bên phòng của Bác Phương, Bác Vỹ cũng là điều may mắn, vì những người đến thăm thường ghé thăm hai Bác, do nơi hai Bác lớn tuổi, phong cách chững chạc, mà lại có nhiều nhận xét hay của người từng trải, nhất là cái chức vụ của Bác Vỹ lúc còn trong quân đội khiến nhiều người đến thăm kính nể. Tôi được hưởng “ké” cái ân huệ ấy là mỗi khi có người đến, Bác Vỹ thường hay rủ tôi qua chơi, do vậy mà tôi cũng học được nhiều thứ, và mình không phải cảm thấy cô đơn! Nhất là đối với cái tính của tôi ít có giao lưu với bạn bè, mà lại chẳng có khiếu về ngoại giao, thường sống về nội tâm.
Chiều nay ngồi ăn với Tịnh, tôi hỏi thử Tịnh có dự tính gì chưa. Tịnh nói cũng chưa tính được gì cả, vì bây giờ đợi học Anh Văn rồi hay: “Học Anh Văn giống như mình lấy thời gian đó câu giờ để mình toan tính cho bước đường kế tiếp, chứ bây giờ mình chưa nắm bắt được gì cả thì làm sao tính tới những chuyện tiếp theo”. Tôi đồng ý với Tịnh về quan điểm đó. Tôi có hỏi Tịnh về chuyện làm giấy tờ bảo lãnh vợ con, Tịnh cho biết là đang đợi giấy tờ cũng như tôi dù khi đi Tịnh có chuẩn bị một số nhưng vẫn chưa đủ. Có lẽ với Tịnh khiến tôi ấm lòng nhất, vì hai đứa đã cùng một chuyến đi vượt biên, chia sẻ nhau trong cùng một hoàn cảnh, rồi cùng đến đây, nhất là “cái củ sắn” mà Tịnh đã trao cho tôi với câu nói: “Lúc tát nước, tôi có lượm được hai củ sắn, bây giờ anh một củ, tôi một củ” khiến tôi không thể nào quên được, dù mai nầy tôi và Tịnh không có còn gặp nhau!
Ăn xong, tôi cho Thành hay chiều tối Trọng vô rước mình đến nhà Huynh để xem vidéo, đừng đi đâu. Thế là Thành không đi rảo nữa mà về phòng viết thư cho tụi thằng Tiết Ên, Chót Ên bên Mỹ. Không biết nó viết được bao nhiêu thì trời chạng vạng tối, Trọng chỡ chị Yến vào để rước chúng tôi đến nhà Huynh.
Phải công nhận những người qua chung list với Trọng thật là thân thiết, họ về đây cùng lúc, cùng hoàn cảnh, rồi cùng nhau thỉnh thoảng tập họp đông vui. Huynh đến đây cùng với vợ con, nên mướn cái nhà có dư phòng nhỏ cho anh Sa, người cùng quê Trà Vinh chia phòng, để nhẹ đóng tiền nhà. Huynh nhảy ra đi làm sớm, và vốn thích xem phim nên mua được đầu máy xem băng hình trước, từ đó kêu bạn bè đến xem phim. Từ chỗ đó, Trọng rủ thêm tôi và Thành khiến anh em tôi đốt được nhiều giai đoạn trên xứ người trong cuộc sống. Trong lần trước cũng như lần nầy tôi quen thêm được cha con anh Hiệp, vợ chồng Trí, Mai, ngoài gia đình Kiệt, Hường. Riêng Anh Hiệp thì tôi ngờ ngợ với Anh khi biết Anh đã từng dạy ở Trường Bán Công Lái Thiêu, và quê Anh ở Hiệp Bình Xã gần đồng Chó Ngáp trên đường từ Bình Dương về Cầu Bình Triệu. Hỏi ra thì anh cũng chẳng lạ, vì trong mùa Hè đỏ lửa của năm 1972, anh cũng đã từng về công tác ở Trại Tiếp Cư Gò Đậu cùng khu B với tôi. Trong đợt đó, do chiến sự ác liệt dân các vùng cao từ Bình Long, Phước Long, Dầu tiếng, Chơn Thành phải chạy lánh nạn nên tập trung về Bình Dương, do vậy mà Trại Tiếp Cư được thành lập ở Gò Đậu nơi Trung Tâm Huấn Luyện Huỳnh Văn Lương trước kia, khi Trại Huỳnh Văn Lương được dời về Bình Hòa gần Lái Thiêu.
Tôi nhớ có đêm trực rất đông giáo viên, có hai người được kêu tên rất đặc biệt là ông “Hiệp lùn” thuộc nhân sự trường Bán Công Lái Thiêu, người thứ hai là “ông Y” của Trường Trung Học Chơn Thành từ Bình Long dời về vì tên ông chỉ có một chữ “Y dài”. Ai ngờ ông “Hiệp lùn” ấy bây giờ tôi lại gặp trên “đất khách quê người” trong nhà của Huynh. Còn ông Y, tôi chỉ ngờ ngợ là ông Y của Sở Di Trú, sẽ dạy môn “Đời Sống Mới” trong nay mai! Khi nào có dịp tôi sẽ hỏi ông Y ấy xem sao.
Vì chưa biết nên xem phim gì, nên Huynh cũng chưa mướn phim. Khi họp đông rồi mới hỏi ý kiến thì đồng ý nhau là xem phim cao bồi. Trọng lãnh nhiệm vụ chở tôi, Thành, Huynh đến tiệm cho mướn phim để tìm phim. Tiếng Anh của Trọng rất khá, mà lại với khả năng thiên phú về ăn nói, nên ông chủ Tây vui thích nói chuyện với Trọng lắm.
Có lẽ Trí, Mai là người am tường về loại phim nầy nhất. Trí biết nhiều tài tử đóng phim cao-bồi, Trí nói mà tôi đã mê rồi chứ chưa nói đến là xem phim. Coi thì coi, chỉ coi hình mà đoán chứ Tiếng Anh không đủ để hiểu về nội dung, hoặc hiểu hết nghĩa của một câu nói. Tôi nghĩ kiểu nầy chắc mình sẽ gặp nhiều khó khăn lắm trong cuộc sống sắp tới. Ngày nào đó tôi phải hỏi Anh Hiệp xem chuyện đi học lớp Thông dịch của anh như thế nào để mình biết tự sức mình mà lo liệu, hoặc xem mình có đủ sức để theo đuổi không?
Chúng tôi vừa coi phim, vừa chuyện trò đôi khi câu chuyện lại chính hơn là chuyện xem phim. Nhưng trong những câu chuyện đó khiến tôi học được nhiều điều để ứng xử về sau nầy, vì những câu chuyện ấy là những câu chuyện của họ trong việc làm, hoặc thực tế mà họ đã gặp trong đời sống. Thế cũng vui, đi làm khi rỗi rảnh lại họp nhau xem phim, ăn uống; còn các bà cùng nhau nấu nướng; có chuyện kể, trao đổi kinh nghiệm trong việc học từng bước về Tiếng Anh trong trường học hay học lóm những từ ngữ trong các siêu thị mà từng món đồ đều có ghi, mặc dù trong các tờ quảng cáo có đề cập đến nhưng ít ai để ý vì chỉ coi đến giá tiền và hình của món đồ.
Phim chấm dứt, chúng tôi còn ngồi tán gẫu hồi lâu mới “vãn tuồng” để ra về. Trọng và Chị Yến đưa tôi, Thành trở về Pennington rồi mới quay trở về nhà. Thêm một ngày mới qua đi! Bỗng chốc tôi lại nhớ về vợ con mà cảm thấy trong lòng buồn buồn!
Nguyên Thảo,
04/11/2018.
Sunday, October 28, 2018
*Quê Người! (21)
Ở trong trại Tiếp Cư dù chưa lâu, nhưng chưa có gì để làm khiến mình thấy thời gian dài ra, và tôi lại càng nghĩ miên man về gia đình, vợ con: Chắc giờ nầy họ phải chịu nhiều cay đắng đối xử của những người có quyền thế và chủ trương, chính sách của chính quyền một khi gia đình bị xếp vào thành phần có người “phản quốc” vì đi “vượt biên”. Sau mấy năm đi dạy tiếp tục trong chế độ mới, tôi không còn lạ gì với những chính sách ấy. Nhất là trong niên khóa đầu tiên khi tôi phải dạy Sử Địa lớp 9, có nhiều vấn đề tôi không thể hiểu được về “Lý thuyết” nên đã phải cố gắng tìm hiểu, đọc sách về chính trị thật nhiều, và ráng vận dụng kiến thức vốn có về xã hội để hiểu được phần nào kết cấu chế độ mới. Với mỗi lần làm lại lý lịch là mỗi lần nhắc nhở “giai cấp” của mình ở đâu và sự ảnh hưởng đến con cái như thế nào thì tôi lại càng buồn hơn. Bây giờ ở đây, tôi chưa làm được gì cho họ, mà chính bản thân lại càng phải phấn đấu, học hỏi gấp nhiều lần, dù chẳng ai bắt buộc mình cả.
Trời vào Thu thời tiết trở lạnh khá nhiều, những quần áo xin ở Hội ICRA hôm trước không đủ ấm, tôi lại rủ Thông, Kim đi Hội lần nữa để kiếm thêm quần áo ấm cũ để mặc. Ba đứa thả lần ra cổng đi về hướng Hội. Những quần áo cũ lớp thì treo ở trên, nhưng đa số lại bỏ ngổn ngang ở dưới nền thảm. Trong lúc chúng tôi đang lựa tìm kiếm và thử cái nào mặc vừa, thì có một Bà đi vào, bà than phiền ỏm tỏi. Té ra người ta đi lựa quần áo, rồi vung vãi, khiến Bà ta phải luôn xếp lại cho ngăn nắp, nên phải có nhiều bực bội. Bà ấy chỉ làm thiện nguyện ở đây thôi. Cuối cùng chúng tôi cũng tìm được cho mình mỗi đứa vài cái để mặc.
Mọi thủ tục giấy tờ cá nhân của chúng tôi như nhập cư, xã hội, sức khỏe, y tế, ngân hàng đã cơ bản hoàn tất, kể cả vé được đi xe buýt miễn phí nữa. Không ngờ chính phủ lại lo cho người dân chu đáo đến vậy. Cái lạ là những nhân viên thi hành công việc lúc nào cũng vui vẻ, thân thiện, giúp đỡ chứ không quạu quọ, hoạnh họe, làm khó khăn như ở bên mình. Họ tận tình lắm, xong công việc họ lại cám ơn mình khiến mình cũng không thể nào không cám ơn lại họ. Việt Nam mình chắc phải nhiều năm học hỏi mới theo kịp người ta.
Lúc còn bên trại Tị Nạn Sungai Bési có vài người bạn nhận được thư của bạn bè đi định cư trước ở Úc, thư viết họ kể là tha hồ đi xe buýt, mà không phải trả tiền, đi vòng vòng khắp nơi. Bây giờ tôi mới biết, nhưng vì quá e ngại nên không thể lên ngồi trên xe buýt để đi tìm hiểu vì nhiều lẽ: Vừa ngôn ngữ, vì màu da, sắc tộc và nhất là phong trào kỳ thị đang dâng lên. Mình là dân tha phương, ăn nhờ ở đậu, lại mới đến nhà người thì cái gì cẩn thận là hơn. Mình dễ nổi bật trong môi trường đa số là người da trắng. Trong số người tị nạn vẫn có người từ Ba Lan, Tân Cương, Liên Xô, Trung Đông, hay vài xứ khác ở châu Âu, nhưng họ không lạc lỏng vì họ là người da trắng. Tôi vốn đã là nhút nhát cho nên càng bị nhút nhát hơn lên dù bên tôi có nhiều đồng hương, cùng hoàn cảnh. Cũng may tôi đến đây gặp Trọng, chị Yến khiến tôi có phần yên tâm.
Những lớp học Anh Văn trong trại đang dần vào cuối học kỳ nên chúng tôi chưa được tham dự mà chỉ đợi chờ vào học kỳ mới. Trại có nơi sinh hoạt có thể đến đó xem truyền hình, chơi bida. Có nơi huấn luyện võ Thái Cực Đạo do người Việt hướng dẫn. Thỉnh thoảng tôi đến Câu Lạc Bộ chơi vào ban đêm như là giải trí, hay đến người quen nói chuyện chơi. Bác Phương, Bác Vỹ còn thích khám phá nên hai Bác đã kéo nhau đi bộ xuống phía gọi là Port Adelaide, hoặc đi tuốt ra ngoài Chợ Biển.
Mỗi ngày cứ đều đều nhịp độ, hết đi ăn sáng, lại đến ăn trưa, rồi đến ăn chiều. Thành thì năng hoạt động, nên hay đi đây đi đó, lòng vòng tìm người quen nhất là xem những người mới tới có ai quen không, rồi ngồi nói chuyện. Riêng tôi thì lo xem lại mấy từ ngữ Tiếng Anh, viết thư cho gia đình, nhưng chưa biết bao giờ nó mới tới. Viết thư sao mà khó quá, phải tốn rất nhiều ngày để hoàn tất, và xem rất kỹ để tránh sự kiểm duyệt ở Việt Nam mà họ có thể ghép tội đến với vợ con của mình. Tại sao trong xứ Cộng Sản người dân phải bị kiểm soát và e dè nhiều thứ như vậy? Xây dựng con đường theo Chủ Nghĩa tốt đẹp, ưu việt là phải như vậy sao? Tôi không thể hiểu được!
Đến ngày Thứ Năm, tôi lại được tới phiên mình đi khám sức khỏe tổng quát với Bác sĩ Lê Công Phước ở trong phòng Y Tế của Trại. Ông từ ngoài đi vào khám chứ không phải phòng mạch của ông ở trong nầy. Nghe nói ông là một trong vài Bác sĩ người Việt hiếm hoi được xét cho hành nghề ở Nam Úc. Tôi vốn là người yếu đuối, sức khỏe không tốt, nên khi gặp ông tôi đã khai nhiều về tình hình sức khỏe cũng như bệnh hoạn khiến Ông buột miệng “Ở đây không có nói nhiều mà chỉ làm nhiều thôi!” làm tôi hết hứng thú để kể lể cho đến hết cuộc khám. Nhưng cũng từ câu nói đó, tôi mới để ý về cách làm việc nơi quê người.
Vào buổi chiều ngày Thứ Sáu, sau khi ăn xong, Liêm, Kim và tôi đi đến phòng điện thoại dự tính gọi điện thoại cho Ông Bà LaWood để hỏi thăm. Về chuyện điện thoại thì tôi thật là dốt, vả lại tiếng Anh tôi lại không rành nên nhờ Liêm điện hỏi thăm luôn dùm, giống như Liêm đã làm thông dịch khi tạm ngụ qua đêm ở nhà hai Ông Bà lúc ở Kadina.
Về đến phòng thì lại được tin từ Anh Ba Nguyên đến thông báo cùng Bác Phương, Bác Vỹ tối nay ở nhà của anh Sáu Sâu gần đây có anh Nhu, đại diện cho Cộng Đồng người Việt ở Nam Úc muốn tiếp xúc, nói chuyện với những người mới tới.
Gần tới giờ Bác Phương cùng bác Vỹ sang rủ tôi, Thành cùng đi đến nhà của anh Sáu Sâu. Nhà không xa chỉ bước ra ngoài cổng thì đã tới rồi. Tất cả cũng được mười mấy người. Anh Nhu dáng người mập mạp, tươi cười chào đón, xã giao giới thiệu anh là Đại Diện cho Cộng Đồng người Việt tự do ở đây chào mừng những người mới tới. Vì bận rộn công việc nên Anh có cuộc tiếp xúc hơi trễ. Rồi Anh tâm tình về cuộc sống và vài kinh nghiệm để động viên tinh thần cho chúng tôi trên xứ người. Sau đó thì gia đình anh Sáu Sâu có nước trà, bánh ngọt để là đãi khách. Anh Nhu cho biết Anh đang làm cho ngân hàng Tiểu bang là State Bank, nếu sau nầy có cần gì thì đến gặp Anh. Cuối cùng anh phân phát cho mỗi người một bản đồ Nam Úc với nhiều thông tin về các nơi, hay sự kiện quan trọng của tiểu bang trên đó. Nhìn sơ qua tôi thấy hàng chữ: “South Autralia” và hàng chữ nhỏ ở dưới là “The Festival State”. Tự dưng tôi có ý nghĩ liên kết với điều gì đó mà Cô Giang đã “chọc quê” tôi khi còn ở bên trại Sungai Bési là “Mấy ông mà đến Nam Úc giống như đi vào Viện dưỡng lão”. Tuy nhiên, về sau tôi cũng sẽ cố gắng tìm hiểu xem tại sao người ta lại quan niệm như vậy. Tánh tôi có điều lạ là hay thắc mắc, tìm cho ra lẽ; cho nên đầu óc tôi không được thoải mái, lắm ưu tư buồn phiền. Nhưng nó lại là bản chất, khó mà từ bỏ. Không biết đến bao giờ tôi sẽ tìm được sự an nhiên trong tâm hồn. Cũng như trong hiện tại dù chưa làm được gì hoặc lo cho mình chưa tròn, tôi vẫn nghĩ về gia đình con cái, cùng bao nhiêu hậu quả mà họ đành phải cam chịu, hay bị o ép. Không ngờ trên con đường dựng xây một chủ nghĩa tốt đẹp, con người lại bị khốn khổ đến như thế!
Sáng ngày thứ bảy trong buổi ăn sáng Thành dẫn tôi đến bàn của anh chị Kỳ. Chúng tôi cùng ngồi ăn, nhắc lại chuyện ngày xưa. Quả đúng là anh Kỳ của nhà Bác Bảy, chị Liêng Hương, Ngọc Em. Tôi chỉ gặp Anh có một lần vào những ngày đám cưới của Văn, Ngọc Em. Anh về trên Dầu Tiếng với vợ con, nhưng anh vẫn kín đáo ít đi ra ngoài. Xong đám cưới rồi, lâu lắm chẳng gặp nhau cho đến bây giờ: Trong tình cờ chúng tôi lại hội ngộ ở đây. Anh chị qua trước tôi khoảng tháng, từ bên trại Thái Lan. Cuộc tâm tình, hỏi han nhau khá lâu, cho đến khi trong phòng căng-tin thưa bớt người mới từ giả nhau đi. Về đến sân lại họp bạn ở đó, mấy người ở gần quay quần nhau nói chuyện, đùa với những con hải âu. Hải âu ở đây dạn thật, mình chỉ cần cầm đưa miếng bánh mì lên là nó bay đến há mỏ xớt miếng bánh mì mất rồi, còn các con khác la lên rền trời, trông thật là vui. Chim chóc xứ nầy không phải sợ hải, bắn giết như ở xứ mình nên nó thật là dạn, ngay cả những con cu có mồng cũng thường hay lân la dọc theo đường bên cạnh hàng rào của trung tâm. Khi chúng tôi tan hàng sửa soạn vào phòng thì có một anh cầm túi xách ni lông đi ngang qua. Thành vội kêu: “Thầy Hùng”. Anh ấy chợt dừng lại và hỏi chuyện. Thì ra, đó là thầy Hùng ngày trước, sau 30 Tháng Tư 75, thầy từ trong đội ngũ sinh viên được điều động ra dạy học, có về Trường Trung Học Châu Thành xã Tân Phước Khánh. Thầy dạy lớp của Thành nên nó nhớ, và Thầy trò lại gặp nhau. Cũng hỏi chuyện đến đây hồi nào, tình hình vượt biên ra sao, rồi lại từ giả. Trong cuộc đời có lắm những sự tình cờ, khiến mình không thể không ngạc nhiên!
Nguyên Thảo,
28/10/2018.
Wednesday, October 10, 2018
*Chiếc Vỏ Chai!
*Nói Dễ Hơn Làm!
Có những triết lý
Bám sát vào cuộc sống con người
Dựa theo đó, tạo nên đường tốt đẹp
Để đi lên
Xóa bỏ những bất công, áp bức
Mọi con người ai cũng như ai.
Rồi cùng nhau đóng góp
Đem tất cả sức lẫn tài
Tạo nên nhiều vật chất.
Một xã hội dư thừa
Thì không còn đau khổ
Thế giới tiến đến một Thiên Đường!
Nhưng đời không phải dễ
Cũng chẳng một, hai ngày
Cũng chẳng là vũ lực, cùng áp bức
Cũng chẳng là quan điểm, với hận thù
Mà thứ ấy chỉ là
Phương cách để người: “Yên lặng, chịu đựng,
Để trở nên Vô cảm, Chai lì
Rồi “mặc xác” cho những kẻ bề trên!”
Họ trở về sống với bản năng,
Không màng đạo đức
Không cần thiết đường đi hay lý tưởng.
Sống, sống…Chỉ làm sao để sống
Thế cho nên tệ nạn tất xảy ra
Ôi! Một xã hội tan hoang vì “Lạc bước”!
Đồ Ngông,
11/11/2018.
*Chiếc Vỏ Chai!
Nhìn qua ánh sáng
Chiếc vỏ chai trở nên xinh đẹp
Lóng lánh muôn màu như thế giới Thần Tiên
Người ta ước mơ
Và tạo điều hiện thực
Để mọi người hưởng được chốn Thiên Đường.
Họ chui rúc vào trong đó
Xa lìa thế gian và xã hội
Dẫn đoàn người lủ khủ
Rồi cùng nhau lam lụ
Vạch bước kiếm con đường
Kiếm mãi chẳng thấy đâu
Đường lên, xa hun hút…!
Đói khổ,
Lừa đảo
Tham ô
Giành giựt
Cướp nhau
Đời gian nan như “Thực Chất” của con người
Kính Vạn Hoa là ảo tưởng xinh tươi
Họ vẫn tưởng
Con đường chưa đi tới
Mà chẳng nhìn lại
Người theo mình đã “Chết lặng” tự bao giờ
Vì đau khổ, thiếu ăn, bệnh tật
Không còn hơi để thở hay than
Dù Lý Tưởng có là “Hư” hay Thực”!
Đồ Ngông,
11/11/2018.
Wednesday, September 19, 2018
*Đường Đến Băng Hà! (13)
Cái cảm giác “Chợt bừng lên” ấy làm tôi nghĩ đến chuyện Từ Thức lạc vào cõi tiên: Chắc Từ Thức cũng phải sững sờ trong cái đẹp lộng lẫy đó. Tôi nhìn lại đồng hồ thì đúng là 9 giờ 45, như vậy du thuyền đi đúng với lịch trình ghi sẵn. Người Tây Phương có khác, họ thường chính xác với giờ giấc, không lề mề, lễ mễ để thời gian bị co giãn giống như nhiều người khác, nhất là trên dịch vụ làm ăn, hay kinh nghiệm đường đi của vị thuyền trưởng trong nhiều năm. Tàu đang ở trên vị trí cuối cùng của vịnh Tarr Inlet, và chúng tôi đang đối diện với Grand Pacific Glacier.
| Grand Pacific Glacier |
Du khách đổ xô lên boong tìm nơi cao, dễ quan sát nhất để nhìn quang cảnh, hay chụp hình. Tuy vậy chẳng có cảnh chen lấn nào, đôi khi họ lại lịch sự hơn là nhìn lại phía sau xem có cản hay che tầm nhìn của người khác hay không. Lắm lúc có vài người chạy trốn hay đi xuống khu vực thấp hơn, như cái ban-công dưới kia đang đầy người, vì do gió lạnh. Ai cũng muốn cho mình có những hình ảnh hoặc những đoạn phim ấn tượng về nơi nầy. Người ta đã tốn nhiều tiền đi máy bay, phải cực nhọc trên cuộc hành trình, bỏ nhiều ngày lênh đênh trên biển để đến nơi nầy. Không lẽ đến đây rồi mà lại về không với vài ký ức, cho nên chuyện chụp hình, quay phim trở nên thông dụng, đôi khi “selfie” là cần thiết. Tôi cũng thử làm vài cái “Tự sướng” coi khả năng của mình tới đâu. Tự dưng tới đây tôi lại bực cười với từ ngữ “Tự sướng”. Không hiểu người đặt ra từ ngữ đó theo kiểu thời thượng hay có đầu óc tiếu lâm để xài từ “Tự sướng” thay vì “Tự chụp”. “Selfie” có lẽ phát xuất từ “self photo” mà ra. Nhưng dù sao “Tự sướng” cũng đưa ta đến cái ý nghĩ ngộ nghĩnh, và đầu óc hơi đen tối một chút, cũng vui!
Trước mặt chúng tôi là băng hà Grand Pacific, lưỡi băng hà đổ xuống nước, nhưng vì du thuyển đã dừng lại từ nơi xa nên không nhìn thấy gần hơn nữa được, cho nên cái độ dơ của nó tơi đâu thì không biết được. Nhưng cái mùi ngay ngáy, hôi hôi của vùng đồng nội bốc lên, tôi nhìn về một góc của băng hà Margerie thì thấy có khoảng đen như băng có trộn với bùn. Băng hà Grand Pacific nằm giữa hai dãy núi và ngay trước mặt nên dễ nhìn thấy cái dáng dấp đẹp của nó, và hiện rõ lên nền trời xanh. Nó là băng hà rộng khoảng 3 cây số, cao chừng 20 m. Theo người ta ước lượng dài hơn 50 km và di chuyển chừng 30 cm đến 1.2 m mỗi ngày. Dù nó lớn nhưng khách tham quan không để ý đến nó là bao nhiêu, mà người ta lại quan sát nhiều đến lưỡi băng hà Margerie, điều dễ hiểu là vì lưỡi băng hà nầy kế cận với du thuyển.
| Tidewater Margerie Glacier. |
Tàu bắt đầu quay ngang, trở đầu. Ở trên boong cao giờ nầy gió tương đối khá hơn, tôi nghe lạnh đành chạy xuống ban-công phía dưới cùng với mọi người. Nhìn trên mặt nước của vịnh vẫn im lìm không thấy một con cá voi hay thú vật nào ngóc đầu lên cả. Trên đường di chuyển tôi lại gặp cô nàng người Hoa gốc Đài Loan có chồng người Hoa sinh ra ở đảo Madagascar, định cư ở Toronto mà tôi đã gặp ở phòng ăn vào ban sáng. Chúng tôi lại nói chuyện với nhau hồi lâu, rồi đường ai nấy đi. Tôi đi vòng qua khu đông người đang nhìn vào lưỡi băng hà Margerie. Đến đó cũng tìm góc cạnh để chụp hình cái vách băng hà đang vươn mình lên trên mặt nước. Nó sừng sững như một bức tường trắng xóa, bề ngang người ta ước chừng hơn 1.5 km, cao khoảng 80 m. Băng hà nầy theo nghiên cứu của những nhà quan sát thì nó dài trên 30 km, mỗi ngày di chuyển từ 1.8 m đến 2.4 m, cho nên ở bức tường băng trắng hơi xanh xanh đó có hiện tượng lỡ, đổ xuống. Thỉnh thoảng ta nghe tiếng ầm ầm mỗi khi vách băng đổ xuống mặt nước. Không biết băng hà từ lúc thành tựu di chuyển đến lưỡi băng nầy là bao nhiêu năm, nhưng trên bề mặt vẫn lởm chởm, không bằng phẳng, và khi nó bị vỡ ra đổ trên mặt nước thì nó vẫn xốp, bể ra từng mảng nhỏ chứ không nguyên khối. Những tan vỡ đó nổi lềnh bềnh trên mặt nước, trôi theo dòng giống như nước được điểm tô thêm những hoa trắng thật đẹp.
| Hoa bang tren Vinh. |
Hồi tôi học ở trong trường về băng hà chỉ biết về băng hà thuộc đất liền, chứ không học về băng hà trên mặt nước mà trong tiếng Anh người ta phân biệt “Tidewater glacier” và “Terrestrial glacier”.
| Terrestrial Glacier. |
Đến nay, trong chuyến du hành nầy lần đầu tiên mới thấy, biết đến băng hà và cả hai loại của nó. Không biết những du khách khác cảm thấy thế nào, chứ riêng tôi chuyến đi nầy mang đến cho tôi nhiều giá trị: Vừa kiểm nghiệm, vừa thấy biết, vừa để suy tư. Vì vậy, khu Vịnh Băng hà nầy được xem là khu Bảo Tồn Sinh Quyển lẫn Di Sản của Thế Giới cũng phải, vì nó vừa là Quê hương của người Huna Tlingit, vừa là nơi tập hợp cả 1750 băng hà với cả 2 loại: Trên cạn và dưới nước. Nó cũng giống như một phòng thí nghiệm thiên nhiên để người ta nghiên cứu về tự nhiên, địa lý và khoa học, cùng với 160 loài cá, 274 loài chim, 41 loài có vú và bò sát 2 loài.
Du thuyền dần quay đầu trở ra, mặc cho du khách tha hồ nhìn ngắm, chụp hình, quay phim, làm duyên làm dáng với những bôi hình kỷ niệm. Họ tha hồ chụp với những máy hoặc mobil phone. Tàu ở đó khoảng 1 tiếng đồng hồ, đến 10 giờ 45 thì chạy chầm chậm đi ra, dường như nó cũng lưu luyến không muốn rời. Chỉ trong đoạn ngắn vài cây số cũng phải mất cả tiếng đồng hồ. Rồi nó lại đến Johns Hopkins Inlet để du khách nhìn ngắm thêm vài băng hà nữa như Lamplugh, Reid glacier. Xong tàu bắt đầu tăng vận tốc để chạy ra vào lúc 12 giờ. Như vậy là “Đường Đến Băng Hà” của tôi, tương đối như hoàn thành, nhưng duyên nợ nầy tôi phải hoàn tất với con tàu du thuyền Princess cho lúc về đến Vancouver trước khi từ giả nó.
| Mot canh bang ha. |
Ở băng hà dưới nước nầy, dù chúng không có những băng sơn lớn tách ra từ vách thành bề mặt của dòng sông băng mà chỉ là những mảng nhỏ nổi lềnh bềnh trên mặt nước như những bông hoa tô điểm cho vùng nước trong vịnh thêm phần ngoạn mục; nhưng chúng cũng cho tôi một ít kiến thức liên tưởng đến những vùng băng hà to lớn, lâu năm hơn khi phần lưỡi của nó lấn dần ra biển, rồi do những điều kiện thời tiết, sóng, gãy nứt tách ra và trôi giạt trên biển thành những băng sơn để đến đổi chiếc tàu mà người ta tin tưởng là “Usinkable” như Titanic phải bị nhấn chìm, làm thiệt mạng 1513 người vào ngày 15 tháng Tư năm 1912, trong chuyến đi đầu tiên từ Anh sang New York của Hoa Kỳ.
Chiếc du thuyền rời vùng vịnh bỏ lại các băng hà và những ngọn núi đẹp đẽ “Snow cap” của miền lạnh lẽo và trở ra ngoài. Mọi người lại kéo nhau rời boong hay vị trí để trở vào phòng ăn “kiếm cái gì lót bụng”. Chúng tôi vừa ăn vừa nhìn phong cảnh hai bên với những khu rừng bạt ngàn bên bờ sông càng ngày càng mở rộng cùng những ngọn núi đầy tuyết lại nhô lên trong khung trời quang đãng. Theo dự trù tàu sẽ ra đến cửa vịnh Barlett Cove vào lúc 2 giờ 45.
Ăn xong, chúng tôi lại ai về phòng nấy để lấy lại sự ấm áp và nghỉ ngơi, bù lại sự tổn hao mà cơ thể đã cố gắng chịu đựng từ lúc 6 giờ sáng chỉ nhằm thỏa mãn “óc tò mò và sung sướng cho mỗi cặp mắt” mà thôi! Thế mà nằm không bao lâu, tôi và Anh Thới lại chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay. Đến khi thức dậy thì đã gần đến giờ ăn ở nhà hàng Botticelli. Đúng vào lúc đó Anh Hiệp gọi đến rủ đi xuống nhà hàng. Cả bọn chúng tôi cùng nhau kéo đi luồn trong deck 7 để đi về cuối tàu vì nhà hàng ở cuối của deck 6. Người đứng xếp hàng khá đông, còn khoảng 15 phút nữa mới tới giờ mở cửa. Ở chỗ ăn nào cũng vậy, trước khi vào cửa đều phải lấy nước sát trùng xoa vào tay. Cái thủ tục ấy là an toàn cho mọi người trên tàu. Kỹ cũng là tốt thôi!
Ngồi vào bàn thì mới thấy bàn của mình hôm nay vắng đi vài người, và nhìn vào mấy bàn bên cạnh cũng có vắng đi vài chỗ. Chỉ vài hôm mà có người đã ngán thức ăn rồi. Ngày nào cũng ba bữa ăn, dù thức ăn có thay đổi nhưng ăn hoài người ta đâm ngán, cái ăn giống như là miễn cưỡng. Chị Hiệp bây giờ lại thích ăn rau cải hơn là các món ăn chính.
Biển ở vùng nầy tương đối yên lặng, cảnh trời chiều nhìn mãi cũng quen đi, nên nó không còn hấp dẫn nữa. Chúng tôi chỉ ngồi trong Horizon Court để trò chuyện, thỉnh thoảng nhìn trời trăng mây nước trước khi chia tay, ai về phòng nấy nghỉ ngơi để lấy lại sức cho ngày mai. Vì phòng ở đây không rộng rãi cho chuyện họp bàn, mà nó lại nằm bên trong, nếu không có đèn thì lại là tối thui!
Xong chúng tôi chia tay. Khi về phòng thì đã có “bản tin” mới cho biết là ngày mai sẽ đến Juneau là Thủ phủ của Tiểu bang Alaska và được lên bờ tham quan ở đó. Mọi du khách chìm vào sự nghỉ ngơi, nhưng tàu vẫn phải đi, đi kể cả ngày lẫn đêm!
Nguyên Thảo,
20/09/2018.
Saturday, September 8, 2018
*Tôi Tự Trói Chân Tôi!
Tôi tự trói chân tôi
Với dây xiềng vĩ đại
Chân lê từng bước nặng nề trên nền đá chông gai
Tôi hổn hển nhường đường cho người lên trước
Thế mà tôi vẫn nghĩ
Tôi là kẻ bao giờ cũng đều thắng cuộc
Đứng trên cao hơn hẳn cả mọi người
Tôi tự mãn
Mình đi trên con đường sáng tạo
Đầy vinh quang, hạnh phúc nhất về sau.
Rồi một ngày
Tôi cảm thấy cô đơn và lủi thủi
Nhìn lại mình, mình đã chẳng giống ai
Những kẻ theo mình mệt mỏi thở dài
Đời khốn khổ quả là như thật!
Sao lại thế,
Đường đã chỉ
Hạnh phúc nhất thế gian
Đời vui sướng muôn người như một
Không ai hiếp đáp, dư thừa vật chất
Làm không nhiều mà hưởng biết bao nhiêu
Một mai kia dân trí lên cao
Không có kẻ cầm quyền áp bức
Rồi xã hội là một nguồn tự quản
Người chung vui trong một cõi Thiên Đường!
Tôi nhìn tôi
Trong gương, vào một buổi sáng: “Tôi mơ!”
Đồ Ngông,
09/09/2018.
*Quê Người. (20)
Sau hai ngày đi xa với nhiều mệt mỏi nên đêm hôm tôi và Thành được một giấc ngủ say. Hai anh em ngủ đến khi Bác Vỹ gõ cửa phòng rủ đi ăn sáng mới giật mình thức dậy. Chúng tôi lật đật đi vệ sinh cá nhân, thay quần áo trong khi Bác Vỹ và Bác Phương về phòng chờ. Rồi bốn người vừa đi lên căng-tin vừa bàn về chuyến đi vừa rồi. Nhận xét có nhiều cái riêng bổ túc cho nhau thật là thú vị. Và ít ra chuyến đi ấy cũng giúp cho chúng tôi được nhiều trải nghiệm về cuộc sống trên xứ Úc, để từ đó làm hành trang cho nơi “Đất khách, Quê người” mà chúng tôi đã chọn làm quê hương thứ hai.
Thường thì các buổi ăn sáng đầy đủ người trong trại nên rất đông, vì vậy một người đi chọn bàn và ba người kia đi lấy thức ăn; đến khi có một người xuống giữ chỗ thì người kia mới đi lấy thức ăn cho chính mình. Nhưng đôi khi không còn bàn trống, thì đành chịu rẽ ra ngồi riêng với những người lạ. Nhưng trong cùng hoàn cảnh thì rồi ai cũng sẽ trở thành người quen.
Hôm nay chúng tôi được báo trước khoảng 11 giờ từ dưới Hội Phụ Nữ Đông Dương của Bà Sơ Nghĩa sẽ cho người đến rước xuống đó ăn “phở” do chính Bà Hoa, tức là chị ngày hôm qua đi xe lên mời chúng tôi, nấu. Nghe đến món “phở” tự dưng nghe lòng mình ấm lại, trong khi nhiều người ngạc nhiên: “Ở đây cũng có phở nữa à!”, nghe nó vẫn có một chút gì là của quê hương! Sự bồi hồi, bùi ngùi dâng lên trong lòng tôi thoáng chốc khi mình nhớ mình là người đã “phải từ bỏ quê hương” để làm kẻ “lưu vong” không biết đến khi nào.
Ăn sáng xong, tôi và Thành lại trở về phòng Bác Vỹ, Bác Phương nói chuyện dông dài về chuyện ngày xưa, chuyện vượt biên, rồi định hướng cho tương lai. Nhưng về tương lai thì còn quá nhiều mù mờ, và cái trước mắt là tự lo cho mình và vấn đề bảo lãnh vợ con. Tôi, Bác Vỹ, Bác Phương đều là những người đi vượt biên đơn lẽ, thì tất còn phải chờ đợi khá nhiều về giấy tờ từ bên gia đình gởi sang. Mọi việc bây giờ đều phú cho số mệnh. Cái “Số Mệnh” đó, có lẽ những người nào đi vượt biên đều cũng có thể cảm nhận được không nhiều thì ít, và tùy theo tôn giáo mà người ta đặt lòng tin vào tôn giáo ấy. Dông dài chẳng bao lâu thì được tin có xe từ Hội Phụ Nữ lên rước. Đi bằng xe con gồm chừng bốn xe chở một lần được bốn người, nên mỗi xe đi phải hai lần vì khoảng cách chẳng là xa bao nhiêu cỡ chừng 3 cây số thôi.
Trụ sở Hội ở ngay góc đường nên dễ thấy. Đó là ngôi nhà cho thuê, Hội mướn để lấy chỗ làm việc. Hội có một số nhân viên làm việc trong Văn Phòng, và một số người phụ trách giữ trẻ để cho phụ huynh nào bận rộn đem gởi con cái nhằm có thể đi học hay lo công việc được. Hội điều hành do một Bà Sơ có tên là Nghĩa và người ta thường nói tắt lại là “Hội Phụ Nữ của Bà Sơ Nghĩa”; Và chị Hoa nấu phở hôm nay không biết có phải là Hội Phó hay không, nhưng chị là người phụ trách nhóm giữ trẻ của Hội.
Khi chúng tôi đến đầy đủ thì bàn ghế, tô dĩa cũng sẵn sàng. Cứ xách tô đến thì chị Hoa và những người giúp, phụ trách làm cho một tô phở nóng hổi, rồi đến ghế ngồi bên cạnh bàn với đầy đủ rau, giá, tương ngọt cùng ớt cay. Không ngờ ở đây cũng có giá sống, ớt cay. Thế mà ở Việt Nam tôi cứ nghĩ là chỉ có miền nam mới có giá sống không thôi, cho nên người dân mới nói “người Bắc ăn rau muống, người Nam ăn giá sống”. Thì ra, có đi ra ngoài mới thấy không phải cái gì cũng là của riêng mình. Văn hóa, ẩm thực cũng là một quá trình giao lưu!
Ăn xong, Bác Phương tiên phong đi rửa tô trong bồn (sink), tôi theo phụ. Khi tôi lau thì có một Bà đi xuống, Bác Phương biết và chào, thì ra đó là Bà Sơ Nghĩa. Bà nhìn thấy chúng tôi rửa tô kỹ quá theo kiểu như lúc ở Việt Nam, thì Bà cho biết là xà-bông rửa chén làm bằng chanh, nó có tính chất sát trùng do đó mình rửa sơ xong đưa qua bồn xà bông, rồi đem ra lau chứ không xả nước làm sạch hết xà-bông như ở bên mình. Thế là tôi học thêm một điều mới, nhưng còn nhiều bọt xà-bông tôi và Bác Phương vẫn còn lắm e ngại.
Trước khi đi về nhóm nhờ Bác Phương đứng ra đại diện cám ơn Hội, Bà Sơ Nghĩa, Chị Hoa đã ưu ái cho nhóm một bữa ăn để nhớ Việt Nam, rồi nhờ người đưa về Trại Tiếp Cư. Nhìn thấy như vậy, trong lòng tôi tự dưng cảm phục Bác Vỹ quá chừng chừng! Từ lúc ở trại Sungai Bési được Hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ (thay thế Hội Hồng Thập Tự ỏ các xứ Hồi Giáo, vì Thập Tự là dấu hiệu của Thiên Chúa Giáo) cho xe đưa chúng tôi ra phi trường Kuala Lumpur của Mã Lai để trên đường sang định cư bên Úc thì tôi đã quen với Bác Vỹ. Ngồi nói chuyện mới thấy Bác khiêm tốn, không tranh giành dẫn đoàn dù Tiếng Anh của Bác rất khá. Rồi lại đến khi những người vào Trại Tiếp Cư Pennington gọi Bác là “Trung Tá” thì Bác ôn tồn bảo: “Thôi gọi tớ bằng anh được rồi, đừng gọi tớ bằng Trung Tá, vì bây giờ tớ cũng bao nhiêu người khác, cũng lãnh thất nghiệp như ai”.
Về đến Trại còn kịp giờ ăn trưa ở căng-tin, nên chúng tôi tắp vào ăn thêm trước khi về phòng nghỉ ngơi. Tôi về thẳng phòng lấy những tài liệu tiếng Anh ra xem để nhớ được chữ nào hay chữ nấy, chứ không biết là sách học Tiếng Anh qua Tiếng Việt có bán ở đây hay không. Khi ở Trại Tị Nạn nhiều người đi trước gởi thư cho bạn bè cho biết là sách rất hiếm trên xứ người, họ kêu ở Trại Tị Nạn nên chuẩn bị cho kỹ. Tôi đã dành nhiều thì giờ cho điều ấy. Ngẫm nghĩ tôi lại tức cười: Ở trên quê hương mình, mình cũng đâu đến đỗi tệ, thế mà lại chạy đến xứ người để ăn nhờ ở đậu, phải học lại từ đầu từ ngôn ngữ cho đến nhiều thứ khác. Bây giờ quả thật mình giống như thằng bị câm, điếc lẫn què. Vì đâu nên nỗi? Câu hỏi nầy quả thật khó trả lời cho chính xác. Rồi lại đến: Tại sao hồi chiến tranh ác liệt nhất người ta chẳng bỏ xứ ra đi, khi người Cộng Sản thống nhất đất nước, đem lại hòa bình thì bao nhiêu người lại ra đi. Quả là một điều trớ trêu và nghịch lý! Tôi không sao mường tượng ra được! Và người Cộng Sản có cảm nhận được điều ấy không?
Không biết tôi ngủ tự lúc nào, đến khi Thành kêu tôi dậy đi ăn chiều thì tôi mới dậy, nhưng vẫn còn nhiều mệt mỏi. Thành cho biết là đã gặp Anh Kỳ nào đó, hồi trước ở Dầu Tiếng và biết tôi, biết cả anh Văn nữa. Tôi ráng moi lại ký ức là anh Kỳ nào, không lẽ lại là anh Kỳ con của Bác Bảy nhà chị Liêng Hương, Ngọc Em mà tôi Ẩn, Văn, Vui, Các ăn cơm tháng khi còn đi dạy trên ấy. Nhưng thôi để hôm nào gặp sẽ hay. Không ngờ cách nay lại là gần 15 năm. Thời gian đi qua nhanh quá!
Vào buổi ăn ở căng-tin tôi hi vọng Thành sẽ gặp anh, chị Kỳ để chỉ cho tôi, nhưng không thấy. Giờ nầy đông người, nên bàn không còn, tôi Thành phải ngồi ké vào bàn của cô Ái và chị Nhi. Trong khi ăn thì được biết là có thông báo “list” chúng tôi sẽ được khám sức khoẻ tổng quát vào thứ năm tuần nầy, nhưng theo thứ tự theo danh sách. Tôi thuộc danh sách vào ngày sau. Bác sĩ khám là Bác Sĩ Lê Công Phước.
Khi về phòng thì Anh Nguyên ghé qua phòng Bác Vỹ, Bác Phương chơi. Tiện thể tôi và Thành cũng vào uống trà trò chuyện. Ngồi bàn tính chuyện sắp tới, chuyện học hỏi trên xứ người. Đối với mình cái gì cũng lạ cả. Cái nếp sống Á Đông không giống nhiều với lối sống của người Tây Phương, nên khiến mọi người phải chú tâm mà thích ứng về sau.
Nửa chừng thì Trọng lái xe vào ghé thăm, Trọng đem theo cho tôi và Thành mấy gói thuốc lá hiệu Winfield đỏ để hút chơi. Ngày mai Trọng nghỉ không làm, nên rảnh rỗi. Chị Yến thì không khoẻ nên không đi cùng. Chúng tôi ngồi nói chuyện cũ, chuyện mới khá lâu, đến hơn 10 giờ Trọng mới về.
Thành thì lấy giấy viết thư cho bạn bè ở bên Mỹ, còn tôi thì lật lại mấy từ ngữ tiếng Anh đã ghi chép được ở bên Trại Tị nạn để xem, vì bây giờ nó trở nên cần thiết cho mình khi mình bắt đầu một cuộc sống mới trên xứ người. Sự nỗ lực của tôi phải gấp nhiều lần vì ngoại ngữ mà tôi học lúc ở Bậc Trung học đã là Pháp Văn, và Anh Văn chỉ là Sinh ngữ phụ nên vốn từ ngữ tôi chẳng có được bao nhiêu. Đến bây giờ mới thấy ngôn ngữ thật là quan trọng. Tôi lại nhớ đến ngày vào phòng tối của một lớp nhiếp ảnh ở Hội Việt Mỹ, ông bạn già cãi với một cô trẻ bằng Tiếng Pháp; tôi buột miệng đùa: Hai người bây giờ cãi bằng Tiếng Tây đó à?, làm ông bạn già tôi ngần ngại một lúc. Sau đó, ông nói một câu mà tôi mãi nhớ đến tận bây giờ: “Mình biết thêm một ngoại ngữ, giống như mình có thêm được một con người nữa trong mình, có lợi lắm”. Ngày trước tôi học ngoại ngữ chỉ như là các môn học phải học, chứ không có ứng dụng, thực hành. Học để biết, để thi; chứ không phải là đáp ứng cho tương lai hay làm phương tiện để học những kiến thức qua những sách vở ngoại văn, nên sự học không tiến được tới đâu, nhất là trong môi trường trên xứ sở của mình mà chúng tôi lại là những đứa học trò nơi miền quê, dân dã.
Nhưng dù sao, bây giờ chúng tôi vẫn còn nhiều may mắn vì còn có nhiều người đến trước. Số người Việt tương đối khá đông, có nhiều người chẳng biết bao nhiêu Tiếng Anh vẫn đi làm với nhiều người Việt khác cùng chung nhóm. Trọng nói: Có nhiều người đâu biết Tiếng Anh mậy, nhưng người nào biết nhiều thì giảng, chỉ lại cho người biết ít, thế nên mấy thằng chủ không có gì phàn nàn. Mình đi làm mướn mà, đâu cần biết nhiều Tiếng Anh. Ở Tiểu bang nầy, đa số là làm công trong các nông trại, vườn cây trái trên núi. Có nhiều người trước kia ở Việt Nam là thầy chú, doanh nghiệp đến đây thì họ cũng phải lăn xả vào công việc làm mướn để kiếm tiền, rồi từ từ sau đó mà mỗi người chọn hướng con đường để họ tiến lên! Còn một số thanh niên dễ xin việc hơn thì họ làm trong các hãng xưởng, công việc có nhiều ổn định, cuộc sống khá an nhàn!
Nguyên Thảo,
06/09/2018.
Subscribe to:
Posts (Atom)