Tuesday, January 23, 2024

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (26)


Sau thời gian hơn tháng đã có người lần về Tân Khánh trước thấy tương đối yên ổn nên số người về càng nhiều hơn. Tuy nhiên, số người cất nhà trên đường Yersin từ Quận đổ về Nhà Thương thì vẫn tiếp tục, họ để hờ đó hoặc cho con cái ở để tiện việc đi học, cũng như trừ trường hợp khó khăn sẽ trở ra ở mà lánh nạn chiến tranh. Gia đình tôi lại trở về Tân Khánh sau, tôi vẫn ở với Ông Nội, nhưng ban đêm thì lại chạy sang Tân Hóa ngủ ở nhà của Son, Huệ hoặc nhà của mấy đứa bạn để tránh việc hai bên khuấy động mà súng đạn lại nổ cùng nhau. Cái tha la cao để lính canh gác, nhìn ra xa đã bị phá xuống không còn hiện diện trong đồn nữa. Thời gian nầy dù khó khăn, phải đi ngủ dạo nhưng cũng là thời gian vui nhất trong thời mới lớn vì nguyên một đám choai choai được tập hợp nhau vào ban đêm cùng vui đùa, kể chuyện trao đổi về chuyện học võ, học đàn và luôn cả tập hút thuốc, thổi ra làm thành chữ O có nhiều chuyện rất tức cười. Có đêm nghe tiếng rắn lục hút gió đâu đây, mấy đứa hút gió dụ rắn lục đến, còn mấy đứa thủ sẵn cây, gậy nhưng có lẽ rắn lục sợ quá mà không dám tới chăng!

Tình hình an ninh trong Hè sôi động hơn, lần nầy Tỉnh quyết định ổn định lại tình hình an ninh khu vực, do đó Tỉnh đã mở chiến dịch lớn, Quân số Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã tung ra cuộc hành quân lớn và gom dân trong xã về khu vực bên Trường học và gò mã. Hôm nầy có Ông Tướng Thuần, Tư lệnh Sư Đoàn nói chuyện trước dân chúng rồi dặn dò vài điều. Xong đàn bà, ông già bà lão thì cho về nhà trước, còn nữ, nam, đàn ông thì phải trải qua cuộc thanh lọc. Cuộc thanh lọc nầy không phải làm tại xã hay là tại nơi, mà là xe nhà binh chở cả đám lên Ty Cảnh Sát ở trên Tỉnh cho ngủ lều để sưu tra ý lịch. Nằm chờ đến hai ba ngày để nhân viên cảnh sát làm lại giấy tờ kê khai lý lịch, chụp hình, lấy dấu tay và với giấy tờ căn cước mới cho những người lớn rồi họ mới được ra về từng đợt. Còn những đứa nhỏ như chúng tôi cũng được làm lại lý lịch và vì chưa tới tuổi nên không làm thẻ căn cước, mà vẫn sử dụng Thẻ Học Sinh do trường cung cấp. Và đợt nhỏ chúng tôi là đợt được rời Ty Cảnh Sát Quốc Gia Bình Dương sau cùng. Nhưng khi ra khỏi Ty thì trời đã chiều tối, do vậy phải tá túc trên nhà người quen ở xóm mới phía trên nhà thương do nhiều người Tân Khánh đã ra xây cất trong đợt tản cư vừa qua. Sáng hôm sau vì các xe bị cấm nên không có xe lam hay xe đò gì cả, mà người thì muốn về nên kéo nhau đi bộ để về Tân Khánh. Khi đến Tiểu Khu trên Phú Lợi thì bị cản lại không cho đi, bắt phải đi vòng không được đi thẳng, nhưng lại là lính Mỹ nên không ai nói gì được, cuối cùng mọi người phải nhờ đến anh Liêu An, con Ông Năm Mứt người biết khá Tiếng Anh để xin đi qua, nhưng lính Mỹ cũng không chịu cho qua. Cả đoàn đành phải chịu đi vòng quanh qua khỏi trường Tiểu học Phú Hòa tới con đường đất nhỏ ra đường Hòa Thạnh, rồi trở lên khu vườn xoài ra ngã ba Bình Thoại dài thêm hơn cây số để đi về. Xong cuộc sưu tra đối với người dân Tân Khánh, Bình Hòa thì bắt đầu cho cuộc đào hào làm Ấp Chiến Lược. Mỗi người dân phải đi làm sâu đào hào, đắp lũy trong một tuần và nộp một số chông tre nào đó. Nếu nhà nào không có nhân lực thì có thể thuê mướn ai đó để đi làm thế. Có một số giáo viên nơi khác đến công tác mà người ta gọi là Cán Bộ Công Dân Vụ. Tất nhiên trong thời gian ấy có lính nằm vòng ngoài để giữ gìn an ninh. Do vậy mà trong mùa Hè năm nầy tôi cũng phải đi làm xâu trong một thời gian và còn làm mướn cho người ta để kiếm thêm chút ít tiền phụ Ông Nội mua mắm ăn cơm. Phải công nhận từ ngày dồn dân lập ấp nầy đã khiến cho người nông dân phải tính toán đến chuyện giữ trâu bò đi cày, và những đứa con không phải chăn bò nữa; Chúng được đi học nên trường học phát triển nhanh chóng, số đứa không được đi học còn rất ít, số giáo viên cũng bắt đầu cần có đủ do đó giáo viên ấp được ra đời, thành hình. Giáo viên ấp được tuyển chọn từ những người đã học qua lớp Đệ Tứ hay có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp được đào tạo trong thời gian ngắn hạn rồi ra lãnh dạy ở các trường Sơ cấp hoặc Tiểu Học. Và cũng trong thời gian nầy, Son phải tản cư ra Tân Khánh ở chứ không ở trong Hóa Nhựt, lúc đầu Son ở dưới xóm chùa, nhưng sau nầy lên ở trên Nhà Bảo Sanh của cô Mụ Ba là người bà con với Son, nơi đây má của Băng Tâm làm mụ từ khi nhà bảo sanh nầy bắt đầu thành lập và chính vì lý do đó mà Băng Tâm mới theo gia đình về đây học. Tôi thì không biết ba của cô nàng và cũng chưa có lần gặp, còn má Băng Tâm thì có vài lần tôi đã gặp nhưng không để ý gì cho lắm, nên tôi không nhớ rõ.  Từ ngày xa rời, sau khi thi Đệ Thất cho đến nay cũng ít khi gặp Băng Tâm. Có những lần tôi đến chơi với Son thì Băng Tâm cũng né tránh, do đó sự gặp gỡ nhau vẫn chưa hề có, chứ nói chi đến trò chuyện hay tâm tình.

Rồi mùa Hè qua đi, ngày tựu trường lại đến, chúng tôi lại đạp xe đạp đến trường (niên học 1964-1965). Lúc nầy bọn học trò chúng tôi ngày nào nay tương đối chững chạc trưởng thành sau thời gian bể tiếng, nhổ giò; cái phong cách thanh niên thể hiện rõ trong thái độ, lời ăn tiếng nói, lẫn tập tành trong cuộc sống. Trên đường đi học có nhiều nhóm đi chung và có những cặp nói chuyện riêng mà những bạn khác muốn để họ nói chuyện tự do, thoải mái nên không đi cùng với họ. Bây giờ không còn những câu chuyện ồn ào, vang rân như hồi xưa nữa! Trong đó có Huệ và Son, còn riêng tôi thì đi theo những nhóm bạn trai cần không khí sôi nổi hơn. Năm nay là năm học để thi mà hoàn cảnh của tôi trong năm rồi có khá nhiều khó khăn, mất căn bản nên năm nầy đối với tôi có rất nhiều gay go, nhất là tôi không dám đi ban B, mà phải theo học Ban A là ban mà môn học môn chính là Vạn Vật tức là môn cần có nhiều trí nhớ, nhưng trí nhớ của tôi thật quá tồi tệ, không thể nhớ dễ dàng như người ta, và học thộc lòng là môn mà tôi sợ nhất từ xưa đến giờ trong các môn học. Năm nầy có nhiều thay đổi về Thầy, Cô. Vạn Vật do Cô Điền, Toán có Thầy Nhiên, Giảng Văn là Thầy Trần Thế Xương, Pháp văn là Thầy lão làng Trần Văn Khuê, Anh Văn là Thầy Trần Kim Hoàng (cháu của Ông Trần Văn Trai, cũng đang học về ngành Luật), Lý Hóa là thầy Thạc mà mấy năm trước Thầy cũng dạy trên Tân Uyên khi tôi còn học bên đó, nay Thầy đổi về ở đây. Tình hình an ninh thì tương đối, chứ không yên ổn lắm, có hôm sáng đến trường thấy có những khẩu hiệu được viết trên tường khiến trường phải báo lính dân vệ giữ an ninh xã đến xóa đi. Có hôm nghe bạn bè nói lại xe của thầy Hiệu Trưởng Bùi Ngọc Ấn bị du kích đón trên đường đến trường, nhưng chuyện đó chỉ được loan truyền thoáng qua, không biết là chuyện không có hay là chuyện được giữ kín đáo để không khiến cho mọi người phải sợ. Còn bên trường tư của Ông Trai năm nầy có Ông Thầy Trịnh Vân Thanh nào đó cũng có tiếng tăm về giảng dạy môn Giảng Văn, bạn bè biết quyển sách của ông biên soạn đem đến trường để cho mấy bạn biết, thấy cuốn sách dày quá chừng khiến chúng tôi nễ phục Ông thật nhiều. Năm nầy có chuyện buồn cười nhưng cũng thật thương tâm, câu chuyện nầy khiến cho tôi suy nghĩ thật nhiều chắc trong suốt cuộc đời của mình cũng không hề quên. Vốn Trần văn Minh học Anh Văn là Sinh Ngữ chính, tức là Sinh Ngữ I, năm Đệ Tam bọn học sinh chúng tôi được học thêm một ngoại ngữ nữa, đó là Sinh Ngữ II. Nếu trước kia học Pháp Văn là Sinh ngữ I thì nay học thêm Anh Văn là Sinh ngữ II, hay là Sinh ngữ phụ ít giờ hơn Sinh ngữ I. Trái lại nếu trước kia học Anh Văn là chính thì nay học thêm Sinh ngữ phụ là Pháp Văn. Minh thuộc diện sau tức là học Pháp Văn là Sinh ngữ phụ. Nhưng không biết Minh thích Pháp Văn như thế nào đó, hoặc tức tối vì mấy bạn trêu ghẹo không biết giống đực, giống cái trong Tiếng Pháp, mà sang năm Đệ Nhị nầy anh bạn đến trường cứ đố nhau về chuyện giống đực, giống cái trong Tiếng Pháp, nhất là những chữ có chữ “l’ “ thay thế “le” hoặc “la”. Ngay cả chúng tôi là những đứa học Tiếng Pháp mà cũng ngờ ngợ hiểu không rõ ràng, thế mà anh chàng học Tiếng Anh là Sinh ngữ chính lại quá quan tâm đến. Có lẽ chính vì vậy mà Minh trong kỳ nghỉ Hè vừa rồi đã từng ôm quyển Tự Điển LaRousse mà nghiên cứu để đến giờ nầy tâm thần thiếu ổn định, cứ nói ra là khiến bạn bè phải cười, trêu ghẹo là “khùng”. Tuy nhiên, thỉnh thoảng Minh làm những việc rất là dễ thương. Một hôm mưa nhiều, đường đi bên sân banh trước Trường tư nhiều nước. Minh sắn quần lên, mượn cuốc đắp con đường cho mọi người đi, không nệ hà, khiến bạn bè cảm thương cho Minh.

 

Nguyên Thảo,

24/01/2024.

 

 

Monday, January 1, 2024

 

Happy New Year 2024.


Friday, December 29, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (25)


Vì trường nằm trong một xã cũng tương đối là hẻo lánh, dù nó không bị ảnh hưởng từ những biến động tình hình ở Thành Phố hay Tỉnh, nhưng nó cũng không thể không ảnh hưởng theo tình trạng mất an ninh của khu vực. Do vậy vào một ngày nọ, tôi vừa đến trường thì gặp ngay To ngồi trên băng đá đầu của hàng điệp Tây phía ngoài cổng. To kêu tôi lại và nói: “Đừng vô”. Tôi không biết chuyện gì thì nó vội nói: “Đừng vô, ở trổng có kẹo đó”! Thì ra trong lớp học có truyền đơn được ngụy trang giống như những cục kẹo dừa, nên tôi dựng xe đạp rồi ngồi trò chuyện với nó, đợi cho lính dân vệ ngoài đồn vào thu hết những viên kẹo đó thì chúng tôi mới vào. Trong giờ ra chơi, Khiêm nói với tôi: “Hồi sáng tao vô sớm lắm, nhưng tao đâu thấy có gì đâu, rồi tao ra ngoài thì một chút lại nghe tụi nó nói có kẹo, không lẽ…”, rồi nó ngưng ngang không nói nữa, làm tôi cũng chẳng biết ra sao? Thôi thì, dù gì thì chuyện cũng êm xuôi rồi, buổi học vẫn được tiếp tục dù hơi trễ một chút. Mấy Thầy Cô ra vẽ có chiều ái ngại vì đây là lần đầu tiên trường xảy ra trường hợp nầy! Nói chung lại tình hình nhiều năm nay vẫn đều đều như vậy, đất nước trong thời buổi chiến tranh mà. Bên nào cũng ra sức tuyên truyền để giành phần “chính nghĩa” về mình. Và sự xung đột trên chiến trường càng ngày càng nhiều và tăng tiến hơn thêm, xui rủi ai thì nấy chịu thôi, chứ biết làm sao hơn. Mọi sự sinh hoạt vẫn tiếp tục sau các biến cố dù là nhỏ hay lớn.

Trong năm nầy tôi lên ở chung với Ông Nội, vì Ông Nội ở chỉ có một mình sau khi chị Nhiếm, con Bác Tư đi may ở ngoài sông phía nhà Cô Ba thuộc Dư Khánh xã Phước Thành gần Tân Ba. Ông Nội thích chơi kiểng như nhiều người già khác cũng như Ông Hai ở bên kia đường. Ngoài kiểng ra, ông lại hay về suối cái ngoài khu nhà cũ ở Phước Lương câu cá lăng để nấu canh chua lá giang, đó là sở thích của ông. Vì ông già cả nên chuyện đi lại của ông không bị ai làm khó dễ dù là lính bên nầy hay người của bên kia bởi ông đi thăm ruộng luôn mà! Tôi cũng phải nhiều lần đạp xe đạp lên chợ Thủ mua cá lòng tong về để ông làm mồi câu cá. Ở với Ông, tôi mới hiểu được vài tâm trạng của người già khi họ trở về già. Ông Nội thường hay ngủ sớm, thường là cỡ chừng 9 giờ là ông đi ngủ rồi, nhưng khoảng 3 giờ sáng là ông đã thức dậy, nấu nước pha trà ngồi uống một mình. Nhưng hồi lâu sau thì ông Bảy kế bên cũng thức dậy sang chơi; sau đó thì ông Hai của tôi ở bên kia đường cũng sang, mấy ông ngồi nói chuyện đời xưa, kể chuyện xưa cũ đâu trong thời còn trẻ mà mấy ông từng chứng kiến. Có hôm có Dưọng Hai Đố nhà kế bên sang nữa. Từ đó tôi mới hiểu người già thường ngủ rất ít, ngủ sớm dậy sớm, ngồi để ôn lại những chuyện trong quá khứ mà họ trải qua. Trong khoảng thời gian nầy, nhà cửa đều dồn vào trong Ấp Chiến Lược, nhưng vòng bao chưa có nên chuyện an ninh cũng chưa là chắc chắn lắm, do đó chuyện cửa nẽo còn cẩn thận hơn. Một hôm, tôi vừa mở cửa sau ra ngoài làm ít công việc, khi trở vào bỗng có một chú du kích nào đó dã lẻn vô nhà hồi nào rồi. Chú ngồi nói chuyện với tôi, chú cho biết theo vai thứ tôi kêu chú bằng chú. Nói chuyện với tôi một chút thì chú cứ đến bên mấy tấm bảng vách che lên thay mấy cánh cửa và thò súng qua khe hở chỉa lên vọng gác của cái tha la (vọng gác xây cao lên, để quan sát được xa) cao trong xã như muốn nhắm bắn lính trên đó. Tôi hoảng hồn năn nỉ chú, nhưng chú không nói gì mà chú cứ mãi làm như vậy nhiều lần. Tôi càng năn nỉ chú nhiều hơn. Cuối cùng chắc thấy không có cơ hội để bắn tỉa được nên chú đành bỏ đi. Từ đó tôi không dám hớ hênh về cửa nẻo nữa, nhất là cánh cửa phía sau. Ngày ấy mà chú chỉ cần bắn vài tiếng súng lên tha la thì có lẽ tôi sẽ bị bắt, bị tra tấn và đi tù, không còn là một đứa học trò nữa và chẳng biết tương lai mình sẽ thế nào.

Đường đi học thì trống trải tương đối an ninh, nhưng vào một buổi sáng nọ khi đến đầu dốc vườn Bà Đôn kế sân bay có một nhóm người du kích đón mọi học sinh đi đến đứng lại và giao cho mỗi đứa hoặc là cờ xanh, đỏ với sao vàng hoặc tờ truyền đơn, nhưng tất cả vừa ra khỏi khu vực đến sân bay đều bỏ hết không dám mang theo trong mình, khéo mà mang họa vào thân. Làm học trò trong một đất nước chiến tranh thường phải trải qua hoàn cảnh như vậy mà mình không thể nào tránh được, nhất là hai phe đang quyết liệt để tranh hơn thua, bắn giết lẫn nhau. Và rồi theo cái tình hình không ổn định ở Sài Gòn thì tình hình chiến sự, hoạt động của bên trong cũng tăng dần theo. Vào một đêm nọ có tiếng nổ lớn, rồi sau đó có tiếng kèn cùng súng nổ lên dữ dội, tôi với Ông Nội chun xuống hầm núp đạn, bom. Sáng ra mới biết là bên trong đã tấn công vào đồn, có một nhóm khói còn tỏa lên. Cái tha la bị bắn thủng một lổ lớn ở chỗ lỗ châu mai khoảng giữa chừng. Coi như là đồn đã bị phá tình hình an ninh ở xã bây giờ coi như là không được ổn định. Tùy mỗi gia đình mà người ta quyết định đi đâu và như thế nào. Từ đây có nhiều gia đình bỏ sang Biên Hòa, ở những vùng yên ổn; hay họ dời lên trên Bình Dương, khai phá vùng đất dọc hai bên đường từ gần Ngã Ba Cây Sao Quỳ trở xuống gần Nhà Thương mà cất nhà để cuộc sống được bình yên hơn. Tuy vậy họ vẫn đi về trong Tân Khánh. Còn riêng gia đình tôi thì ba má quyết định gia đình đi ra Phú Lợi lên ở tạm trên nhà của Dì Dượng Năm một thời gian rồi tính sau. Thế là từ đó tôi đi học từ xã Phú Hòa băng lên Phú Thuận, rồi lên Phú Hữu mới vô An Mỹ tương đối gần hơn nhiều. Tôi thường đi với anh Hạnh con Dì Năm. Trên đoạn đường nầy tôi thích nhất là đoạn đường mà Ông Trai làm từ Ngã Ba đi vô trường, nó rộng thênh thang, mà hai bên trồng toàn là cây sao vừa có bóng mát, vừa nghe tiếng lao xao của lá khua nhau mỗi khi gió thoảng qua, Nó thơ mộng làm sao, mặc dù chưa được tráng nhựa, mà chỉ là con đường đất đỏ. Những buổi trưa ở lại trường để chiều học tiếp thêm mấy giờ, chúng tôi tập hợp ra ngoài nền đình cao so với đất bằng cả mấy thước mà Ông Trai đã cho ủi đất từ phía ngoài vào để sau nầy cất Đình; vì ở đó có nhiều cây sao lẫn dầu có nhiều bóng mát, mà lại rộng rãi nữa tha hồ nằm hay ngồi nghỉ hoặc nói chuyện to tiếng vẫn không phiền hà đến hàng xóm.

Từ ngày chuyện mấy anh bên Trường Tư tấn công vào Thầy Giám Thị Nguyễn Văn Phụng thì trong các giờ Giảng Văn thầy Hiệu Trưởng cho chúng tôi học bài “Dĩ Hòa Vi Quý” của nhà thơ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hơi nhiều vì trong lớp Đệ Tam nầy có học về thơ của nhà thơ ấy trong các giờ Cổ Văn. Thầy cho biết Thầy dạy tạm để đợi chờ một Thầy khác về và sẽ dạy môn Giảng Văn cho chúng tôi (đó là Thầy Trần Quốc Vị). Gần đến Tết Thầy Trần Văn Ngà dạy Anh Văn, Sinh Ngữ hai phụ trách về Khối Báo Chí phát động viết bài nộp về để Thầy tuyển chọn in vào tập san Tất Niên Tết của Trường. Tôi cũng nổi hứng viết một câu chuyện, nhưng câu chuyện ấy chẳng được thành công chút nào vì ý tưởng của mình hãy còn quá non nớt, còn thơ thì chưa biết làm! Công nhận Thầy Ngà có khiếu về thơ văn, Thầy thuộc rất nhiều thơ và Thầy thường đọc hay ngâm cho chúng tôi nghe sau những giờ rỗi rảnh làm cho chúng tôi trở nên ghiền và say mê dù mình chẳng có khiếu chút nào! Trong chương trình Văn Nghệ có nhóm hợp ca lại được Thầy Bé Tám từ dưới Trường Trịnh Hoài Đức lên luyện tập cho đám hợp xướng đó, chứ không phải là Cô Đức. Năm nầy cũng định hướng cho tôi phải chọn ban A thay vì chọn ban B là ban mình thích và thích hợp hơn, nhưng không thể làm khác được do điều kiện khó khăn của gia đình ảnh hưởng đến quyết định sau cùng. Thế là chỉ có Huệ là đi Ban B còn tôi, Son, To cùng Ban A, tức Ban lấy môn Vạn Vật là chính mà trí nhớ tôi tương đối là yếu kém từ xưa tới giờ, nên có khá nhiều trở ngại. Thời gian ngắn sau thì có Thầy Trần Quốc Vị về thay thế môn Giảng Văn của Thầy Hiệu Trưởng. Thầy Vị có vẽ thích về hướng Triết lý khiến chúng tôi cũng ảnh hưởng ít nhiều. Đường đi học từ Phú Lợi về An Mỹ ngắn và vui hơn mà lại đông học trò, tấp nập khiến mình khó cảm thấy mệt nhọc dù trong những buổi Hè nắng cháy; nhưng thời gian nầy vẫn là tạm thôi vì chúng tôi vẫn đợi chờ trong quê yên ổn hơn để trở về. Không nơi nào thoải mái, đáng yêu bằng quê hương và nhà của mình.

 

Nguyên Thảo,

30/12/2023.


 

Wednesday, November 15, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (24)

 

Ngoài bài thơ nầy, bạn bè còn truyền nhau, hoặc đi tìm bài hát “Em là vì sao sáng” của nhạc sĩ Nguyễn Hiền để tưởng nhớ đến một nữ sinh trẻ tuổi của Trường Trung Học Trường Sơn là Quách Thị Trang bị bắn chết trong cuộc biểu tình ở tại bùng binh trước chợ Bến Thành (Sài Gòn):

 

“Trang hỡi Trang, em là vì sao sáng

Giữa khung trời mây trắng với trăng thanh

Rồi một sớm có bao nhiêu đầu xanh

Xiết tay nhau, giục giã em lên đường

Tôi với em không hề quen biết

Xót xa nhiều khi viết đến tên em

Vì đại nghĩa, máu em đã hòa thêm

thắm tô lên trên tà áo trinh nguyên

Nhưng hôm nay tưng bừng,

Non sông đang vui mừng

Đâu bóng hình em giữa trời quê hương

Những mái tóc chấm vai,

Sân trường tìm đâu thấy

Em thơ đùa trong ánh nắng ban mai

Tôi khóc em trong chiều nay mây tím

Nén hương lòng tôi thắp nhớ tên em

Hình hài mất, nét tinh anh còn đấy

Giữa muôn tim, em còn mãi không phai”.

 

Trong năm học nầy mới đầu mà đã có nhiều chuyện xảy ra với hiện tình đất nước, may là nơi tỉnh lẽ và trong quê cũng không ảnh hưởng gì nhiều, chứ trên báo chí đăng nhiều tin biểu tình khắp Sài Gòn, Chợ Lớn cùng các Tỉnh khác, nhất là ở Miền Trung. Đối với Trường An Mỹ vẫn là các chuyện bàn tán, xôn xao thôi, cùng trao đổi cho nhau nghe những điều mà đồn đoán, hoặc là nghe được. Mấy đề tài ấy khỏa lấp mất cái tình hình chiến sự đang xảy ra. Rồi không bao lâu thì lại xảy ra chuyện Đảo Chánh lật đổ Triều Đại Ngô Đình Diệm, mà người ta gọi là Chế độ Gia Đình Trị, đàn áp Tôn Giáo do nhiều Tướng lãnh mà ông Tướng Dương Văn Minh cầm đầu vào ngày 1/11/1963. Và không bao lâu sau, chỉ mười ngày có cuộc đảo chánh khác của Tướng Nguyễn Khánh được gọi là Cuộc Chỉnh Lý vào ngày 11/11. Tưởng đâu sau các cuộc đảo chánh tình hình chính trị Miền Nam yên ổn hơn; nhưng không, tình hình càng rối rắm thêm ra, không được ổn định, có nhiều bấp bênh.

Trở lại lớp học của chúng tôi cũng có vài thay đổi, không hiểu Cô dạy Pháp Văn có lẽ do đi đường xa, trong quê hoặc sợ hay sao, hoặc là cô muốn đi học tiếp lên cao hơn nữa mà cô nghỉ, rồi Thầy Lã Huy Quý cũng ra đi khiến Thầy Trần Văn Khuê lãnh môn Pháp Văn, và Thầy Hiệu Trưởng Bùi Ngọc Ấn tạm thời kiêm môn Giảng Văn, sau đến Thầy Trần quốc Vị đảm nhiệm cho đến cuối năm. Trong khi đó thì Thầy Huỳnh Hữu Kim Sang tức Nhạc sĩ Anh Việt Thu cũng rời Trường, cô Đức thế chỗ. Toán thì Thầy Phấn thay thế bằng Thầy Nhiên. Thực ra, đối với những Giáo Sư dạy giờ, mà tôi được nghe nói, thì họ không phải là chánh ngạch nên họ thấy được thì dạy, không thì thôi vì đường vào trong xã An Mỹ nầy có nhiều trắc trở hơn là ở ngoài thành phố, nên có nhiều người e dè, sợ sệt mà không dám đi nữa. Chứ đối với những người địa phương thì cũng chẳng đến đỗi nào. Tính ra trong lớp Đệ Tam đầu đàn của Trường Trung Học Công Lập An Mỹ nầy nếu tính ra ở Tân Khánh và Tân Hóa thì chỉ có tôi, To, Huệ, Son, Lập, Đức, chị Ánh, chị Hồng, chị Khởi và chị Mới. Còn bên Bến Cỏ có Phan Thanh Diệp, hình như anh Nguyễn văn Bọ nữa thì phải. Phần lớn ở ngoài Thủ và Bưng Cầu (Tương Bình Hiệp), Bến Thế (Tân An Xã) thì nhiều như chị Hương, Chi, Thê, Thảo, Cẩm Tú. Bên nam có Khánh, Bình, Lượng, Huỳnh Minh Đẩu, Nguyễn Văn Ba, Trương công Minh (Minh sún), Nguyễn Văn Minh, và Nguyễn Thanh Minh, Khiêm, Mão, Nai, Ngơi, Điểu, Bùi Văn Cư, Lễ, Thọ, Tài, Phụ, Lê Văn Anh, Nguyễn Văn Hừng, Nguyễn Văn Năm,… và hai anh em Hùng người Bắc từ Bình Long chuyển về. Năm nầy anh Huỳnh Minh Đẩu ứng cử làm Trưởng ban Đại Diện Trường. Phía sau dãy phòng học là nhà của chú thiếm Vĩnh, lao công của trường. Nhà chỉ là nhà tranh đơn sơ, nhưng cũng là nơi mà nhiều học sinh nghỉ ngơi hoặc cần nước uống, chú thiếm rất dễ nên mọi người ra vào tự nhiên giống như là nhà của mình. Lúc trước tôi thường nghe nói những người học trường tư thường hay không thích những người học ở trường công, điều đó tôi không tin, nhưng bây giờ hai trường Trung học Công, Tư An Mỹ nằm kế bên nhau tôi mới thấy rõ điều ấy. Thực sự, điều đó có xảy ra, mặc dù chúng tôi không có gì gọi là khi dễ hay tỏ vẽ khinh thường gì các anh chị bên đó; ngoại trừ những bạn bè thân thiết phải học ở hai trường. Có bạn giải thích: “Sở dĩ như vậy vì khi thi đậu mới được vào trường công, còn học trường tư là vì không đủ sức để thi đậu vào trường công, vì vậy mà họ có sự mặc cảm nên thường có sự hiểu lầm nếu lời nói sơ sẩy không cẩn thận”! Điều ấy đã xảy ra một chuyện rất là bất ngờ khi hai trường công, tư An Mỹ nầy tổ chức một buổi đá banh giao hữu mà trọng tài lại là Thầy Giám Thị Nguyễn Văn Phụng. Trong cuộc đấu không hiểu Thầy Phụng thổi còi như thế nào đó mà bên đội của trường tư xem đó là sự thiên vị, xử ép; nên khi mãn trận đấu các anh chị lớn bên Trường Tư đi theo Thầy Phụng gây sự. Nghe nói có người chụp vai Thầy Phụng như thế nào đó mà Thầy Phụng đã phản ứng quá mạnh khiến những anh lớn ấy tấn công Thầy, Thầy chạy vội về Văn Phòng, thế mà họ ùa vào tấn công cực gắt. Sau hồi hòa giải từ Thầy Hiệu Trưởng họ mới ra về Trường bên kia mà có nhiều ấm ức, hậm hực. Từ đó khiến chúng tôi ít dám héo lánh nhiều đến khuôn viên Trường Tư nữa.

 

Nguyên Thảo.


Saturday, November 4, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (23)


*LỬA TỪ BI.

(Kính dâng lên Bồ-Tát Quảng-Đức)

 

Lửa! Lửa cháy ngất Tòa Sen!

Tám chín phương nhục thể trần tâm

hiện thành Thơ, quỳ cả xuống.

Hai Vầng Sáng rưng rưng

Đông Tây nhòa lệ ngọc

Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc,

Ánh Đạo Vàng phơi phới

Đang bừng lên, dâng lên…

 

Ôi, đích thực hôm nay Trời có Mặt!

Giờ là giờ Hoàng-Đạo nguy nga.

Muôn vạn khối sân-si vừa mở mắt

Nhìn nhau: Tình huynh-đệ bao la,

Nam mô Đức Phật Di Đà

Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay?

 

Thương chúng sinh trầm luân bể khổ,

NGƯỜI rẽ phăng đêm tối đất dày

Bước ra, ngồi nhập định, hướng về Tây

Gọi hết LỬA vào xương da bỏ ngỏ

PHẬT-PHÁP chẳng rời tay…

Sáu ngả luân hồi đâu đó

Mang mang cùng nín thở

Tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh Xe Quay.

Không khí vặn mình theo

khóc òa lên nổi gió

NGƯỜI siêu thăng…

Giông bão lắng từ đây.

Bóng NGƯỜI vượt chín tầng mây

Nhân gian mát rợi bóng cây Bồ-Đề.

 

Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc!

Lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi!

Chỗ NGƯỜI ngồi: Một thiên thu tuyệt tác

Trong vô-hình sáng chói nét TỪ-BI.

 

Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?

Ngọc đá cũng thành tro

lụa tre dần mục nát

Với Thời-Gian lê vết máu qua đi.

Còn mãi chứ! Còn TRÁI TIM BỒ TÁT

Gội hào quang xuống tận ngục A-tỳ.

 

Ôi ngọn LỬA huyền vi!

Thế giới ba nghìn phút giây ngơ ngác

Từ cõi Vô-Minh

Hướng về Cực-Lạc.

Vần điệu của thi-nhân chỉ còn là rơm rác

Và chỉ nguyện được là rơm rác

Thơ cháy lên theo với lời Kinh;

Tụng cho nhân loại hòa bình

Trước sau bền vững tình huynh-đệ này.

 

Thổn thức nghe lòng Trái Đất

Mong thành Quả Phúc về Cây

Nam-mô THÍCH CA MẦU NI PHẬT

Đồng loại chúng con

nắm tay nhau tràn nước mắt

tình thương hiện Tháp Chín Tầng xây.

 

Vũ Hoàng Chương.

(Khởi viết từ ngày 11/6/63, xong ngày 15/7/63 tại Sài Gòn). 

Wednesday, October 18, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (22)

 

Thông thường đường đi học là đường đi Bình Dương qua Bình Hòa, lên Vườn Bà Đôn đến sân bay thì thả dọc theo sân bay; Đến cuối ra một khoảng đường mòn nữa lại nhập vào đường từ Vĩnh Trường sang An Mỹ, nương theo đó mà chúng tôi tới Trường. Vì có nhiều lớp từ Trường Tư Thục của ông Trai đến Trường Công Lập nên trước giờ học bọn học trò lũ lượt nhau từng nhóm vang rân trên đường đi thật là vui vẻ. Nếu có trường hợp xe nào bị hư hay có vấn đề gì thì chúng tôi có thể chở cho nhau, và xe đạp do bạn khác vừa lái xe của mình một tay, và tay kia dắt xe dùm cho bạn, nên cũng ổn. Tôi thì rất muốn theo học Ban B, tức là Ban Toán, nhưng do vì hoàn cảnh eo hẹp trong năm nầy nên đành phải theo học Ban A, là Ban Khoa Học Thực Nghiệm hay nôm na là Ban Vạn Vật. Với trí nhớ không tốt của mình, dù biết học Ban A tôi sẽ có rất nhiều vất vả, nhưng không thể làm khác hơn. Son, To và tôi thì học bên Ban A. Huệ học Ban B. Còn anh Chi học với chúng tôi bên Tân Uyên, từ khi anh bị rớt trong kỳ thi Trung Học thì bây giờ anh không học tiếp nữa mà ở nhà làm nghề nông.

An Mỹ nầy trồng nhiều tầm vông và tre, có nơi chuyên tầm vông hơn là tre cho nên có một lần tôi nghe hai đứa bạn ghẹo nhau: Đứa học Trường Trịnh Hoài Đức ghẹo đứa An Mỹ là học “ở trường Rừng”; Nhưng đứa học Trường An Mỹ cũng không vừa đối lại đứa học Trường Trịnh Hoài Đức là “mầy học ở Trường Ruộng”. Nghe xong tôi ngẫm nghĩ: “Mà đúng thiệt!”. Ở Bình Dương có hai Trường Trung Học Công lập, một là Trường Trịnh Hoài Đức không nằm ở phạm vi Tỉnh mà lại nằm ở Búng, bên Quốc lộ 13 cạnh Trường Tiểu Học Cộng Đồng Dẫn Đạo Búng, có đồng ruộng chung quanh. Còn Trường Trung Học Công Lập An Mỹ thì nằm trong xã An Mỹ nơi có nhiều rừng tầm vông. Qua cuộc đối thoại đùa vui ấy cũng khiến cho tôi có nhiều thắc mắc để truy tìm về nguồn gốc của nó. Đối với Trường An Mỹ thì tôi có thể tìm được câu giải đáp: Vì sự mong muốn đem lại vinh hạnh, trù phú cho địa phương mà Luật Sư Trần Văn Trai đã bỏ công sức, tiền của để yểm trợ cho xã Ông được những điều mà tôi được biết: Thứ nhứt là cơ sở vật chất, một ngôi Trường Tiểu Học khang trang đẹp đẽ của An Mỹ, hai là thành hình cho một Trường Trung Học Tư Thục; ba là gầy dựng Chi Nhánh Trường Trung Học Trịnh Hoài Đức ở An Mỹ trong giai đoạn đầu, mà hiện nay trở thành Trường Trung Học Công lập mà chúng tôi đang theo học; và lớp Đệ Tam nầy là lớp đầu đàn, mặc dù bên Trường Tư của Ông đã có lớp Đệ Nhị khoảng một năm trước. Trong khi đó ở ngoài Tỉnh lỵ Bình Dương có nhiều trường Trung Học Tư Thục từ rất lâu như Trường Văn An, Nguyễn Trải, trước đó có Trường Trí Đức và sau có thêm Trường Nghĩa Phương. Ngoài công lao mở mang trường học vừa giúp cho xã, Ông mà còn giúp cho học trò của nhiều địa phương chung quanh, ngay cả những địa phương xa xôi như Bến Cỏ (Phú Hòa Đông), Bưng Cầu, Bến Thế hay Vĩnh Tân. Ông còn làm con đường rộng rãi, khang trang từ ngã ba đuờng Bình Dương đi Phú Chánh vô đến trường mà hai bên trồng hai hàng cây sao rất đẹp, rồi tới cái dự án cất ngôi đình An Mỹ trên nền đất rất cao, nhưng chưa biết chừng nào mới cất. Rồi thêm một cái đập để ngăn nước mà người dân thường gọi là “Đập ông Trai”, nghe nói đập ấy nhưng tôi chưa hề tới đó bao giờ! Lạ một điều, Ông Trai làm nhiều việc như thế đó, mà gian nhà cũ của Ông, phía bên trong đối diện với trường học, vẫn không thay đổi hay cất mới vì có một lần tôi theo anh Hừng, cháu Ông vào trong đó giúp lấy một chút ít đồ! Từ đó, tôi cũng nghiệm ra: “Tại sao Trường Trịnh Hoài Đức không nằm ở trong phạm vi Tỉnh lỵ mà lại nằm ở Búng?”, không lẽ: “Những người đồng sáng lập” muốn Thầy Trương Văn Di tiện việc cai quản, chăm sóc và làm kiêm chức Hiệu Trưởng Trường Trung Học Công Lập Trịnh Hoài Đức, trong khi Thầy đang là Hiệu Trưởng của Trường Tiểu Học Cộng Đồng Dẫn Đạo Búng”? Cũng có thể lắm chứ! Đó là điều mà tôi suy nghĩ để lý giải: Vì sao một Trường Trung Học Công Lập độc nhất của Tỉnh Bình Dương thuở ấy mà không nằm trong vị trí của Tỉnh lỵ vào lúc bấy giờ? Kể như vậy, chắc Quý độc giả thấy công lao của Luật sư Trần Văn Trai đã làm được những gì có ích cho chính xã An Mỹ của Ông, đồng thời giúp rất nhiều cho những học sinh ở các vùng chung quanh và phụ cận, nhất là thêm số học trò nghèo được học ở trường công càng ngày càng thêm đông. Số học trò trong lớp Đệ Tam của tôi đa số đến từ Bưng Cầu, Bến Thế rồi Bình Dương và sau đó là Phú Hòa, Hòa Thạnh, Cầu Định, Tân Hóa, Tân Khánh, Vĩnh Trường, Bình Chuẩn, Phú Chánh, kể cả ở tận bên Bến Cỏ-Phú hòa Đông, nhưng ở tại An Mỹ và Phú Hữu thì không nhiều!

Trong năm nầy, như tôi đã viết trong phần trước thì vào khoảng Tháng 4/63 các nhà cửa của dân chúng ở vùng Phước Lộc phải dời vào trong Ấp Chiến Lược tất cả theo Chiến sách Ấp Chiến Lược lúc bấy giờ, do vậy đường đi học của chúng tôi cũng không dám đi qua vùng đó nữa vì sợ hai bên đụng độ nhau, nên đi học trên Tân Uyên phải chọn con đường xa hơn là đi vòng ra Bình Chuẩn rồi xuống Tân Ba mới đi lên Tân Uyên. Nhưng may mắn là thời gian ấy không lâu thì tới nghỉ Hè, thế chúng tôi vẫn cam nổi mà không chọn kiếm nhà trọ học như ngày trước. Tình thế lúc ấy là giai đoạn chiến tranh càng ngày càng tăng tốc độ và càng ác liệt hơn, và những cuộc biểu tình ở khắp nơi thêm nhiều sôi động, nhất là từ lúc có xe cơ giới tấn công vào Lễ Phật Đản ở Huế vào ngày 8/5/1963 gây cho 9 người chết và 20 người bị thương. Từ đó những cuộc biểu tình chống đàn áp Tôn Giáo thật là sôi động khắp miền Nam, nhất là ở Sài Gòn. Đến đỗi ngày 11/6 Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ở tại góc đường Lê Văn Duyệt và Phan Đình Phùng, và rồi đến ngày 7/7 lại có tin trên báo chí là nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã tự tử. Đến ngày 25/8 thì lại nữ sinh Quách Thị Trang bị bắn chết ở bùng binh chợ Bến Thành nên những cuộc biểu tình sau đó lại càng sôi sục hơn. Nhưng ở một ngôi trường không lớn lắm của Tỉnh lẽ, mà lại ở trong quê nữa nên tình hình cũng chẳng có gì là sôi động ngoài những tin tức trên báo chí hay lan truyền cho nhau nghe. Tuy nhiên, bài thơ “Lửa Từ Bi” của nhà thơ Vũ Hoàng Chương được lan truyền một cách nhanh chóng, được chuyền tay nhau để chép mặc dù có chỗ đúng, chỗ sai. Bài thơ ấy như sau:

 

Nguyên Thảo,

19/19/2023.




Friday, September 22, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (21)

 

Trước ngày nhập học một tuần tôi cùng Tong lên trường An Mỹ bằng đi ngõ Vĩnh Trường, tức là đi ngang qua nhà ngoại ở xóm dưới, lên Vĩnh Trường trên rồi đi thẳng qua bên An Mỹ mà không theo đường sân bay. Vì đêm hôm mưa nhiều nên đường tương đối lầy lội, nhưng đi xe đạp thì không trở ngại cho lắm; tuy nhiên đến xóm trên thì nước đổ từ Gò Bèo xuống nhiều quá nên ngoài đường chính không thể đi được, cho nên có đoạn chúng tôi phải mượn đường bờ ruộng để đi do nó khô ráo. Qua đoạn bờ đó thì đến đoạn đường ngập nước mình phải cưỡi xe băng qua. Vì không biết rành đường nầy như thế nào nên tôi cứ nhắm chừng để băng qua, không ngờ lọt phải vào cái miệng cống, xe đạp nhủi đầu, quần áo đều ướt, may là giấy tờ không bị thấm nước. Tong chạy qua bờ ruộng cao bên kia chờ tôi. Do quần áo ướt nên tôi phải dựng xe lại, cổi áo quần ra vắt nước cho tương đối ráo đi, rồi mặc vào. Trong lúc đó, có tiếng ai gọi tôi và nói lớn lên: “Ê Thạch, quần áo mầy ướt rồi có cần tao cho mượn quần áo khô để bận không?”. Vì hơi xa, tôi nhìn không rõ mà cũng chẳng biết là ai đã gọi; ở xóm trên nầy ít có người nào biết tôi lắm, mặc dù cái cống nhỏ ấy là trước cửa ngõ nhà Cậu Ba Ngô. Tôi vội trả lời là “Được rồi, không sao, không ướt lắm đâu, tao bận được mà”! Người hỏi hỏi lại một lần nữa. Tôi xác định là được và hỏi nó: “Đi đâu vậy?”, “Tao đi về nhà cũ, thôi tao đi nhe”! Thế rồi người đó cưỡi xe đạp đi! Tôi ngạc nhiên, hỏi Tong: “Ai hỏi tao vậy Tong?”. Tong nói: “Thằng To đó”. “Ủa nhà nó ở đây hả”. “Ở trong vuông tre, chỗ mầy té đó”! Thế là tôi mới hiểu To ở trong vuông tre nhà Cậu Ba Ngô. Nói đến Thằng To, thực ra tôi không biết nó nhiều lắm, chỉ gặp nó vài lần lúc còn trường Thầy Khai, nhất là khi Thầy Khai dời Trường về trong Chùa Cao Đài và dạy ở đó. To có một thành tích đáng thán phục, nghe nói trước khi đến trường Thầy Khai không biết nó học với ai, nhưng nó thông minh lắm, học không bao lâu thì đã nhảy tọt lên học lớp Nhì hay lớp Nhứt gì đó mà tụi bạn thường nói nó là con nuôi của Thầy Khai, nó học thật giỏi. Tôi chỉ biết về nó bao nhiêu đó thôi. Nay không ngờ lại gặp nó ở đây mà nó còn nhớ tôi, quả là trí nhớ tốt quá, hèn chi nó học nhảy lớp khá nhiều. Nhưng từ khi rời trường Thầy Khai, nó chạy ra ngoài Búng học ở Trường Cộng Đồng Dẫn Đạo, có lẽ nó đậu dự khuyết nên được về học ở Trường An Mỹ, chi nhánh của Trường Trịnh Hoài Đức lúc ban đầu. Tôi và Tong tiếp tục đến Trường An Mỹ. Đến nơi vì quần áo hãy còn ướt, cho nên tôi không đi vào văn phòng ngay, mà dạo vòng quanh coi xem thế nào. Sau bốn năm tôi trở lại, những cây điệp Tây bây giờ lớn quá, tàng rộng đầy bóng mát, những bụi cây bông mà ngưòi ta nói là Immortel nở to hơn. Dọc hai hàng điệp Tây đường vô Trường có thêm mấy băng xi măng đúc để ngồi chơi trong bóng râm của cây thật là thơ mộng. Trường là một khu dài, ngay chính giữa là Khu Văn Phòng, mái nhô cao lên để rồi hai bên là những dãy lớp học đối xứng nhau qua đó. Trường được xây dựng do công trình của Ông Luật Sư Dân Biểu Trần Văn Trai vận động và xin phép. Không biết có sự đóng góp nào của dân chúng và Chính phủ không, nhưng đó là công sức của Ông muốn cho quê hương An Mỹ của Ông được rỡ ràng theo sự thành công của Ông trên đường học vấn cũng như quan trường lẫn làm ăn. Hôm nay trở về đây tôi mới biết rõ là Trường Trung Học Tư Thục An Mỹ của Ông không biến thành Trường Công Lập như trước kia tôi đã nghe nói, mà bây giờ nó được xây dựng bên trong cái sân banh gần khu Trường nầy. Còn dãy cơ sở dài nầy, chính giữa là Khu Văn Phòng, về phía bên kia là của Trường Tiểu Học, và phía bên nây dành cho Trường Trung Học Công Lập An Mỹ, mà thời gian đầu Trường quả thực là Chi nhánh của Trường Trung Học Công Lập Trịnh Hoài Đức gồm số học sinh đậu dự khuyết đưa về đây, mà lúc đó tôi nghe nói là Cô Oanh làm Giám Thị, kiêm dạy luôn môn Nữ Công Gia Chánh. Sau khi trình diện, ghi tên cho lớp Đệ Tam của trường trong năm học mới xong, thì Tong cũng làm xong công việc của nó, chúng tôi đi về Tân Khánh bằng băng dọc theo sân bay về ngã Bình Hòa mà tôi đã từng đi vào bốn năm trước.

Vào ngày tựu trường, tôi, Huệ, Son đi cùng số bạn bè lên An Mỹ qua con đường băng dọc sân bay. Đường nầy có xa hơn đôi chút, nhưng nó sạch sẽ, không lầy lội hay có nhiều vũng nước đục ngầu, hoặc đôi lúc có nhiều gai tre làm lủng bánh xe như đường qua Vĩnh Trường. Trong ngày khai giảng nầy tôi gặp lại nhiều người bạn cũ hoặc cùng xóm như To, Lễ, chị Hồng con ông Năm Thính trên xóm chợ; người bà con trang lứa với tôi là Trương Văn Lập mà vai thứ tôi phải gọi bằng Bác; hoặc Chị Mới, chị Khởi cùng học ở Lớp Nhứt ở trường Tân Phước Khánh với chúng tôi mà hình như hai chị đã đậu Dự khuyết vào kỳ thi lên lớp Đệ Thất ở Trường Trung Học Công Lập Trịnh Hoài Đức vào những năm trước mà có cả Đức nữa. Sĩ số học sinh khá đông, vào khoảng hơn sáu mươi. Trong ngày đầu lớp được ông Hiệu Trưởng tâm tình đôi lời rồi được Giám Thị là Thầy Trần Văn Xuân cho chép Thời Khóa Biểu, cái lịch trình các môn học các ngày của Trường; cùng nói qua về những nguyên tắc, nội qui sinh hoạt và kỹ luật của trường. Sau đó được cho về sớm và chuẩn bị ngày mai bắt đầu một năm học mới.

Đúng ra đến lớp Đệ Tam nầy là chúng tôi được chọn Ban để theo học, nhưng vì sĩ số lớp không đủ cho hai lớp: Ban B hay là Ban Khoa Học Tự Nhiên cho lớp học chuyên về Toán lấy môn Toán làm môn chính, họ học môn Toán cao hơn; và Ban A hay còn gọi là Ban Khoa Học Thực nghiệm lấy môn Vạn Vật là môn chính, tức là học nhiều và kỹ hơn tức nhiều chi tiết hơn. Còn một Ban nữa tức là Ban C, hay gọi là Ban Văn Chương có các môn thuộc về Văn Chương và Sinh Ngữ là những môn chính gồm có Anh và Pháp Văn; nhưng ở đây nhất là những học sinh ở Tỉnh lẽ hoặc trong quê như chúng tôi không mấy ai học ở Ban C vì không đủ trình độ Sinh Ngữ để theo học. Và cũng chỉ vì có một lớp Đệ Tam nên giờ Sinh Ngữ lớp sẽ chia làm hai lớp riêng nữa, nhóm nào học Pháp Văn thì sẽ ra học riêng và nhóm học Anh Văn thành lớp riêng. Vào năm học nầy lớp học thêm được một Sinh Ngữ nữa, như vậy là học sinh nào trước học Sinh Ngữ chính là Pháp Văn thì bây giờ học thêm Tiếng Anh; và những ai trước học Tiếng Anh thì nay học thêm Pháp Văn, mặc dù ít giờ gọi là Sinh Ngữ hai, môn Sinh Ngữ chính được gọi là Sinh Ngữ 1. Hiệu Trưởng Trường là Thầy Bùi Ngọc Ấn Thầy thường đến trường bằng chiếc xe du lịch hiệu Volswagen màu xanh trắng nhạt, rất hiền, không biết vì sao Thầy có tật một chân nên tướng đi không đều, một bên cao bên thấp. Và người dạy môn Văn chúng tôi là Thầy Lã Huy Quý, nghe nói Thầy là người từ Miền Bắc đã vượt tuyến vào Nam sau năm 1954. Và rồi một ngày nào đó không lâu, tôi lại được đọc trong quyển Tạp chí có kể lại chuyến vượt ranh giới của Thầy, đại khái Thầy là một sinh viên của Trường Đại Học nào đó ở miền Bắc, trong chuyến đi thăm viếng ở bờ sông Bến Hải, nhân vào lúc mọi người trong đoàn không chú ý Thầy đã phóng xuống sông và bơi về bờ phía Nam. Thầy thoát khỏi miền Bắc và bây giờ Thầy đang hướng dẫn chúng tôi về môn Giảng Văn. Pháp Văn là cô giáo có xuất thân từ Trường Tây Marie Curie ở Sài Gòn. Toán là Thầy Phấn. Anh Văn là Thầy Trần Văn Ngà ở ngoài Bình Dương. Vạn Vật do Thầy La Cao Trí, sinh viên Trường Dược ở Sài Gòn xin dạy giờ ở đây.

 

Nguyên Thảo,

23/09/2023.