Thursday, July 18, 2019

*Những Người Loay Hoay!



Ngẫm cười cái đám loay hoay
Loay hoay mà lại thích hay cầm đầu
Cầm đầu chẳng biết đi đâu
Đi đâu chẳng biết: Ra sao..? Thế nào..?
Đi ra vướng phải hàng rào
Đi vô vướng phải cái hàng chắn song
Nhìn ra chỉ thấy mênh mông
Bao la vô định, biết đâu là bờ?
Thôi thì làm kẻ ngu ngơ
Đưa người xỏ mũi, gục đầu dẫn đi!

Đồ Ngông,
19/07/2019.




Thursday, July 4, 2019

*Cái Vỏ Ốc Xa-Cừ!



Ta được chun vào cái vỏ ốc xa-cừ
Thấy hiện lên muôn màu muôn sắc
Ta tưởng ôi là đẹp
Rồi lại ước, mộng mơ
Để biến thành sự thực!

Ta theo đuổi vạn lần
Thêm kéo bè kéo lũ
Dùng thật nhiều biện pháp
Với o ép mọi người
Cho đi vào quỹ đạo:
Chỉ nhìn về một hướng
Chỉ nghe được một chiều
Không con đường nào khác!

"Cố lên đi thiên hạ
Hãy vui vẻ tiến lên
Vượt qua ngàn gian khổ
Ngày mai đẹp vô vàn
Thế giới sẽ Thiên Đàng
Không đâu bằng Hạ giới
Loài người không áp bức
Chẳng bốc lột một ai
Trong thế giới Đại Đồng"!

Nhưng đâu là lý thuyết
Đâu thực tế con người
Lớn vẫn còn hiếp nhỏ,
Mạnh đè yếu, thế cô
Tư tưởng vẫn lại là:
"Bá Chủ trong Thiên Hạ"!

Ta lại vẫn nằm mơ
Mặc người đời đau khổ
Mặc oằn oại lầm than
Ta vẫn đi, đi lên
Cho đến tận Thiên Đàng?

Thiên Đàng đâu chẳng thấy
Chỉ thấy:
Địa Ngục trải vô vàn
Người ơi! Ai có biết
Đời khốn khổ lầm than!

Đồ Ngông,
07/05/2019.




Saturday, June 22, 2019

*Một Lối Suy Nghĩ!



Sau những năm tập tành viết lách qua một cơ hội biến chuyển lạ lùng trong cuộc đời, Đồ Ngông tôi thả xuôi “cái viết” của mình theo thời thế. Từ trong “cái muốn” diễn đạt những gì mình đã cảm nhận được trong cơn bệnh ở thời điểm “chán chường” nhất của đời sống; rồi lại đến đóng góp ý kiến cùng quý bậc cha mẹ về chuyện con cái trên xứ người. Đang lúc đó thì tới chuyện người ta “chửi nhau” trên những tờ báo địa phương, Đồ Ngông tôi đã “trân mình” đi giữa hai lằn đạn để mong cầu một sự yên ấm cho một cộng đồng nhỏ bé, mới cáu cạnh nơi quê lạ. Tự đó Đồ Ngông tôi nghĩ ra một cách tránh phiền lòng người khác nên đã chọn con đường “Viết về chuyện con người”. Chuyện con người ở đây không có nghĩa là viết về những cá nhân, hay vạch cái xấu tốt của ai mà chỉ là viết chung chung về những gì mà “con người” đã sống và đã làm. Cái lối viết ấy Đồ Ngông tôi chỉ mong độc giả nhìn vào như là “một phần phiến diện ý kiến” có thể đóng góp vào nhận xét chung của mình hoặc là chỉ để đọc giải trí, vui chơi trong những thời gian rỗi rảnh.
Đó là “tiền đề” cho những bài thơ và văn xuôi của “Đồ Ngông” hiện diện từ bấy lâu nay, nhất là ở những bài “châm biếm, trào phúng”, hay những chuyện “Tào Lao Thế Sự” (Chuyện Tào Lao) nhằm đem đến cho độc giả một niềm vui trong cái “đọc” hoặc cái nhìn vào cuộc sống.
Đồ Ngông tôi không có tham vọng, mà chỉ trình bày những gì mình đã thấy, suy nghĩ; mặc dù đôi khi chỉ là những nhận xét yếu kém, non nớt, hay lập hoặc nhắc lại ý kiến của người khác, thành bài viết có chủ đề để mua vui. Cái suy nghĩ của Đồ Ngông tôi muốn mượn “cái viết” hầu trang trải “những điều nhức nhối trong cuộc đời” mà con người đã tạo nên.
Nói đến con người là nói đến những phức tạp diễn biến trong cuộc sống trên rất nhiều khía cạnh: Từ những con người cùng khổ đến những kẻ sang giàu; từ “vô sản, bần cố nông” đến giai cấp “Lãnh đạo”; từ trí thức trở về đám “dân ngu, cu đen”. Những sự “bốc lột, chèn ép, làm tiền, cướp của, giết người” luôn xảy ra, hay “tìm sự sung sướng” trên “niềm đau khổ” của người khác, dù cho đó là “Chế độ xã hội” với lý tưởng nhằm đem đến công bằng, bình đẳng, ai cũng như ai không có cảnh “người bốc lột người”!
Cái lý tưởng nào cũng vậy, vì lý tưởng chỉ là lý tưởng. Lý tưởng là cái lý thuyết, là cái để nói, đôi khi chỉ là nói chơi cho vui, chứ quan trọng vẫn là thực hành. Ngoài thực tế, đôi khi người ta chỉ “vay mượn” lý tưởng để làm cớ mà thực hiện những tham vọng, cướp bóc thâm sâu cho một bầy đàn, hay đảng phái nào đó khi họ đã “dối trá” người dân mà nắm được quyền “lãnh đạo”. Lịch sử đã chứng minh rất nhiều từ thời bộ lạc cho đến thời “phong kiến”, hoặc đến thời “lãnh chúa” và “đế quốc”. Không những từ trong “thế quyền” mà ngay cả những tổ chức “thần quyền” không khác! Vậy thì, người dân nên tin ai bây giờ? Hay chỉ vì “Thấp cổ, bé miệng” nên phải đành “ngậm câm”!
Ca dao, tục ngữ Việt Nam đã ghi nhận những chính xác của người dân quê trong mọi thời kỳ với những ví dụ cụ thể mà ta có thể hình dung qua hình ảnh ấy được, giống như câu “Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình – Ba Bộ đồng tình bóp vú con tôi”. Nhưng rất tiếc: Chắc còn có rất nhiều câu bị mất đi vì những triều đại hay chế độ “áp lực hay giết chết chúng nên chúng không được sưu tập lại trong kho tàng “Văn chương bình dân” của dân tộc.
Chuyện con người thật bao la, diễn tiến rất là phức tạp dù triết học, hay ngành tâm lý nghiên cứu, khắc phục vẫn không diễn tả được hết những hành vi mà con người đã làm. Đồ Ngông tôi “ngẩn ngơ”, cho đến một ngày đọc được cái gọi là “Tâm Lý Học Phật Giáo” hay là “Duy Thức Học” mới vỡ lẽ ra, dù là mình chưa hiểu bao nhiêu về Duy Thức!
Qua sự kiện đó, Đồ Ngông tôi lại thích thú hơn để viết tiếp về chuyện con người. Chính vì thế mà “Chuyện Tào Lao Thế Sự 2” được tiếp nối. Viết tiếp không phải là “nói xấu xã hội” hay “bày trừ tận gốc” mà chỉ để “mua vui với độc giả thân thương” vì đã chiếu cố đến các bài viết của Đồ Ngông; đồng thời góp thêm ý kiến để độc giả cảnh tỉnh những điều có thể xảy đến cho mình ở mai sau, vì chuyện con người không bao giờ dứt trừ phi con người bị tận diệt.
Con người là một chuỗi dài của các sự kiện, chuỗi “trùng trùng duyên khởi” được sinh ra: Sự kiện nầy tiếp nối với sự kiện khác dù nó trên hướng thiện hay ác, có ích hay không có ích cho nhân loại. Nó tùy theo suy nghĩ của cá nhân hay bầy đàn tương tác, nếu thuộc bầy đàn thì kết quả sẽ đi đến cái phạm vi ảnh hưởng to lớn hơn nhiều. Đồ Ngông tôi quả là không tự lượng sức mình mà đi vào cái bao la để rồi chỉ bơi lõm bõm trong cái vòng xoáy lẩn quẩn của chính mình. Nhưng ít ra là Đồ Ngông cũng sẽ đem lại được một vài phút để vui chơi, giải trí trong lúc gọi là “trà dư tửu hậu”!

Đồ Ngông,
23/06/2019.




Saturday, June 15, 2019

*Đầu Năm Tản Mạn: "Xuân Và Tết"!



“Tản mạn” theo cái hiểu của người viết là viết thoáng qua, viết lung tung với cái biết cùng cảm hứng của mình; chứ không nhất thiết phải theo sách vở, dẫn chứng bằng những bằng chứng mà khoa học, hay người ta đã kiểm chứng, chứng minh. Vì thế mà người viết, tức là Ngông tôi, đầu năm này cũng “bày đặt” tản mạn vài ý nghĩ chơi cho vui trong chuyện “khai bút” như người xưa đã làm.
Từ khi còn nhỏ Đồ Ngông đã nghe nói về mùa Xuân, nhưng trên quê hương Miền Đông Nam Bộ làm gì có bốn mùa để biết về mùa Xuân, nên mình cứ tưởng tượng theo sách vở hoặc các kiến thức đã học trong nhà trường. Để rồi về sau cũng hiểu được các mùa theo vị trí của Trái Đất trong quỹ đạo quay quanh Mặt Trời, thay thế cho cái kiến thức dân gian là do “Ông Trời” làm. Các kiến thức học được cũng chỉ làm cho mình hiểu và giải thích được hiện tượng của Trời Đất qua cái nhìn của khoa học chứ cũng chưa là thực tế, dù trên đất nước ở miền Bắc và Bắc Trung phần có sự khác biệt về Bốn Mùa. Nhưng trong thời gian chiến tranh, đất nước chia đôi thì làm sao để tìm hiểu về thực tế; mà nếu có thể thì cũng chẳng ở suốt năm để biết rõ được bốn mùa như thế nào!
Khi Thầy Doãn Quốc Sĩ đi Mỹ về có viết cuốn sách nhỏ về “Thần Thoại và Ca Dao” lưu hành trong Trường Sư Phạm Sài Gòn, Ngông tôi lại thích về chuyện Thần Thoại Hi Lạp mà Thầy đã thu gọn viết vào trong quyển sách. Khi đọc các mẫu chuyện ấy, tôi lại thán phục người Hi Lạp cũng như nền Văn Minh của họ. Họ đã có các câu chuyện Thần Thoại sát với cuộc sống con người, cũng như giải thích các hiện tượng theo trí tưởng tượng thật là thú vị. Nó không như mấy chuyện trong vài Tôn giáo đã thêu dệt, đôi khi Ngông tôi lại nghĩ, chuyện Thần Thoại Hi Lạp có lẽ còn hay hơn là chuyện kể trong tôn giáo nữa. Riêng về câu chuyện các mùa, Thần thoại Hi Lạp đã lấy những sản phẩm có trong mùa để trang trí cho vị Thần ấy mà thần mùa Xuân được trang bị bằng các hoa rực rỡ.
Đến khi lang thang, ăn nhờ ở đậu trên “Quê Người”, Ngông tôi được định cư nơi có bốn mùa rõ rệt nên những kiến thức ngày xưa lại trở về. Trí óc bắt đầu làm một cuộc phân tích, giải thích theo các sự kiện khoa học mà ngày xưa đã học, lẫn cái nhìn qua câu chuyện Thần Thoại Hi Lạp cung cấp. Từ đó Ngông tôi đã ghi chép và đặt để tản mạn trong các văn, thơ của mình để làm nguồn vui cho mình, cho người. Vì vốn dĩ mình chẳng có khả năng nào về văn thơ, nhưng cái điều lạ “bất chợt” lại hiện ra khiến Đồ Ngông tôi lại có thể viết văn, làm thơ bất đắc dĩ, nên Ngông tôi coi các việc làm nầy như là “chia sẻ” cho nhau cái điều mà “Trời” đã ban cho Ngông tôi vậy!
Nói đến mùa Xuân tức là nói đến một mùa sinh động đầy sức sống của thiên nhiên, một mùa mà mọi cây cối bừng lên đâm chồi nẩy lộc, tạo một màu xanh tươi mát, mơn mởn khắp nơi; để rồi từ đó các chùm hoa được sinh ra và nở rộ. Hoa nở từ dưới đất cho đến trên cây, từ đồng bằng lên triền núi, đâu đâu cũng thấy hoa nở (tất nhiên hiện tượng thiên nhiên nầy chỉ xảy ra ở những nơi có bốn mùa, chứ không ở những vùng nhiệt đới hay xích đạo), khiến lòng người cũng rạo rực, phấn khích hơn sau một mùa đông lạnh lẽo, phải rúc mình co ro trong nhà mà nghe cái lạnh thấm vào da thịt. Thêm vào đó, sinh vật năng động trở lại, muông chim ca hót tưng bừng tạo nên một khung cảnh đầy màu sắc, vui vẻ. Một sự hồi sinh vĩ đại trong thiên nhiên, bắt đầu cho một chu kỳ mới của một năm.
 Và cũng theo sự biến đổi của thiên nhiên: Tuyết tan, nhiệt độ ấm dần lên, đất trở nên ẩm ướt, người ta đi vào vụ mùa, cấy trồng những cây lương thực cung ứng cho đời sống hàng ngày và nhu cầu thiết yếu. Có thể do sự mừng cho một chu kỳ mới ấy mà người làm một cuộc “ăn mừng” vào “tiết” trời đẹp đẽ. Từ một vùng miền, rồi phổ biến ra đến một khu vực rộng lớn, ảnh hưởng lẫn nhau, cùng nhau thực hiện những ngày “Tiết” trời thay đổi ấy mà người Việt mình thường hay gọi là “Tết” chăng!
Đồ Ngông tôi lại còn thắc mắc thêm nữa là: “Tại sao người Campuchia cùng người Thái, Lào ăn Tết khác với người Việt Nam? Hay chăng: Tại người Việt mình ảnh hưởng nền văn hóa của người Trung Hoa giống như Nhật Bàn, Hàn quốc nên “Ăn Tết” thường giống nhau. Còn người Thái, người Lào, Campuchia họ lại giống nhau vì thời tiết ở những nơi đó khác. Họ mừng một “Vụ mùa” mới với những cơn mưa ướt đất hay nước đến để họ có thể canh tác trên ruộng đồng, bắt đầu cho một năm “Lương Thực” khác mà người miền nam hay gọi là “Lễ Xuống Đồng”, giống như có một hôm xem trên truyền hình Đồ Ngông tôi được thấy ở cái nơi nào đó thuộc xứ Âu Châu người ta đã làm một lễ “Xuống Đồng” với những chiếc máy cày cày những luống đầu tiên khởi đầu cho một “Vụ Mùa Mới” sau bữa tiệc ngoài trời!
Trong cuộc sống con người trên trái đất, người ta đã quá chịu nhiều đau khổ và vất vả vì mưu sinh, để rồi người ta lại mong ước được sung sướng, hạnh phúc, nhiều thuận lợi…Từ đó, mà gần như mọi câu chúc an lành, hạnh phúc, vui vẻ… được gởi đến cho nhau nhất là trong giai đoạn bắt đầu cho một chu kỳ thời tiết mới. Nhưng “chúc tụng” là một chuyện, mà thực tế là một chuyện khác! Thôi thì, cứ chúc nhau đi để mang được một niềm “hi vọng”. Hi vọng để mà sống, giống như Thần thoại Hi Lạp đã đề cập đến chuyện nàng Pandora chỉ kịp đóng nắp hộp lại để rồi chỉ giữ được cái “Niềm hi vọng” mà thôi!
Và cũng theo đó, mà những điều “mê tín dị đoan” đầy dẫy được truyền ra khắp thế gian trong mọi dân tộc với những “lòng tin” khác nhau: Nào là con “kỳ hưu” ăn vào không “ỉa ra”, nào là “cây tiền, cây phú quý; nào là con số nầy may mắn; hoặc màu nầy thích hợp, màu nầy không? Và chung quy nơi nào người ta “vất vả” mưu sinh nhiều chừng nào thì người ta lại càng hi vọng và “dị đoan” nhiều chừng nấy.
Đấy chẳng qua là “sự yếu đuối” của con người, của một loài “sinh vật đã từng có trí khôn”!

Đồ Ngông,
16/06/2019.

Lời Tâm Tình:
Theo lẽ bài nầy được hoàn tất từ sau bài thơ “Chúc Tết Xuân Kỷ Hợi”, để gọi là “Khai bút” vui chơi trong năm mới. Nhưng vì máy vi tính đã “bị hư” đành phải chịu cho đến bây giờ. Hi vọng Đồ Ngông tôi sẽ được “đóng góp” thêm nhiều ý, chuyện tào lao trong cuộc sống đến cùng quý vị bạn đọc để chúng ta cùng nhau “ngẫm nghĩ”sự đời. Thân!






Sunday, February 3, 2019

*Kính Chúc!


(Thay lời Chúc Tết, Xuân Kỷ Hợi 2019)

Kính chúc gia đình ở mọi nơi
An khang, thịnh vượng, sống vui đời
Xuân về nắng ấm hoa đua nở
Tết đến thênh thang lòng thảnh thơi
Quên hết ưu phiền luôn rối rắm
Bỏ qua chán nản chẳng nên lời
Vươn lên ý chí hồi gian khó
Hứa hẹn tương lai đẹp cuộc đời!

Nguyên Thảo,
03/02/2019.



Sunday, January 13, 2019

*Chuyện Ngày Con Nít!


Chuyện ngày xưa hay là chuyện của “thời con nít” Ngông tôi cũng có nhiều kỷ niệm, những kỷ niệm ấy cho đến tận bây giờ vẫn còn thấy ngất ngây, ngầy ngật vì mang dấu ấn của một quãng đời. Đôi khi Ngông tôi nhớ lại, lại tìm thấy một chút Triết Lý sống gì gì trong đó, không biết đó là sự thực hay là tôi có quá nhiều tưởng tượng, hoặc là Ngông tôi lâu ngày đã bị bệnh hoang tưởng rồi chăng? Nhưng dù gì đi nữa tôi cũng phải kể lại để người đọc đánh giá dùm sự “ngông ngông” của Đồ Ngông tôi.
Số là khi ba má tôi khi quyết định dời nhà về chợ Tân Khánh ở, thì lúc đó Ngông tôi chỉ là “thằng con nít, mũi dãi lòng thòng” vì mới chỉ 7 tuổi ta, hay đúng hơn là 6 tuổi tây, thân hình lại nhỏ con. Đêm đầu tiên, mấy đứa của nhà kế bên hỏi qua cửa sổ: “Ê thằng nhỏ, mầy tên gì vậy mậy”? Tao tên Thạch, tụi bây tên gì vậy: Tụi nó cũng vui vẻ kể: Tao tên Tự; tao tên Hoàng. Đó là lần thứ nhứt Ngông tôi được trò chuyện với người hàng xóm qua cửa sổ, và tôi phải đứng trên mấy hàng gạch đất được chất bên cạnh cửa sổ.
Thế rồi qua mấy ngày sau, đúng là chuyện con nít; Con nít làm quen với nhau lẹ lắm, tôi quen được đứa nầy, rồi đi chơi với nó lại quen thêm vài đứa khác, nên chẳng bao lâu đã có bạn bè đi chơi với nhau. Ba má tôi lại dần gầy dựng ở nhà thành một tiệm tạp hóa để bán. Do nơi bận rộn, hai ông bà thấy tôi đi chơi quá nên ông quyết định dẫn tôi lên trường học xin cho tôi vào lớp Vỡ Lòng (Đồng Ấu) học với ông thầy Giáo Sáu ở Trường Cây Gòn của Ông Khai. Tôi bị chê là quá nhỏ, nhưng ba tôi năn nỉ mãi ông thầy Giáo Sáu mới cho tôi học. Về sau tôi bị “máng vốn” là vô lớp ngủ hoài. Nhưng rồi không biết học đến khi nào thì tôi cũng “thuần” giống như một con ngựa được người ta huấn luyện trở nên nhuần nhuyễn. Từ trong lớp học tôi được quen thêm nhiều thằng, con bạn, hoặc các anh chị lớn hơn. Tôi trở nên hiền lành, không trở chứng.
Vào thời điểm đó, tình hình chiến sự trở nên thúc giục, dập dồn. Phe kháng chiến Việt Minh về hàng đêm phát loa, rải truyền đơn. Trong đồn xây một cái “tha la” (trạm gát) rất cao, người ta nói đứng trên đó có thể thấy rất xa, đến bìa Vĩnh Trường hay những xóm cách đó vài cây số. Đồn do đội quân Cao Đài đóng, nhưng trong đồn có một Thằng Tây mà thiên hạ nói với nhau là chính nó mới là người bắn moọc-chê hay gọi cà-nông bắn tới, còn phóng lựu (tăm-long) thì lính bắn. Do vậy, mà bọn con nít chúng tôi chỉ đi chơi lúc ban ngày, còn ban đêm thì rúc vào trong nhà để phòng hờ có lộn xộn thì chun xuống hầm, tránh đạn, tránh bom. Có những ngày lính Tây đi bố, sáng đoàn xe chạy chầm chậm sau những người lính cầm máy rà mìn ở hai bên đường, để rồi trưa hay chiều về ghé qua khu đất trống gần Trường Tàu nghỉ ngơi, lúc đó là dịp bọn con nít chúng tôi đến xin bánh, xin sô-cô-la. Có hôm có xe bị giật mìn ở đâu phía trong gò Hóa Nhựt khiến người bị thương, chết khá nhiều đem về để lên những sạp của chợ, coi thật là ghê.
Rồi vài năm qua đi, chừng khoảng hai năm rưỡi, tiếng súng ngưng, hòa bình lập lại. Những người theo Việt Minh được tập trung đưa ra Bắc, có những chiếc xe bò chở các thương binh đi dần ra trong buổi chiều mưa thật là ảm đạm và thương tâm. Lại có những đoàn người Bắc vào Nam và họ được tái định cư ở những vùng rừng, núi, bỏ hoang được khai phá do chính quyền làm sẵn. Ngông tôi không biết tình trạng ấy kéo dài trong bao lâu, nhưng sự yên bình của một đất nước làm cho “bọn con nít” chúng tôi được thoải mái vui chơi trong nhiều năm.
Sự học của tôi cũng thay đổi, ông Thầy Khai không còn ở trong đồn nữa mà sang cất nhà ở bên khuôn viên Thánh Thất Đạo Cao Đài và điều hành Trường Cây Gòn thêm vài năm nữa. Đến một ngày Chính Phủ trưng dụng cơ sở trường của ông để thành lập trường công lập Sơ Cấp Tân Phước Khánh (chỉ có tới Lớp Ba), học sinh đi học không phải đóng tiền học phí, chỉ đóng một số tiền niên liễm đầu năm vào niên học 1956-1957. Theo tuổi khai sanh tôi được theo học lớp Ba, lớp đầu đàn, theo sau là hai Lớp Tư và hai lớp Năm. Lúc đó, Thầy Khai được coi như là thành phần trí thức của xã, ông vận động xây rạp hát để cho gánh hát về mướn chỗ để hát. Tân Khánh có phần sung túc hơn. Vòng đai đồn được phá bớt, con đường ra Búng khai thông, chợ được xây dựng ở khu mới, có những dãy phố bên đường, có cả vài căn lầu. Xe đò từ Thủ Dầu Một vô để đưa khách về Tân Long hay lên Tân Uyên; hoặc đi sang Biên Hoà qua ngõ Bình Chuẩn, Tân Ba, Chợ Đồn.
Thời gian đó là thời gian mà bọn con nít chúng tôi được nhiều hạnh phúc và sống trọn với tuổi thơ nhiều nhứt. Ngoài những giờ đi học, phụ giúp gia đình, là những giờ, ngày mà chúng tôi kết bè, kết lũ đi lang thang từ đầu làng, cuối xóm, có khi đi suốt ra mãi tận bưng biền để bắt cá, mò cua. Tất nhiên, Ngông tôi không phải là người đầu đàn mà chỉ làm “tà lọt” vì thân đã nhỏ mà tuổi cũng lại là nhỏ hơn.
Cái anh có tài và khả năng lãnh đạo, có uy tín nhứt đối với con nít chúng tôi là anh Mười Lớn (lớn lên là Nguyễn Văn Là), anh và người cháu cùng lứa tuổi là anh Vân rất có khả năng tổ chức, hay bày ra nhiều trò để hướng dẫn chúng tôi chơi, hoặc làm đầu đàn cho những buổi đi tát cá, đi rừng hái trái cây, đi bắt dế, hay đi tắm ở các hầm đất ở trên Bình Hòa thật là vui thú. Các hóc hẻm nơi làng quê gần như chúng tôi đều đi qua. Ban đêm thì tụ tập đi chơi, hay tổ chức u bắt mọi, kéo co, nhứt là những lúc kể chuyện ma của anh Mười khiến chúng tôi thích nghe, nhưng tối về ngủ lại trùm mền kín đầu, lâu lâu lại hé ra để xem có ma không.
Đó là những thời buổi ban đầu khi hòa bình, chưa có gánh hát về hát ở Tân Khánh đến khi có gánh hát về chúng tôi tối lại tụ tập theo gánh hát để nghe âm nhạc, bài hát phát trên những loa lớn phía trước của rạp như các bài “Gạo Trắng Trăng Thanh, Trăng Rụng Xuống Cầu, Tía Em – Má Em vân vân…” Nhiều lắm, tôi không nhớ hết. Thời buổi đó thì trò chơi cũng khác đi, anh Mười Lớn với khả năng thiên phú, cùng với anh Vân bắt chước các đoàn hát, cùng phong trào văn nghệ lúc bấy giờ ở Tân Khánh do ông Út Canh Hòa khởi xướng, đã tập hợp bọn con nít chúng tôi lại hát theo các tuồng được in bán ra bằng những cuốn sách nhỏ, gọn. Thế là chúng tôi cũng tập tuồng, cũng có vua quan, có văn võ, nịnh trung. Cũng có đánh kiếm và kép độc. Còn ở trường học khi cô Thọ, cùng với Thầy Lý Văn Trọng về cũng văn nghệ hát hò tưng bừng tạo một khí thế cho một năm học đáng nhớ cho chúng tôi thời ấu thơ. Ban đêm thì cứ đến rạp hát “nắm đuôi” xin người lớn cho theo vào xem hát. Thực sự thì chẳng xem được bao nhiêu, một chút thôi thì đi về hay lắm lúc ngủ quên trong rạp khiến ba má phải đốt đèn đi đến rạp kiếm đem về. Thời điểm ấy chúng tôi đã lên Lớp Nhì và Trường Sơ Cấp Tân Phước Khánh đã trở thành Trường Tiểu Học rồi vì có thêm lớp Nhì.
Trong cuộc chơi nào cũng vậy, có khi thì thích nhau, có khi bất đồng chuyện gì đó, hay không hợp nữa thì đều có sự rạn nứt đưa đến chỗ không thể tương nhượng nhau, thì phải xé lẽ và chia phe. Điều đó bọn con nít, lũ “lâu la, tà lọt” như chúng tôi không quyết định mà là do những người cầm đầu, cùng những ông lớn quyết định. Họ hợp nhau thì hai bên chơi chung. Họ ganh tị nhau thì chúng tôi cũng phân ra, đôi khi đánh lộn nhau, nói xấu, chửi rủa là chuyện thường. Tiến xa hơn là họ muốn sanh chuyện để đánh nhau thì cứ xúi mấy thằng nhỏ phe mình khiêu khích để lấy cớ đánh. Giống như: “Ê, Thằng Rờn mầy ra đánh thằng Thạch cho tao. Mầy không đánh hả? Thì không cho mầy chơi nữa, loại mầy ra”. Thế là Thằng Rờn nhảy ra khêu khích tôi. Tôi biết mình đánh không lại, nhưng cũng gù nắm tay lo thủ thế. Thằng Rờn cũng không dám nhảy vào, mà cứ se se như hai con gà trống vờn nhau. Có thằng đến xô Thằng Rờn ngã vô mình tôi để tôi nổi nóng đánh, rồi tụi nó có cớ để đánh. Tôi không đánh, rồi tụi nó lại bên ngoài cổ vũ thêm lên: “Thằng nào đánh trước làm cha, thằng nào đánh sau làm con”. Rồi ngay trong lúc đó có người quen với má tôi đi ngang, tôi bỏ đi xê ra bên ngoài, bà nói nhỏ với tôi: “Mầy là Thằng Thạch con chị bảy phải không, tao nói chị bảy cho mầy đi đánh lộn nghen”! Tôi nghe đến đó lại nhớ đến cái roi, đành thôi chịu thua lẻn đi luôn. Có những lúc tôi không còn đi chơi nữa đang ngồi trên ghế thì tụi phe kia lại vẽ một cái vòng đến sát chân ghế: “Đây là vùng của tao, mầy không được bước chưn vô, mầy mà bỏ chưn xuống là tao đánh mầy liền”! Ngồi hồi lâu, tôi thua buồn quay chân lại phía sau đi về. Từ đó tôi không tham gia chơi với phe nào nữa cả. Và hoàn cảnh của tôi cũng không cho phép tôi đi chơi vì hai đứa em kế của tôi đã mất sau một cơn nóng sốt, nên tôi phải giữ đứa em nhỏ phụ ba má, chỉ biết giữ nhà, giữ em cùng đi chơi với những đứa con gái cùng lứa tuổi cũng giữ em như tôi. Tôi biết chơi sò, đánh đủa, những thứ trò chơi nhẹ nhàng. Khi đưa em ngủ trên võng tôi lấy vở để học bài, hoặc hát những bài hát trong trường đã dạy cho tôi. Chắc vì vậy mà dù trí nhớ dở dang, tôi cũng trở thành một học sinh khá trong trường.
Bây giờ ngẫm nghĩ lại những chuyện ngày xưa, thời con nít, thì thời cuộc ngày nay trên thế gian nầy cũng chẳng khác với chuyện con nít ngày xưa là bao nhiêu. Không biết nước nhỏ có quay về củng cố chính mình như là tôi không?

Đồ Ngông,
18/11/2018.



Thursday, November 15, 2018

*Đường Đến Băng Hà! (14)


Đoạn hành trình từ Point Gustavus, tức là điểm cửa ngõ đi vào Glacier Bay, cho đến Juneau cũng khá xa. Theo số liệu của Du thuyền thì cách đến 217 Nautical Miles (mỗi Nautical Mile = 1.852 Km), trong khi đó vận tốc du thuyền chỉ là 18.9 Knots. Đường đi được cho biết là từ Point Gustavus sẽ đi qua Icy Strait, rồi lên phần trên của Lynn Canal, xong tàu xuôi về hướng Nam dọc vòng theo đảo Douglas, rồi từ đó mới chuyển sang hướng Bắc vào Gastineau Channel để tới Juneau. Ở Juneau du thuyền sẽ trở đầu để trở ra đi vào giai đoạn sau sau chuyến thăm viếng thủ đô của Alaska nầy. Tất nhiên là trong khi tàu đi theo lộ trình thì chúng tôi tha hồ ngủ vì trời đã vào đêm.
Juneau được chọn làm Thủ đô của Alaska sau khi được Quốc Hội Hoa Kỳ phê chuẩn vào năm 1900, và chính quyền di dời từ Sitka về đây từ năm 1906. Số dân theo thống kê của năm 2013 là 32,660 người. Juneau không có đường bộ để đi đến các vùng khác của tiểu bang hay phụ cận, mà người hoặc hàng hóa chỉ có thể vận chuyển đến bằng đường thủy hay hàng không do nơi địa hình hiểm trở.
Mot goc Juneau.

Du thuyền đưa chúng tôi đến Juneau vào lúc 6 giờ sáng, nhưng tôi và Anh Thới đã dậy từ lúc 5.30 giờ. Do đó khi nhóm chúng tôi lên ăn trên Horizon Court vào lúc 6 giờ rưỡi thì cũng nhìn thấy tỏ rõ quang cảnh hai bên Gastineau Channel và loáng thoáng cái Thành phố Juneau. Chiếc Cruise đi vào chỗ đậu. Xa kia là chiếc tàu chiến nho nhỏ ở phía dưới. Tôi không biết là chiếc tàu chiến ấy là loại nhỏ, hay là do nơi chiếc du thuyền nầy quá lớn mà tôi có cảm tưởng tàu chiến giống như đồ chơi bằng nhựa của trẻ con.
Du thuyền cập bến vững vàng xong thì du khách được lần lượt rời tàu để lên bờ tham quan, ngắm nghía, mua sắm, giúp cho nền kinh tế của xứ xa xôi nầy thêm có phần thịnh vượng.
Thanh pho Juneau nhin tu boong tau.

Đối với những du khách đã đăng ký “tour” ở trên tàu thì được ưu tiên để đi tour ở đây cho đúng giờ. Còn những người “gà mờ” không biết đăng ký, hay không đăng ký thì từ từ đi theo các hành lang để rời tàu với những giấy tờ cần thiết được căn dặn phòng khi được hỏi đến, hay đưa ra để chứng minh mình là khách của tàu. Một điều được nhắc nhở kỹ càng là “Đừng nhận, hay mang hàng gì của người lạ lên tàu”, và những thịt, gà, thức ăn, trái cây.
Riêng chúng tôi cũng lũ lượt xếp hàng xuống tàu, nhưng ra khỏi tàu xuống phố thì đã 8 giờ 30. Lúc ấy có cửa hàng mở cửa, nhưng đa số đều đến 9 giờ mới khởi đầu buôn bán. Chúng tôi được thời gian thả rông trên đường phố để ngắm cảnh hai bên, cùng số ít xe cộ chạy qua đường. Trời sáng còn lạnh nhưng thời tiết vào thời gian nầy (vào Tháng 5) không lạnh lắm, nên chúng tôi còn cảm thấy thoải mái, chứ không bị run lẩy bẩy. Đến 9 giờ mình được chun vào những gian hàng để ngắm nghía, lựa chọn xem những gì mình thích mà có thể mua được hầu làm vật kỷ niệm của một chuyến đi không? Tôi muốn mua những viên đá Nam châm trong các bịt nhỏ, nhưng ngần ngại sẽ không đem vào Úc được, nên đành đứng lưỡng lự, và cuối cùng là “không dám mua”. An ủi là mình không bị tốn tiền! Nhưng ngẫm nghĩ hoài, không lẽ mình đã đến Thủ đô của Tiểu bang Alaska tận vùng Bắc xa xôi của quả địa cầu mà về không, không có vật gì thì uổng quá, đành kiếm một cái áo ấm mùa Đông, có thêu chữ Juneau với giá là 19.99 chứ không phải là 20 đô-la. Rồi đi dọc theo đường chính qua gian hàng làm kẹo bánh, đứng nhìn ông Tây đang trình bày cách làm Chocolate qua khung kính của tiệm. Bên trong nhiều khách hàng nhất là trẻ con đang đợi mua nườm nượp. Đến ngã ba đường chính thì tiếng ồn ào lẫn máy móc đang sửa đường của phu kiều lộ âm vang, nhiều người tránh sang con đường khác. Tôi xem bản đồ, rồi cùng vợ tôi với cô em vợ thả lần lên phía trên qua các ngã tư để lên con đường số 4 cắt ngang. Tôi muốn lên con đường ấy vì ở đó có “State Capitol” để xem cái hình dáng nó ra sao. Nó có cái hình dáng của vài “State Capitol” mà tôi đã thấy hay không như ở Washington hay ở Utah? Đường lên dốc khiến sự đi bộ có nhiều cố gắng, nhưng đường đó cũng không xa. Cuối cùng chúng tôi cũng đã đến trước tòa building “State Capitol”.
State Capitol.

Nó chỉ với hình dáng bình thường như các building khác, lớn hơn và có hàng chữ “Alaska State Capitol”, phía trước sân là đường lót gạch, chứ không tráng nhựa, thành ra trông khuôn viên khá rộng rãi. Chúng tôi chụp hình ở đây vài tấm để làm lưu niệm, rồi kéo qua công viên nhỏ có tượng một con gấu đen, chân đang chận một con cá salmon mà nó đã bắt được. Hình ảnh con gấu và cá salmon được phổ biến ở Vancouver cùng trên đất Alaska nầy, nó có thể được xem là biểu tượng thiên nhiên được vẽ trên tranh, hay làm những tượng nhỏ bằng nhựa, thủy tinh để bán cho du khách, kể cả các đồ trang sức bằng bạc, vàng hoặc bạch kim.

Bieu tuong Con Gau va ca Salmon.

 Chúng tôi thả lần xuống bến tàu, hình ảnh chiếc du thuyền sừng sững trên cao xuyên qua các buiding, phố lầu, tôi mới thấy rõ cái tầm cao của nó. Đến 1 giờ, bọn chúng tôi thấy xem bao nhiêu đó cũng đủ rồi cho nên thôi thì kéo nhau lên tàu để ăn uống và nghỉ ngơi. Lúc trở về tàu, chúng tôi cũng mang thẻ tàu trên ngực, hành lý phải qua máy kiểm soát kỹ càng giống như ở nơi phi trường mà người ta đã làm.
Kéo nhau lên thẳng trên Horizon Court ăn uống xong, ai về phòng nấy nghỉ ngơi, để rồi lại tới bữa ăn chiều. Nằm nghỉ trong chốc lát thì tôi và Anh Thới đều ngủ quên, mà không dễ đi vào giấc ngủ sao được khi mà phòng mù mù tối mặc dù có đèn, cộng thêm vào đó là những mệt mỏi từ những ngày trước. Cũng tại mình thôi! Vì sợ tốn nhiều tiền nên mình đã chọn phòng ở chính giữa, thì tất nhiên nó phải tối. Nếu mình chọn phòng ở balcon, hay những loại phòng hạng sang khác thì nó đã khác đi rồi.
Đi cruise, nếu mình chịu bỏ ra nhiều tiền thì có rất nhiều điều giải trí làm cho mình thích thú: Ăn uống thoải mái, nghỉ ngơi an dưỡng rất tốt, thở hít khí trời trong lành, có massage, Tai chi, casino … kể cả Bible Study cùng với những phương tiện giải trí không phải trả tiền như xem phim, xem hát, khiêu vũ vân vân… Chỉ trừ trường hợp tàu gặp thời tiết xấu như chúng tôi đã gặp lúc đi cruise từ Adelaide lên Melbourne và trở về như chuyến trước cách đây vài tháng.
Du thuyen sau duong pho.

Hàng ngày tàu đều có chương trình để mình có thể tham gia vào tiết mục và giờ giấc nào mà mình thích. Còn như chúng tôi thì do ngôn ngữ không hiểu được nhiều nên không tha thiết các tiết mục, do đó mình cảm thấy không mấy hứng thú đi trên tàu vì chỉ có ăn ngủ, rồi ngắm trời trăng, mây nước. Nó có vẽ nhàm chán hơn!
Đến khoảng 4 giờ thì tôi và Anh Thới kéo nhau lên sân thượng để chụp vài bôi hình để làm kỷ niệm, đồng thời ngắm nhìn toàn cảnh cái Thành phố Thủ đô của Tiểu bang Alaska.
Thành phố Juneau trải dài dưới chân núi Juneau, mặt hướng về Gastineau Channel. Nơi đây là quê hương của người Tlingit, dân bản địa đã sống ở đây bằng nghề săn bắn và bắt cá trong nhiều ngàn năm trước do nguồn cá salmon phong phú của Gastineau Channel.
Nhưng đến những năm 1870 George Pitz, viên kỷ sư hầm mỏ từ Sitka treo thưởng cho ai đem cho ông ta được quặng vàng. Trưởng bộ tộc Auk Tlingit là Kowee ở Gastineau Channel đem quặng đến. George Pitz gởi Richard T. Harris và Joseph Juneau đến đó thăm dò. Hai ông đến nơi vào Tháng 8 năm 1880, nhưng đến Tháng 10 mới xây dựng khu làng khoảng 160-acre ở bên bờ, lúc đầu làng nầy được gọi tên là Rockwell, sau đó là Harrisburg nhưng người địa phương lại đổi tên là Juneau theo tên của Joseph Juneau. Và Juneau được ra đời! Rồi đến năm 1906, Juneau được chọn làm Thủ đô của Alaska, và đến 1/7/1970 với sự sáp nhập của Douglas và vùng phụ cận Juneau trở thành Thành phố có diện tích đất lớn thứ nhì ở Hoa Kỳ.
Chúng tôi vừa chụp hình, vừa ngắm nhìn toàn cảnh của Thành phố từ trên độ cao của boong tàu, đồng thời quan sát chiếc du thuyền từ từ trở đầu đổi hướng để rời bến. Nó phải mất cả tiếng đồng hồ để hoàn tất giai đoạn ấy từ lúc 5 giờ rưỡi đến 6 giờ 30 và tàu ra khơi. Đến 7 giờ rưỡi nhóm chúng tôi đi xuống nhà hàng Botticelli để ăn tối. Xong rồi còn đi ruồng ở khu Hội Trường, lẫn nhiếp ảnh, cùng  gian hàng bán đồ lưu niệm trước khi về phòng vào lúc 10 giờ 15. Ngày mai du thuyền sẽ đến Ketchikan. 

Nguyên Thảo,
15/11/2018.