Kính chúc Quý độc giả một năm mới An Khang, Thịnh Vượng nhiều sức
khoẻ và Vạn Sự Như Ý!
Sở dĩ Đạo
Phật thâm nhập vào nếp sống của người Trung Hoa, hay bất cứ
dân tộc nào khác nơi mà nó đến, một cách dễ dàng là do cái tính triết lý của nó.
Cái tính triết lý ấy lấy nếp sống, con người làm trung tâm trên cung cách đối xử
lẫn nhau cùng với tính cách hài hòa, đạo đức; vạch trần cái khổ, chỉ cái vui của
cuộc đời để người ta tiến đến; nhất là các hiện tượng tâm lý, gút mắc trong cuộc
sống mà nhiều tôn giáo khác không thể giải thích. Và sau nầy người ta sắp xếp lại
thành hệ thống tâm lý, gọi là Tâm lý học Phật Giáo hay là Duy Thức Học. Ngoài
ra, Đạo Phật còn đề cập đến những vấn đề siêu hình mà qua đó chỉ rõ con người
chết sẽ đi về đâu (do nghiệp dẫn đi), và làm thế nào để tự mình cứu rỗi lấy mình
mà không cần đến một vị Thần Linh. Do đó, trong Đạo Phật không đề cập đến Vị Thần
Linh tối cao, quyền năng nào cả. Có lẽ chính vì điều đó mà nhiều người xem Đạo
Phật không phải là Tôn Giáo như quan niệm Tây Phương đã suy nghiệm. Đạo Phật hòa
quyện cùng nếp sống tâm linh cũng như tinh thần của con người ở khắp mọi nơi, bất
cứ nơi nào mà nó đến. Chính vì thế nó cũng đến Trung Quốc đã không tạo nên sự độc
lập, riêng tư, mà lại hòa quyện với những chủ trương, triết thuyết của Khổng Giáo,
Lão Giáo, cùng những đức tin từ dân gian trong nếp sống của dân chúng, nhưng đặc
biệt về giáo lý vẫn không bị biến chất.
Phật giáo phát triển ở
Trung Quốc có một nét đặc biệt hơn cả các Phật Giáo trên thế giới, đó là về nền
võ thuật từ Thiếu Lâm Tự do Bồ Đề Đạt Ma truyền lại. Chuyện kể Ngài là người miền
Nam Ấn, là con thứ 3 của nhà vua Pallawa Tamil, khi xuất gia Ngài rất thông đạt
về giáo lý và tu hành nên được Tổ thứ 27 truyền lại, Ngài trở thành Tổ thứ 28 bên
Ấn Độ. Nhưng khi Ngài sang Trung Quốc đi tới núi Tung Sơn rồi Thiền Định tại đây
trong vòng 9 năm chỉ “diện bích” (quay mặt vô vách) mà không nói. Sau nhận đệ tử
là Huệ Khả trao truyền lối tu thiền ở Trung Quốc, và Ngài trở thành Tổ thứ nhất
của Thiền Tông Trung Hoa, Huệ Khả là Đệ Nhị Tổ. Ngài cũng truyền bá Võ Thuật
cho những người phụ giúp trong việc dịch, quảng bá Kinh sách để nhằm luyện sức
khỏe, sau nầy môn võ trở thành nền võ thuật của Thiếu Lâm Tự. Không biết môn võ
thuật có truyền sang các ngôi chùa ở các ngọn núi khác như: Nga Mi, Cửu Hoa Sơn…
không? Nhưng nó cũng là nguồn động lực cho các câu chuyện kiếm hiệp được các nhà
văn trước tác ra sau nầy; và chúng cũng được dựng thành phim gọi là phim kiếm
hiệp Trung Hoa. Tuy nhiên, có điều chắc chắn là Phật Giáo ở nước nầy bao gồm có
cả Bắc Truyền theo “Con đường tơ lụa”: Lấy Đại Thừa làm cơ bản, với hệ thống Kinh
điển từ Tiếng Sankrit dịch sang Hán Ngữ để sau đó lan truyền sang Triều Tiên,
Nhật Bản, Đài Loan và miền Bắc Việt Nam. Và cũng có Phật Giáo Nam Truyền: Từ
Nam Ấn qua Sri Lanka, sang vùng Đông Nam Á rồi đến Trung Hoa qua ngõ thuộc Tỉnh
Quảng Đông với Kinh điển chữ Pali và thuộc hệ thống Thượng Tọa Bộ. Ngoài ra lại
có Phật Giáo Mật Truyền (Mật Tông) qua nhánh Tây Tạng, Nepal, Bhutan rồi đến Mông
Cổ với Kinh điển bằng ngôn ngữ Tây Tạng theo hệ phái Kim Cang Thừa.
Ngoài ra, trong Phật giáo
Trung Hoa người ta thường đề cập đến những giai thoại tu tập của các vị tu sĩ được
giác ngộ, đạt đến phẩm hạnh của các vị Bồ Tát cần có như ở núi Nga Mi (Tỉnh Tứ
Xuyên) là nơi tu luyện của Phổ Hiền Bồ Tát; Ngũ Đài Sơn (Tỉnh Sơn Tây) là nơi hóa
thân của Văn Thù Bồ Tát; Cửu Hoa Sơn có Địa Tạng Vương Bồ Tát; và Phổ Đà Sơn là
nơi Quan Thế Âm Bồ Tát thị hiện. Rồi còn có chuyện Tế Công hay là Tế Điên Hòa
Thượng, hoặc chuyện Bố Đại Hòa Thượng được xem là hình ảnh của Phật Di Lặc là vị
Phật của thời đại Tương Lai.
Về chuyện dịch thuật các
Kinh điển nhà Phật sang Tiếng Trung Hoa, thì lúc đầu do các nhà sư từ Ấn Độ, Tây
Vực sang như An Thế Cao, Cưu Ma La Thập thực hiện. Sau có các nhà sư Trung Quốc
sang Ấn Độ học tập, và thỉnh Kinh về rồi dịch thuật như Ngài Chu Sĩ Hành đời
Tam Quốc, Pháp Hiển đời Đông Tấn, và Huyền Trang đời Đường. Song song vào đó việc
in ấn xuất bản Kinh điển Phật giáo cũng được tiến hành theo từng thời kỳ, nhất
là trong thời kỳ Nhà Tống đã có 5 lần khắc bảng ván để ấn hành Đại Tạng Kinh: Từ
Thục Bản là bộ Đại Tạng Kinh đầu tiên
trong lịch sử Phật Giáo của Trung Quốc, với hơn 5000 quyển (bắt đầu từ năm 971 đến
năm 983 thì hoàn thành); cho đến Đông Thiền Bản Tự có hơn 6000 quyển (1080-1112);
Khai Nguyên Tự Bản (1112-1146) có hơn 6000 quyển; Tư Khê Bản (1132) có 6000 quyển,
sau được khắc thêm bản nữa nên lại có tên khác là Tư Phúc Thiền Tự Bản. Và sau
là Tích Sa Bản bắt đầu từ năm 1231 đến năm 1310 thì hoàn thành gồm 6326 quyển,
nhưng bộ nầy đến cuối đời Nhà Nguyên thì bị thiêu hủy vì chiến tranh. Và cuối đời
Nam Tống có hai bộ Đại Tạng Kinh khác là Phả Ninh Tự Bản và Hoằng Pháp Tự Bản
ra đời.
Phật Giáo khi truyền đến
Trung Quốc được biến chuyển và thay đổi nhiều để thích hợp với nền văn minh nầy;
cùng đáp ứng với những suy nghĩ của các nhà tu hành, vì thế mà các chi phái khác
được ra đời. Không như những thời trước, lúc đầu Tăng chúng chia thành hai phái
bộ Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ đi về hai hướng. Và phái Tiểu Thừa phát triển ở
phương Nam với hệ thống ngôn ngữ Pali. Như vậy, Phật Giáo ở đây có cả Đại Thừa
về phương Bắc bằng ngôn ngữ Sankrit; Phái Kim Cang Thừa từ Tây Tạng lên ảnh hưởng
đến Nepal, Bhutan, Mông Cổ với hệ chữ viết Tạng Ngữ; phương Nam thì có phái Tiểu
thừa với ngôn ngữ Pali.
Tại Trung Quốc, tất cả giáo
lý Đạo Phật còn được chuyển dịch rộng rãi sang Hoa Ngữ. Và các nhà tu hành lại
phát triển thành nhiều chi nhánh khác, gọi là các Tông phái như:
-Tịnh Độ Tông: Ra đời từ
thời Nam Bắc Triều, nhưng đến đời Nhà Đường thì hoàn thành về giáo nghĩa và phát
triển thịnh hành do hai vị Danh Tăng là Đạo Xước và Thiện Đạo. Tông nầy lại có
3 phân nhánh khác: Đạo Xước, Thiện Đạo kế thừa giáo nghĩa của Ngài Đàm Loan; nhánh
của ngài Từ Mẫn và nhánh Tuệ Viễn xuất phát từ Lư Sơn của Ngài Tuệ Viễn.
-Luật Tông: Do nghiên cứu
từ Tam Lậu Học (Giới, Định, Tuệ) mà các nhà sư Trung Quốc phát triển riêng thành
Tam Luận Tông, Thiên Thai Tông, Hoa Nghiêm Tông theo Tuệ học; và do tu tập theo
Định học mà có Thiền Tông; theo Giới học nên có Luật Tông, Luật Tông có 3 phái:
Nam Sơn Tông, Tướng Bộ Tông và Đông Tháp Tông.
-Thiền Tông: Do Ngài Bồ Đề
Đạt Ma, người từ Ấn Độ sang thành lập vào thời Nhà Lương, nhưng đến đời các vị
Tổ Thần Tú và Lục Tổ Huệ Năng, giáo nghĩa mới hoàn tất và phát triển.
-Pháp Tướng Tông: Tông nầy
dựa vào Tính và Tướng của các pháp nên gọi là Pháp Tướng, nhưng các pháp cũng đều
do Thức phát sinh nên còn gọi là Duy Thức Tông, căn cứ vào các Kinh sách Giải
Thâm Mật Kinh và Du Già Sư Địa Luận do Ngài Huyền Trang làm căn bản, nên Ngài Huyền
Trang được xem như là Sơ Tổ.
-Câu Xá Tông: Dựa vào Câu
Xá Luận làm Kinh căn bản cho Tông, xem mọi Pháp trong vũ trụ đều qui vào Hữu Vi
Pháp và Vô Vi Pháp.
-Hoa Nghiêm Tông: Tông nầy
khởi đầu từ sự nghiên cứu về Kinh Hoa Nghiêm sau khi Ngài Giác Hiền thời Đông Tấn
dịch ra, cho đến đời Đường Ngài Pháp Tạng Hiền Thủ mới hoàn thành, như vậy Tông
nầy căn cứ vào Kinh Hoa Nghiêm để tu tập.
-Mật Tông: Còn gọi là Mật
Giáo hay Chân Ngôn Tông thành lập từ thời Đường do các Ngài Thiện Vô Úy, Kim Cương
Trí và Bất Không từ Ấn Độ truyền đến, căn cứ vào giáo lý của Kinh Đại Nhật và
Kim Cang Đính.
-Thiên Thai Tông: Tông nầy
được thành lập từ đời Tùy và rất thịnh hành, nhưng sang đời Đường thì phát triển
yếu kém, đến khi Diệu Lạc Đại Sư thì mới phát triển lại nhưng vẫn không bằng như
trước.
Như vậy, khi Đạo Phật đến
đất nước Trung Hoa thì được các nhà tu hành phân tích các Kinh điển, giới luật,
hay nhận định giáo lý và chọn cách tu nào thích hợp với quan niệm của họ nhất.
Nhưng con đường tu nơi yên tĩnh, vắng lặng vẫn được ưa thích, chọn lọc; vì thế
mà các chùa thường được xây dựng ở những nơi rừng cây hoặc các núi mà cần phải “san
bằng đất đá” cho việc xây cất; để về sau nầy người ta hay gọi những vị sư đầu
tiên tạo lập ngôi chùa bằng các chữ “người đã khai sơn phá thạch”. Không biết điều
ấy có đúng như vậy hay chăng?
Nguyên Thảo,
23/01/2025.
Nhớ hồi còn nhỏ, ông Nội thường hay lấy xe đạp chở tôi đi đây đi đó,
có khi về thăm ông bà Cố, có khi đến nhà ông Chín chơi, có khi đi chợ để ông
mua ít đồ. Điều ấy có thể vì tôi là đứa cháu nội trai đầu tiên của ông chăng?
Người ta thường nói tôi là cháu đích tôn của ông cho nên được ông thương nhiều!
Ừ, thì cứ coi là như vậy đi, mà quả thật ông thương tôi nhiều lắm! Đi đâu ông cũng
thường chở tôi theo! Đến một ngày nọ, ông chở đi qua xóm Hàng Tre Dài để thăm
người quen bên ấy, khi đến một đoạn đường cát, hơi trũng thấp mà hai bên là những
bờ đất cao có cây giống như rừng mà ông nội nói đó là cái truông, ở đây cát khá
nhiều, khó chạy xe, nên ông nội và tôi phải xuống đẩy xe đi bộ cho qua khỏi nơi
nầy. Chưa bao xa thì nghe tiếng la ỏm tỏi, lẫn tiếng chửi thề và tiếng roi quất
lia lịa. Khi tới nơi đó thì mới thấy có người đánh lên mình con bò tới tấp, còn
con bò thì nằm mẹp xuống đường, mặc cho người chủ đánh bao nhiêu thì đánh, còn đầu
trước của xe thì nghiêng một bên vì con bò bên kia còn đứng bên đó, tất nhiên là
xe không thể đi được. Ông Nội thấy vậy mới hỏi người kia:
-Năm à! Làm sao mà mầy đánh
con bò dữ vậy?
-Nó trở chứng bẽ nài rồi
chú, tới đây cái nó không chịu đi nữa, làm sao chở đồ về được!
Chú năm nầy hồi nào giờ tôi
chưa được gặp, nên không biết chú, nhưng chắc chắn là ông nội có quen rồi.
-Mầy bắt nó chở nhiều, nặng
quá, coi chừng nó bị bể rồi mai mốt khó bắt nó kéo xe được nữa. Thôi đừng đánh
nó nữa. Mầy nên chống tó để xe ở đây, xong mầy dẫn hai con đi ăn cỏ, nghỉ ngơi
một chút xem sao, rồi dẫn nó lợi bắt vô ách coi như thế nào. Chứ mầy đánh hoài
thì nó cũng nằm ì như vậy thôi. Nếu không được thì mượn bò ai đó để kéo xe về!
Xe thì chở nặng, đường cát quá, lại lên dốc nữa, bò nhỏ khó kéo lên nổi. Thôi mầy
thử làm như vậy coi sao?
Nội nói xong thì hai ông
cháu cũng sắp qua khỏi vùng cát và dốc, tôi trèo lên ba-ga ngồi để ông nội chở đi
tiếp.
Khi về nhà thì đã chiều rồi,
nên sau cơm nước xong, ông nội hỏi tôi: “Con muốn biết tại sao hồi xế con bò đó
không chịu kéo xe nữa không? Muốn biết thì lợi đây ông nội kể cho con nghe”. Tôi
đến bên ông nội đang ngồi trên võng, rồi ông đỡ ngồi trong lòng của ông. “Nè,
con có muốn bị đòn như con bò không? Người ta nói lì như bò nên nó bị đòn quá
chừng mà không chịu đứng dậy, vậy con có lì không?”. Tôi lắm léc: “Con không muốn
bị đòn”. “Vậy thì con đừng lì nhen”, “Dạ, con không dám lì”. Rồi ông nội kể:
“Con bò cái đẻ ra con bò
nghé, khi nó lớn lên, tới cái độ có thể kéo xe được thì người ta kiếm hay mua một
con nữa bằng với nó, để rồi người ta dợt, hay tập cho chúng có thể kéo xe. Lúc đầu
chưa bắt chúng vào xe được, nên chỉ cho hai con mang cái ách lên cổ chúng. Thoạt
đầu còn phải có người dắt ở phía trước cho chúng đi quen dần, còn một người ở phía
sau cầm dây mũi, là dây cột vô dây xõ mũi nó đó điều khiển. Điều khiển như thế nào,
con biết không?”, “Con hỏng biết”. Đi như bình thường thì người ta thả lỏng hay
sợi dây, khi nào muốn quanh bên phải thì người ta kéo dây mũi con bên phải cho
con phải đi chậm lại và hô “ví” cho con bên trái đi mau lên. Và khi muốn quanh
bên trái thì kéo dây mũi bên trái cho con trái đi chậm lại và hô “thá” cho con
phải đi nhanh lên thì nó quẹo trái. Tại sao kéo dây mũi của bò con biết không?
Lúc trước ông nội có kể cho con nghe chuyện con bò bị xõ mũi đó. Kéo nhẹ dây mũi
cho nó đau để nó đi chậm lại, còn muốn nó đi mau thì lấy roi đánh vào mông đít,
hoặc bò lớn thì người ta xài cây đót, là cái cây dài mà đầu có gắn cây đinh hay
mũi nhọn chích vào đít, nó đau nên phải đi mau thôi; còn “ví” là kêu con bên trái,
“thá” là con bên mặt hay phải đó”.
Hớp xong một miếng nước, ông
nội nói tiếp:
“Khi quen rồi, không cần
người dẫn ở phía trước nữa, chỉ người điều khiển ở phía sau thôi. Trong một thời
gian chúng thuần thục, nhắm chừng chúng có thể kéo xe được thì người ta mới bắt
vào xe. Nếu có xe nhẹ nhàng hơn thì tập cho nó lần lần, nếu không thì cho nó kéo
xe không, không có chở đồ. Qua thời gian nữa thì chở ít, rồi tăng lần lên đến
khi nhuần nhuyễn. Nhưng con có biết tại sao con bò hồi xế bị đòn không?”.
Tất nhiên là tôi không biết
rồi, cứ nhìn vào ông nội. Ông kể tiếp:
“Thông thường, cặp bò nào
cũng kéo xe sau khi tập cho nó quen rồi, nhưng không phải con bò nào cũng dễ dàng
như vậy, có con thì chịu đựng giỏi, có con khá lười biếng, có con hay “phá bĩnh”
là hay trở chứng, với những con nầy sự kéo xe của nó đôi khi trở nên khó khăn,
gây trở ngại nhiều cho người chủ. Với con hồi xế mà con thấy đó, có thể giống
như loại con bò mà ông nội vừa nói, nhưng nó cũng có thể vì sức nó yếu hơn con
kia mà ông chủ bắt nó kéo xe, chở nặng nhiều quá, lại đường cát, lên dốc nữa nên
nó mệt đi không nỗi, dù cho ông chủ có đánh nó bao nhiêu đi nữa, nó vẫn nằm ì
chịu trận mà thôi. Không khéo nó chết đi thì chỉ có nước bán cho lò giết bò làm
thịt để bán, vì vậy mà ông nội kêu chú ấy mở bò ra cho nó đi ăn trong chốc lát,
vừa nghỉ ngơi vừa lấy lại sức để tiếp tục kéo xe. Nếu ép nó làm nhiều quá, mai
mốt nó bị “bể” luôn, “bể” là nó sợ, nhát mỗi khi mình tra ách vào cổ nó thì nó
sợ, nó cứ muốn tránh ra, không chịu kéo xe nữa, lúc đó mình cũng chỉ bán nó cho
lò làm thịt thôi. Mà thói thường con nào giỏi, làm nặng được, kéo xe nhiều, bền
bỉ thì được chủ ưa thích, bắt làm nhiều. Mà cứ làm nhiều thì con đó sẽ mệt mỏi
và bị đót chích vào đít hay bị đánh nhiều hơn. Do vậy, người chủ thích mua những
con bò tốt như thế, cho nên họ cần phải nhờ đến những người lái bán bò lựa chọn
cho họ những giống tốt như bò bô chẳng hạn, vừa to, vừa khỏe để làm được nhiều,
mà con nào không phải trở chứng “bẻ nài” nên mấy ông lái bò phải biết “coi xoáy”
bò nữa để chọn lấy bò tốt mà bán cho người ta. Xoáy là những vòng lông xoay tròn
giống như cái xoáy trên đầu con đó, nhưng mấy ông lái mua bán bò họ coi xoáy trên
khắp mình con bò để định xoáy nào tốt, xoáy nào xấu để định biết con bò đó có
thể không chịu kéo xe nửa chừng hay không? Nội nói con có biết hông?”. Thực sự
lúc ấy tôi chẳng biết gì, ông nội nói thì ông nói, tôi nghe thì cứ nghe vì tôi
còn quá nhỏ. Lớn lên khi tiếp xúc với ngoài đời, tôi mới hiểu dần mấy điều ông
kể. Nhưng điều tôi nhớ nhất là sau khi kể câu chuyện, ông hỏi tôi: “Con có bao
giờ muốn làm con bò không?” rồi ông cười, trong lúc tôi trả lời: “Con hỏng chịu
đâu!”.
Đồ Ngông,
05/08/2024.
Ở trên chúng tôi đã tìm hiểu và ghi lại con đường truyền bá Đạo Phật về phương Nam do những người Thượng Tọa Bộ hay Đại Chúng Bộ truyền qua Sri Lanka (Tích lan) rồi đến các vùng Đông Nam Á mà ngày nay người ta thường gọi là Phật Giáo Nguyên Thủy, giữ nguyên hình thức bình bát và khất thực như thời của Đức Phật, nhưng không phải là Du Tăng nữa mà họ vẫn có chùa hoặc là Tịnh Thất, Tịnh Xá…Kinh điển là Kinh Nikaya viết bằng chữ Pali. Còn đường truyền bá về Phương Bắc dùng đến Kinh A Hàm ghi lại bằng chữ Sankrit (chữ Phạn) tương đương với Kinh Nikaya của Nam Truyền; cùng với các Bộ Kinh khác gọi là Phương Quảng. Thực ra, chia thành hai nhánh Bắc và Nam hay gọi nhánh Nam là Tiểu Thừa (như Cổ xe nhỏ, chỉ nhằm giải thoát cá nhân, ít người); và Đại Thừa (Cổ xe lớn nhằm giáo hóa, giải thoát cho nhiều người) chỉ là cách tương đối thôi. Vì Đạo Phật ở Trung Ấn Độ dưới thời vua Ashoka (A Dục) và vua Kaniska rất được phát triển, không những trong nước mà các Tu Sĩ còn đi ra nước ngoài để truyền bá giáo lý, cho nên từ Trung Ấn đạo Phật được truyền về Phương Nam qua các địa phương Avanti, Maharastra, Andhra, Chola, Nam Ấn vào Sri Lanka được xem như là sự truyền bá chính yếu của Tiểu Thừa Nam Tông, tuy nhiên về sau ở Sri Lanka có Tăng Đoàn Dhammaruciya được triều đình coi trọng nên ít nhiều tư tưởng Đại Thừa từ các nhà sư nầy cũng làm cho Nam Tông không còn thuần khiết nữa. Các trường phái thuộc Tiểu Thừa cũng lan truyền sang Pakistan, Afghanistan, và tận miền Đông duyên hải Iran với những chứng tích còn lại được phát hiện từ năm 1819 ở Ajanta (thuộc làng Ajintha, quận Aurangabad của bang Maharashtra), và sau đó là ở các hang động khác như Ellora, Nasik, Karle, Bhaja và Junnar.
Và những nhà sư cũng từ
Trung Ấn di chuyển về Phương Bắc qua Trung Á không phải chỉ các nhà sư thuộc nhóm
Đại Chúng Bộ hay là Phật Giáo Phát Triển mà còn một số người thuộc phái Trưởng
Lão Bộ nữa bằng chứng là họ đã đến vùng Vân Nam (Trung Quốc), cho nên danh từ Đại
Thừa chỉ là một cách gọi tương đối cho nhánh phát triển về phía Bắc. Phật Giáo
Bắc Truyền là để chỉ nhánh truyền bá Đạo Phật từ Ấn Độ qua các vùng Trung Á sang
Trung Quốc, Mãn Châu, Triều Tiên, Nhật Bản, Đài Loan và miền Bắc Việt Nam. Nhánh
nầy sử dụng Kinh Văn Phạn Ngữ mà ảnh hưởng nhiều nhất là Kinh điển Hán văn được
dịch từ Phạn Ngữ sang. Riêng Kinh văn ở Tây Tạng là Tạng văn. Nhánh Phật giáo
qua Tây Tạng là Mật Tông có ảnh hưởng đến Mông Cổ, Nepal và Bhutan, Trung Á và
môt số vùng của Nga. Theo như trong lịch sử thì con đường tơ lụa đóng vai trò quan
trọng trong việc truyền bá Đạo Phật, vì từ Thế Kỷ thứ II trước Công Nguyên đến
Thế Kỷ thứ II sau Công Nguyên Phật Giáo rất phát triển ở miền Tây Bắc Ấn Độ, nhất
là vùng Gandhara (nay thuộc Pakistan). Từ vùng ấy Phật Giáo được mở rộng sang
Khotan, Hadda, Bamiyan và Sogdiana của miền Trung Á trong những Thế kỷ sau mà Cộng
Đồng Phật Giáo lớn nhất là Bamiyan (nay thuộc Afghanistan, nơi có hai tượng Phật
lớn trong núi mà lực lượng Hồi Giáo Taliban phá hủy vào năm 2001). Trong các Thế
kỷ thứ III- IV Phật Giáo lan truyền đến Khotan, Kashgar, Turpan và toàn vùng lòng
chảo Tarim thuộc về Phật Giáo.
Từ Trung Á nầy theo Con đường
Tơ lụa các thương buôn và tu sĩ đã đến các tiểu quốc rải rác quanh sa mạc
Taklamakan và tiến sang Trung Quốc vào đầu Thế Kỷ thứ I. Từ Trung Quốc, Phật Giáo
theo ảnh hưởng của nền văn hóa mà ảnh hưởng đến các nước Mãn Châu, Triều Tiên,
Nhật Bản, Đài Loan và miền Bắc Việt Nam với tinh thần Phật Giáo Đại Thừa.
Đại khái những tài liệu về
Đạo Phật mà chúng tôi tìm hiểu là như vậy, còn những suy nghĩ thì như thế nào?
Có lẽ căn cứ vào sự phân chia làm hai trường phái bảo thủ ít người là Trưởng Lão
Bộ cùng phái phát triển Đại Chúng Bộ gồm nhiều người trong lần kiết tập thứ II
chúng tôi nghĩ rằng điều ấy cũng một phần trong việc chọn hướng phát triển riêng.
Tuy nhiên, nếu căn cứ vào điều kiện địa lý và thời tiết thì Đại Chúng Bộ phát
triển về phía Bắc tất khí hậu lạnh hơn nhiều ở Phương Nam thì các tu sĩ không
thể đi khất thực trong những ngày hay mùa quá lạnh hoặc tuyết rơi, vì thế họ cần
những nơi trú ngụ để có thể giữ gìn sức khỏe, thân mạng trong việc tu tập cũng
như hành đạo, cho nên đền chùa được xây dựng khá nhiều. Vả lại, trong thời Đức
Phật giáo Pháp chỉ một mình Đức Phật biết rõ ràng con đường tu hành như thế nào
và giáo pháp phải hiểu ra sao cho đúng. Chính vì sự tường tận như vậy mà Đức Phật
và Tăng Đoàn phải làm những Du Tăng vừa khất thực đến đâu thì truyền đạo đến đó.
Sau nhiều đệ tử hiểu rõ, thuần thục chính pháp thì phân chia đi nhiều nơi để
truyền đạt lại cho những người khác hiểu mà tu. Rồi vào mùa mưa thì “An cư kiết
hạ” để tránh mùa, đồng thời không phải đi nhiều tránh sự sát sanh (dẫm đạp côn
trùng) trên con đường đi. Còn về phía Nam thời tiết thuận lợi, không khắc nghiệt
nên chuyện du tăng hành đạo không hề bị trở ngại, chỉ cần khất thực để độ sinh
và giảng pháp. Rồi với thời gian do nhu cầu cần thiết để giáo hóa lâu dài cho dân
chúng địa phương thì cần nơi ở thế nên các chỗ ở nhỏ, yên tịnh được hình thành
cho các vị tu sĩ như là những tịnh xá hiện nay. Và sự phát triển ra từng địa phương
cho nên ở các địa hương dần cũng có các chùa dù nhỏ hay to. Chung quy dù Nam Tông
hay Bắc Tông nơi tu hành vẫn là những nơi yên tịnh cho tu sĩ tịnh tâm hoặc Thiền
Định, hơn nữa giáo pháp của Đức Phật qua các kỳ kiết tập về sau đã viết bằng chữ
viết để lưu truyền, học tập, nghiên cứu không còn là vấn đề trở ngại nào nữa cả.
Khi các Tăng Đoàn đã kết hợp từng nhóm tạo thành các nơi tu tập bằng tự viện,
chùa, tịnh xá thì sự hoằng pháp cũng tương đối dễ dàng hơn vì dân chúng, phật tử
có thể đến để học hỏi trong từng thời kỳ mà các tu sĩ giúp cho họ. Chùa, tịnh xá,
tu viện thường được xây cất ở núi đồi, khu rừng, trong đồng vắng nhưng không xa
dân chúng lắm để có sự yên tịnh vừa thuận tiện cho sự tu tập của tu sĩ, vừa thuận
lợi cho phật tử, dân chúng đến học tập về giáo lý. Có thể do nhu cầu người tu học
đến chùa, tự viện, tịnh xá càng ngày càng đông, nhất là ở nơi đông dân, thành
phố, các yêu cầu về cơ sở vật chất để đáp ứng được nhu cầu nên dân chúng, phật
tử cùng nhau chung sức tài lẫn vật lực mà xây dựng nên. Điều ấy cũng không có gì
đáng nói!
Cũng giống như vậy, Phật
Giáo Đại Thừa sau khi thâm nhập vào Trung Á thì theo con đường tơ lụa vào Trung
Quốc rất sớm, vào khoảng năm 65 và trong bốn thế kỷ đầu đã tạo được nền tảng cơ
bản trong xã hội Trung Quốc. Phật Giáo được phát triển mạnh vào các Triều đại của
Nhà Tùy và Nhà Đường (581-907) rồi lan truyền sang Triều Tiên, Nhật Bản vào cuối
Thế kỷ thứ V. Trong khoảng thời gian nầy, các công trình Phật Giáo được xây dựng
ở Trung Quốc hàng loạt như Thiên Phật Động Kiril ở Khâu Từ, Mạc Cao ở Đôn Hoàng
(Tỉnh Cam Túc), chùa hang đá Vân Cương ở Đại Đồng (Tỉnh Sơn Tây), Long Môn ở Lạc
Dương (Tỉnh Hồ Nam). Phật Giáo Đại Thừa ở Trung Quốc ảnh hưởng rất lớn với Phật
Giáo Việt Nam, vì các Tạng Kinh Điển mà Phật Giáo Việt Nam sử dụng, lưu truyền
hành đạo phần lớn bằng Hán Ngữ hoặc dịch ra trước khi có những nhà sư uyên bác
dịch những Kinh Sách từ Tiếng Sankrit hay Pali sang Việt Ngữ.
Nguyên Thảo,
25/11/2024.
Sự Truyền Bá của Đạo Phật:
Chúng tôi có những phần ghi lại nầy là vì trong sự tìm hiểu Đạo Phật cần nên có,
để có thể biết tường tận hơn phần nào về các kiến thức của mình; rồi từ đó sẽ nhận
định xa hơn trong những câu chuyện bàn thảo với nhau. Đây chỉ là những phần khái
quát, kiến thức phổ thông, nhằm củng cố cái vốn hiểu biết nông cạn của bọn chúng
tôi, chứ không là những vấn đề nghiên cứu kỹ lưỡng vì trong các trang mạng, tài
liệu nghiên cứu của các Thầy, Sư Cô, Tu Sĩ, Cư Sĩ, Chùa cùng các tổ chức đã ghi
lại rất đầy đủ rồi. Với vị trí của Việt Nam thì được tiếp nhận hai luồng truyền
bá từ phương Bắc lẫn Phương Nam, vì thế sự tìm hiều cả hai cũng là điều cần thiết.
Trước hết, chúng tôi ghi
lại cuộc truyền bá Đạo Phật về Phương Nam, tức là sự truyền bá Đạo Phật về hướng
đất nước Sri Lanka rồi truyền sang các nước khác như Myanmar, Thái Lan, Lào,
Campuchia…mà cũng có thể ở cả Indonesia nữa vì ở đảo Jawa ngày nay còn có di tích
Borobudur của Phật Giáo mà di tích nầy được xem là lớn nhất trên thế giới có niên
đại từ Thế Kỷ thứ IX, chứng tỏ Indonesia trước kia là nơi Phật Giáo phát triển
rất mạnh trước khi Hồi Giáo đến xâm chiếm nước nầy và dân chúng phải chuyển
sang Đạo Hồi, mà ngày nay Indonesia được xem là quốc gia có người theo Đạo Hồi
nhiều nhất trên thế giới.
Theo lịch sử thì sau khi Đức
Phật nhập diệt, hàng Tăng chúng bắt đầu có những dị biệt trong cách hành đạo nên
đã có những kỳ kết tập Kinh Điển để bảo tồn Chánh Pháp như đã ghi ở trên. Đồng
thời vào Thế Kỷ thứ III trước Tây lịch, con trai vua Asoka là Mahinda đến Sri
Lanka truyền bá Đạo Phật. Nhà vua Devanampiya-tissa theo đạo và cho xây chùa
Mahavihara ở kinh đô thời đó là Anuradhapura. Sau em gái Mahinda là Ni trưởng
Sanghamitta mang xá lợi Phật cùng cây Bồ Đề con đến trồng làm giá trị cho ngôi
chùa thêm nâng cao. Rồi từ đầu Thế Kỷ thứ II đến Thế Kỷ thứ I trước Tây Lịch do
chiến tranh tàn phá với người Tamil thường xuyên, nên các nhà sư cho chép Kinh điển
trên lá bối (lá buông?) để bảo tồn và lưu truyền về sau, bên cạnh phương pháp
truyền khẩu truyền thống. Còn Myanmar sau các biến động lịch sử cũng như tôn giáo,
cuối cùng, nhất là sau khi quân Mông Cổ rút đi, các vua Myanmar gởi các nhà sư
sang Sri Lanka học tập. Lúc ấy Sri Lanka đã lấy Thượng Tọa Bộ hệ phái
Mahavihara làm quốc giáo, cho nên khi trở về nước các nhà sư Myanmar tiếp tục củng
cố truyền thống Thượng Tọa Bộ Mahavihara cùng với Sri Lanka và trở thành trung
tâm bảo tồn hệ phái nầy và sự truyền giáo lan truyền đến các nước lân cận như
Thái Lan, Lào, Kampuchia, phía nam Việt Nam, có thể sang cả Mã Lai và Indonesia
nữa mà chứng tích thời cực thịnh ấy là Di sản Đền Phật Giáo lớn nhứt Thế Giới Borobudur
ở Magelang, miền trung đảo Java của Indonesia ngày nay.
Đó là nhánh Phật Giáo lan
truyền về phương Nam, còn sự truyền giáo về phương Bắc thì thế nào?
Đạo Phật từ lúc đầu vốn là
Tăng Đoàn chứ không có một tổ chức qui củ, hệ thống của một tôn giáo cho nên không
có chức sắc, người điều hành để điều khiển hệ thống truyền giáo của Đạo. Khi Đức
Phật tại thế thì Ngài chỉ truyền đạt lại những gì mà Ngài đã thấy biết, giác ngộ,
những tri kiến nào của một vị Phật như Ngài đã thấy biết, nhưng Ngài chỉ thuyết
về vấn đề của con người, chúng sinh để người nghe tiến vào con đường tu hành, nhằm
thoát khỏi những đau khổ trầm luân trong Vòng Luân Hồi, và đạt đến Giải Thoát,
tìm lại được sự an vui, tĩnh lặng. Những điều Ngài biết, thấy bao la như lá cây
trong rừng, như đất trên đại địa, còn những điều Ngài thuyết giảng chỉ là lá cây
trong nắm tay, như đất nằm trong móng tay. Tại sao như thế? Vì những điều Ngài
nói mới ích lợi cho người, giúp họ hiểu biết mà tu hành giải thoát, còn những điều
Ngài không nói tức là những gì không cần thiết cho người nghe để tu tập. Tất
nhiên, khi người biết tu hành thành Phật, thành Bậc Giác Ngộ như Ngài thì sẽ được
biết thôi. Do đó Ngài tuyên xưng “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”!
Vì sao? Vì tất cả chúng sinh dù là cây cỏ, súc vật, con người hay chúng sinh còn
ở nơi Địa Ngục, Ngạ Quỷ, A Tu La hay cõi Trời (Chư Thiên) đều cùng có cái “Phật
Tánh” riêng của mình, ấy chính là cái “Hạt” để thành chánh quả dù chậm hay mau,
chẳng qua chỉ là do thời gian thôi, nếu trong thời gian sinh tồn họ biết tạo nên
Nhân tốt và thực hiện theo những điều Ngài chỉ dạy.
Đức Phật truyền các nhận
thức ấy lại cho Đệ Tử, để họ hiểu và tu hành sao cho đúng cách giống như con đường
Thành Đạo mà Ngài đã khám phá; rồi từ những nhận thức ấy mà chúng đệ tử đi hành
Đạo, truyền cho nhiều người khác trên hành trình du hóa. Tất nhiên, tùy theo nhận
thức của từng đệ tử và sự giảng giải của họ mà Pháp cũng có nhiều biến đổi, nhất
là vào các thời kỳ pháp chỉ còn truyền miệng, hội tụng, chứ chưa được ghi lại bằng
chữ viết. Cho nên trong lịch sử có nhiều lần “kiết tập” để chỉnh sửa lại cho đúng
với Chính pháp, cũng như cách thức tu hành sau thời kỳ Đức Phật nhập Niết Bàn là
như vậy.
Sự truyền bá Đạo Phật
theo hành trình của những vị Du Tăng, vừa đi đến những nơi mình đến để truyền đạt
kiến thức Giáo lý cho những người tiếp xúc, để họ nhận ra Chân lý mà họ khởi sự
tu hành cho chính họ, trong sự mong cầu Giải Thoát khỏi khổ đau. Trên hành trình
đường xa ấy, tu sĩ mang bình bát đi khất thực từng ngày để bảo tồn mạng sống vừa
tu tập vừa thuyết giảng Giáo lý, hoằng hóa chúng sinh. Rồi những con người nhận
được kiến thức ấy tùy theo hoàn cảnh, phong tục nơi mình, mà thích hợp với Đạo
Phật, hay đúng hơn là Đạo Phật được tiếp nhận một cách hòa hợp với từng địa phương.
Đạo Phật chỉ nhằm cải hóa nhận thức con người, hiểu và làm theo, chứ không là một
sự bắt buộc phải theo như dùng đến vũ lực áp bức, hay những lề luật bắt người
ta phải phục tùng. Đấy là điều “tự do” trong Đạo Phật trên con đường phát triển.
Cũng từ đó, những người tu hành tùy theo hoàn cảnh, cơ thể, nhận thức của mình
mà chọn cách tu tập miễn là sao: Tránh làm điều Ác, siêng làm điều Thiện, giữ Tâm
mình trong sạch. Ấy là tránh gây những Nhân xấu khiến mình phải trả Quả vào những
kiếp Luân Hồi. Chính vì thế mà trong Đạo Phật cách tu cũng đa dạng, giống như
thật nhiều mà trong ngôn từ Ấn Độ đề cập đến các chữ: “Tám vạn bốn nghìn” pháp
môn vậy!
Nguyên Thảo,
18/10/2024.
Người Việt Nam chúng ta rất
là tình cảm: Nào là tình làng nghĩa xóm, tình láng giềng, tình thân, dòng họ, tình
nghĩa bạn bè, đồng hương…biết bao nhiêu thứ tình gắn bó từng con người trong
gia đình, dòng họ, làng xóm của một xã hội nông thôn ngày xa xưa ấy để trở thành
một nền văn hóa riêng biệt cho dân tộc trong một đất nước thân yêu! Những tình
cảm đó có lẽ thoát thai từ cái nếp sống nông thôn mộc mạc, cũng như mọi con người
chung hoàn cảnh sung sướng, cùng cực có nhau. Những năm trúng mùa vụ cùng nhau
vui sướng, và những năm thất mùa hay tai ương ập đến thì cùng nhau gian khổ,
chia sớt ngọt bùi, giúp nhau để vượt qua giai đoạn khó khăn. Rồi đến những việc
quan, hôn tương tế không hề bỏ nhau trong lúc cần thiết. Chính vì cái tình cảm ấy
mà đi đâu, hay trở về người ta thường nghĩ đến nhau!
Có những con người vì hoàn
cảnh đành phải lê lết phương xa cầu thực, hay để tìm cho mình một phương cách sống,
lâu ngày trở về cũng phải nhớ đến bà con, xóm giềng gọi là chút quà lấy thảo với
nhau. Hay người trong quê đi thăm người thân, quen biết nơi xa, ít ra cũng có vài
món quà mọn như trái cây, bánh trái quê nhà chẳng hạn. Điều ấy có lẽ không bao
giờ dứt, vì từ ngày Đồ tôi lớn lên và biết thì luôn vẫn là như vậy. Ấy là một nét
đẹp của dân mình! Rồi cũng không quên quà cáp trong ngày Tết, năm mới. Thế nào
cũng phải có chút gì đó gọi là mừng nhau trong Một Năm Mới, kèm theo lời chúc vào
một năm sáng lạng, hi vọng hơn xưa. Còn mấy đứa con, cháu thì sao nhỉ? Quần áo
mới cho các con, chút ít tiền “lì xì” cho con lẫn cháu. Bề nào thì người lớn cũng
phải có cho vui. Với những năm “xuôi chèo mát máy” kiếm được ra tiền thì không
thành vấn đề, còn những năm eo hẹp thì cả là một vấn đề phải lo! Đó là chuyện
lo của những người có công ăn chuyện làm, còn đối với những người nghèo khó, đành
ngẫng mặt lên nhìn trời mà than, mặc cho ai nói gì thì nói, con cháu buồn thì cũng
phải chịu thôi. Ai bảo tụi bây sanh nhằm vào nhà nghèo, ráng mà chịu khổ vậy!
Trong những thời gian khó khăn,
người ta phải xếp hàng đi xin giấy tờ, ai nghèo đành ngồi chờ suốt buổi; ai có
quen biết hay cà phê cà pháo thì không cần đến hoặc chẳng phải chờ. Thế là con
nghèo cũng ráng mà chịu, nên biết lẽ thì đừng có than van! Đã vậy, mà còn không
biết bao nhiêu là chuyện phải tốn tiền, quà cáp. Ôi! Ông Tà xóm trên chết rồi,
chiều đám giỗ ông Tá, mai đám cưới Thằng Tạ, mốt đi thăm chú Tả đang nằm bệnh viện.
Chú Bảy mời tân gia, Thằng Bay thôi nôi cho nhỏ cháu, rồi các đám đầy tháng, lại
sinh nhật tán loạn xà ngầu mà bà con làng xóm nội hai bên nội ngoại đã mệt nhoài,
rồi còn bên mình bên vợ, láng giềng hàng xóm nào bỏ được đâu…Nơi nào cũng phải ít
nhứt là một chút quà cáp gì đó. Chắc chưa có ai ngồi kết toán lại xem một năm mình
có bao nhiêu cái đám ma, bao nhiêu cái đám cưới, rồi đám giỗ, đầy tháng, thôi nôi, tân gia…chưa kể bao nhiêu thứ
khác cần phải chi, quà cáp. Đó là chưa nói đến những cái đám giỗ hay cái đám gì
khác mà phải tổ chức, phải làm ở nhà! Trong những thứ quà cáp mà “ngu xuẫn” nhứt
là cái thứ quà cáp mà không thể không làm được: Đó là đi vay tiền ở ngân hàng mà
phải biếu chút nào đó cho người trong ngân hàng. Không biết thời đại bây giờ thế
nào thì Đồ Ngông tôi không được biết, chứ một thuở nào đó, đã có những trường hợp
người không tiền đi vay ngân hàng để làm ăn đành phải chi ra chút nào đó để biếu
hay “làm quà” cho người ở ngân hàng xem như là đền ơn sự giúp đỡ được vay tiền:
Thật là oái oăm và thảm thương! Thôi chuyện nầy tới đây thôi, nói nữa thật là
nhức đầu và tối tăm mày mặt, không khéo sẽ hết biết đường về!
Đồ Ngông,
25/05/2024.
Đức Phật chỉ
ra rằng:
Mọi chúng sinh, con người đều có Phật tánh như Ngài đã có, chỉ vì sự ngu si, mê
muội (Vô Minh) lúc ban đầu, mà Phật tánh đã mượn đến Tứ Đại để cấu thành thân xác,
có thân xác khiến Phật Tánh bị kiềm hãm, gò bó, giới hạn trong thân xác ấy, rồi
lại phải đáp ứng các nhu cầu mà thân xác cần thiết, đòi hỏi để chống chọi lại các
điều kiện sống ở bên ngoài lẫn giữ mạng sống, nên đành tạo các nghiêp để rồi phải
chìm vào luật nhân quả, tái sinh, luân hồi trong sáu đường (lục đạo), ba cõi
(tam giới). Muốn thoát ra khỏi chúng sinh cần hiểu rõ về Tứ Thánh Đế, giữ giới để
tránh tạo nhân do sát, đạo, dâm, vọng gây ra và thêm giới khác là những chất gây
nghiện, hay làm cho tinh thần không còn minh mẫn khiến chúng sinh không thể kiểm
soát được mình, mất đi chính kiến, chính tư duy. Sau đó là thực hiện Pháp Lục Độ
- Ba La Mật (sáu bước để đưa đến kết quả giải thoát: Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục,
Tinh Tấn, Thiền Định, và Trí Huệ) để cuối cùng Trí Huệ được phát sinh và hành
giả tiến vào ngưỡng cửa thành Bậc Giác Ngộ trong Hữu Dư Y Niết Bàn (Niết Bàn
khi còn sống); và sau khi chết sẽ nhập vào Vô Dư Y Niết Bàn. Để hỗ trợ cho hành
giả thực hiện Lục Độ, Đức Phật có nêu lên 37 phẩm gọi là “Trợ Đạo” để giúp cho
người tu dễ dàng đạt kết quả. Ba mươi bảy phẩm ấy là: Tứ Niệm xứ, Tứ Chánh Cần,
Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần và Bát Chánh Đạo! Không những
thế, Đức Phật còn nhắc đến những “Luật” của người tu mà Ngài đã nghĩ ra nhằm giúp
người tu được vững chắc trên đường tu hành, nên khi gần Nhập Diệt Ngài trả lời
cho chúng Đệ Tử “Phải lấy Giới Luật làm Thầy”! (“Này! Các người phải tự mình thấp
đuốc lên mà đi! Các người hãy lấy Pháp của ta làm đuốc! Hãy theo Pháp của ta mà
tự giải thoát! Đừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khác, đừng tìm sự giải thoát
ở một nơi nào khác, ngoài các người..”).
Với Giáo Pháp ấy, Đức Phật
đã ôm bình bát di hành khất thực đến đâu thì thu nhận đệ tử tạo thành Tăng Đoàn
và truyền giảng đến đấy. Ngài cùng chúng đệ tử chia nhau đi nhiều phương để quảng
bá đến cho nhiều người để họ cùng tu hành hầu đạt đến sự giải thoát khỏi khổ đau
cho chính họ trong đời nầy lẫn những đời sau. Tùy theo căn cơ của đại chúng mà
tuyên giảng giáo pháp từ dễ đến khó để người nghe thấu hiểu mà hành Đạo. Ngài
nhập diệt vào năm 80 tuổi sau hơn 45 năm hành đạo!
Sau khi Đức Phật nhập diệt
(theo lịch sử) thì các Kinh điển Ngài truyền bá, rao giảng được kết tập lại
trong bốn thời kỳ:
-Kết Tập Lần Thứ Nhất:
Bốn tháng sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, do một số phàm Tăng có thái độ bất kính,
không giữ giới luật nên Ngài Ma Ha Ca Diếp (Mahakassapa) triệu tập 500 vị Đệ tử
A La Hán họp tại hang Tất bát la (Sattlapanna) ở Thành Vương Xá (Rajagaha) dưới
sự giúp đỡ của vua A Xà Thế (Ajatasattu) để kết tập, lần kết tập nầy được gọi là
Ngũ Bá kết tập. Lần nầy A Nan (Ananda) trùng tuyên lại tạng Kinh; Tôn giả Ưu Ba
Ly (Upali) trùng tuyên Tạng Luật; Có thuyết cho rằng Tạng Luận trong lần kết tập
nầy không có trùng tuyên.
-Kết Tập lần Thứ Hai:
Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn khoảng 100 năm tại thành Tỳ Xá Ly (Vaisali) có
Thầy Tỳ Kheo tên Bạt Kỳ chế ra 10 tịnh pháp có tính phóng khoáng khác xưa nên
khi Ngài Trưởng Lão Gia Xá (Yassa Kakandakaputta) đi ngang qua bèn câu hội cùng
700 vị danh tăng tài đức trùng tuyên lại giáo pháp của Đức Phật, ngăn ngừa các điều
phi pháp xen vào Chánh Đạo. Lần kết tập nầy kéo dài đến 8 tháng. Vì có 700 vị Tăng
nên cuộc kết tập nầy được gọi là Thất Bá kết tập, và cũng trong lần nầy, giáo đoàn
của Đức Phật có bất đồng, bắt đầu chia làm hai thành: Thượng Tọa Bộ (Theravada)
chủ trương Bảo Thủ; và Đại Chúng Bộ (Mahasanghika) do số đông hơn, đa số, chủ
trương phóng khoáng, canh tân.
-Kết Tập lần Thứ Ba:
Khoảng 235 năm sau Đức Phật nhập diệt, có vua A Dục (Ashoka) tương truyền lúc mới
lên ngôi Ngài hung tàn, bạo ngược, chinh chiến, chém giết nhiều nơi; nhưng sau
vì lòng hối hận, ăn năn Ngài Quy y theo đạo. Từ đó Ngài rất nhân từ, hộ pháp đắc
lực, cho xây nhiều bảo tháp trên đất Ấn Độ để thờ Xá Lợi Phật cùng các trụ đá để
đánh dấu các Thánh Tích; chính nhờ sự việc ấy mà các nhà Khoa học về sau có cơ
sở để truy tìm con người lịch sử của Đức Phật. Đồng thời nhà vua còn gởi nhiều
nhà sư đi khắp nơi để truyền bá đạo giáo, cùng thỉnh Ngài Mục Kiền Liên Đế Tu (Moggaliputta
Tissa) làm Thượng Thủ họp cùng 1000 vị Đại Đức, Tỳ Kheo để kết tập giáo pháp,
chỉnh đốn Tăng giới, bài trừ những Tu sĩ phạm trai, phá giới, vô kỹ luật kéo dài
trong 9 tháng mới xong.
-Kết Tập lần Thứ Tư:
Khi vua A Dục qua đời, các triều đại sau không còn sùng tín Đạo Phật như trước
và mãi đến thêm 300 năm nữa mới có vua Ca Nị Sắc Ca (Kaniska) lại sùng tín như
trước cho xây nhiều tháp đền khắp nơi. Điều đáng chú ý là lần kết tập kinh điển
lần thứ tư được bảo trợ ở tại thành Ca Thấp Di La (Kasmir) khoảng 600 năm sau
khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Lần nầy có sự tham dự của 500 vị La Hán; 500 vị Bồ
Tát, Tỳ Kheo; 500 vị Học Giả, Cư sĩ. Trong lần Kết Tập nầy, Tam Tạng được khắc
vào bảng đồng và thực hiện suốt 12 năm mới xong.
Qua sử thì trong hai lần
kết tập đầu tiên, Chư Tăng kết tập theo thể thức hội tụng chứ chưa ghi chép bằng
Văn Tự. Mãi đến lần kết tập thứ 3 và thứ 4 thì mới vừa hội tụng lẫn văn tự. Tăng
già phía bắc thì ghi chép bằng chữ Phạn (Sankrit) và truyền về phía bắc Ấn qua
Nepal, Tây Tạng, Trung Hoa, Mông Cổ, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam; phía nam
thì ghi bằng chữ Pali và truyền về Nam Ấn đến Tích lan, Miến Điện, Thái lan,
Kampuchia, Lào, Việt Nam. Như vậy Việt Nam tiếp nhận Đạo Phật ở cả hai hướng
Nam và Bắc. Nhờ các lần kết tập đó mà kinh điển giáo pháp Đạo Phật còn tồn tại
lưu truyền cho đến ngày nay.
Tuy nhiên, theo hệ phái
Theravada ghi chép Kinh điển bằng Tiếng Pali thì lần kết tập thứ tư nầy được tổ
chức ở xứ Sri Lanka, tại động Alokalena vùng Matulajanapada khoảng thời gian
450 năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, với 1000 bậc Thánh A La Hán do Ngài Đại
Trưởng Lão Mahadhammarakkhita làm chủ trì trong thời gian một năm, ghi chép trọn
bộ Tam Tạng, Chú giải bằng chữ viết trên lá buông (lá bối?)
Sau đó hệ phái Phật Giáo
tiếng Pali nầy còn có vài lần kết tập nữa.
-Kết Tập Lần Thứ Năm:
Do dưới thời vua Asoka có gửi Đoàn Chư Tăng do Ngài Trưởng Lão Sona và Ngài Uttara
sang truyền giáo vùng Suvannablumi gồm các nước Myanmar, Indonesia, Thái Lan,
Kampuchia, Lào…Nhưng do tình hình không ổn định ở các nước, cho nên Kinh sách
Phật giáo thường bị đốt phá, mất mát. Vì vậy đến thời vua Mindon của Myanmar,
Ngài muốn bảo tồn giáo pháp của Đức Phật nên nhờ Ngài Đại Trưởng Lão Bhaddanta
Jagara làm chủ trì cùng với 2400 Vị Đại Đức xuất sắc kết tập lại Tam Tạng kinh tại
Kinh Thành Madalay, và khắc trên bia đá để giữ được lâu dài vào năm 2414 (năm
1871) theo Phật Lịch. Công việc nầy được thực hiện suốt 11 năm ròng rã mới
xong.
-Kết Tập Tam Tạng Pali
Lần Thứ Sáu: Do trải qua thời gian quá lâu, các Kinh sách Phật Giáo được in
ấn, sao chép có nhiều sai sót, không giống như bản chính, vì vậy năm Phật Lịch
2497 (năm 1954), Chính phủ Myanmar thành lập Hội Phật Giáo có tên “Buddhasasanasamiti”
để kết tập Tam Tạng Kinh lần thứ sáu tại động nhân tạo Lolasama, Thủ đô Yangon,
Myanmar. Lần nầy gồm 2500 vị Đại Đức thông hiểu về Kinh Tạng, giỏi ngôn ngữ Pali
cùng đối chiếu nhiều bộ Kinh điển từ các nước Phật giáo để sửa chữa cho đúng. Công
việc làm suốt 2 năm mới hoàn tất. Sau đó, Thủ Tướng U-Nu của Chính Phủ Myanmar
tổ chức Lễ Khánh Thành kết tập rất long trọng, và mời Nguyên Thủ các quốc gia
Phật Giáo, cùng Chư Tăng, tín đồ của 25 nước trên thế giới đến tham dự, đánh dấu
2500 năm Phật Giáo.
Bộ Tam Tạng, Chú Giải
trong lần kết tập nầy được xem làm mẫu mực cho các nước theo hệ phái Theravada.
Đó là lịch sử của những lần kết tập Kinh điển giáo pháp Đạo Phật trong suốt chiều
dài hiện hữu trên thế gian. Còn riêng Phật giáo Đại Thừa được ghi nhận có một lần
kết tập nữa tại A Phú Hản vào khoảng 500 năm sau Đức Phật nhập diệt để kết tập
lại bốn Bộ Kinh A Hàm (Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tạp A Hàm, Tăng Nhất A Hàm) tương
đương với Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh của
Hệ phái Tiếng Pali hay phái Nguyên Thủy Theravada.
Nguyên Thảo,
19/09/2024.