Friday, December 29, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (25)


Vì trường nằm trong một xã cũng tương đối là hẻo lánh, dù nó không bị ảnh hưởng từ những biến động tình hình ở Thành Phố hay Tỉnh, nhưng nó cũng không thể không ảnh hưởng theo tình trạng mất an ninh của khu vực. Do vậy vào một ngày nọ, tôi vừa đến trường thì gặp ngay To ngồi trên băng đá đầu của hàng điệp Tây phía ngoài cổng. To kêu tôi lại và nói: “Đừng vô”. Tôi không biết chuyện gì thì nó vội nói: “Đừng vô, ở trổng có kẹo đó”! Thì ra trong lớp học có truyền đơn được ngụy trang giống như những cục kẹo dừa, nên tôi dựng xe đạp rồi ngồi trò chuyện với nó, đợi cho lính dân vệ ngoài đồn vào thu hết những viên kẹo đó thì chúng tôi mới vào. Trong giờ ra chơi, Khiêm nói với tôi: “Hồi sáng tao vô sớm lắm, nhưng tao đâu thấy có gì đâu, rồi tao ra ngoài thì một chút lại nghe tụi nó nói có kẹo, không lẽ…”, rồi nó ngưng ngang không nói nữa, làm tôi cũng chẳng biết ra sao? Thôi thì, dù gì thì chuyện cũng êm xuôi rồi, buổi học vẫn được tiếp tục dù hơi trễ một chút. Mấy Thầy Cô ra vẽ có chiều ái ngại vì đây là lần đầu tiên trường xảy ra trường hợp nầy! Nói chung lại tình hình nhiều năm nay vẫn đều đều như vậy, đất nước trong thời buổi chiến tranh mà. Bên nào cũng ra sức tuyên truyền để giành phần “chính nghĩa” về mình. Và sự xung đột trên chiến trường càng ngày càng nhiều và tăng tiến hơn thêm, xui rủi ai thì nấy chịu thôi, chứ biết làm sao hơn. Mọi sự sinh hoạt vẫn tiếp tục sau các biến cố dù là nhỏ hay lớn.

Trong năm nầy tôi lên ở chung với Ông Nội, vì Ông Nội ở chỉ có một mình sau khi chị Nhiếm, con Bác Tư đi may ở ngoài sông phía nhà Cô Ba thuộc Dư Khánh xã Phước Thành gần Tân Ba. Ông Nội thích chơi kiểng như nhiều người già khác cũng như Ông Hai ở bên kia đường. Ngoài kiểng ra, ông lại hay về suối cái ngoài khu nhà cũ ở Phước Lương câu cá lăng để nấu canh chua lá giang, đó là sở thích của ông. Vì ông già cả nên chuyện đi lại của ông không bị ai làm khó dễ dù là lính bên nầy hay người của bên kia bởi ông đi thăm ruộng luôn mà! Tôi cũng phải nhiều lần đạp xe đạp lên chợ Thủ mua cá lòng tong về để ông làm mồi câu cá. Ở với Ông, tôi mới hiểu được vài tâm trạng của người già khi họ trở về già. Ông Nội thường hay ngủ sớm, thường là cỡ chừng 9 giờ là ông đi ngủ rồi, nhưng khoảng 3 giờ sáng là ông đã thức dậy, nấu nước pha trà ngồi uống một mình. Nhưng hồi lâu sau thì ông Bảy kế bên cũng thức dậy sang chơi; sau đó thì ông Hai của tôi ở bên kia đường cũng sang, mấy ông ngồi nói chuyện đời xưa, kể chuyện xưa cũ đâu trong thời còn trẻ mà mấy ông từng chứng kiến. Có hôm có Dưọng Hai Đố nhà kế bên sang nữa. Từ đó tôi mới hiểu người già thường ngủ rất ít, ngủ sớm dậy sớm, ngồi để ôn lại những chuyện trong quá khứ mà họ trải qua. Trong khoảng thời gian nầy, nhà cửa đều dồn vào trong Ấp Chiến Lược, nhưng vòng bao chưa có nên chuyện an ninh cũng chưa là chắc chắn lắm, do đó chuyện cửa nẽo còn cẩn thận hơn. Một hôm, tôi vừa mở cửa sau ra ngoài làm ít công việc, khi trở vào bỗng có một chú du kích nào đó dã lẻn vô nhà hồi nào rồi. Chú ngồi nói chuyện với tôi, chú cho biết theo vai thứ tôi kêu chú bằng chú. Nói chuyện với tôi một chút thì chú cứ đến bên mấy tấm bảng vách che lên thay mấy cánh cửa và thò súng qua khe hở chỉa lên vọng gác của cái tha la (vọng gác xây cao lên, để quan sát được xa) cao trong xã như muốn nhắm bắn lính trên đó. Tôi hoảng hồn năn nỉ chú, nhưng chú không nói gì mà chú cứ mãi làm như vậy nhiều lần. Tôi càng năn nỉ chú nhiều hơn. Cuối cùng chắc thấy không có cơ hội để bắn tỉa được nên chú đành bỏ đi. Từ đó tôi không dám hớ hênh về cửa nẻo nữa, nhất là cánh cửa phía sau. Ngày ấy mà chú chỉ cần bắn vài tiếng súng lên tha la thì có lẽ tôi sẽ bị bắt, bị tra tấn và đi tù, không còn là một đứa học trò nữa và chẳng biết tương lai mình sẽ thế nào.

Đường đi học thì trống trải tương đối an ninh, nhưng vào một buổi sáng nọ khi đến đầu dốc vườn Bà Đôn kế sân bay có một nhóm người du kích đón mọi học sinh đi đến đứng lại và giao cho mỗi đứa hoặc là cờ xanh, đỏ với sao vàng hoặc tờ truyền đơn, nhưng tất cả vừa ra khỏi khu vực đến sân bay đều bỏ hết không dám mang theo trong mình, khéo mà mang họa vào thân. Làm học trò trong một đất nước chiến tranh thường phải trải qua hoàn cảnh như vậy mà mình không thể nào tránh được, nhất là hai phe đang quyết liệt để tranh hơn thua, bắn giết lẫn nhau. Và rồi theo cái tình hình không ổn định ở Sài Gòn thì tình hình chiến sự, hoạt động của bên trong cũng tăng dần theo. Vào một đêm nọ có tiếng nổ lớn, rồi sau đó có tiếng kèn cùng súng nổ lên dữ dội, tôi với Ông Nội chun xuống hầm núp đạn, bom. Sáng ra mới biết là bên trong đã tấn công vào đồn, có một nhóm khói còn tỏa lên. Cái tha la bị bắn thủng một lổ lớn ở chỗ lỗ châu mai khoảng giữa chừng. Coi như là đồn đã bị phá tình hình an ninh ở xã bây giờ coi như là không được ổn định. Tùy mỗi gia đình mà người ta quyết định đi đâu và như thế nào. Từ đây có nhiều gia đình bỏ sang Biên Hòa, ở những vùng yên ổn; hay họ dời lên trên Bình Dương, khai phá vùng đất dọc hai bên đường từ gần Ngã Ba Cây Sao Quỳ trở xuống gần Nhà Thương mà cất nhà để cuộc sống được bình yên hơn. Tuy vậy họ vẫn đi về trong Tân Khánh. Còn riêng gia đình tôi thì ba má quyết định gia đình đi ra Phú Lợi lên ở tạm trên nhà của Dì Dượng Năm một thời gian rồi tính sau. Thế là từ đó tôi đi học từ xã Phú Hòa băng lên Phú Thuận, rồi lên Phú Hữu mới vô An Mỹ tương đối gần hơn nhiều. Tôi thường đi với anh Hạnh con Dì Năm. Trên đoạn đường nầy tôi thích nhất là đoạn đường mà Ông Trai làm từ Ngã Ba đi vô trường, nó rộng thênh thang, mà hai bên trồng toàn là cây sao vừa có bóng mát, vừa nghe tiếng lao xao của lá khua nhau mỗi khi gió thoảng qua, Nó thơ mộng làm sao, mặc dù chưa được tráng nhựa, mà chỉ là con đường đất đỏ. Những buổi trưa ở lại trường để chiều học tiếp thêm mấy giờ, chúng tôi tập hợp ra ngoài nền đình cao so với đất bằng cả mấy thước mà Ông Trai đã cho ủi đất từ phía ngoài vào để sau nầy cất Đình; vì ở đó có nhiều cây sao lẫn dầu có nhiều bóng mát, mà lại rộng rãi nữa tha hồ nằm hay ngồi nghỉ hoặc nói chuyện to tiếng vẫn không phiền hà đến hàng xóm.

Từ ngày chuyện mấy anh bên Trường Tư tấn công vào Thầy Giám Thị Nguyễn Văn Phụng thì trong các giờ Giảng Văn thầy Hiệu Trưởng cho chúng tôi học bài “Dĩ Hòa Vi Quý” của nhà thơ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hơi nhiều vì trong lớp Đệ Tam nầy có học về thơ của nhà thơ ấy trong các giờ Cổ Văn. Thầy cho biết Thầy dạy tạm để đợi chờ một Thầy khác về và sẽ dạy môn Giảng Văn cho chúng tôi (đó là Thầy Trần Quốc Vị). Gần đến Tết Thầy Trần Văn Ngà dạy Anh Văn, Sinh Ngữ hai phụ trách về Khối Báo Chí phát động viết bài nộp về để Thầy tuyển chọn in vào tập san Tất Niên Tết của Trường. Tôi cũng nổi hứng viết một câu chuyện, nhưng câu chuyện ấy chẳng được thành công chút nào vì ý tưởng của mình hãy còn quá non nớt, còn thơ thì chưa biết làm! Công nhận Thầy Ngà có khiếu về thơ văn, Thầy thuộc rất nhiều thơ và Thầy thường đọc hay ngâm cho chúng tôi nghe sau những giờ rỗi rảnh làm cho chúng tôi trở nên ghiền và say mê dù mình chẳng có khiếu chút nào! Trong chương trình Văn Nghệ có nhóm hợp ca lại được Thầy Bé Tám từ dưới Trường Trịnh Hoài Đức lên luyện tập cho đám hợp xướng đó, chứ không phải là Cô Đức. Năm nầy cũng định hướng cho tôi phải chọn ban A thay vì chọn ban B là ban mình thích và thích hợp hơn, nhưng không thể làm khác được do điều kiện khó khăn của gia đình ảnh hưởng đến quyết định sau cùng. Thế là chỉ có Huệ là đi Ban B còn tôi, Son, To cùng Ban A, tức Ban lấy môn Vạn Vật là chính mà trí nhớ tôi tương đối là yếu kém từ xưa tới giờ, nên có khá nhiều trở ngại. Thời gian ngắn sau thì có Thầy Trần Quốc Vị về thay thế môn Giảng Văn của Thầy Hiệu Trưởng. Thầy Vị có vẽ thích về hướng Triết lý khiến chúng tôi cũng ảnh hưởng ít nhiều. Đường đi học từ Phú Lợi về An Mỹ ngắn và vui hơn mà lại đông học trò, tấp nập khiến mình khó cảm thấy mệt nhọc dù trong những buổi Hè nắng cháy; nhưng thời gian nầy vẫn là tạm thôi vì chúng tôi vẫn đợi chờ trong quê yên ổn hơn để trở về. Không nơi nào thoải mái, đáng yêu bằng quê hương và nhà của mình.

 

Nguyên Thảo,

30/12/2023.


 

Wednesday, November 15, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (24)

 

Ngoài bài thơ nầy, bạn bè còn truyền nhau, hoặc đi tìm bài hát “Em là vì sao sáng” của nhạc sĩ Nguyễn Hiền để tưởng nhớ đến một nữ sinh trẻ tuổi của Trường Trung Học Trường Sơn là Quách Thị Trang bị bắn chết trong cuộc biểu tình ở tại bùng binh trước chợ Bến Thành (Sài Gòn):

 

“Trang hỡi Trang, em là vì sao sáng

Giữa khung trời mây trắng với trăng thanh

Rồi một sớm có bao nhiêu đầu xanh

Xiết tay nhau, giục giã em lên đường

Tôi với em không hề quen biết

Xót xa nhiều khi viết đến tên em

Vì đại nghĩa, máu em đã hòa thêm

thắm tô lên trên tà áo trinh nguyên

Nhưng hôm nay tưng bừng,

Non sông đang vui mừng

Đâu bóng hình em giữa trời quê hương

Những mái tóc chấm vai,

Sân trường tìm đâu thấy

Em thơ đùa trong ánh nắng ban mai

Tôi khóc em trong chiều nay mây tím

Nén hương lòng tôi thắp nhớ tên em

Hình hài mất, nét tinh anh còn đấy

Giữa muôn tim, em còn mãi không phai”.

 

Trong năm học nầy mới đầu mà đã có nhiều chuyện xảy ra với hiện tình đất nước, may là nơi tỉnh lẽ và trong quê cũng không ảnh hưởng gì nhiều, chứ trên báo chí đăng nhiều tin biểu tình khắp Sài Gòn, Chợ Lớn cùng các Tỉnh khác, nhất là ở Miền Trung. Đối với Trường An Mỹ vẫn là các chuyện bàn tán, xôn xao thôi, cùng trao đổi cho nhau nghe những điều mà đồn đoán, hoặc là nghe được. Mấy đề tài ấy khỏa lấp mất cái tình hình chiến sự đang xảy ra. Rồi không bao lâu thì lại xảy ra chuyện Đảo Chánh lật đổ Triều Đại Ngô Đình Diệm, mà người ta gọi là Chế độ Gia Đình Trị, đàn áp Tôn Giáo do nhiều Tướng lãnh mà ông Tướng Dương Văn Minh cầm đầu vào ngày 1/11/1963. Và không bao lâu sau, chỉ mười ngày có cuộc đảo chánh khác của Tướng Nguyễn Khánh được gọi là Cuộc Chỉnh Lý vào ngày 11/11. Tưởng đâu sau các cuộc đảo chánh tình hình chính trị Miền Nam yên ổn hơn; nhưng không, tình hình càng rối rắm thêm ra, không được ổn định, có nhiều bấp bênh.

Trở lại lớp học của chúng tôi cũng có vài thay đổi, không hiểu Cô dạy Pháp Văn có lẽ do đi đường xa, trong quê hoặc sợ hay sao, hoặc là cô muốn đi học tiếp lên cao hơn nữa mà cô nghỉ, rồi Thầy Lã Huy Quý cũng ra đi khiến Thầy Trần Văn Khuê lãnh môn Pháp Văn, và Thầy Hiệu Trưởng Bùi Ngọc Ấn tạm thời kiêm môn Giảng Văn, sau đến Thầy Trần quốc Vị đảm nhiệm cho đến cuối năm. Trong khi đó thì Thầy Huỳnh Hữu Kim Sang tức Nhạc sĩ Anh Việt Thu cũng rời Trường, cô Đức thế chỗ. Toán thì Thầy Phấn thay thế bằng Thầy Nhiên. Thực ra, đối với những Giáo Sư dạy giờ, mà tôi được nghe nói, thì họ không phải là chánh ngạch nên họ thấy được thì dạy, không thì thôi vì đường vào trong xã An Mỹ nầy có nhiều trắc trở hơn là ở ngoài thành phố, nên có nhiều người e dè, sợ sệt mà không dám đi nữa. Chứ đối với những người địa phương thì cũng chẳng đến đỗi nào. Tính ra trong lớp Đệ Tam đầu đàn của Trường Trung Học Công Lập An Mỹ nầy nếu tính ra ở Tân Khánh và Tân Hóa thì chỉ có tôi, To, Huệ, Son, Lập, Đức, chị Ánh, chị Hồng, chị Khởi và chị Mới. Còn bên Bến Cỏ có Phan Thanh Diệp, hình như anh Nguyễn văn Bọ nữa thì phải. Phần lớn ở ngoài Thủ và Bưng Cầu (Tương Bình Hiệp), Bến Thế (Tân An Xã) thì nhiều như chị Hương, Chi, Thê, Thảo, Cẩm Tú. Bên nam có Khánh, Bình, Lượng, Huỳnh Minh Đẩu, Nguyễn Văn Ba, Trương công Minh (Minh sún), Nguyễn Văn Minh, và Nguyễn Thanh Minh, Khiêm, Mão, Nai, Ngơi, Điểu, Bùi Văn Cư, Lễ, Thọ, Tài, Phụ, Lê Văn Anh, Nguyễn Văn Hừng, Nguyễn Văn Năm,… và hai anh em Hùng người Bắc từ Bình Long chuyển về. Năm nầy anh Huỳnh Minh Đẩu ứng cử làm Trưởng ban Đại Diện Trường. Phía sau dãy phòng học là nhà của chú thiếm Vĩnh, lao công của trường. Nhà chỉ là nhà tranh đơn sơ, nhưng cũng là nơi mà nhiều học sinh nghỉ ngơi hoặc cần nước uống, chú thiếm rất dễ nên mọi người ra vào tự nhiên giống như là nhà của mình. Lúc trước tôi thường nghe nói những người học trường tư thường hay không thích những người học ở trường công, điều đó tôi không tin, nhưng bây giờ hai trường Trung học Công, Tư An Mỹ nằm kế bên nhau tôi mới thấy rõ điều ấy. Thực sự, điều đó có xảy ra, mặc dù chúng tôi không có gì gọi là khi dễ hay tỏ vẽ khinh thường gì các anh chị bên đó; ngoại trừ những bạn bè thân thiết phải học ở hai trường. Có bạn giải thích: “Sở dĩ như vậy vì khi thi đậu mới được vào trường công, còn học trường tư là vì không đủ sức để thi đậu vào trường công, vì vậy mà họ có sự mặc cảm nên thường có sự hiểu lầm nếu lời nói sơ sẩy không cẩn thận”! Điều ấy đã xảy ra một chuyện rất là bất ngờ khi hai trường công, tư An Mỹ nầy tổ chức một buổi đá banh giao hữu mà trọng tài lại là Thầy Giám Thị Nguyễn Văn Phụng. Trong cuộc đấu không hiểu Thầy Phụng thổi còi như thế nào đó mà bên đội của trường tư xem đó là sự thiên vị, xử ép; nên khi mãn trận đấu các anh chị lớn bên Trường Tư đi theo Thầy Phụng gây sự. Nghe nói có người chụp vai Thầy Phụng như thế nào đó mà Thầy Phụng đã phản ứng quá mạnh khiến những anh lớn ấy tấn công Thầy, Thầy chạy vội về Văn Phòng, thế mà họ ùa vào tấn công cực gắt. Sau hồi hòa giải từ Thầy Hiệu Trưởng họ mới ra về Trường bên kia mà có nhiều ấm ức, hậm hực. Từ đó khiến chúng tôi ít dám héo lánh nhiều đến khuôn viên Trường Tư nữa.

 

Nguyên Thảo.


Saturday, November 4, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (23)


*LỬA TỪ BI.

(Kính dâng lên Bồ-Tát Quảng-Đức)

 

Lửa! Lửa cháy ngất Tòa Sen!

Tám chín phương nhục thể trần tâm

hiện thành Thơ, quỳ cả xuống.

Hai Vầng Sáng rưng rưng

Đông Tây nhòa lệ ngọc

Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc,

Ánh Đạo Vàng phơi phới

Đang bừng lên, dâng lên…

 

Ôi, đích thực hôm nay Trời có Mặt!

Giờ là giờ Hoàng-Đạo nguy nga.

Muôn vạn khối sân-si vừa mở mắt

Nhìn nhau: Tình huynh-đệ bao la,

Nam mô Đức Phật Di Đà

Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay?

 

Thương chúng sinh trầm luân bể khổ,

NGƯỜI rẽ phăng đêm tối đất dày

Bước ra, ngồi nhập định, hướng về Tây

Gọi hết LỬA vào xương da bỏ ngỏ

PHẬT-PHÁP chẳng rời tay…

Sáu ngả luân hồi đâu đó

Mang mang cùng nín thở

Tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh Xe Quay.

Không khí vặn mình theo

khóc òa lên nổi gió

NGƯỜI siêu thăng…

Giông bão lắng từ đây.

Bóng NGƯỜI vượt chín tầng mây

Nhân gian mát rợi bóng cây Bồ-Đề.

 

Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc!

Lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi!

Chỗ NGƯỜI ngồi: Một thiên thu tuyệt tác

Trong vô-hình sáng chói nét TỪ-BI.

 

Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?

Ngọc đá cũng thành tro

lụa tre dần mục nát

Với Thời-Gian lê vết máu qua đi.

Còn mãi chứ! Còn TRÁI TIM BỒ TÁT

Gội hào quang xuống tận ngục A-tỳ.

 

Ôi ngọn LỬA huyền vi!

Thế giới ba nghìn phút giây ngơ ngác

Từ cõi Vô-Minh

Hướng về Cực-Lạc.

Vần điệu của thi-nhân chỉ còn là rơm rác

Và chỉ nguyện được là rơm rác

Thơ cháy lên theo với lời Kinh;

Tụng cho nhân loại hòa bình

Trước sau bền vững tình huynh-đệ này.

 

Thổn thức nghe lòng Trái Đất

Mong thành Quả Phúc về Cây

Nam-mô THÍCH CA MẦU NI PHẬT

Đồng loại chúng con

nắm tay nhau tràn nước mắt

tình thương hiện Tháp Chín Tầng xây.

 

Vũ Hoàng Chương.

(Khởi viết từ ngày 11/6/63, xong ngày 15/7/63 tại Sài Gòn). 

Wednesday, October 18, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (22)

 

Thông thường đường đi học là đường đi Bình Dương qua Bình Hòa, lên Vườn Bà Đôn đến sân bay thì thả dọc theo sân bay; Đến cuối ra một khoảng đường mòn nữa lại nhập vào đường từ Vĩnh Trường sang An Mỹ, nương theo đó mà chúng tôi tới Trường. Vì có nhiều lớp từ Trường Tư Thục của ông Trai đến Trường Công Lập nên trước giờ học bọn học trò lũ lượt nhau từng nhóm vang rân trên đường đi thật là vui vẻ. Nếu có trường hợp xe nào bị hư hay có vấn đề gì thì chúng tôi có thể chở cho nhau, và xe đạp do bạn khác vừa lái xe của mình một tay, và tay kia dắt xe dùm cho bạn, nên cũng ổn. Tôi thì rất muốn theo học Ban B, tức là Ban Toán, nhưng do vì hoàn cảnh eo hẹp trong năm nầy nên đành phải theo học Ban A, là Ban Khoa Học Thực Nghiệm hay nôm na là Ban Vạn Vật. Với trí nhớ không tốt của mình, dù biết học Ban A tôi sẽ có rất nhiều vất vả, nhưng không thể làm khác hơn. Son, To và tôi thì học bên Ban A. Huệ học Ban B. Còn anh Chi học với chúng tôi bên Tân Uyên, từ khi anh bị rớt trong kỳ thi Trung Học thì bây giờ anh không học tiếp nữa mà ở nhà làm nghề nông.

An Mỹ nầy trồng nhiều tầm vông và tre, có nơi chuyên tầm vông hơn là tre cho nên có một lần tôi nghe hai đứa bạn ghẹo nhau: Đứa học Trường Trịnh Hoài Đức ghẹo đứa An Mỹ là học “ở trường Rừng”; Nhưng đứa học Trường An Mỹ cũng không vừa đối lại đứa học Trường Trịnh Hoài Đức là “mầy học ở Trường Ruộng”. Nghe xong tôi ngẫm nghĩ: “Mà đúng thiệt!”. Ở Bình Dương có hai Trường Trung Học Công lập, một là Trường Trịnh Hoài Đức không nằm ở phạm vi Tỉnh mà lại nằm ở Búng, bên Quốc lộ 13 cạnh Trường Tiểu Học Cộng Đồng Dẫn Đạo Búng, có đồng ruộng chung quanh. Còn Trường Trung Học Công Lập An Mỹ thì nằm trong xã An Mỹ nơi có nhiều rừng tầm vông. Qua cuộc đối thoại đùa vui ấy cũng khiến cho tôi có nhiều thắc mắc để truy tìm về nguồn gốc của nó. Đối với Trường An Mỹ thì tôi có thể tìm được câu giải đáp: Vì sự mong muốn đem lại vinh hạnh, trù phú cho địa phương mà Luật Sư Trần Văn Trai đã bỏ công sức, tiền của để yểm trợ cho xã Ông được những điều mà tôi được biết: Thứ nhứt là cơ sở vật chất, một ngôi Trường Tiểu Học khang trang đẹp đẽ của An Mỹ, hai là thành hình cho một Trường Trung Học Tư Thục; ba là gầy dựng Chi Nhánh Trường Trung Học Trịnh Hoài Đức ở An Mỹ trong giai đoạn đầu, mà hiện nay trở thành Trường Trung Học Công lập mà chúng tôi đang theo học; và lớp Đệ Tam nầy là lớp đầu đàn, mặc dù bên Trường Tư của Ông đã có lớp Đệ Nhị khoảng một năm trước. Trong khi đó ở ngoài Tỉnh lỵ Bình Dương có nhiều trường Trung Học Tư Thục từ rất lâu như Trường Văn An, Nguyễn Trải, trước đó có Trường Trí Đức và sau có thêm Trường Nghĩa Phương. Ngoài công lao mở mang trường học vừa giúp cho xã, Ông mà còn giúp cho học trò của nhiều địa phương chung quanh, ngay cả những địa phương xa xôi như Bến Cỏ (Phú Hòa Đông), Bưng Cầu, Bến Thế hay Vĩnh Tân. Ông còn làm con đường rộng rãi, khang trang từ ngã ba đuờng Bình Dương đi Phú Chánh vô đến trường mà hai bên trồng hai hàng cây sao rất đẹp, rồi tới cái dự án cất ngôi đình An Mỹ trên nền đất rất cao, nhưng chưa biết chừng nào mới cất. Rồi thêm một cái đập để ngăn nước mà người dân thường gọi là “Đập ông Trai”, nghe nói đập ấy nhưng tôi chưa hề tới đó bao giờ! Lạ một điều, Ông Trai làm nhiều việc như thế đó, mà gian nhà cũ của Ông, phía bên trong đối diện với trường học, vẫn không thay đổi hay cất mới vì có một lần tôi theo anh Hừng, cháu Ông vào trong đó giúp lấy một chút ít đồ! Từ đó, tôi cũng nghiệm ra: “Tại sao Trường Trịnh Hoài Đức không nằm ở trong phạm vi Tỉnh lỵ mà lại nằm ở Búng?”, không lẽ: “Những người đồng sáng lập” muốn Thầy Trương Văn Di tiện việc cai quản, chăm sóc và làm kiêm chức Hiệu Trưởng Trường Trung Học Công Lập Trịnh Hoài Đức, trong khi Thầy đang là Hiệu Trưởng của Trường Tiểu Học Cộng Đồng Dẫn Đạo Búng”? Cũng có thể lắm chứ! Đó là điều mà tôi suy nghĩ để lý giải: Vì sao một Trường Trung Học Công Lập độc nhất của Tỉnh Bình Dương thuở ấy mà không nằm trong vị trí của Tỉnh lỵ vào lúc bấy giờ? Kể như vậy, chắc Quý độc giả thấy công lao của Luật sư Trần Văn Trai đã làm được những gì có ích cho chính xã An Mỹ của Ông, đồng thời giúp rất nhiều cho những học sinh ở các vùng chung quanh và phụ cận, nhất là thêm số học trò nghèo được học ở trường công càng ngày càng thêm đông. Số học trò trong lớp Đệ Tam của tôi đa số đến từ Bưng Cầu, Bến Thế rồi Bình Dương và sau đó là Phú Hòa, Hòa Thạnh, Cầu Định, Tân Hóa, Tân Khánh, Vĩnh Trường, Bình Chuẩn, Phú Chánh, kể cả ở tận bên Bến Cỏ-Phú hòa Đông, nhưng ở tại An Mỹ và Phú Hữu thì không nhiều!

Trong năm nầy, như tôi đã viết trong phần trước thì vào khoảng Tháng 4/63 các nhà cửa của dân chúng ở vùng Phước Lộc phải dời vào trong Ấp Chiến Lược tất cả theo Chiến sách Ấp Chiến Lược lúc bấy giờ, do vậy đường đi học của chúng tôi cũng không dám đi qua vùng đó nữa vì sợ hai bên đụng độ nhau, nên đi học trên Tân Uyên phải chọn con đường xa hơn là đi vòng ra Bình Chuẩn rồi xuống Tân Ba mới đi lên Tân Uyên. Nhưng may mắn là thời gian ấy không lâu thì tới nghỉ Hè, thế chúng tôi vẫn cam nổi mà không chọn kiếm nhà trọ học như ngày trước. Tình thế lúc ấy là giai đoạn chiến tranh càng ngày càng tăng tốc độ và càng ác liệt hơn, và những cuộc biểu tình ở khắp nơi thêm nhiều sôi động, nhất là từ lúc có xe cơ giới tấn công vào Lễ Phật Đản ở Huế vào ngày 8/5/1963 gây cho 9 người chết và 20 người bị thương. Từ đó những cuộc biểu tình chống đàn áp Tôn Giáo thật là sôi động khắp miền Nam, nhất là ở Sài Gòn. Đến đỗi ngày 11/6 Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ở tại góc đường Lê Văn Duyệt và Phan Đình Phùng, và rồi đến ngày 7/7 lại có tin trên báo chí là nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã tự tử. Đến ngày 25/8 thì lại nữ sinh Quách Thị Trang bị bắn chết ở bùng binh chợ Bến Thành nên những cuộc biểu tình sau đó lại càng sôi sục hơn. Nhưng ở một ngôi trường không lớn lắm của Tỉnh lẽ, mà lại ở trong quê nữa nên tình hình cũng chẳng có gì là sôi động ngoài những tin tức trên báo chí hay lan truyền cho nhau nghe. Tuy nhiên, bài thơ “Lửa Từ Bi” của nhà thơ Vũ Hoàng Chương được lan truyền một cách nhanh chóng, được chuyền tay nhau để chép mặc dù có chỗ đúng, chỗ sai. Bài thơ ấy như sau:

 

Nguyên Thảo,

19/19/2023.




Friday, September 22, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (21)

 

Trước ngày nhập học một tuần tôi cùng Tong lên trường An Mỹ bằng đi ngõ Vĩnh Trường, tức là đi ngang qua nhà ngoại ở xóm dưới, lên Vĩnh Trường trên rồi đi thẳng qua bên An Mỹ mà không theo đường sân bay. Vì đêm hôm mưa nhiều nên đường tương đối lầy lội, nhưng đi xe đạp thì không trở ngại cho lắm; tuy nhiên đến xóm trên thì nước đổ từ Gò Bèo xuống nhiều quá nên ngoài đường chính không thể đi được, cho nên có đoạn chúng tôi phải mượn đường bờ ruộng để đi do nó khô ráo. Qua đoạn bờ đó thì đến đoạn đường ngập nước mình phải cưỡi xe băng qua. Vì không biết rành đường nầy như thế nào nên tôi cứ nhắm chừng để băng qua, không ngờ lọt phải vào cái miệng cống, xe đạp nhủi đầu, quần áo đều ướt, may là giấy tờ không bị thấm nước. Tong chạy qua bờ ruộng cao bên kia chờ tôi. Do quần áo ướt nên tôi phải dựng xe lại, cổi áo quần ra vắt nước cho tương đối ráo đi, rồi mặc vào. Trong lúc đó, có tiếng ai gọi tôi và nói lớn lên: “Ê Thạch, quần áo mầy ướt rồi có cần tao cho mượn quần áo khô để bận không?”. Vì hơi xa, tôi nhìn không rõ mà cũng chẳng biết là ai đã gọi; ở xóm trên nầy ít có người nào biết tôi lắm, mặc dù cái cống nhỏ ấy là trước cửa ngõ nhà Cậu Ba Ngô. Tôi vội trả lời là “Được rồi, không sao, không ướt lắm đâu, tao bận được mà”! Người hỏi hỏi lại một lần nữa. Tôi xác định là được và hỏi nó: “Đi đâu vậy?”, “Tao đi về nhà cũ, thôi tao đi nhe”! Thế rồi người đó cưỡi xe đạp đi! Tôi ngạc nhiên, hỏi Tong: “Ai hỏi tao vậy Tong?”. Tong nói: “Thằng To đó”. “Ủa nhà nó ở đây hả”. “Ở trong vuông tre, chỗ mầy té đó”! Thế là tôi mới hiểu To ở trong vuông tre nhà Cậu Ba Ngô. Nói đến Thằng To, thực ra tôi không biết nó nhiều lắm, chỉ gặp nó vài lần lúc còn trường Thầy Khai, nhất là khi Thầy Khai dời Trường về trong Chùa Cao Đài và dạy ở đó. To có một thành tích đáng thán phục, nghe nói trước khi đến trường Thầy Khai không biết nó học với ai, nhưng nó thông minh lắm, học không bao lâu thì đã nhảy tọt lên học lớp Nhì hay lớp Nhứt gì đó mà tụi bạn thường nói nó là con nuôi của Thầy Khai, nó học thật giỏi. Tôi chỉ biết về nó bao nhiêu đó thôi. Nay không ngờ lại gặp nó ở đây mà nó còn nhớ tôi, quả là trí nhớ tốt quá, hèn chi nó học nhảy lớp khá nhiều. Nhưng từ khi rời trường Thầy Khai, nó chạy ra ngoài Búng học ở Trường Cộng Đồng Dẫn Đạo, có lẽ nó đậu dự khuyết nên được về học ở Trường An Mỹ, chi nhánh của Trường Trịnh Hoài Đức lúc ban đầu. Tôi và Tong tiếp tục đến Trường An Mỹ. Đến nơi vì quần áo hãy còn ướt, cho nên tôi không đi vào văn phòng ngay, mà dạo vòng quanh coi xem thế nào. Sau bốn năm tôi trở lại, những cây điệp Tây bây giờ lớn quá, tàng rộng đầy bóng mát, những bụi cây bông mà ngưòi ta nói là Immortel nở to hơn. Dọc hai hàng điệp Tây đường vô Trường có thêm mấy băng xi măng đúc để ngồi chơi trong bóng râm của cây thật là thơ mộng. Trường là một khu dài, ngay chính giữa là Khu Văn Phòng, mái nhô cao lên để rồi hai bên là những dãy lớp học đối xứng nhau qua đó. Trường được xây dựng do công trình của Ông Luật Sư Dân Biểu Trần Văn Trai vận động và xin phép. Không biết có sự đóng góp nào của dân chúng và Chính phủ không, nhưng đó là công sức của Ông muốn cho quê hương An Mỹ của Ông được rỡ ràng theo sự thành công của Ông trên đường học vấn cũng như quan trường lẫn làm ăn. Hôm nay trở về đây tôi mới biết rõ là Trường Trung Học Tư Thục An Mỹ của Ông không biến thành Trường Công Lập như trước kia tôi đã nghe nói, mà bây giờ nó được xây dựng bên trong cái sân banh gần khu Trường nầy. Còn dãy cơ sở dài nầy, chính giữa là Khu Văn Phòng, về phía bên kia là của Trường Tiểu Học, và phía bên nây dành cho Trường Trung Học Công Lập An Mỹ, mà thời gian đầu Trường quả thực là Chi nhánh của Trường Trung Học Công Lập Trịnh Hoài Đức gồm số học sinh đậu dự khuyết đưa về đây, mà lúc đó tôi nghe nói là Cô Oanh làm Giám Thị, kiêm dạy luôn môn Nữ Công Gia Chánh. Sau khi trình diện, ghi tên cho lớp Đệ Tam của trường trong năm học mới xong, thì Tong cũng làm xong công việc của nó, chúng tôi đi về Tân Khánh bằng băng dọc theo sân bay về ngã Bình Hòa mà tôi đã từng đi vào bốn năm trước.

Vào ngày tựu trường, tôi, Huệ, Son đi cùng số bạn bè lên An Mỹ qua con đường băng dọc sân bay. Đường nầy có xa hơn đôi chút, nhưng nó sạch sẽ, không lầy lội hay có nhiều vũng nước đục ngầu, hoặc đôi lúc có nhiều gai tre làm lủng bánh xe như đường qua Vĩnh Trường. Trong ngày khai giảng nầy tôi gặp lại nhiều người bạn cũ hoặc cùng xóm như To, Lễ, chị Hồng con ông Năm Thính trên xóm chợ; người bà con trang lứa với tôi là Trương Văn Lập mà vai thứ tôi phải gọi bằng Bác; hoặc Chị Mới, chị Khởi cùng học ở Lớp Nhứt ở trường Tân Phước Khánh với chúng tôi mà hình như hai chị đã đậu Dự khuyết vào kỳ thi lên lớp Đệ Thất ở Trường Trung Học Công Lập Trịnh Hoài Đức vào những năm trước mà có cả Đức nữa. Sĩ số học sinh khá đông, vào khoảng hơn sáu mươi. Trong ngày đầu lớp được ông Hiệu Trưởng tâm tình đôi lời rồi được Giám Thị là Thầy Trần Văn Xuân cho chép Thời Khóa Biểu, cái lịch trình các môn học các ngày của Trường; cùng nói qua về những nguyên tắc, nội qui sinh hoạt và kỹ luật của trường. Sau đó được cho về sớm và chuẩn bị ngày mai bắt đầu một năm học mới.

Đúng ra đến lớp Đệ Tam nầy là chúng tôi được chọn Ban để theo học, nhưng vì sĩ số lớp không đủ cho hai lớp: Ban B hay là Ban Khoa Học Tự Nhiên cho lớp học chuyên về Toán lấy môn Toán làm môn chính, họ học môn Toán cao hơn; và Ban A hay còn gọi là Ban Khoa Học Thực nghiệm lấy môn Vạn Vật là môn chính, tức là học nhiều và kỹ hơn tức nhiều chi tiết hơn. Còn một Ban nữa tức là Ban C, hay gọi là Ban Văn Chương có các môn thuộc về Văn Chương và Sinh Ngữ là những môn chính gồm có Anh và Pháp Văn; nhưng ở đây nhất là những học sinh ở Tỉnh lẽ hoặc trong quê như chúng tôi không mấy ai học ở Ban C vì không đủ trình độ Sinh Ngữ để theo học. Và cũng chỉ vì có một lớp Đệ Tam nên giờ Sinh Ngữ lớp sẽ chia làm hai lớp riêng nữa, nhóm nào học Pháp Văn thì sẽ ra học riêng và nhóm học Anh Văn thành lớp riêng. Vào năm học nầy lớp học thêm được một Sinh Ngữ nữa, như vậy là học sinh nào trước học Sinh Ngữ chính là Pháp Văn thì bây giờ học thêm Tiếng Anh; và những ai trước học Tiếng Anh thì nay học thêm Pháp Văn, mặc dù ít giờ gọi là Sinh Ngữ hai, môn Sinh Ngữ chính được gọi là Sinh Ngữ 1. Hiệu Trưởng Trường là Thầy Bùi Ngọc Ấn Thầy thường đến trường bằng chiếc xe du lịch hiệu Volswagen màu xanh trắng nhạt, rất hiền, không biết vì sao Thầy có tật một chân nên tướng đi không đều, một bên cao bên thấp. Và người dạy môn Văn chúng tôi là Thầy Lã Huy Quý, nghe nói Thầy là người từ Miền Bắc đã vượt tuyến vào Nam sau năm 1954. Và rồi một ngày nào đó không lâu, tôi lại được đọc trong quyển Tạp chí có kể lại chuyến vượt ranh giới của Thầy, đại khái Thầy là một sinh viên của Trường Đại Học nào đó ở miền Bắc, trong chuyến đi thăm viếng ở bờ sông Bến Hải, nhân vào lúc mọi người trong đoàn không chú ý Thầy đã phóng xuống sông và bơi về bờ phía Nam. Thầy thoát khỏi miền Bắc và bây giờ Thầy đang hướng dẫn chúng tôi về môn Giảng Văn. Pháp Văn là cô giáo có xuất thân từ Trường Tây Marie Curie ở Sài Gòn. Toán là Thầy Phấn. Anh Văn là Thầy Trần Văn Ngà ở ngoài Bình Dương. Vạn Vật do Thầy La Cao Trí, sinh viên Trường Dược ở Sài Gòn xin dạy giờ ở đây.

 

Nguyên Thảo,

23/09/2023.


Monday, August 21, 2023

*Rác!

 

Trong tục ngữ có câu: “Nhà sạch thì mát, bát sạch thì ngon”. Điều đó đúng hẳn thế. Khi nhà sạch thì chúng ta nghe thoải mái, cảm thấy mát mẻ hơn ngoài cái mát mẻ của vật lý. Cũng vậy bát sạch cho ta cái cảm giác tươi mát, không vướng bận, khó chịu, thức ăn dường như ngon hơn, dù món ăn không thay đổi. Ông bà ta ngày xưa đã thu gọn lại cái nhận xét, quan niệm ấy để lưu truyền lại cho ngày sau. Có một ngày nọ trên đường lên Tây Nguyên, anh bạn dẫn đường ghé vào một tiệm ăn mà anh quảng cáo là tiệm bánh canh nầy ngon lắm. Xe dừng lại, đoàn người xuống tại một quán bánh canh vào buổi chiều hơi tối, bên kia nhà thờ các giáo dân đông người dần kéo vào bên trong để tham dự buổi lễ ban chiều, đèn sáng lên cùng mặt trời vừa lặn, những tia sáng ửng lên tạo thành một quang cảnh khá đẹp và nên thơ, thú vị. Tuy nhiên vừa bước vào quán chúng tôi vội sững sờ, ngon đâu chưa thấy mà thấy dưới đất toàn là giấy tissue lênh láng từ ngoài đường đi cho đến các gầm bàn làm tầm mắt của mình phải bị vương vương làm sao ấy, khiến chúng tôi phải mĩm cười, nghĩ rằng: Ừ! Quán nầy có thể ngon đấy, bằng chứng là khách ăn khá đông nên người ta mới quăng giấy đầy trên đất như thế đó; nhưng nó thật sự được ngon hơn nếu quán được sạch sẽ không làm cho người ta có cảm tưởng ngồi trên đống rác để thưởng thức được cái món ngon. Điều nầy làm tôi nhớ đến một ngày nọ khi bước vào trong một quán nước ở trong Chợ Lớn kêu một ly cà phê để uống, nhưng dưới nền đất có nhiều đờm dãi, nước miếng mà khách đã khạc nhổ trong đó, thật là tởm đành phải cầm ly cà phê ấy bước ra ngoài mà uống vội vàng với hình ảnh các cái bẩn thỉu ấy in vào trong đầu óc của mình. Rồi một lần theo vợ chồng anh bạn ra Phú Quốc, đến bãi tắm biển và ăn trưa tại mấy quán bìa bờ, nhưng mùi rác rến bốc mùi lên tự dưới gầm làm cho chúng tôi cả thấy mất hứng thú mà thưỏng thức món ăn. Không biết các du khách khác như thế nào, nhất là các khách Tây, người ngoại quốc có cảm nghĩ gì không, chứ đối với chúng tôi thì bị giảm đi cái cảm hứng, thích thú về thức ăn nầy dù nó có ngon bao nhiêu đi nữa! Rồi cái cảnh chúng tôi mua ghẹ bên bờ bãi biển ở Long Hải mà dẫm phải những đống phân người đây đó. Ôi! Các điều ấy chẳng có thể thay đổi được hay sao?

Nhớ ngày xưa tôi có Ông Chú đi sang Singapore, khi về ông có kể lại rằng: Ở Singapore, người ta xả rác bị phạt nặng lắm, cứ một đầu lọc của thuốc hút xuống đất là có thể bị phạt một số tiền lớn, nên ai cũng phải lo giữ gìn, không dám xả rác, vì vậy mà ở Singapore rất sạch. Hình phạt đã khiến mọi người chăm chú đến túi tiền của mình, dần tạo sự ý thức công cộng và tới lúc nào đó trở thành một phản xạ tự nhiên, một thói quen tốt. Rồi một ngày nọ, trường học chúng tôi phát động vệ sinh chung, mỗi em phải có ý thức sạch sẽ về rác rến, nhờ thế mà trong thời gian dài, trường rất sạch, không hề có chuyện xả rác bừa bãi cho đến ngày tôi đi xa trường, không biết về sau đó thì trường như thế nào vì tôi không được chứng kiến. Có những chuyện được nghe kể nhất là những người có dịp sang Nhật, họ thán phục người Nhật là khu phố, đường sá thật sạch, không thấy rác mặc dù dọc theo các con đường ít khi thấy các thùng rác. Sau họ tìm hiểu thì người Nhật có đem theo các bọc nhỏ, nếu có rác họ bỏ vào đó, rồi mang về bỏ vào thùng rác ở nhà; đó là điều mà chỉ nghe kể lại nhưng trên thực tế ta thấy người Nhật có thói quen tốt, nhất là ở những cuộc thi đấu quốc tế ở những vận động trường có người Nhật tham dự. Họ đã dùng bao rác thu nhặt rác ở các vùng chung quanh chỗ họ ngồi trong khi các vị khách khác đứng dậy ra về không quan tâm đến rác. Có lẽ trường học, nền giáo dục của họ đã hướng dẫn học sinh Nhật bảo vệ môi trường quá tốt, tạo nên ý thức tốt đối với mọi người dân của họ ngay từ lúc bắt đầu ngồi trên ghế nhà trường. Đó là những tấm gương ta cần chú ý và học theo. Như vậy, trông người lại ngẫm đến ta là ta có thể tạo được cái ý thức bảo vệ mội trường như thế không? Tất nhiên là không có gì là không thể! Vậy ta sẽ có thể như thế nào?

Ở đây, chúng tôi chỉ bàn chuyện để chơi, chứ không có quyền hạn gì cả, vì quyền hạn, làm hay không là do những người lãnh đạo, có thẩm quyền điều hành đất nước, có nhiệm vụ đối với môi trường, có trách nhiệm giáo dục người công dân thực hiện các thái độ, hành động tốt và hay, có ích chung cho xã hội và Tổ Quốc. Nhưng dù gì thì cũng cần giáo dục cho thế hệ nhỏ trong tương lai có thói quen đó trước đã, chuyện đó không khó thực hiện khi chúng đã có nội quy của nhà trường và sự hướng dẫn, kiểm soát của đoàn thể mà chúng hiện diện trong đó. Còn đối với người trưởng thành trong xã hội đã có các phương tiện truyền thông từ báo chí, truyền hình, truyền thanh, kêu gọi từ các đoàn thể,…cùng nhau thực hiện một chỉ thị chung thì tất không thể không làm được. Trước là kêu gọi, giáo dục một thời gian đi trước mà không nói đến hình phạt, sau thì hình thức phạt nhẹ, càng ngày càng tăng tiến, dĩ nhiên dần người ta sẽ có ý thức ngay: Vì không ai muốn tốn tiền cho những hành động” ngu xuẫn” như thế đấy, chỉ vì “sơ ý” mà phải mất một số tiền lớn! Ở xứ người, người ta không ngăn cấm hút thuốc, uống rượu nhưng cứ tăng giá thuốc càng ngày càng cao, quảng cáo các bệnh sinh ra từ hút thuốc, khiến người ghiền thuốc phải bỏ hút từ từ. Và với sự tịch thu bằng lái sau án lịnh của tòa khiến người lái xe phải e dè khi uống rượu bia, từ đó tai nạn xe cộ cũng giảm nhiều, người chết vì xe cũng ít đi; hay những kẻ tàn phế làm khổ cho mình, tạo gia đình thêm gánh nặng được bớt dần. Đó là chuyện ở xứ người, còn ở ta thì sao? Nhất là chuyện rác rến chắc không khó để làm, nhưng chính yếu là “mình có muốn làm hay không” mà thôi!

 

Đồ Ngông,

22/08/2023.


*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (20)


Xong ngày hôm đó là chúng tôi ở nhà phải học tới tấp lo cho kỳ thi săp đến. Những ngày học toán cùng nhau tập hợp tại nhà Tâm Lọt để cùng giải các đề toán trong sách cũng như giúp nhau ôn lại những phần đã học ở trường trong năm. Cái không khí thi ngập tràn những âu lo. Gần ngày thi thì lại càng nặng nề hơn, có khi phải thức suốt đêm để học bài, có đứa thì uống cà phê đắng, không đường, hay trà đậm để thức. Có đứa mua bí tộ về nấu ăn mà người ta nói là bổ óc. Rồi cũng có nhóm họp nhau lại đi ra gò mã nào đó “cầu cơ” xem trước coi mình thi “đậu hay rớt”. Nhưng chung quy là ráng học cho “tới đâu hay tới đó”. Tôi không dám kỳ vọng nhiều, vì những kỳ thi trước mình đã rớt mặc dù học trong lớp tương đối là khá, là hi vọng của Thầy Cô đặt vào mình; thế mà cuối cùng mình lại bị rớt như kỳ thi học bỗng hồi Lớp Ba, cũng như kỳ thi vào Đệ Thất ở Trường Trịnh Hoài Đức. Lần nầy tôi cẩn thận hơn nhiều, ráng căn dặn tự nhủ lấy mình.

Trước ngày thi một ngày, Huệ, Son và tôi cùng Chi đi xe đạp ra Tân Ba, qua Bến đò Trạm, tới Bữu Long rồi ra Biên Hòa hẹn gặp Lực, Thạch A ở cổng trường Nguyễn Du để xem lại địa điểm thi có thay đổi gì không, rồi cùng nhau về nhà anh của Huệ xin ở thêm 3 đứa nữa, thành ra tất cả là 6 tên. Sáng ngày thi đầu tiên cùng thức sớm, kéo nhau lội bộ từ nhà đến trường vì cũng không xa lắm. Bao nhiêu bí quyết học được cố dồn cho kỳ thi nầy từ chuyện hít hơi cho dài, ém lại rồi thở ra từ từ nhiều lần trước khi làm bài, cho đến câu nào dễ thì làm trước, câu khó làm sau; cho đến các trình bày bài thi cho sáng sủa, dễ nhìn để chiếm lấy thiện cảm của Giám Khảo khi họ chấm bài do mấy Thầy Cô kinh nghiệm chỉ dạy. Ngày đầu qua các môn Giảng, Luận Văn, Lý Hóa, Sử Địa tương đối không khó nên chúng tôi còn vui vẻ khi xong ngày thi. Đến ngày sau khi các môn buổi sáng xong thì đến trưa về nhà nghỉ ngơi để thi môn Toán vào buổi chiều. Chưa ăn cơm thì có một đứa nhỏ tới nhà đưa cái gì đó cho Huệ, hỏi ra thì đó là đề Toán và cách giải mà không biết là phải hay không. Chúng tôi quá ngạc nhiên cùng bàn tán rồi theo vết xem coi đứa nhỏ từ nhà nào tới, nhưng không tìm thấy, khi về tôi nhìn xuống đường có một miếng giấy nhỏ giống như giấy mà chúng tôi đã nhận được trước nhà nọ khá gần với nhà chúng tôi ở. Về nhà ăn cơm, nghỉ ngơi đôi chút rồi đến trường thi vào buổi chiều có môn Toán. Đề mà “nói lộ ra” không đúng rồi, nhưng dù gì chúng tôi cũng cám ơn người đưa tin. Môn Toán nầy đa số chúng tôi đều làm được. Sau cơm nước chiều xong, tôi, Huệ, Son, Thạch, Lực đến cám ơn người đưa tin ấy, thì ra đó là một chị gái đang học lớp Đệ Nhị cũng đang chuẩn bị cho kỳ thi Tú Tài I, chị cho biết là có người bạn nhận được đề như thế đó nên chị cho hay thế thôi, chứ không biết là có đúng hay không? Rồi mấy ngày thi cũng qua nhanh. Môn cuối cùng là môn “Nhiệm ý” tức là môn Nhạc và Vẽ, ai muốn thi môn nào thì tự chọn. Tôi chọn môn Vẽ. Đề tài là vẽ bàn tay nắm hoặc xòe. Cái bàn tay nầy khá vui, có đứa vẽ bàn tay giống như hình bàn tay của các Thầy bói, có đứa vẽ hình nắm tay một cục giống như đang thoi người ta, trông ngộ nghỉnh thật. Thế là cuộc thi quyết định nầy đã xong. Mọi thí sinh tan hàng trở về nhà, hồi hộp mà đợi trông! Bốn năm đèn sách mới có một lần! Trước khi đi về nhà chúng tôi có ghé qua nhà của chị đưa đề toán hôm trước thăm chị và chúc cho chị thành công trong kỳ thi cử sắp tới. Sau đó mấy tuần khi báo chí cho biết kỳ thi có kết quả, tôi, Son Huệ, hẹn nhau ngày giờ để đi xem kết quả. Với kết quả kỳ đó, chúng tôi kể cả Thạch A, Lực đều vượt qua được, chỉ có Chi là rớt, cũng là một điều buồn. Sau bốn năm lên học trên Tân Uyên từ con số hơn mười đứa, đoàn chúng tôi rốt cuộc chỉ còn lại 5 đứa vì mấy người kia đã rời nhà trường trước khi kết thúc bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp và Chi là người sau cùng. Rồi Thạch A, Lực xin chuyển về Trịnh Hoài Đức vì Thạch A ở Búng và Lực đã chuyển về ở Bình Nhâm từ lúc Tân Hội, Tân Long có lịnh phải tản cư, không thể ở trong đó được vì tình trạng chiến tranh. Còn Huệ, Son xin về Trường Trung Học Công Lập An Mỹ; riêng tôi lưỡng ước, nhưng sau cùng do hoàn cảnh riêng của mình nên thôi xin về An Mỹ luôn vì sợ không đủ sức theo học ở Trưòng Trịnh Hoài Đức dù rất muốn, và là mơ ước trong nhiều năm trời. Còn tất cả những bạn bè khác trong lớp, ai đậu được bằng Trung Học đều chuyển về Trường Trung Học Công lập Ngô Quyền bên Biên Hòa.

 

3* Về Trường Trung Học Công Lập An Mỹ:

Trước khi ngày tựu trường khoảng chừng 2 tuần lễ, tôi cùng đi với Son, Huệ lên văn phòng trường Tân Uyên xin giấy chuyển trường. Trong thời gian nầy chỉ có người Văn phòng phụ trách, đồng thời có vài Thầy Cô phân công phụ giải quyết công việc trường chung với Ban Giám Hiệu, đồng thời lo chuẩn bị cho việc khai giảng niên học mới. Lần nầy có gặp Thầy Khánh, nhưng rồi không biết đến chừng nào mới gặp lại, Thầy trò chia tay bùi ngùi và những lời chúc sức khoẻ, sự thành công trong tương lai. Về đến nhà chúng tôi không vội vã để đi đến trường mới, nhưng cũng không hẹn đi chung với nhau vì mỗi đứa cần phụ giúp công việc nhà khá bận rộn trong thời gian nầy. Do vậy mà tôi hẹn với Tong, bạn gần nhà cũng là bà con cô cậu xa với tôi, ngày đi lên An Mỹ để nộp giấy giới thiệu và trình diện với trường cho niên học mới tôi về trường nầy học lớp Đệ Tam.

 

Nguyên Thảo,

22/08/2023.