Saturday, April 24, 2021

*Chuyện Về Báo Chí!

 

            Thú thật, Đồ Ngông tôi chẳng biết gì về chuyện báo chí! Nhưng duyên tự nhiên thì một ngày lại biết về nó và cũng được tham gia trong một thời gian dù không là dài. Lúc còn học trong nhà trường, Đồ tôi cũng tập tành viết bài cho “bích báo” theo tiếng Hán Việt ngày xưa, hay “báo tường” cho ngôn ngữ ngày nay, hoặc đúng hơn là các bài được viết trên khuôn khổ một tờ giấy lớn, rồi dán hay treo lên tường để cho mọi người thích đọc đến đứng mà đọc, coi chơi: “Chúng viết cái gì” trên đó! Do không có khiếu về văn chương, và không biết viết câu chuyện như thế nào để coi cho là được, vì vậy mà kết quả bị ông thầy loại ra. Có lần Thầy phụ trách bóng gió là học lớp lớn mà viết như là con nít, dù không biết đích xác là mình, nhưng linh cảm lại “chính là hắn, không sai khác”!

           Từ ấy, tôi không hề nghĩ đến chuyện văn chương, thơ thẩn. Rồi đến một ngày, khi biết yêu một cô nàng, nhưng hoàn cảnh khá éo le, Đồ tôi đành làm bài thơ chia tay mà lại “ca” gọi là “Chín khúc ca” để làm kỷ niệm của một thời mới lớn và biết yêu! Đó có lẽ là bài thơ đầu đời của Đồ Ngông tôi xuất hiện! Sau đó, vào những lúc buồn tình hay ngẫu hứng thì cũng thơ thẩn chơi chút nào thôi, mà cũng chẳng hề cho ai biết!

           Vài năm sau có biết ông thầy cũ của mình đã gặp “xì căng đan” ở trường năm nào, do một thằng học trò ngỗ nghịch ở lớp Đệ Tam (lớp 10) kêu anh nó là lính Dân Vệ địa phương, làm khó dễ và đánh ông. Khi được về Sài Gòn ông lại trở thành một nhà báo viết cho tờ báo nào đó với bút danh là “Tư Trời Biển” chuyên vạch trần những sự áp bức, bất công. Thì ra, trong xã hội có nhiều trường hợp “bức ép” người ta quá mức, khiến cho vài người có điều kiện thuận lợi họ nhảy ra với “những hành động” chống lại, công khai cho mọi người, dân chúng biết để xã hội nầy được tốt đẹp hơn!

           Thế rồi, theo dòng đời dong ruổi, mình cứ sống theo những gì mình hiện có, khả năng mình được tự lúc sinh ra để làm hành trang cho cuộc sống. Nhiều khi cái hoàn cảnh tạo cho mình một cái nét “gàn gàn, ngông ngông, bướng bướng không còn là một đứa trẻ dễ thương như ngày trước” khiến người ta phải nhức đầu, khó chịu. Nhưng dù sao “vẫn là một người có tâm tốt”, đó là theo ý kiến của nhiều người bên ngoài nhận xét! Mang đặc trưng, bản chất ấy đi vào đời từ quê nhà cho đến xứ người trong những thời gian đầu. Sau vì để thích nghi trong môi trường mới cũng như “do thân lẻ loi’ nơi đất khách quê người, mình phải thay đổi cho hợp, vì thế mình phải nhìn lại mình, giống như một người “tu” trong Đạo Phật!

            Ai cũng có một “Định Mệnh”! Cái phức tạp “tranh giành, thọc mạch, nịnh hót, ganh ghét…” của đời người có khi xảy ra lắm phiền phức. gây điều tai họa, hiểu lầm. Tôi “lâm vào tình cảnh như vậy” và khiến mình phải dành thời gian để suy nghĩ về nó. Từ trong “bóng tối” ấy, tôi đã thấy được bóng sáng của một cái tự nhiên nào đó, rồi ấp ủ “sẽ có một ngày” phải viết lên, chia sẻ với mọi người về điều ấy. Sau đó, giấc mơ tự nhiên gặp “nhân duyên” trở thành hiện thực! Từ một bản tin nhỏ nhoi sang tờ báo địa phương, bắt đầu cho Đồ tôi đi vào “chuyện báo chí”, kể cả báo chí Liên bang hay những trang “Web” được phổ biến trong thế giới ngôn ngữ Việt ở một vài lĩnh vực phổ thông! Trên bước đường, Đồ Ngông tôi đã học được nhiều vấn đề để mình có thể hiểu hơn về những thủ đoạn trong ngành báo chí, cũng như cách đánh máy, trình bày dù không trải qua một trường lớp mà chỉ là “học lóm” mà thôi!

            Như ở trên, Đồ tôi có kể về chuyện ông Thầy dạy cũ trở thành nhà báo “Tư Trời Biển” viết về những chuyện “hà hiếp dân lành”, “bất công trong xã hội” để nhằm ngăn ngừa một số hiện tượng xảy ra thường xuyên trong xã hội. Ông thầy ấy đã vốn có kiến thức vì từ trường “Đại Học Sư Phạm” mà ra, có bạn bè là những người hoạt động xã hội có tiếng lúc bấy giờ như Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang chẳng hạn, và có đủ điều kiện để phất cờ. Sau nầy, tôi được một anh bạn có học trong ngành báo chí cho biết có nhiều người cũng chuyên viết về các mục “người hà hiếp người” mà trở nên khá giả, giàu có. Tôi ngạc nhiên hỏi anh, thì anh cho biết vì những người sắp bị “phanh phui” trên mặt báo, họ sẽ tìm gặp để điều đình bằng món tiền phải trả để loạt bài “ngưng lại”. Đó là chuyện tôi biết đầu tiên về báo chí.

            Qua thời gian, khi tôi bắt đầu những bài thơ vui chơi và cũng là thử sức khả năng làm thơ của mình tới đâu nên tôi gởi các bài thơ mới “ra lò” cho tờ báo “biếu của địa phương”. Trong các bài thơ đó có mấy bài can ngăn sự xung đột của vài người trong Cộng Đồng, nhưng khi báo phát hành thì mấy bài thơ ấy có bị sửa chữa vài câu mà theo ý thì tôi lại đứng về phe chửi người khác. Đồ tôi có nói với chủ báo thì họ chỉ nói: “Sửa như vậy cho ý nó hay hơn”. Tôi đành chịu thua và tự nhắc lòng “phải cẩn thận” trong những lần sau. Thế là từ đó Đồ tôi rất cẩn trọng để gởi bài: Đối với những bài thông thường phổ thông tôi không sợ bị sửa bài, đổi chữ. Nhưng với những bài có liên hệ Cộng Đồng, xung đột thì tôi không gởi, hay không tham gia. Tuy nhiên, có lần tôi lại học thêm một điều quan trọng khác của ngành báo chí!

            Vốn là sau cuộc bầu cử Ban Quản Trị Cộng Đồng của Tiểu Bang, với những thủ đoạn cũng như thủ thuật của đôi bên, bên thua liền nghĩ đến chuyện ra một tờ báo biếu mới của địa phương, vì “muốn làm chính trị” mà không có tờ báo để làm hậu thuẫn thì khó mà thành công. Thế rồi cả hơn chục người hùn nhau, mua máy in, tìm người, nhân sự để thành hình một tờ báo mới. Sự “tranh ăn” hai tờ báo được khởi đầu với những bài viết bài bác chửi bới nhau tạo nên tình trạng phân hóa trong Cộng Đồng. Cả tháng sau, Đồ Ngông tôi mới có bài gởi lên để can thiệp cho tình trạng đang xảy ra bớt nghiêm trọng đi. Qua bài thứ nhất và bài thứ nhì sự xung đột khựng lại, mọi người ngạc nhiên vì có người dám can thiệp vào vấn đề. Thế rồi bài thứ ba, tôi chỉ gởi cho một tờ báo có lúc trước mà không gởi cho tờ báo mới. Khi đến chỗ làm tôi có kể lại cho anh bạn rành về báo chí nghe, anh bảo: “Chết rồi! Trong luật báo chí thằng nhà báo nó có thể sửa bài của anh theo ý nó, không khéo nó sửa bài để chửi người ta. Khi chuyện xảy ra rồi coi chừng anh mang tiếng mà nếu anh phàn nàn thì nó nói: “Đó là lỗi của người đánh máy hay nó viện dẫn lý do nào đó để sửa bài của anh thì chuyện đã rồi”! Nghe thế, tôi vội điện thoại đến tờ báo xin đình chỉ bài, để viết lại cho mạnh hơn. Chiều về tôi ghé qua tòa soạn, chủ báo cho tôi biết đã gỡ bài ra khỏi tờ báo kỳ nầy rồi, đợi tôi viết bài lại, anh còn chỉ cho tôi cái chỗ “lay out” được thay bằng bài khác. Nhìn thoáng qua bài thì anh đã sửa một đoạn để chửi người ta rồi! Từ đó, Đồ Ngông tôi rất e dè khi gởi bài cho các tờ báo để đăng. Chuyện xảy ra thật “hú hồn”!

            Dù chỉ là đóng góp ít ỏi bài vào các tờ báo, tập san vui chơi, nhưng Đồ Ngông tôi cũng học được khá nhiều về các thủ thuật hay thủ đoạn của những người làm báo để điều khiển dư luận, hoặc đem cái lợi về cho chính mình qua bạn bè và người có học về ngành báo chí. Từ đó tôi lại nghĩ về tư tưởng “mọi sự do Tâm tạo” trong Đạo Phật: Khi Tâm con người tốt thì những gì người ta viết ra, phổ biến trên mặt báo hay phương tiện truyền thông sẽ tốt và đem lại ích lợi cho nhiều người; nếu Tâm người không tốt, thủ lợi thì sẽ khiến cho số người lầm lạc không nhỏ. Đó là điều mà trong chiến tranh, báo chí đã thiên lệch và đem chiến thắng đến cho phe mà họ muốn. Và mới đây, nhất là trong cuộc bầu cử năm 2020 trên đất Mỹ, trên cái xứ được xem là Tự do và Công bằng, mẫu mực mà thế giới nhìn vào, đã xảy ra các điều mà người ta không thể ngờ: Ngay cả ông Tổng Thống bị báo chí và đám Big Tec “bịt miệng” và “bị đặt điều” để bêu xấu nhằm triệt hạ, loại hẳn ông ra và bao che cho phe được họ ủng hộ!

            Ôi! Đó là “Lương Tâm” của những người làm báo, ngành báo chí lẫn ngành truyền thông! Đáng sợ thật!

 

           Đồ Ngông,

           25/04/2021.

 

 

 


Sunday, April 18, 2021

*Khuynh Hướng!

 

Khuynh hướng thế giới này

Người thích lãnh đạo thay

Ở trên đầu thiên hạ

Bày ra chuyện từng ngày!

 

Tiền tha hồ thu gom

Bắt dân phận gối rơm

Không được quyền than vãn

Mặc thân thể gầy còm!

 

Đè dân ra mà cướp

Cướp như lũ cướp ngày

Lại giống bọn cướp đêm

Nhằm thoả mãn mộng dài!

 

“Cho dân” đâu chẳng thấy

Chỉ thấy một “bầy sâu”

Cùng thân chuột cắn phá

“Một nước” cảnh thảm sầu!

 

Đồ Ngông,

15/04/2021.

 

 

 

 


Thursday, January 28, 2021

*Quê Người! (39)


Tôi với anh Sơn đồng lứa mà lại tính tình tương đối hợp, nên trong những câu chuyện có khá nhiều thích thú. Vì thân nhân đa số ở bên Mỹ, do vậy mà anh được nhiều băng nhạc để thay đổi mở hát trên đường đi làm hay về, khiến chỉ vài ngày mà tôi đã “ghiền” nghe băng nhạc của ca sĩ Thanh Tuyền. Không biết vì kỹ thuật thu âm hay tiếng ca cô Thanh Tuyền thay đổi, mà trong băng nầy tiếng ca cô ấm hơn, không lãnh lót như xưa làm cho tôi nghe có nhiều truyền cảm, nhất là bản gì đó có câu: “Từ anh xa vắng em không trang điểm đợi chờ…..” và “Tình chàng ý thiếp ai buồn hơn ai” đã đưa tôi vào những bồi hồi, nghĩ về hoàn cảnh của mình với vợ con, rồi thấy lòng buồn vô hạn. Hay cái bài “Trộm nhìn nhau” của Trầm Tử Thiêng kéo tôi về cái khung cảnh thơ mộng tình yêu của những người “lo lắng” cho nhau. Đến đỗi tôi phải mượn cuồn băng ấy của anh về sang lại cho riêng mình và từng đêm bắt nghe trước khi ngủ, có đêm nghĩ đến thân phận mình mà rơi nhiều nước mắt, nhưng lại thích nghe để lòng mình tuôn trào các cảm xúc. Thế rồi cũng không lâu anh Sơn có công việc khác lại từ giã chúng tôi. Xoan lại nhờ đến anh Tế. Anh Tế làm ở hãng máy giặt nay nhân dịp nghĩ hãng vào dịp holiday cuối năm anh được Xoan nhờ đưa đi và cùng làm. Anh làm để kiếm thêm thu nhập cùng giúp tôi và Xoan. Thế rồi mấy ngày sau Thành cũng được nghỉ holiday ở hãng, gia nhập chung với bọn tôi. Bốn người cứ làm đều đặn, chắc cũng không còn bao lâu nữa sẽ hết công việc “đi tỉa táo” nầy! Anh Tế lớn tuổi hơn tôi, người hiền lành, anh qua hơi sớm nên dễ xin việc làm hơn vì trong những thời gian trước, như có lần tôi kể lại lời của một anh bạn khi đến trại tiếp cư thăm Bác Vỹ, Bác Phương kể, người Úc thương mến người tị nạn Việt Nam lắm nên các hãng xưởng có khi đến tuyển người khi còn ở trong trại. Nhưng về sau nầy không còn như thế nữa mà lắm lúc họ đưa hai ngón tay lên để chửi mình. Đoàn chúng tôi từ Mã Lai qua đúng vào ngay tình huống ấy, khi mà ông Giáo Sư Sử Học Blainey đang khuấy động phong trào “Bài người Châu Á (Asian out)”. Dù vậy, chúng tôi cũng phải “chai mặt” ra mà hứng chịu tất cả những gì có thể xảy ra. Chính vì điều đó tôi mới hiểu tại sao những người Hoa trên đất Việt Nam, mà tôi đã biết: Khi họ buôn bán để kiếm ăn, thường họ luôn cười, vui vẻ dù mình gắt gỏng hay chọc ghẹo họ, họ không hề tỏ vẽ giận dữ, hoặc hờn dỗi. Thì ra họ tha phương chỉ để tìm một mảnh đất dung thân! Nhưng đối với người mình không là như thế. Những gì người ta không vừa ý, không thích thì sự giận dữ, hùng hổ, hành hung mà quên đi thân phận ta đang “ăn nhờ ở đậu” trên xứ người! Đó là cái tâm lý, yếu tố khiến người bản xứ không hài lòng với những gì mà người mình đã làm nên! Tất nhiên điều đó không phải ảnh hưởng đến một hay vài người mà nó được đánh giá trên một sắc tộc, nhưng mình cũng phải đành chịu thôi vì trong vấn đề “người vượt biên” rất là phức tạp. Bạn cứ thử nghĩ người đi vượt biên dù trên mục đích nào thì người ta đều đối diện với cái chết trên biển cả, trên đường đi; đối diện với bị bắt, tù đày, hành hạ; người ta phải liều. Đã liều mà không sợ chết nữa thì bạn nghĩ thử xem cái gì mà họ không dám làm! Tuy vậy, khi đến định cư trên đất nước thứ ba thì tính khí ấy cũng được nguôi ngoai, trầm lắng để sống một cuộc sống cho chính mình. Sự hung hãn cũng dần bớt đi theo kiểu cách “giàu có sinh lễ nghĩa” chứ không còn “bần cùng sinh đạo tặc” như trong thời còn gian nan!

Cái hoàn cảnh kinh tế khiến cho con người thay đổi tâm tính, đạo đức hay hoang dại, sống với bản năng sinh tồn. Sự tạo nên những nét tốt đẹp của một nền văn hóa, trong đó con người cư xử với nhau đầy bản chất nhân văn, tôn trọng lẫn nhau không phải xây dựng được một ngày một buổi, có khi hằng thế kỷ hoặc ngàn năm mới được như xã hội Việt Nam trước kia. Nền đạo đức Nho Giáo, tôn sư trọng đạo, triết lý gia tiên lẫn thấm nhuần đạo lý từ Phật Giáo được hun đúc suốt chiều dài lịch sử, tạo nên cung cách gia đình, dòng tộc, làng xóm, láng giềng, dân tộc đặc trưng của Việt Nam. Nhưng chỉ trong thời gian ngắn tất cả đều tan biến, sự “vong bản” đã thành hình: Không ai còn tin ai nữa ngay cả con cái trong nhà. Chỉ cần nói bậy một chút thôi thì nguời ta có thể đi tù, hay mất mạng! Trong hoàn cảnh nghèo đói nhanh chóng ấy nạn ăn cắp vặt lén lút hay công khai đầy khắp trong xã hội. Người ta cướp giựt dọc đường, cướp của giết người chỉ để được sinh tồn. Người ta đi buôn lậu khắp nơi. Nói chung gần như cái gì cũng gian dối, lừa đảo, láo khoét, lo lót; đòi hối lộ phổ biến, tính tình không ngay thẳng tràn đầy trong cuộc sống. Nề nếp cũ không còn nữa. Một cuộc cách mạng tận gốc rễ đã thành hình! Tôi nhìn lại thân phận mình mà cảm thấy buồn và lo âu cho các con tôi. Tương lai của chúng sẽ về đâu? Rồi mấy đứa cháu sẽ thế nào? Tôi thấy màn đen, u ám ở trước mặt trên con đường mai sau, mặc dù tôi cố tìm lấy cái “lạc quan” mà người ta thường hô hào để mọi người tin tưởng vào tương lai!

Chiều về, Trọng cho tôi hay là Chính phủ Việt Nam đã ngưng lại công việc xét hồ sơ bảo lãnh nữa rồi vì báo bữa nay có đăng, nói xong Trọng đưa cho tôi tờ báo. Khi Thành tắm, tôi xem qua bản tin đợi tới phiên mình. Trong lúc ăn cơm, vấn đề nầy được bàn qua. Chuyện ấy không lạ vì trước ngày tôi đặt chân lên đất Úc thì Chính phủ Việt Nam vẫn cứu xét những hồ sơ bảo lãnh cho thân nhân đi đoàn tụ ở nước ngoài, trong đó ở quê tôi có gia đình của ông Yếu làm lò chén tất cả gia đình được đi một lần cả thảy là 27 người; nhưng khi tôi vừa đến Úc vì chuyện biểu tình chống đối mà ông Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch đình chỉ với lý do thái độ chống đối đó. Thế là sau sáu tháng ngưng trệ gọi là hình phạt, Chính Phủ Việt Nam cho cứu xét lại. Chưa được bao lâu thì một ngày trên báo đăng tin: Có cán bộ đi mua sắm ở khu Thương mại ngoài khu Cabramatta trên Sydney bị phát hiện, người ta dàn cảnh đánh. Lúc ấy chúng tôi ngờ ngờ sẽ có một màn đình chỉ cứu xét hồ sơ bảo lãnh tiếp tục. Đến nay điều ấy đã xảy ra, nhưng hồ sơ của chúng tôi quá mới thì chuyện dù không xảy ra thì hồ sơ cũng còn lâu mới được giải quyết. Thôi thì chuyện tới đâu hay tới đó!

Lúc chúng tôi quay quần xem truyền hình cùng để bé Thiện nằm chơi nơi phòng khách thì vợ chồng ông Hoài, Bà Sa đến, rồi cùng nhau chuyện trò. Đang lúc đó thì có tiếng chuông cửa vang lên, tôi ra mở cửa lại là anh Tế tới cho tôi hay chuyện đi ngày mai. Vừa đến cửa phòng khách thì anh Tế nói là anh cần về liền nên nói với tôi vắn tắt vấn đề. Khi anh Tế đi rồi, bà Sa mới hỏi tôi: “Đó có phải là ông Tế không”? Tôi nói: “Đúng rồi, nhưng sao bà biết”? Bà Sa cười: “Tôi biết ông ấy lâu lắm rồi, từ hồi còn ở Cần Thơ lận”! Rồi bà kể sơ chuyện bà biết ông Tế như thế nào: Ông Tế ngày xưa là một Biện lý ở Tòa án Cần Thơ, trong một chuyện tình cờ bà được biết ông. Bà Sa chỉ kể như vậy, và tôi cũng nghe như vậy thôi chứ không hỏi thêm gì nữa. Tức là tôi đã biết được ông Tế ngày trước ở Việt Nam là một Luật Sư làm ở Tòa án Cần Thơ.

Sáng hôm sau đúng giờ hẹn, anh Tế cùng Xoan đến rước tôi và Thành. Đi đường chúng tôi vẫn trò chuyện vui vẻ, nhưng tôi không hề nhắc đến chuyện của bà Sa nói về anh Tế tối qua. Khi tiến vào công việc làm, anh Tế có hỏi tôi: “Bà hồi hôm có phải là bà Sa không”? Tôi đáp: “Đúng rồi, mà anh có quen với bả hả”? Anh Tế cười: “Tôi quen với bả lâu lắm rồi, không ngờ lại thấy bả ở đây”! Tôi đùa với anh: “Vậy là hai người là cố nhân sao”? Rồi anh kể lại chuyện biết bà Sa trong một phiên tòa ở Cần Thơ năm nào đó, với lý do rõ ràng mà anh Tế là người thụ lý. Anh Tế kể thì tôi nghe, nhưng từ đó tôi cũng không hề hỏi hay kể lại cho bà Sa nghe vì chuyện ấy là chuyện riêng tư và nó cũng chẳng hay ho gì, cho nên tôi đành nín thinh luôn!

Từ trường hợp của anh Tế tôi ngẫm nghĩ lại chuyện đời: Không ngờ nhiều người trí thức, nhân tài của quê hương mình đã bị mai một tài năng trên xứ người chỉ vì không đủ ngôn ngữ để trở lại cuộc đời với những tài năng tiềm tàng. Họ phải thầm lặng với những công việc của con người bình thường. Bao nhiêu năm dày công học hành, tôi luyện tài năng mà không cống hiến gì được cho đất nước bởi cái “quan điểm”. Bài ca “quê hương ruồng bỏ” trở nên phổ quát hơn bao giờ hết! Những đoàn người lang thang, tha phương đi tìm đất sống. Quả là ngộ nghĩnh cho một đất nước khi mà người dân “đội bom để bám đất, bám làng trong thời chiến tranh ác liệt, thế mà lại phải bỏ nước ra đi khi đất nước được thanh bình và thống nhất”. Có ai đặt nên câu hỏi: “Vì sao”? Và có ai giải đáp được dùm chưa? Và có chế độ nào giống như thế chăng? Đúng là một sự nghịch lý chưa từng có trong lịch sử của loài người và dân tộc!

Chiều về, Trọng cho tôi và Thành hay là tối nay anh Lâm sẽ đến để bàn về chuyện Bảo hiểm nhân thọ AMP và nếu mình thích thì tiến hành làm hồ sơ gia nhập luôn. Sau bữa cơm chúng tôi quay quần ngồi xem phim video trên truyền hình đợi chờ anh Lâm tới. Những hồi chuông cửa báo để rồi chúng tôi cùng anh Lâm phải xuống nhà dưới nơi ăn cơm bàn chuyện, vì nơi đó mới có chiếc bàn lớn đủ chỗ cho việc bày biện các giấy tờ hồ sơ. Trước tiên anh Lâm cho chúng tôi biết những thông tin khái quát về bảo hiểm nhân thọ sẽ như thế nào, rồi những điều kiện gia nhập cũng như các điều mình được hưởng. Sau khi hiểu rõ, tôi, Trọng, Thành và chị Yến hội ý xem nên hay không tham gia hay cần để suy nghĩ thêm vài ngày. Cuối cùng, chúng tôi quyết định làm đơn tham gia ngay, nhất là tôi với Trọng vì chúng tôi còn có vợ con ở bên nhà và không biết chuyện ngày mai ra sao?

Sau khi làm các thủ tục xong xuôi, chúng tôi cùng anh Lâm ngồi tâm tình cùng nhau và nói chuyện đời cũng như chuyện vượt biên. Anh Lâm cũng cho biết anh là một Luật Sư trước kia, đến đây cách nay nhiều năm anh từng ở Úc 2 năm, xong sang Mỹ ở 2 năm, rồi mới trở về Úc cũng cả 2 năm, nhưng chưa tìm được người “đồng hành” để lo cho anh. Anh nói “khó kiếm quá”! Đến khoảng gần 10 giờ anh từ giã chúng tôi để ra về. Xong việc gia nhập AMP rồi, trong lòng tôi cảm thấy tương đối nhẹ nhỏm hơn với vợ con, chắc có lẽ là do vấn đề tâm lý hơn, khi tôi nghĩ về chuyện tương lai mình có mệnh hệ gì thì vợ con cũng có được một phần nào đó “an ủi” trong cuộc đời!

Loay hoay thì công việc “tỉa táo” cũng hết. Thành và anh Tế cũng sắp trở lại hãng để làm sau kỳ nghỉ “holiday”. Tôi đang suy nghĩ để đi tìm việc khác, thì một hôm Bob đến chơi và cho tôi hay Báu hôm nghỉ hè đi làm thêm ở một hãng đúc nọ, bây giờ Báu nghỉ để trở lại làm ở hãng xe Holden nên chỗ ấy trống, nếu tôi muốn làm thì Bob sẽ giới thiệu cho tôi. Tôi đồng ý. Đêm hôm sau Bob đem đến cho tôi một phong thư trong có giấy giới thiệu của Bob và kêu tôi đến hãng ấy và đưa thư của Bob cho chủ để xin việc làm.

Hãng không xa lắm nên tôi lái xe Morris lạch cạch của mình đến đó xin. Qua lá thư của Bob tôi được nhận vào làm và bắt đầu vào hai ngày sau. Đó là ngày đầu tháng giêng năm 1985 với số tiền cho biết trước là 316 đô Úc một tuần và sẽ trừ thuế là 66 đô, tức lương tôi còn được lãnh đúng là 250 đô.

 

Nguyên Thảo,

27/01/2021.

 

 

 

 

Monday, January 25, 2021

*Đúc Tượng!

 

Nhân đọc bài trên mạng

Thấy kể chuyện nghệ nhân

Bỏ ra nhiều công sức

Đúc tượng để kiếm tiền!

 

Công lao rất nhiều ngày

Việc lại làm bằng tay

Ngày này qua tháng nọ

Sao chẳng thấy phát tài!

 

Phải chi họ có phép

Đúc tượng trở nên người

Hay biến người thành tượng

Thì quả thật là hay!

 

Người như tượng dễ sai

Lại dễ đem trưng bày

Đặt đâu ngồi ngay đấy

Không mang tiếng “Tay sai”!

 

Tượng thành người mới quý

Dù chẳng có linh hồn

Nhưng điều đi không khó

Mọi sự dễ hanh thông!

 

Đồ Ngông,

26/01/2021.

 

 

 

 


Saturday, January 23, 2021

*Sang Đức. (7)

 

Hồi trước, tôi thường nghe câu “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” là “lấy cái mục đích, thành quả cuối cùng để chứng minh cho những điều mà người ta thực hiện trên con đường đạt đến mục đích”. Có người cho rằng “Trong lúc thực hiện có thể sử dụng những phương cách, biện pháp gay gắt, độc đoán, tàn nhẫn để đạt được mục đích tốt đẹp sau cùng thì người ta có thể áp dụng”. Tôi không hiểu là trên thế giới thực tế nầy đã có nơi, hay chế độ nào áp dụng cách ấy chưa, nhưng nghĩ ra nếu dùng cách đó thì sẽ có nhiều tai họa không những cho đối tượng mà cũng cho chính mình nữa. Một sự tranh đấu lâu dài sẽ diễn ra và những sự đàn áp, áp bức không cùng, triền miên… thì dù cho cứu cánh ấy có tốt đẹp như thế nào đi nữa cũng không xóa hết những hận thù! Không như trong Đạo Phật có câu: “Lấy ân báo oán oán tiêu tan, lấy oán báo oán oán chập chùng”, chân lý ấy luôn là một điều chân lý!

Theo như ở trên tôi có kể anh bạn trẻ người Kampuchia kể lại lời ba nó nhận xét về chế độ Pol Pot, tôi chỉ nghĩ về cái “bình dân của một người dân thù hận” chứ theo tôi hiểu thì khi Karl Marx và Engels “đẻ” ra Chủ Nghĩa Cộng Sản là nhằm đem lại một chế độ tốt đẹp cho loài người trong tương lai; mà ở đó không có người “bốc lột, áp bức người”. Tất cả đều được sống chung trong một Thế Giới Đại Đồng và đều được hưởng mọi nhu cầu vật chất như nhau hay đúng hơn là “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” không phân biệt giới tính, màu da, sắc tộc, quốc gia. Nhưng với “búa” tượng trưng cho giai cấp sản xuất trong nhà máy, hãng xưởng; và “liềm” tượng trưng cho giai cấp nông dân sản xuất các loại nông phẩm cần thiết cung ứng cho đời sống ấm no của con người, chứ không là những dụng cụ để áp bức, bắt người dân phải thi hành mệnh lệnh hay đường lối mà chính phủ chủ trương. Tuy nhiên, qua thời gian tôi cũng thu lượm được nhiều nhận xét, ý kiến, suy nghĩ của nhiều người lẫn bạn bè trong khi giải thích về sự thực hiện lý tưởng ấy gặp nhiều trở ngại mà không đạt được kết quả như người ta mong muốn. Mặc dù chỉ là những ý nghĩ thô thiển, có nhiều ngộ nghĩnh, nhưng chúng cũng phản ảnh lên được phần nào cái chướng ngại giới hạn cho sự thành công!

Lý tưởng nào cũng vậy, lý tưởng vẫn là lý tưởng. Lý tưởng chẳng qua là cái mà người ta suy nghĩ, dự trù, nó nằm trên lý thuyết, tất khi thực hiện trên thực tế sẽ có rất nhiều trở ngại mà người ta phải sửa đổi, rút kinh nghiệm từng lúc hay từng bước để vượt qua. Nhất là lý tưởng từ một người, hay một nhóm trong quá khứ nên khi thực hiện vào thời điểm hiện tại lại càng khó khăn hơn, vì người sau không nắm được hoàn toàn lý tưởng, phương cách thực hiện của người đi trước. Rồi lại có những hoàn cảnh, phong tục, địa lý, thời điểm khác nhau càng làm cho sự thực hiện càng trở nên khác biệt. Nhưng tựu chung người ta thường đặt vấn đề là: “Tại sao nó thất bại, không đạt được thành quả sau mấy mươi năm thực hiện? Tại sao nó không đem lại sự tự do và hạnh phúc cho con người? Tại sao nó lại không tiến hơn các xã hội khác, và tại sao nó lại sụp đổ”? Đó là những vấn đề mà người ta đặt ra và đi tìm câu giải đáp khi cho nó là chủ nghĩa ưu việt của loài người và trong tương lai!

Trong quá khứ đã có nhiều quan niệm về việc trị nước và các điều kiện cho người lãnh đạo từ việc lấy người dân làm mục tiêu hay là cho giới lãnh đạo trải qua từ thời tộc trưởng, bộ lạc cho đến thời phong kiến, lẫn các chế độ ngày nay, người ta có nhiều phương cách và suy nghĩ. Tuy nhiên với hai quan điểm “Nước giàu, dân mạnh” hay là “Dân giàu, nước mạnh” đáng được người ta quam tâm hơn.

Chuyện chính trị, điều binh khiển tướng, hay điều hành quốc gia không phải là chuyện của những người dân dã, cho nên người dân thường chỉ có những hình ảnh đơn giản để bàn chuyện vui chơi hoặc giải thích “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”!

Chuyện đầu tiên có lẽ là chuyện liên hệ đến người chơi cây cảnh hoặc bonsai: Người chơi bonsai, cây cảnh muốn cây được uốn éo, có hình thù, ý nghĩa theo ý mình nên uốn nắn, bắt cây hay nhánh phải vươn như thế này, mọc như thế kia vì thế họ gò đẽo, điều khiển một cách “tích cực” cây trở nên dị dạng, khác thường để trở nên những hình mẫu mong muốn. Những lá và nhánh vươn ra ngoài khuôn khổ đều bị “xén, cắt, o ép”, cho nên dù trong thời gian lâu dài cây ấy cũng chỉ là những cây “èo uột” của loài bonsai. Nếu chúng ta chọn cùng một cây nào đó, nửa cây theo cách tự do phát triển tự nhiên của nó, và nửa cây theo cách chơi của bonsai ta sẽ thấy sự khác biệt hoàn toàn. Một nửa bên cây sẽ phong phú, giàu mạnh, phát triển theo mọi khía cạnh, còn bên kia không thể phát triển nổi vì nó nằm trong diện của “bonsai”! Thì đối với chuyện con người, là loài có tư tưởng, suy nghĩ và thích phóng khoáng, tự do thì họ sẽ phải chọn bên nào?

Chính vì điều như vậy mà người ta có thể liên tưởng đến: Trong một xã hội mà bắt mọi người phải theo một khuôn đúc để tất cả đều giống nhau từ cách sống cho đến tư tưởng, suy nghĩ trở nên càng khó khăn. Đối với loài vật, loài thú sự thuần dưỡng còn đòi hỏi có thời gian lâu dài thì chuyện o ép con người lại càng khó vô vàn và không thể “một ngày một buổi” mà thành công. Nhưng sự kéo dài cái tình trạng “gian nan” sẽ khiến con người trở nên phản kháng và chống đối. Khi sự đàn áp, bắt buộc được thực hiện mạnh bạo thì người ta trở nên buông xuôi, không thèm chống báng nữa, cũng không cần lưu tâm và từ đó “ai làm gì mặc ai, mình làm gì thì mình làm”, “chuyện của người khác không phải là chuyện của mình”!

Thông thường, trên lý thuyết, người thực hiện kế sách luôn nghĩ đến những điều kiện thuận lợi; nhưng khi vào thực tế mới có nhiều diễn biến phức tạp nó không hoàn tất sớm theo như “ước lượng”. Sự kéo dài thời gian nhất là trong hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn lâu dài chừng nào thì lại khiến con người trở nên càng trở nên “cứng đầu và chai lì” chừng nấy! Vì họ không tìm thấy một tương lai sáng sủa, mà chỉ thấy một màn u tối ở phía trước. Điều đó tạo nên sự khác biệt giữa giới lãnh đạo và đám đông quần chúng trong suy nghĩ và tư tưởng, vì giới lãnh đạo có được nhiều ưu tiên, quyền lực để tìm lấy một cuộc sống hạnh phúc hơn cho cá nhân lẫn gia đình hay dòng họ; cho nên họ không nhìn thấy những điều mà người dân phải hứng chịu.

Đó là điều thứ nhất mà tôi đã thu lượm được để có thể “giải đáp” thắc mắc của đám chúng tôi và bạn bè về “sự khó khăn” của một chủ thuyết mới mà người ta cho là “Ưu việt” cho một chế độ trong tương lai. Còn chuyện thứ hai theo một ví dụ như sau:

Trên con đường có hàng trăm chiếc xe đang chạy tùy theo mức độ lớn nhỏ, mạnh yếu mà xe di chuyển được như thế nào. Đột nhiên trong đoàn đó, người đánh xe không hiểu suy nghĩ hay học được từ đâu được một kế hoạch cho là “hay nhất” để đưa chuyến xe tiến đến phía trước một cách “tiến bộ và sung sướng” cho mọi người trên xe, tránh được sự tranh giành chen lấn giữa những người khách. Những tài xế ấy “dừng xe” lại để bắt mọi người xuống, sắp xếp lại trật tự, rồi hành khách mới lên xe tiếp tục đi. Sự sắp xếp lại ấy chỉ vừa ý với tài xế, nhưng không vừa ý với hành khách nên sự phản đối lại xảy ra. Sự tranh cãi, phàn nàn của hành khách khiến tài xế phải dùng biện pháp trấn áp cho hành khách phải yên lặng mà thực hiện cái phương hướng của mình. Điều đó khiến hành khách lại phản đối mạnh hơn. Tài xế lấy keo bịt miệng hành khách lại, trói họ trên ghế ngồi, xong chạy một con đường khác mà họ nghĩ là con đường ngắn nhất để đạt được mục đích cho loài người. Con đường đang chạy đó càng lúc càng chông gai, dằn xốc hơn, hành khách đành yên lặng “chịu trận”. Chạy không bao lâu thì tài xế thấy đoạn đường đó không được nên phải dừng xe lại để “sửa sai”. Sự sửa sai ấy không phải một lần mà rất nhiều lần cho nhiều phương diện khác nhau, thế cho nên khi nhìn lại với những chuyến xe khác cùng đi với mình trước kia, họ đã chạy đến phía trước, bỏ xa xe mình không biết đến một độ xa như thế nào! Trong khi đó người tài xế vẫn luôn nghĩ là mình đang đưa mọi người đi trên con đường tốt và sẽ đến một nơi hạnh phúc, no ấm nhất trong sự loay hoay lãnh đạo của họ mà cỗ xe vẫn quay cuồng, chẳng đi tới đâu! Hình ảnh ấy được ví von minh chứng cho câu chuyện người ta muốn thực hiện một mô hình xã hội “tốt đẹp nhất” của loài người trong tương lai. Trong khi mình cứ “xoay vần” như một con vụ thì người khác đã đi xa vạn dậm tự bao giờ, thế mà mình cứ mãi “ca tụng”, ảo tưỏng cho chính mình cùng làm khổ cho không biết bao người đang bị dằn vặt trên cỗ xe chưa tìm được đường ra!

Chuyện về quan điểm rất quan trọng trong việc thực hiện các chế độ của thế giới Cộng Sản. Có lẽ từ kinh nghiệm ở các triều đại lịch sử đã trải qua, cho nên khi làm cuộc Cách mạng bằng bạo lực thành công, họ liền dùng bạo lực ấy để trấn áp những thành phần đối kháng, những thế lực mà họ gọi là phản động để “củng cố vững chắc” chính quyền, không để sơ hở cho các thành phần ấy phản công, giành lại theo phương châm “Thà giết lầm hơn là thả lầm”! Họ không hề tin tưởng các thành phần nào mà họ nghi ngờ, không nắm rõ lý lịch. Chính vì thế mà những con người nào dù ở các thành phần có xuất xứ chưa được cho là tốt, khó mà được trọng dụng hay đem tài năng của mình đóng góp vào sự tiến triển cho đất nước. Vì thế những con người ra làm việc hay giữ chức vụ, cũng như về sau nầy giữ các nguồn làm ăn, kinh tế thường do thân nhân hoặc người nhà của họ luôn được ưu tiên. Cho nên một xã hội thuộc về sự cai trị của gia đình, dòng họ là đương nhiên, sự thao túng là tất có ở mọi địa phương. Đường lối chủ trương từ ban đầu đã dần xa với dân chúng và người dân! Một cái điều mà người ta gọi là “Giai cấp mới” được hình thành, chỉ dành riêng cho giới lãnh đạo với gia đình, dòng họ của họ. Họ có đủ điều kiện để hưởng thụ sự sung sướng, tiền của qua quyền lực nên họ không nhìn thấy sự cùng khổ của dân chúng, hoặc là họ phớt lờ đi như là không nhìn thấy. Cũng chính ở “quan điểm” mà người ta chỉ tin tưởng, sử dụng những người thuộc thành phần được gọi là “tốt” thường có lý lịch “gia đình cách mạng” có khi cho đến ba đời. Nếu ở những cương vị nào đòi hỏi trình độ học thức mà người phụ trách không đủ khả năng, không đạt được thì sẽ được “học bổ túc” để hoàn thành tiêu chuẩn giữ chức vụ; đôi khi với quyền thế người ta có thể “thương lượng” với một tấm bằng giả ở một số tiền nào đó. Hay là ở những vị trí mà có thể “kiếm được nhiều tiền” thì sinh ra tệ nạn “mua quan bán chức” tùm lum! Cho nên với một “xã hội tiến bộ, nhân tài hàng khối” mà chẳng làm nên trò trống gì, người dân bị chìm đắm trong nghèo đói, lầm than, chỉ có giới cầm quyền là được “vinh thân, phì gia”, sống cuộc đời giàu có và sung sướng, nhưng khẩu hiệu vẫn luôn là “do dân và vì dân”! Xã hội càng ngày càng trở nên tồi tệ vì chẳng có phương tiện nào để “nói lên hay tố giác” những kẻ tham nhũng, hối lộ, hống hách, quan quyền… Không khéo lại bị “chụp mũ, gán ghép” cho những tội mà chính quyền liệt kê với những thành phần xấu. Vì thế mãi rồi “chính quyền làm gì thì chính quyền làm, coi như là mình không biết, không thấy, không dính líu” để cho được yên thân mà đi tìm phương cách sống cho bản thân và gia đình! Cho nên thiên hạ trở nên “vô tư, hay vô cảm” là chuyện bình thường chẳng có gì để lưu tâm!

Xe bắt đầu đi vào Thành phố kéo tôi trở về với những thực tại và tôi lại nhìn hai bên đường, khu phố, những con người ở đây để ngắm, quan sát cùng chụp hình hay quay phim. Đây là Thành phố Dressden thuộc vùng Đông Đức ngày trước. Thành phố không có nhiều nét mới, nhưng cũng có nhiều cây xanh giống như ở trên Berlin. Có vài nóc nhà thờ vươn lên cao với kiến trúc khá lạ lẫm, có nét đẹp riêng biệt, tôi nghe nói về kiến trúc Baroque không biết có phải là cách kiến trúc ấy hay không?

 

Nguyên Thảo,

23/01/2021.

 

 


Saturday, December 26, 2020

*Sang Đức. (6)

 

Trên đường đi nầy không hiểu sao đầu óc tôi cứ lảng vảng về cái lý thuyết của ông Marx mãi. Có lẽ do nơi dấu ấn của những người hướng dẫn đã cho tôi nhiều ý niệm để có thể kiểm chứng các điều mà tôi “được biết” khi cố gắng đi tìm hiểu về cái lý thuyết khó hiểu đó; nhưng điều quan trọng hơn cả là sự thực hành, áp dụng chủ nghĩa ấy vào thực tế, nó hoàn toàn thực sự lại khác xa những gì tốt đẹp mà mấy ông Tổ đã nghĩ ra! Hay, chỉ còn ngày hôm nay nữa là tôi sẽ đi xa cái vùng đất quan trọng, mà một thời đã mang dấu ấn “sâu đậm” của cái lý tưởng mới toanh được áp dụng vào? Tôi cũng không hiểu vì sao? Nhưng chắc chắn những cái hình ảnh của các đoàn quân Hitler trong các phim kéo trí óc tôi lại trở về, cùng với những ảnh tượng một thời khủng khiếp của Bức Tường “Ô nhục” Bá linh. Cái Bức Tường ấy tôi đã đến thăm, sờ mó được nó trong ngày hôm qua. Nó chỉ là vật vô tri hiện diện lên đó để làm chứng nhân cho những người liều mạng băng qua và phải bỏ mình, giống như chúng tôi là những người vượt biển, băng rừng qua Lào, hay Kampuchia để đào thoát. Liều chết để đi tìm tương lai cho mình và con cháu trong mai sau với sự tự do hít thở khí trời!

Tôi nhìn theo những chiếc quạt gió lấy điện cao ngất cùng những luồng dây điện cao thế chạy dài, băng qua các cánh đồng mênh mông trong ánh nắng chói chang, rồi tôi lại chìm vào những thắc mắc cố hữu của cái hậu quả “thối lùi” trong sự thực hiện cái chủ nghĩa mà người ta cho rằng ưu việt nhất loài người! Không phải riêng tôi, mà bạn bè tôi cũng như bao nhiêu người khác lẫn người dân thường nghèo đói cũng đều nhìn thấy như vậy! Nhất là những người trí thức họ lại hỏi nhau: “Sao lại là như thế nhỉ”? Tôi nhớ trước kia, trong thời gian chiến tranh chế độ trước phân tích, cho hay những điều xảy ra là như thế, hay do những người từ ngoài Bắc đi vào kể lại không mấy ai tin, người ta chỉ cho là họ nói quá đáng hay là tuyên truyền, bôi xấu, chứ làm gì có chuyện đó! Đến khi những người từ trên Lộc Ninh băng rừng chạy về trại tiếp cư cho biết, người ta vẫn bảo rằng: “Không thể”! Rồi ngày Thống Nhất đến, người ta vui mừng vì chiến tranh đã chấm dứt, lòng người rộn rã, sẽ cùng nhau xây dựng lại quê hương. Chuẩn bị cho một cuộc sống tự do và hạnh phúc! Nhưng không, tất cả hình như đều ngược lại! Sau khi càn quét quân nhân, cán chính của chế độ trước vào những tại tập trung cải tạo chính trị; thì tới tịch thu mọi sách báo, tác phẩm văn hóa được gọi là đồi trụy, phản động, tàn dư của chế độ cũ; rồi tới đổi tiền mỗi gia đình chỉ được một số ít chừng vài trăm đồng để chi phí, sử dụng. Mọi người tùy theo lứa tuổi, thành phần, nghề nghiệp phải tham gia vào các tổ chức, đoàn thể sinh hoạt và kiểm soát lấy nhau cùng học tập chính trị. Ngay lúc đó thì mọi người dân đều bàng hoàng cẩn thận cho chính mình về tư tưởng, lời nói, cùng đề phòng với tất cả những người chung quanh, không dám phát ngôn bừa bãi ngay với cả con mình. Rồi, người ta cũng hiểu được thế nào là cái giá trị của một chiếc xe đạp, một cái đồng hồ và một cái đài (radio) là do đâu? Trong sự nhốn nháo, phong trào thủy lợi được vận động xây dựng tràn lan ở khắp nơi, tốn biết bao tiền của, công sức, để rồi về sau bỏ đi và trở lại nguyên trạng lúc trước. Với tình hình ban đầu ai cũng tưởng rằng ở chế độ mới sẽ có nhiều điều tốt đẹp hơn ngày trước theo tiêu chí “Cách mạng là thay cũ đổi mới, mà cái mới tốt và đẹp hơn cái cũ”, nhưng không là như vậy! Cuộc sống của người dân càng ngày càng khó khăn hơn! Rồi với sự đánh “Tư sản mại bản”, quản lý thuộc về nhà nước các nhà máy thiếu thốn nguyên liệu đành phải ngưng trệ, “Cải tạo công thương nghiệp” kéo dài người dân khan hiếm nguồn hàng hóa, hàng có sẵn thì bị kiểm kê khiến khó có thể mua được để xài. Sau đó, xe cộ lại phải vào công tư hợp doanh hoặc xe tập hợp vào công ty vận tải không thể chạy tự do như ngày xưa, cho nên sự vận chuyển bị giới hạn, đôi khi trở nên bế tắc. Các chất đốt được phân phối theo tiêu chuẩn vì thế đưa đến sự thiếu thốn so với nhu cầu, cho nên các rừng bị người dân càn quét dù nó chỉ là rừng chồi. Sự ăn cắp gỗ để chế biến hoặc sinh nhai từ các khu rừng đến bây giờ hãy còn ấy là nạn “lâm tặc” vậy! Đó là chưa kể đến những kế hoạch quản lý to tát như ngân hàng, đất đai, phân phối, giáo dục, thông tin, tuyên truyền,... đều là độc quyền nhà nước! Nhưng, cái đặc trưng nhất trong chế độ mới là sự quản lý người dân theo “hộ khẩu”. Sự độc đáo của nó là mỗi gia đình có một quyển sổ để qua đó người dân được mua hàng, phân phối theo tiêu chuẩn cho mỗi thời kỳ hay mỗi tháng tùy theo thành phần, chức vụ. Đến ngày có món hàng hay vài món gì đó được cơ quan phụ trách phân phối thì người ta phải cầm sổ sắp hàng để được mua, chính vì thế mà chữ tắt XHCN được dân gian đọc trại thành “Xếp Hàng Cả Ngày” mới mua được hàng! Hàng phân phối đâu không thấy mà có địa phương thiếu món nầy thì nơi khác thừa ra bán không được, cho nên dân chúng đành di chuyển bằng phương tiện thô sơ thuở trước như xe đạp để “buôn bán lậu” vừa kiếm tiền sinh sống, vừa phân phối cho bà con, người cần; rủi bị khám xét hay bị bắt thì lo lót chút đỉnh để trót lọt, sự “lo lót, hối lộ” ấy tùy theo mức độ lớn nhỏ, sau nầy trở thành “thủ tục đầu tiên”, “biết điều”, “bao thư” khắp mọi nơi; rồi người có quyền thế thì “đòi hỏi”, người có nhu cầu “đáp ứng” bằng cách “quà tặng”, quà do em nuôi, bà con, bạn bè “biếu” ấy mà! Tình huống ấy đã đánh bại được một đạo quân được xem là hùng mạnh và liêm chính của thuở ban đầu! Có chuyện vui kể về chuyện sổ hộ khẩu: Người ta kể lại rằng: Vì nhu yếu phẩm phân phối theo tiêu chuẩn hộ khẩu nên bà con không thể thăm viếng nhau được, vì đến thăm mà ở lại vài ngày thì lại ăn vào phần nhu yếu phẩm của gia đình ấy nên việc thăm viếng nhau không được như xưa; hoặc lấy xăng dầu đâu mà đi xa, vì vậy dù ông nhà nước không cấm thì người ta cũng không đi được. Thêm nữa, mọi thứ ông nhà nước kiểm soát, quản lý, phân phối (bao cấp) khiến đời sống dân chúng càng ngày càng thiếu thốn, khó khăn thêm làm cho nhiều người trở nên túng cùng “sanh đạo tặc” đi trộm, cướp. Dân “bắt được” giao cho chính quyền địa phương, địa phương không có “tiêu chuẩn” để nuôi, vậy người bắt phải nuôi, cho ăn. “Ăn cắp” được thì quen tay, “ở tù” mãi cũng “chai lì” nên chuyện “ăn cắp, cướp giựt, cướp của gết người” trở nên tràn lan không có gì là lạ! Tâm tính con người cũng thay đổi khá nhiều trong thời kỳ nầy, người làm thì ù lì, nhởn nhơ để người trên không dám giao công tác theo cách “né tránh”: “Làm nhiều mới bị sai nhiều, sai nhiều mới bị chửi, kiểm điểm nhiều. Không làm không sai thì lấy gì bị chửi”. Cái hiện tượng “tiêu cực” ấy nhen nhóm càng ngày càng nhiều, đã thế mà người ta dùng mưu mẹo, lấy cớ để dành nhau về vài món nhu yếu cần thiết. Có một lần anh chồng chị bạn là một người có chức vụ trong một ngành nọ nói với tôi: “Xin lỗi thầy giáo nhe, nói thật chứ trong xã hội có ngành nghề nào thì nghề giáo mấy ông đều có cả”! Tôi cảm thấy hơi đau lòng, nhưng thực sự là như thế, tôi đã từng nghe chuyện “bán trôn nuôi miệng”, hay nhiều chuyện khác lâu rồi; đạo đức con người giữ được hay không tùy theo hoàn cảnh, không ai trách được bao giờ! Trong hoàn cảnh tình huống xã hội như vậy, người ta mất phương hướng khá nhiều, rồi sầu đời hướng về ăn nhậu, không nhìn thấy được tương lai không phải là ít!

Thả hồn theo tư tưởng, hồi ức xa xăm trải dài trên những cánh đồng mênh mông trong nắng mai. Tôi chợt khựng lại với những rừng cây ven theo đường. Thông trồng san sát vào nhau như để cho nó vượt lên, không nhiều nhánh để lấy gỗ sau một thời gian nào đó, như nhiều nơi đã làm trong việc trồng cây xanh bảo vệ môi trường. Thỉnh thoảng có nơi người ta đang khai thác ở một vài khu vực. Rồi xe lại đi ra các khoảng rộng mênh mông cánh đồng. Tôi lại nhớ về các Hợp Tác Xã nông nghiệp được tổ chức sau ngày Thống Nhất.

Không biết chuyện các Nông Trường hay Hợp Tác Xã ở Liên Xô và kể cả Đông Âu nầy được tổ chức ra sao và có nhiều khó khăn không? Nhưng theo tôi nghĩ là không khó mấy vì đất liền mênh mông như thế nầy thì số người chủ vào Hợp Tác Xã sẽ không nhiều, và có thể sử dụng đến cơ giới, máy móc tất nó không phải ép buộc lắm người ta mới vào. Mà nếu họ chống lại thì sự truất hữu cũng không là chuyện lớn, hay gây khó khăn lắm cho ông nhà nước. Tôi không biết chuyện đất đai ở ngoài Bắc sau năm 1954 ra sao, nhưng chuyện Cải Cách Ruộng Đất đã là dư âm còn vương lại rất nhiều cho những thời gian sau. Khác với những Hợp Tác Xã ngành nghề, Hợp Tác Xã nông nghiệp có nhiều nhiêu khê. Nếu Hợp Tác Xã đan đát hay vài ngành khác thu hút được nhân sự khá dễ dàng, thì Hợp Tác Xã nông nghiệp trở nên khó khăn vì người nông dân không muốn đem ruộng đưa vào, để rồi mình phải đi làm theo tiếng “kẻng” và chấm công. Nếu bị bắt buộc thì người ta chỉ làm có lệ, thành quả tệ hơn nhiều, rốt cuộc chẳng đi tới đâu; càng làm càng tệ hơn, nền kinh tế thêm lụn bại, nạn sâu rầy tàn phá mùa màng vì không đủ thuốc trị, nên nạn đói thêm hoành hành. Người dân mạnh ai nấy lo cho bản thân và gia đình. Trộm cắp tràn lan, con người trở nên lì lợm, tới đâu thì tới. Cua cá trên đồng ruộng bị “quần thảo” đến đỗi chúng không sinh sản kịp cho nhu cầu! Trên đường người dân đi buôn lậu “nhỏ” thật nhiều và “tiền qua đường” càng lúc càng tăng! Trong bối cảnh chung như vậy, tôi lại nhìn về lý thuyết mà ông Marx đã phát họa thì dù có “lạc quan Cách Mạng” cách mấy đi nữa, thì xã hội trong tương lai vẫn có nhiều chứng tật khó mà chữa nỗi, vì nó đã đánh thức “bản năng sinh tồn thú tính con người” trỗi dậy! Hơn nữa, có lẽ vì muốn đẩy nhanh giai đoạn “giáo dục” tư tưởng mới cho người dân, những cuộc họp, học tập “điều tốt đẹp” của thể chế liên tục được tổ chức tuyên truyền; nhưng lại đang trong giai đoạn tồi tệ nhất của nền kinh tế, nên người dân dần không tin tưởng. Thế rồi các buổi họp người thưa dần, không kết quả, đưa đến tình trạng chung “chống không chống, theo chẳng theo”, “nhà nước nói gì thì nhà nước nói, nhà nước làm gì thì nhà nước làm” dân không màng đến nữa, họ chỉ lo sinh hoạt tìm phương cách sống, kiếm ăn: Đúng là dân “đã bất hợp tác” với chính quyền. Cái câu “Dễ vạn lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” quả lại đúng thêm một lần nữa!

Nếu tôi nhớ không lầm thì trong lý thuyết có cảnh báo bằng câu: “Xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa không khéo thì chỉ kéo dài thêm thời gian khốn khó cho toàn xã hội” thì phải? Nhưng có một điều chắc chắn là lý thuyết của Marx nói đến cuộc Cách Mạng bạo lực xảy ra khi Giai cấp Công Nhân kết hợp với Nông Dân nghèo đói đứng lên lật đổ giới chủ và địa chủ, khi đó giới chủ chỉ là thiểu số, cho nên vấn đề “dùng Bạo Lực Cách Mạng” đè bẹp, trấn áp cho thành phần đó không thể ngóc dầu lên nỗi để chúng không có cơ hội khôi phục lại quyền thế, mà lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ. Tuy nhiên cho đến nay với thời gian lâu dài, tiếng nói phản kháng của người dân luôn là những vấn đề “bị dập tắt, không được lưu tâm”, và mãi là “phản động, âm mưu lật đổ chính quyền, là thế lực thù địch, là do sự giật dây của ngoại bang”! Marx đâu có chủ trương chống lại với mọi người dân, mà chỉ “dùng bạo lực Cách mạng trấn áp với những thành phần phản động, culag cơ mà”. Đồng thời, khuyến khích hai giai cấp công nhân và nông dân thi đua sản xuất nhiều thành phẩm, nhu yếu cung ứng cho toàn xã hội để mọi người được “ăn no, mặc ấm” trước tiên, rồi sau đó là “Ăn ngon, mặc đẹp”, chứ đâu xem nhân dân là kẻ thù! Với quyền thế “độc tôn” trong tay, con người dễ sinh ra “hống hách, lạm quyền”, dễ đưa đến nạn kiêu binh, quyền thế, cấu kết nhau tham nhũng, cùng bao che cho nhau… được đan kết, lũng đoạn ở cả một xã hội không có gì là để phanh phui, ngăn cản!

Tôi thẫn thờ với những hình ảnh không tươi sáng của một thời kỳ quá khứ, trong đó tôi được trải qua chút ít, chẳng nhiều. Do biết thân phận mình mà tôi cố gắng xa lìa để tìm lấy tương lai cho đàn con và gia đình. Rồi đến nay, những ngày nầy tôi được đi trên các phần đất tiên phong và là cái nôi thực hiện của Chủ Nghĩa Marx- Lénin, và được nghe phần nào về kết quả của nó. Như vậy là sau khoảng 70 năm thực hiện “gay gắt” để rồi chỉ trong thời gian ngắn bị sụp đổ nhanh chóng, cái còn lại là một nền kinh tế “lẹt đẹt” đi phía sau của nhiều nước trên thế giới! Cùng với “sự sợ hãi chế độ”, người dân, họ không muốn quay trở lại những ngày gian nan, khốn khổ thời xưa cũ. Do vậy từ Nga sang Đức người ta không đưa chúng tôi đến những nơi tưởng niệm Karl Marx, Engels, Lénin, Stalin hay những lãnh tụ của Đông Đức một thời, mà chỉ là Bức Tường Bá Linh “ô nhục”, nơi mà người Đông Bá Linh muốn đào thoát sang phần đất bên kia để có cuộc sống khác hơn là cái Thiên Đàng ở phía Đông!

Rồi tôi lại chợt nhớ về trong khóa học Tiếng Anh của những ngày đầu định cư trên đất Úc, khi học chung với một bạn trẻ người Kampuchia, hắn nhắc lại lời ba hắn kể khi thoát khỏi lực lượng Pol Pot cho biết là Pol Pot giết rất nhiều người mà không cần dùng đến súng đạn, đôi khi chỉ với búa và liềm. Quả thật, trong khoảng thời gian ấy đã có phim “Killing field” trình chiếu trên truyền hình, cũng như là video được phổ biến khá rộng rải. Phim đề cập đến chính quyền Pol Pot thực hiện chế độ Cộng Sản lên đất nước và dân tộc Kampuchia một cách tàn khốc, đến đỗi thế giới xem đó là một chế độ diệt chủng với nhiều triệu người dân bị sát hại!

 

Nguyên Thảo,

21/12/2020.

 

 

 


Wednesday, December 16, 2020

*Quê Người! (38)

 

Rồi vào mấy ngày kế tiếp, tôi, Đức và Xoan vẫn tiếp tục công việc đều đặn. Xoan lái xe rước tôi cùng Đức cứ mỗi sáng từ lúc 5 giờ 45 để đi làm. Giờ làm từ 7 giờ sáng, dù tháng nầy trời tương đối nắng ấm, nhưng trên vùng đồi núi vào buổi sáng vẫn lạnh lẽo cho đến khi mặt trời lên cao hẳn. Một chiều trên đường về, xe vừa quẹo ngã ba, lên dốc, vụt có chiếc xe ngược chiều tại khúc quanh khiến Xoan vội vàng lấy tay lái lại. Xe trườn vào lề đường sỏi khiến mất thăng bằng, Xoan lật đật quay nhanh tay lái, xe lấn sang lề đường phía bên kia. Xoan lại quay nhanh tay lái sang phải lần nữa, cũng may xe nằm gọn trong đường nhựa, giữ được thăng bằng làm chúng tôi hú hồn. Từ đó tôi thường hay nhắc chừng Xoan cẩn thận hơn. Sang ngày hôm sau, sau khi đi làm về, Trọng nói với tôi là con Phượng, vợ thằng Đức có ý muốn cho thằng Đức nghỉ, nhưng chắc tới lãnh tiền xong thì thằng Đức sẽ nghỉ. Tôi yên lặng một chút không nói gì, Xoan lái xe có nhiều nguy hiểm nhưng mới đi làm, thôi thì để tính sao. Ngày kế thì cũng bình thường, không có gì để nói. Chúng tôi vẫn làm vui vẻ, ngày ấy ông chủ bảo chúng tôi sang khu vực khác phía bên kia đồi để hái trái cherry. Ông phát cho mỗi đứa một cái thùng có quay đeo trước ngực rồi đi với thằng Úc người làm chính của ông. Tới nơi, thằng Úc chỉ cho chúng tôi cách hái như thế nào cho đúng, rồi mạnh ai nấy hái. Thằng Úc nầy cũng thích nói chuyện, cứ mỗi lần nó nói thì nó lại ngưng tay, tôi mới nhớ hôm trước Trọng căn dặn và nêu lý do là tại sao tụi Úc nó không thích mình nói chuyện nhiều trong khi làm, bởi lẽ tụi nó khi làm mà nói chuyện thì nó lại ngừng tay để nghe cho rõ có lẽ do ngôn ngữ đa âm mà thường tụi nó lại nói không to; còn với người mình tiếng nói đơn âm mà to nữa nên không ảnh hưởng mấy đến việc nghe với việc làm. Tuy nhiên do tiếng Anh người mình không giỏi, nên thường nói chuyện với nhau bằng Tiếng Việt khiến người Úc không thích mấy vì họ không hiểu mình nói gì, đôi khi nó tưởng mình nói về nó, nếu mình cười nữa thì họ sinh nghi mình châm biếm về họ. Điều đó chúng tôi có thấy những lần Bob hay Joeff đến chơi, nhưng họ cũng không tỏ vẽ phiền hà vì biết trình độ Tiếng Anh của chúng tôi chưa đủ để đàm thoại. Nhiều lúc nói chuyện Tiếng Việt với nhau trước người Úc tôi lại thấy hơi kỳ kỳ, nhưng mình không thể làm khác hơn được. Có một lần, hồi đi học dưới Sài Gòn, khi tôi đi trên đường Nguyễn Trải từ trong Chợ Lớn ra, giữa chừng đột nhiên mưa to nên phải vội vàng tắp vào hàng hiên của một dãy phố tránh mưa. Cùng lúc có một đám trẻ choai choai người Tàu cũng chun vào đục mưa. Ôi tụi nó nói chuyện rất ồn ào bằng Tiếng Quảng Đông, nghe mà nhức đầu. Thỉnh thoảng làm như bí quá chúng lại thốt lên những tiếng “chửi thề” bằng Tiếng Việt. Trong lòng tôi có nhiều bực mình, nhưng nghĩ lại cũng khá tức cười. Rồi có thể bây giờ biết đâu mình lại gây cho người khác cảm giác như vậy khi mình lang thang trên xứ người! Giống như tôi đã kể có một lần trên xe buýt Hiệp và Kim nói chuyện lớn tiếng khiến một người Úc say tiến đến làm dữ và thốt lên “Mầy phải nói bằng Tiếng Anh”!

Rồi lại thêm một sáng, trên đường lên đến gần nơi chỗ làm, ngay chỗ đoạn cua quanh của ngã ba, Xoan quẹo nhanh về tay phải khi qua cua, vì khúc quanh khá “gắt” khiến xe muốn đâm vào trong nhà người ta làm Xoan lật đật quay nhanh tay lái, xe lại đâm sang lề bên kia rồi len giữa hai cây bên đường lọt xuống phía dưới sâu khoảng một thước. Chúng tôi xuống xe xem có hư gì không, thì ra xe len giữa hai cây to, húc văng tảng đá lớn rồi lọt ở nơi nầy. Xoan mở nắp “cạc bô”, rồi mở nắp bình nước. Nước nóng phụt văng vòi lên. Xoan lại lấy nước uống chế vào! Cũng may là xe và chúng tôi không có gì, mà xe lại quay về hướng đi lên. Chúng tôi tiếp tục lên chỗ làm. Làm đến khoảng 11 giờ, Xoan đòi đi về, nói là bữa nay khoảng 3 giờ phải đi thi, thì ra Xoan chưa có bằng lái xe. Hôm nay Xoan đi thi bằng P. Chúng tôi xin ông chủ đi về mai lên làm!

Chiều về tôi kể lại cho Trọng, Thành, chị Yến nghe. Ai cũng thấy nguy hiểm. Trọng nói “Hên cho tụi bây đó, may là không có gì, nhất là xe không hư máy, vì khi nước hết, máy xe đang nóng mà đổ nước lạnh vào có khi máy xe bị nứt thì hết xài, phải thay máy khác. Chẳng có gì là tụi bây hên lắm đó”!

Sáng hôm sau, Xoan đến nhà rước tôi đi, nhưng lại là một xe khác. Người lái là Anh Tân, không có Đức. Anh Tân là anh vợ của Xoan thay Đức đi làm, Đức đã nghỉ. Anh Tân chở chúng tôi và chúng tôi trả tiền xăng phụ anh. Đức nghỉ, người nói Tiếng Anh chính bây giờ là tôi. Tôi phải mạnh dạn và nói “đại” lên dù là đúng hay không đúng “văn phạm”. Cái chính là phải nghe được nghĩa của câu hỏi, rồi mới tìm chữ để ráp câu trả lời sau. Nếu câu trả lời của mình mà người ta không hiểu thì tìm cách diễn tả khác để trả lời. Tôi lại nghĩ về nhưng người Kampuchia hay người Tàu cũng đã ở lâu năm trên đất Việt Nam, họ cũng không nói rành Tiếng Việt, thì bây giờ tôi cũng giống như họ thôi, vì Tiếng Anh không là ngôn ngữ của mình thì mình làm sao giỏi được dù tôi có học chút ít khi còn học ở bậc Trung học, nhưng nó chỉ là “sinh ngữ 2”, và qua vài tháng trong trường ở xứ sở nầy; nhất là tôi lại không có khiếu về chuyện học ngoại ngữ, cùng với trí nhớ rất ư là “tồi tệ”! Làm trong ngày thì mới biết là hôm qua khi Xoan về đến nhà, tắm rửa soạn xe đi thi khi đến ngay bùng binh gần nhà lại đụng vào xe kéo của ông già Úc nào đó, xe Xoan đã bị hư, nhưng sau đó nhờ anh Tân chở đi thi và Xoan đã đậu được bằng P, tức là bằng được lái xe chính thức, chứ không là lái lậu như trước kia! Từ đó, anh Tân cùng đi làm và chở tôi, Xoan đi theo, tất nhiên là chúng tôi cũng trả chi phí cho anh mỗi ngày cũng như bao nhiêu người khác đi làm trên vùng đồi núi nầy. Anh Tân đã từng đi làm vài nơi nên anh đã rõ đường đi và lái xe vững vàng hơn, tôi thấy tương đối yên tâm trong lòng, không còn phập phồng như lúc Xoan lái, chắc do từ nơi tính tình của mỗi con người.

Một chiều tối sau bữa ăn Trọng cùng chúng tôi ngồi bàn chuyện với nhau, thì Trọng cho biết đã gặp Phượng, Phượng cho hay là Xoan lái xe nguy hiểm quá nên không đồng ý cho Đức đi làm nữa, và để đi tìm việc khác. Rồi sau đó, Trọng đưa ý kiến là mình nên vào bảo hiểm AMP, tức là bảo hiểm nhân thọ thì tốt hơn, Trọng nói sơ qua về những điều nó được nghe kể về loại bảo hiểm nầy và nó nói: “Mình cũng nên dành chút ít mỗi tháng đóng vào bảo hiểm đó để phòng hờ, rủi mình có chuyện gì thì gia đình còn nhờ vả vào số tiền bồi thường mạng sống khi mình không may”! Tôi, Thành, chị Yến đồng tình với ý kiến của nó. Trọng cho hay nếu như vậy để hôm nào nó hẹn với anh Lâm, nhân viên người Việt đại diện cho AMP đến đến để hỏi thăm chi tiết rồi sẽ quyết định.

Tối nằm, tôi suy nghĩ điều đóng tiền vào “bảo hiểm nhân thọ AMP là điều hợp lý, và khiến cho tôi yên tâm hơn. Vì trong cuộc đời, không ai biết trước được điều gì sẽ xảy ra với mình. Trên bước đường vượt biên tôi đã may mắn đi chỉ một lần trót lọt, không bị bắt, không phải chết trên biển, và gặp nguy hiểm như rất nhiều người khác, tôi tin vào “số mệnh”! Nhưng khi nghĩ về vợ con thì tôi lại thấy “chạnh lòng”! Sự ra đi của tôi khiến họ lâm vào vào nhiều tình huống không dễ xoay sở, nhất là vấn đề kinh tế “nghèo đói, muôn vàn khó khăn” khi đất nước tổ chức theo cơ chế Xã hội Chủ nghĩa của chế độ Cộng Sản: Một là mất đi vai trò đóng góp của tôi trong gia đình, hai là lý lịch lại đè nặng trên tương lai của các con tôi. Tôi đã từng chứng kiến để hiểu sự “trả thù giai cấp” của chính quyền mới trên những người làm việc trong chế độ cũ lẫn con cái của họ. Trong đó vợ chồng tôi thuộc thành phần nhẹ vì tôi không có đi lính cũng như không có cương vị quan trọng nào mà chỉ là những giáo viên quèn dạy học, nhưng dù gì thì các con tôi cũng khó mà tiến thân hơn cho đến mấy đời sau vì tính theo “chuỗi lý lịch ba đời” của người Cộng Sản. Chính vì thế mà tôi đã quyết tâm chọn con đường “rời xa quê hương, và để đất nước lại dành riêng cho người Cộng Sản” khi nào có dịp!

Tôi lại nghĩ đến những lần bệnh hoạn trên con đường “lưu vong”, tôi đã cố gắng vượt qua để bảo tồn mạng sống của mình mà hoàn thành nhiệm vụ vượt biên: “Bảo lãnh vợ con ra khỏi Việt Nam, ra khỏi cái khung trời ngột ngạt, đầy phân biệt đối xử vì giai cấp”! Nhưng trong những khoảng thời gian chờ đợi nầy nếu thình lình tôi chết đi thì sao? Không phải đến bây giờ tôi mới nghĩ đến điều đó, mà khi bắt đầu cho chuyến đi tôi đã có bàn và nghĩ đến khi tôi từ giã vợ tôi. Tuy nhiên, khi chuyến vượt biển thành công thì sự “bảo vệ tính mạng” của mình lại cần thiết hơn nhiều, vì đó mới chính là “điều cần thiết” để tôi hoàn thành sự cam kết của tôi với gia đình! Có nhiều người không chết trên biển, lại chết trên đảo tị nạn; rồi lại có người khi được định cư trên quê người thì lại chết hoặc vì bệnh hay vì tai nạn xe cộ. Tôi không biết số phận mình ra sao? Và kéo theo vợ, con thế nào? Thôi thì “tới đâu hay tới đó”! Từ đó, tôi thấy sự tham gia vào bảo hiểm nhân thọ AMP như là sự an ủi sau cùng cho vợ con tôi, nếu “một mai tôi không còn sống sót” nhất là trong vấn đề giao thông rất có nhiều rủi ro như chúng tôi có đôi lần trải qua!

Công việc của anh Tân, Xoan và tôi vẫn tiến hành đều đặn được khoảng hơn tuần thì anh Tân có chuyện gì đó cho chúng tôi hay là anh sẽ nghỉ để đi làm chuyện khác và sẽ có anh bạn thay anh. Đó là anh Sơn. Thực ra chuyện làm ở trên farm hay rẫy chỉ là những công việc tạm thời, ngắn hạn để mọi người lo kiếm tiền trong thời gian nào đó, rồi người ta cũng phải tìm kiếm một công việc cố định suốt trong năm, hay thích hợp hơn mà chọn lấy để củng cố tương lai cho họ và gia đình, nhất là sau khi họ được vay tiền để mua căn nhà làm “tổ ấm” cho gia đình theo như trong tục ngữ, ca dao của mình đã có câu “an cư mới lạc nghiệp”! Chuyện đi xin việc ở các hãng cũng không là chuyện dễ vì nó đòi hỏi có nhiều nhân tố và may mắn: Trước hết là sức vóc, tuổi tác, trình độ Tiếng Anh, lại thêm đúng thời gian nữa. Nếu còn trẻ thì có nhiều cơ hội, tiếng Anh khá cũng dễ được chọn hơn, nhưng lại đến xin không đúng thời gian nó cần người thì cũng như không “Đi không lại phải về không” giống như tôi và Thông, hay với Kim đã có vài lần lặn lội xa xôi, thức sớm, đến nơi chỉ nghe có câu trả lời “Không có việc trong lúc nầy”, thế thôi! Do đó, đa số người mình cũng như nhiều di dân khác bước đầu lập nghiệp đều bắt đầu bằng công việc dễ nhất là dùng sức mình để đi làm công, hay tiếng gọi nôm na là “làm mướn” vậy!

 

Nguyên Thảo,

16/12/2020.