Tuesday, July 19, 2011

*Đạo Phật 20: Nhập Thế Hay Xuất Thế?

Từ lâu, người ta nhìn vào Đạo Phật như là một đạo xuất thế và những người tu sĩ của Đạo Phật như là những người xa lánh cõi trần tục, sống trong am tự ở những nơi yên tịnh vắng vẻ để lo hành việc đạo, sống một đời đạo hạnh, không vương vấn cuộc đời. Đôi khi người ta coi am tự như là những nơi để những người buồn chán, thất thời lỡ vận từ bỏ đời sống bình thường nương tựa như thế gian có câu: “Tu là cỗi phúc, tình là dây oan”! Chính vì thế mà người ta nhìn Đạo Phật như là tiêu cực đối với xã hội trong những thời gian dài, mặc dù trong lịch sử nước ta Đạo Phật có những thời kỳ nhập thế và những triều đại ấy thật là huy hoàng. Điều ấy được chứng minh qua hai triều đại Lý, Trần. Nhưng sự thực thì Đạo Phật là đạo Xuất Thế hay Nhập Thế?
Đạo Phật chính ra là một đạo nhập thế. Vì nếu không nhập thế thì làm sao nó làm nhiệm vụ giáo hóa chúng sinh cho được. Ngay cả Đức Phật cũng phải nhập thế hơn 45 năm ròng rả để thuyết giảng, Ngài chỉ bỏ hơn 6 năm xuất thế để tu tập tìm con đường đạo, và khi đã “ngộ đạo” tìm được con đường cứu khổ và giải thoát khỏi luân hồi cho chúng sinh, Ngài đã hoàn toàn nhập thế, lặn lội từ nơi này đến nơi khác để truyền bá con đường ấy cho chúng sinh, mà chỉ mong chúng sinh “Ngộ, Nhập tri kiến Phật” và chỉ cho chúng sinh biết rằng mình có Phật tánh là hạt nhân để mình có thể trở thành Bậc Giác Ngộ và thoát hỏi Luân Hồi. Nhưng điều quan trọng vẫn là do chính người đó muốn được giải thoát, tự tu tập theo con đường mà Đức Phật hướng dẫn theo chính kinh nghiệm của Ngài hay không?
Theo như vậy, chúng ta không thể nói rằng Đạo Phật là Đạo Xuất Thế. Sở dĩ, người ta hiểu lầm hay hiểu không đúng tại vì họ và chúng ta chưa quán triệt được trong tư tưởng của chúng ta mà thôi! Chúng tôi không phải nói ngoa! Mà đó chính là một sự thật! Mà sự thật đó người ta không thể ngờ tới!
Có lần chúng tôi đã phân tích và nói về vấn đề con người trên con đường giải thoát (Bài: “Con Người Trong Đạo Phật” đăng trong trang nhà Đạo Phật Ngày Nay vào tháng 11/2008 ở Phiên bản cũ). Con người là chúng sinh đang ở cuối điểm con đường giải thoát, và được làm con người rất là quan trọng. Tuy nhiên vì con người không nhận thức được vai trò, vị trí của mình nên thường lo lắng, e ngại, hay thiếu lòng tin, mà không có hay chẳng vững lòng tin để tu. Vì vậy mà người ta sống theo sự ham muốn đầy đủ tham, sân, si của mình để gây nghiệp tiếp tục và rồi lại trôi theo dòng nghiệp, và vay trả trả vay!
Theo như Kinh điển đã đề cập đến trong Lục đạo Luân Hồi thì được làm con người ở cõi Nam Diêm Phù Đề này rất là quan trọng (nhân thân nan đắc). Tại sao như thế? Vì các chúng sinh cõi khác như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, A-tu-la, và các cõi trời đều tu không thể thành Phật, bởi vì các cõi ấy không có Phật pháp. Phật pháp chỉ có ở cõi Nam Diêm Phù Đề, do đó mà các chúng sinh khác muốn tu thành Phật phải “tái sinh” làm người trong cõi của chúng ta mà thôi! Cho nên, làm con người trong cõi đầy đau khổ này không phải là dễ, cũng là có nhiều phước đức mới đi đến đoạn cuối của vòng Luân hồi, và giống như chúng ta đang đứng tại cửa ra mà chúng ta không biết! Chúng ta chỉ cần mở cánh cửa ra là chúng ta sẽ thoát được ra ngoài, ra ngoài cõi sinh tử!
Ở Kinh Duy Ma, phẩm Phương Tiện, Thiên Thai sớ có ghi:
“Nói Tám nạn thì Thứ nhất là Địa ngục, Thứ hai là Ngã quỉ; Thứ ba là Súc sinh; Thứ tư là Bắc Uất Đan Việt tức là người ở châu Bắc Câu Lư sống sung sướng nên không ham tu học. Thứ năm là Trường Thọ Thiên; người ở đây không có tâm tưởng nên không tu học được. Thứ sáu là đui điếc câm ngọng. Thứ bảy là thế trí biện thông, cậy mình thông biện, theo đòi thế sự nên không tu học. Thứ tám là sinh vào thời trước Phật, sau Phật” (Trích “Bát nạn” từ “Từ Điển Phật Học Hán Việt” của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, do Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội xuất bản)
Chúng ta được sinh ra trong thế giới này, mà chúng ta không phải bị “câm, ngọng, đui, điếc” tức là chúng ta thoát được sáu nạn; và mặc dù chúng ta sinh sau Phật nhưng chúng ta được tiếp cận với Phật pháp thì với “tám nạn” ấy chúng ta cũng được coi như là thoát nạn. Thế thì chúng ta chỉ còn biết cách tu để đạt được đạo mà thôi!
Thông thường, người ta cứ nghĩ người được phước báo, giàu sang, sung sướng là những người tu nhân, tích đức bây giờ mới hưởng phước. Nhưng trong con đường để giải thoát, thì những người giàu sang, sung sướng, hạnh phúc.. họ lại hay quên lãng tìm cho mình con đường giải thoát; mà những con người thường xuyên đau khổ, thiếu thốn dằn vặt, ưu tư về nội tâm.. lại là những người dễ có cơ duyên “thành đạo” hơn vì với những “Phiền Não” họ dễ dàng “không vướng mắt” về ngoại cảnh, và họ có trạng thái giống như một người “đang hành thiền”, và họ lại quyết tâm hơn, vì thế họ dễ chứng nghiệm “Thị Bồ Đề”!
Theo như vậy, làm con người mới có nhiều cơ duyên để tu và tìm được cho mình con đường giải thoát. Nhưng tại sao người tu thì ít, người không tu thì nhiều? Nếu nói về cơ duyên và nhân quả thì duyên của họ chưa đến; vả lại, thế giới này cũng có nhiều ma như trong Kinh Lăng Nghiêm Đức Phật đã cảnh báo:
“Bởi các loài ma kia thấy người tu hành, sanh tâm lo sợ cho bà con quyến thuộc của chúng sẽ tiêu diệt, nên chúng dùng đủ thần lực đến nhiễu hại người tu. Chúng cũng đủ năm phép thần thông biến hóa chỉ chưa được Lậu Tận Thông” (Phật Học Phổ Thông, H.T Thích Thiện Hoa, khóa VI-VII, trang 270).
Chính vì thế mà trong cuộc sống nhiều lẫn lộn này, thế giới ma đã bày ra nhiều ma chướng, thú vui, để lôi cuốn con người vào những thú vui, sắc dục, vật chất.. khích động lòng tham, xúi giục nỗi sân để rồi con người trở nên si mê mà vương vào các tội thuộc sát, đạo, dâm, vọng để từ đó con người phải vướng vào nghiệp mà không thể thoát ra được ngoài vòng luân hồi và chịu loài ma lôi cuốn mãi trong cuộc chơi của chúng. Chúng cũng không những quấy rối, lôi cuốn trong thế giới con người, mà ngay cả những người tu hành nữa: Đó là những người tưởng chừng như “ngộ đạo” nhưng thực ra đã bị loài ma hướng dẫn vào những ma đạo, tiếp sức cho ma để quyến rũ con người không thể thoát ra được vòng luân hồi và sự kiềm tỏa của chúng ma. Điều đó ta có thể thấy nhiều người tu tự xưng mình là chứng ngộ, là bạn, là con, là tiên tri, là sứ giả của Đấng Tối Cao nào đó, nhưng trên thực tế tôn giáo của họ là những tôn giáo đưa đến sự chém giết khủng khiếp cho nhân loại, hoặc dùng sự hào nhoáng bề ngoài để dễ dàng thu hút, dụ dỗ, lôi cuốn nhằm khống chế con người trong vòng ảnh hưởng của chúng! Con người, chúng sinh trong thế giới này, trong điểm đích cuối cùng của vòng luân hồi phải chịu nhiều thử thách cam go mới có thể vượt ra được giống như cái cảnh cá vượt “Vũ Môn” để hóa thành rồng; nhưng không mấy con cá Lý Ngư sẽ hóa thành rồng!
Lại có điều khác quan trọng trong quan niệm, ý tưởng hay suy nghĩ: Người ta thường suy tưởng tu rất khó và nhất là được nghe kể cần rất nhiều kiếp tu mới thành Phật, cho nên đa số họ đã không nghĩ đến tu và không nghĩ là mình đang ở vị trí “sắp thành”, nên họ đã buông trôi dòng đời, mặc ra sao thì ra. Chỉ cần những sai lầm hay những phút giây tạo nghiệp, họ phải luân hồi trở lại bao nhiêu kiếp và không biết đến bao giờ họ lại trở lại làm con người ở cõi Nam Diêm Phù Đề để được tu hành mà giải thoát! Không những thế người ta cứ nghĩ tu là phải xuất gia, sống trong giới luật mới là tu hay ít ra cũng là cư sĩ. Nhưng tu trong đạo Phật, đâu phải là chỉ có thế: Tu là để không gây nhân xấu nữa, tích chứa những nhân thiện đến khi nào trong túi A-Lại-Da-Thức không còn nhân để gây nên quả xấu nữa thì sự Luân Hồi cũng chấm dứt vì đâu còn nhân xấu mà phải trả quả ở các kiếp sau! Không cần đến kiếp sau nữa thì làm gì để có Luân Hồi. Chỉ trừ một việc là trong lúc sống chúng ta tha thiết với một việc hay điều gì “quá luyến lưu” mà ta ước nguyện quay trở lại thì lúc đó thay vì rời được dòng nước chúng ta lại “tự nguyện” quay trở lại với dòng nước!
Cũng vì quan niệm tu rất khó để thành Phật ấy, cho nên người ta trở nên ít tu và trong lối tu của họ không tìm thấy sự sáng sủa “gần kề”, mà chỉ thấy một sự “xa vời” nào đó. Từ đó, người ta cứ bắt chước con đường đi tìm đạo như Đức Phật, sống theo cách của Đức Phật lúc mới đi tìm đạo để mong rằng trong một lúc nào đó họ được ngộ đạo để thành Phật: Làm một vị Bích Chi hay Độc Giác Phật. Nhưng Đức Phật đã tìm được Chân Lý và tuyên xưng Chân lý ấy từ lâu rồi kia mà! Sống và tu hành như cung cách của Đức Phật ngày xưa cũng tốt vì cái Ngã của mình được lắng xuống: Mình cảm thấy mình sống còn nhờ vào bá tánh, có thể mình còn bị phỉ báng thì sự nhẫn nhục của mình trở nên cần thiết để mình tu tập được tốt hơn. Tu theo Tiểu thừa thì được thanh tịnh, nhưng khi tiếp xúc với đại chúng thì có thể có những khó khăn xảy ra vì có thể bị dòng đời lôi cuốn, hoặc cái Tâm phân biệt: Ngã, Nhân, Chúng sinh và Thọ giả hãy còn tồn tại vì không phân biệt, “biết” một cách rõ ràng nên còn vướng mắc vào “Cái Tâm phân biệt” đó! Còn có thể do thời tiết, hoàn cảnh, quan niệm hay tập tục mà sản sinh ra phái Đại Thừa, các tu sĩ ở trong các am tự, không còn đi khất thực nữa, mà bá tánh đến chùa để lễ hội hay tu tập. Từ sự được bá tánh cung phụng, đôi khi được cúng dường nữa nên cái quan niệm về “Ngã”, quan niệm về “Nhẫn”, và về “Cái Chùa của Ta” đã giới hạn ở “Lý Tưởng” của người tu sĩ, tất nhiên sẽ lôi cuốn theo cách hành đạo cũng có khác đi!
Đức Phật đã thuyết nhiều “Bộ Kinh” khác nhau tùy theo căn duyên của chúng sinh, và tùy theo căn duyên mà chúng sinh ấy chọn con đường tu tập; dù Đại Thừa hay Tiểu Thừa cũng đều hướng tới lý tưởng “Thành Đạo”, trở thành người Giác Ngộ thì không nhất thiết đường lối tu của ta hay hay đường lối tu của người là dở. Nhưng, điều quan trọng là người tu tu có đi đúng hướng hay không, tu trong căn bản nào: “Dứt trừ vọng tưởng và tâm phân biệt” hay lấy căn bản “Sinh tử, vọng tưởng, tâm phân biệt” để làm mục đích?
Do vì không tìm thấy căn bản mà người tu không quyết tâm để tu, mà còn khen chê đường lối này đường lối kia. Và vì không thấy “vị trí của con người” trong thế giới này quan trọng như thế nào nên người thế gian lại chẳng màng đến việc “tu sửa”. Lại thêm cứ ngỡ tu để thành Phật rất khó và không biết bao nhiêu kiếp và đến bao giờ, mà người ta lại thờ ơ với việc “giải thoát khỏi vòng Luân Hồi” để rồi người ta gia nhập vào những phương tiện thấy như là dễ dàng, con đường hào nhoáng, dáng vẻ bên ngoài do “ma” đã lập thành để lôi cuốn con người đi vòng vòng mãi trong Luân Hồi mà chúng sinh không thể ngờ tới!
Lại nữa, thế gian cứ ngỡ “Tu để thành Phật rất khó và lâu dài” mà không hề nghĩ rằng “Được làm con người sinh ở thế giới Nam Diêm Phù Đề này đã phải tốn biết bao nhiêu là kiếp, hay là vô lượng kiếp cũng không chừng!”; Và “mình không bị câm, ngọng, đui, điếc mà còn có tiếp xúc với Phật pháp” là mình đã thoát được “Tám nạn” rồi!. Vậy thì: Bồ Tát, A La hán đối với mình đâu có xa. Thế mà tại sao chúng ta lại thờ ơ?
Người tu sĩ Phật giáo thì cứ nghĩ mình tu cho mình, mình cố gắng hoàn thiện để mình được giải thoát. Họ lại nghĩ “mình còn lâu lắm mới thành Phật”, nhưng họ lại không bao giờ nghĩ rằng họ đang lột xác để trở thành A La Hán, hay Bồ Tát; và họ cũng cứ nghĩ họ vẫn mãi là chúng sinh, để rồi họ đôi khi thối chí để trở ra vương vấn cuộc đời. Được có thân người là khó, được làm người lành lặn là khó, được tiếp thu Phật pháp cũng là khó; được thâm nhập vào giáo pháp lại càng khó hơn! Thế tại sao chúng ta chỉ cần bước thêm một bước chân nữa để thoát vòng Luân Hồi mà chúng ta không bước để rồi lại còn e dè mà quay trở lại? Điều này những tu sĩ nào chưa đủ tín tâm cần nên suy nghĩ! Đi đúng trên con đường Chân Lý mà hãy còn lưỡng lự, e dè, chắc đợi ma quỷ đưa đường dẫn lối để đi vào đường “Ma” thì mới cam ư? Cứ đi vòng vòng trong cõi Luân Hồi mà không biết đến bao giờ thoát ra được, họ mới chịu đấy sao?!
Đức Phật sau sáu năm đi tìm đạo không thành, với lời nguyện sau cùng và 49 ngày sau Ngài đã tìm thấy “Đạo”. Và với hành trình nhập thế trong hơn 45 năm, Ngài để lại giáo pháp cho đời sau làm “Kim Chỉ Nam” để chúng sinh vượt thoát vòng khổ đau. Thế mà chúng sinh vẫn còn chưa tự tin mình sẽ thoát được vòng đau khổ mà cứ đợi chờ “ma đưa lối, quỷ dẫn đường” để rồi họ cứ mãi là người khổ đau!
Thuở xưa một A Nan “thệ tiên nhập” để giáo hóa chúng sinh; một Ngài Địa Tạng thệ nguyện “Chưa độ hết chúng sinh trong địa ngục, thệ không thành Phật”; một Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát “tầm thinh cứu khổ, cứu nạn” với bất cứ hóa thân nào; và còn biết bao nhiêu Đại Nguyện khác của các vị Bồ Tát và Phật, chẳng có Đại Nguyện nào để xa lìa chúng sinh cả. Vậy thì, Đạo Phật sao gọi là Xuất Thế?
Chúng ta cũng cần quán triệt được quan niệm và vấn đề để chọn cho mình con đường tu đúng và thích hợp trong từng thời kỳ. Nhưng hội nhập để giáo hóa chúng sinh, để truyền bá Phật pháp nối tiếp con đường của Đấng Như Lai trước kia, và cứu khổ cứu nạn, đem lại sự vững lòng tin cho chúng sinh trên con đường giải thoát; làm cho cõi Ta Bà này trở nên Thiện, Mỹ hơn chứ không như các tôn giáo của Ma, quỷ đem chém giết hận thù để lôi cuốn chúng sinh quay trở lại vòng Luân Hồi! Chúng ta hãy cùng nhau suy nghĩ và tiến lên phía trước với đầy lòng tin của những người con Phật, nhưng “hòa nhập, chứ đừng để hòa tan”. Chúng ta hãy cũng như những tượng Phật ngồi trầm lặng nhưng thừa Bi, Trí, Dũng ẩn hiện trong dáng dấp trầm ngâm đó; ngồi trầm ngâm mà hiểu rõ mọi vấn đề qua Lục Thần Thông, nhất là với Lậu Tận Thông! Nhập Thế để giáo hóa cuộc đời và chúng sinh! Nhiệm vụ vĩ đại ấy không bao giờ ngừng nghỉ! Cứ tiến lên và thẳng tiến về phía trước!

Nguyên Thảo,
30/01/2011, cuối năm Canh Dần.

Saturday, July 9, 2011

*Thơ Đó, Thơ Đây! (tt)

Đường Về Miền Tây:



*Lên Xe.

Lên xe chuẩn bị hành trình
Tớ đâu có phải giành riêng chỗ mình
Cứ gì mà phải nhìn quanh
Nhìn qua nhìn lại, nghĩ gần nghĩ xa
Mắt chi lướng vướng cựa gà
Nuốt vô chẳng được, nhả ra khó lòng
Cái gì mà lại ngó mông?

Đồ Ngông,
14/08/10.



*Đường Ra Thành Phố.

Thành phố gì đâu mệt quá thay
Lại nghe kèn bóp nhức inh tai
Xe qua xe lại như chen chúc
Người tới người lui, thấy mệt nhoài
Đi tới một giờ chưa thoát khỏi
Chạy hơn cả tiếng vẫn loay hoay
Kẹt xe cũng tại người không luật
Cứ hễ tranh nhau, thế lược cài!

Đồ Ngông,
15/08/10.



*Khác Quá Đi Thôi!

Ngày xưa tớ đã trải qua đây
Nhà cửa loe hoe chẳng thế nầy
Đồng trống thênh thang, tràn sóng lúa
Mênh mang gió thoảng, lòng bay bay.

Giờ cũng đi qua những chốn nầy
Nhà nhà, phố phố người đông đầy
Ồn ào xe cộ, còi inh ỏi
Bụi cuốn gió bay, người có hay?

Đồ Ngông,
16/08/10.

*Cái Nghèo!

Nói đến cái nghèo thì chẳng ai thích nó cả! Nếu phải lâm vào cảnh nghèo thì đành chịu, chỉ biết than thân trách phận mà thôi!
Với cái nghèo là người ta không có tiền để tạo được những nhu cầu cung ứng cho đời sống của mình, của gia đình; không thể lo cho con cái học hành được thì nói chi lo cho chúng được đến nơi đến chốn: Con cái cùng vất vả với cha mẹ như bóng với hình. Vì để sinh tồn, cảnh nghèo đã thường đưa đến tình huống “Bần cùng sinh đạo tặc”, những hiện tượng trộm cướp để chiếm đoạt tài sản của người khác bằng lén lút hay dùng đến bạo lực, vũ khí. Tuy nhiên, trong xã hội, còn có người vầy người khác: Mặc dù nghèo nhưng vẫn có những con người thanh cao, sống đạm bạc, không hề đụng đến tài sản của người dù đó là một vật nhỏ nhoi. Chính vì thế mà chúng ta mới thấy giá trị của một nền đạo đức căn bản làm nền tảng cho một xã hội; điều ấy chúng ta có thể thấy rõ ràng trong trận động đất và sóng thần ở Nhật Bản trong ngày 11/3/2011 vừa qua. Với ý thức cao, một nền luân lý thấm nhuần nên người Nhật trong cơn hoạn nạn, chết chóc và tan nát ấy họ đã không hề cướp giật, hôi của; mà trái lại, họ vẫn lẳng lặng sắp hàng giữa trời giá rét để được phân phát lương thực và chất đốt. Họ không rối loạn, ngay cả một đức bé 9 tuổi được cho lương thực để ăn đỡ đói được khi nhận hàng cứu trợ; nhưng, nó đã không ăn và đem phần ấy đặt vào trong chỗ quà được phân phát. Những điều ấy làm cho thế giới phải ngưỡng phục một dân tộc về tính trật tự, kỹ luật và ý thức. Quả thật là một dân tộc hiếm có trên thế gian này!
Còn đa số thì sao? Đa số vẫn sống theo bản năng: “Ai chết mặc ai”! Miễn là họ không phải chết và không phải đói! Bằng mọi hình thức họ phải sống dù cái sống ấy bằng những cách “vô liêm sĩ”, hay những hình thức “vô lương tâm” dù là họ không phải là những con người thực sự đói khát.
Với chiến tranh, sự tàn phá khủng khiếp, khiến cho bao gia đình tan nát, tiêu tán tài sản đã dành dụm bao năm, hay cả công sức bao đời đóng góp lại mới thành; chỉ trong thoáng đã là người trắng tay, phủi sạch trở nên nghèo. Trong con đường chính trị sai lầm nào đó khiến cả một dân tộc hay đất nước trở nên nghèo. Con người ta trở nên khốn khổ lầm than, một số người không nhỏ sống theo bản năng “sinh tồn” mà đã nảy ra cướp giựt, giết chóc, trộm cắp… Và khiến cho người khác cũng trở nên nghèo, cũng “bần cùng” mà “sinh đạo tặc” cũng như nhau! Thế là một xã hội, một đất nước gồm đa số thuộc thành phần bất hảo: “Tại vì ai?”. Kinh tế càng khó khăn chừng nào thì người ta phải bương chải chừng nấy để lo cho chính thân mình và toàn gia đình được sống, được đầy đủ thì hình thức “mua chuộc” để quan chức làm ngơ cho hàng gian, hàng lậu đi trót lọt thì được lợi cho cả hai thì tại sao họ không trao đổi. Có chết ai đâu? Chỉ có người mua, người tiêu thụ thôi mà! Họ phải mua mắc hơn chút ít, phải trả thêm một số tiền mà công sức của họ phải bỏ ra nhiều hơn để kiếm được. Một sự liên đới tương quan của xã hội mà không ít những nhà lãnh đạo một quốc gia chẳng hề để ý hay quan tâm, cho nên giá trị của hai chữ “chính trị” trên nghĩa ban đầu đã bị mất dần theo quyền lợi của cá nhân và đàn đóm. Chính trị không còn đem ích lợi đến cho dân, hay tuyên xưng “của dân, do dân và vì dân” nữa mà chính là cho những quan chức, người cầm quyền… vừa được hưởng lợi từ tiền đóng thuế của người dân, vừa được tham nhũng, lại vừa được hối lộ mà giàu có lên: Gia đình trở nên sung sướng, vợ tha hồ chảnh chọe, con tha hồ tiêu phí, du học để trở nên người lãnh đạo của tương lai. Chỉ tội có dân nghèo mà thôi!
Chạy cơm, chạy gạo không xong lấy đâu để lo lót, tiền bồi dưỡng mỗi khi có việc cần. Họ chỉ có ngồi mà than phận hay ngẫm nghĩ đến “một kiếp nghèo”!
Để mong được thoát khỏi cái kiếp cùng cực người ta phải làm tất cả những gì mà người ta có thể: Ở đợ, bán thân, người con gái phải bán cả trinh tiết của mình để rồi đi vào con đường u tối hơn, hoặc bị dụ dỗ đi ra nước ngoài để làm “tấm thân ô nhục”, hay thí mạng cho cuộc đời, rồi tới đâu thì tới! Đàn ông, con trai đủ cách để họ sử dụng từ vũ lực, lừa đảo, giết chóc miễn là “lấy của người khác để làm lấy của mình”. Một sự hỗn loạn của xã hội chưa từng thấy, một nền đạo đức suy vi cùng cực. Thế mà những người ở trên có thấy đâu? Nhất là trong những chế độ độc tài! Chuyện cuộc đời là như thế đó: Thân phận của những con người trong cái nghèo! Cái kiếp nghèo khổ lắm ai ơi!

Đồ Ngông,
15/05/11.

Monday, July 4, 2011

*Đạo Phật 19: Tìm Hiểu, Vào Đạo Phật.

Trong thời kỳ biến đổi khí hậu, trên thế giới có quá nhiều thiên tai xảy ra. Nhưng chưa hẳn ngày xưa cũng đã là có ít thiên tai, vì thuở ấy ngành truyền thông chưa được nhanh chóng và rộng rải như ngày nay, nên chúng ta không thể biết được hết. Còn trong thời đại này, chúng ta được tiếp thu tin tức trên thế giới rất là nhanh và phổ cập, một tin tức nhỏ ở một nơi nào đó khi được phát tán trên mạng thì người ta có thể nhận biết tin ấy thật là dễ dàng; cho nên chúng ta biết được thiên tai xảy ra ở nhiều nơi cũng không có gì là lạ. Song, dù sao sự biến đổi khí hậu làm cho thời tiết thêm khắc nghiệt, đồng thời tác hại của thiên tai cũng khủng khiếp hơn ngày xưa nhiều. Thế thì tại ai? Nếu chúng ta cho rằng con người có những tác nhân phụ thêm vào thì cũng không sai: Từ những vụ phá rừng làm mất đi những khả năng chế biến thiên nhiên để hoàn trả lại khí ôxy cho khí quyển, hay mất đi yếu tố giữ nước ngầm, rễ cây cản dòng chảy của nước, chống xói mòn; những tàng cây xanh che bớt hơi nóng trên mặt đất để giảm bớt được sự sa mạc hóa… Người sống trên địa cầu sinh sản càng ngày càng đông, hơi ấm càng nhiều; thán khí hít thở thải ra cũng với số lượng lớn; nhu cầu sử dụng điện tăng nên sức nóng cũng theo đó tăng dần; lại thêm nhà máy công nghiệp càng phát triển thì khí thải cũng được thải vào bầu khí quyển một số lượng đủ để làm “hiệu ứng nhà kiến” tăng nhanh. Khi thế giới nhìn ra điều ấy thì sự đã rồi! Thiên tai đã dồn dập đến và đe dọa đời sống của con người.

Còn nếu chúng ta cho rằng: Một Ông Trời nào đó hiện diện ở trên cao để làm những thiên tai ấy thì chúng ta sẽ phải nghĩ thế nào về Ông Trời ấy? Ông Trời quả thật là bất nhân, tàn ác vô cùng! Ông quả là “có mắt mà không tròng” để nhìn thế gian. Mà nếu người ta cho rằng Ông Trời ấy đã sáng tạo ra loài người và vũ trụ này để rồi Ông lại tạo thiên tai mà hành hạ con người thì Ông quả là một Đấng tàn ác, vô nhân không thể nào kể hết tội Ông cho xiết. Và, nếu người ta lại cho rằng đó là “Ý Trời, hay ý Trời muốn” thì tội Ông lại càng tăng lên gấp bội! Tai hại hơn nữa, nếu người ta cho rằng: Trời chỉ tạo con người ra trong một kiếp này để phải sống theo ý Trời, làm theo ý Trời để rồi sau khi chết được Trời cứu xét cho lên Thiên đàng hay phải bị đọa vào Địa ngục thì ý tưởng đó là một ý tưởng “đần độn” chưa từng thấy! Vì sao? Vì con người sống và làm chỉ giống như con rối, “Tội” là do nơi Ông Trời điều khiển để làm, thì tội ấy là “tội” của Ông Trời chứ chẳng là tội của con người, thì làm sao Trời lại bắt con người vào Địa ngục hay lên Thiên đàng được. Những ai truyền bá tư tưởng này là những người “ăn không ngồi rồi chuyên đi lừa đảo, dụ dỗ người khác” đi vào sự đần độn của tâm linh mà thôi! Thế thì tại sao ta phải tin vào “những sự đần độn và ngu muội” ấy? Bây giờ là thế kỷ thứ 21, và là thời đại của khoa học, thông tin… Nhất là với khả năng “kiểm chứng” của con người thì tại sao chúng ta: Không thấy, không kiểm chứng mà tin nhỉ? Ôi! Tội nghiệp biết là chừng nào! Đừng nô lệ cho một “Đế quốc tâm linh” mờ ảo theo một câu chuyện “Thần thoại hoang đường” của một dân tộc nào đó. Hãy mở mắt ra và đi tìm “Chân lý”, đó là “mục đích sống của con người”!

Nước lũ đã tràn khắp các tỉnh miền Bắc Trung phần của Việt Nam, thiệt hại về sinh mạng, tài sản cũng khá nhiều. Đời sống của người dân thêm cơ cực, tinh thần “lá lành đùm lá rách” trở nên quý giá vô ngần! Cả nước đang hướng về miền Trung thân yêu! Ông Trời gieo tang thương, rồi Ông đi đâu rồi? Sao Ông không tỏ “lòng lành và sự công bằng” của Ông cho bàng dân thiên hạ thấy đi nhỉ? Nhất là Ông sao chẳng thương dân Phi Luật Tân là dân tộc đã “sùng bái” Ông thật nhiều! Hay là Ông “hành hạ” chúng vì chúng “đã ngu” mà theo, tin tưởng nơi Ông? Tôi lại cũng nghĩ về một “bộ phận dân tộc” của tôi!

Động đất, bão lụt, sóng thần, cuồng phong, núi lửa đã là những thiên tai làm thiệt hại biết bao nhiêu sinh mạng lẫn tài sản của con người, nhất là trong những thời gian gần đây: Trong thời kỳ biến đổi khí hậu! Nhưng, đó cũng là điều mà chúng ta nên nghiền ngẫm lại điều mà Đức Phật đã đề cập đến “Nhất thiết do tâm tạo”. “Thế giới con người” là một cảnh giới của những chúng sinh có cùng “cộng nghiệp” được thể hiện về nơi này: Đó là “Chánh báo”! Môi trường sống, cảnh giới biến đổi thích hợp với đời sống của chúng sinh trong cảnh giới đó: Đó là “Y báo”! Tâm tính của chúng sinh làm biến đổi môi trường sống:” Tâm bình thì thế giới bình, tâm sôi động thì thế giới sôi động, tâm cuồng nộ thì thế giới cuồng nộ”! Theo cái nhìn này thì tâm tính của chúng sinh trong thế giới này hiện nay đã có quá nhiều sôi động; “lửa đã nung, nên nước đã sôi” chì đơn giản là vậy thôi!

Nhìn trên màn ảnh của truyền hình từ cảnh ngập lụt ở Phi Luật Tân, Bắc Trung Phần Việt Nam, cho đến Thái Lan hay Đài Loan chúng tôi không thể không liên tưởng đến “bể khổ” mà Đức Phật đề cập đến “cuộc sống trần gian” hay nói rộng hơn “trong kiếp sống luân hồi” mà chúng sinh phải hứng chịu.

Hôm nay chúng tôi muốn kể lại ra đây một câu chuyện để quý vị xem và cùng nhau nghiền ngẫm mà “thấm thía” sự đời; đồng thời có thể nhìn “sâu” hơn vào trong Đạo Phật! Chuyện đơn giản như sau:

“1/ Trên một bờ sông, cõi ấy thật là yên tịnh (Cõi Chơn Tâm), mọi người ngồi thật là lặng yên, sung sướng, an lạc mà hoà đồng với nhau không phân biệt ta, người, hay ai là ai cả (Viên dung, không phân biệt). Tất cả đều tự thân sáng chói giống như những ngọn đèn tỏa sáng (Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu).

2/ Đột nhiên, có người nghĩ rằng (Vô Minh): “Ta như thế này mãi không được, ta phải là ta, ta phải khác với người khác” (Tâm phân biệt). Rồi người ấy nhìn vào dòng sông bao la mà tưởng tượng nhiều cảnh thú vị, nếu mình được đắm vào đó (Vọng tưởng).

3/ Thế rồi, người ấy đứng dậy, phá sự yên lặng chung, rời cõi yên tịnh trên bờ, bước chân vào bến nước để đi vào dòng sông (Bến Mê hay Mê Tân). Điều này kéo theo người khác cùng mọi người trên bờ (Cùng rời cõi Chơn Tâm).

4/ Bây giờ, mọi người rời bến nước, chìm vào dòng sông để lội, lặn hụp trong đó (Cảnh Luân Hồi) với sự vui thích hay đau khổ, người thì ở gần bờ, người thì lội xa bờ; người thì chìm đắm dưới đáy, người thì ở lưng chừng hay nỗi trên mặt nước; người thì có lúc vui sướng có lúc khóc than, đau khổ (Đời là Bể Khổ).

5/ Chơi trong dòng sông mãi rồi cũng mỏi mệt, có người buồn chán (Phiền Não Thị Bồ Đề); lại nghĩ rằng cần phải lên bờ nên họ đã dừng lại và bắt đầu quay lội vào bờ (Hồi Đầu Thị Ngạn hay “Quay Đầu là Bến”).

6/ Khi họ cố sức lội được đến bờ (Bờ Giác), và bước lên bờ ngồi lại vào chỗ ngày xưa, lúc đó không còn mơ hồ cảnh phẳng lặng hay đẹp đẻ trong dòng sông ấy nữa (Phật, Bậc Giác Ngộ).”.

Trong câu chuyện này chúng tôi muốn đánh dấu từng đoạn theo số để theo đó chúng tôi có thể phân biệt từng giai đoạn trong Đạo Phật mà giải thích cùng Quý vị:

I/ Cái cảnh đông người ngồi trên bờ sông yên tịnh đó là tượng trưng cho cái cõi mà Đức Phật đã gọi là “Chơn Tâm”, mọi người là tất cả chúng sinh thuở đầu đã cùng nhau “dung hợp” hay “viên dung” cùng với 6 Đại khác như: Đất, Lửa, Gió, Nước, Kiến Đại và Hư Không. Trong cảnh ấy chúng sinh không phân biệt “Ta”, hay “Người”, hay khác với “Chúng sinh khác”. Cùng nhau vui vẻ, an lạc, thanh tịnh với bản chất “sáng soi” của mình.

II/ Do nơi duyên khởi đầu tiên, chúng sinh muốn “Mình là Ta”, Ta phải khác với mọi người trong cảnh “Chơn Tâm” ấy (Tức là đã có “Tâm Phân biệt”), rồi lại nhìn vào dòng sông mà tưởng tượng những cảnh vui vẻ, sung sướng ở nơi đó (Tâm Vọng Tưởng) để rồi bắt đầu tách rời với mọi chúng sinh khác, rời cõi Chơn Tâm, kéo theo là sự phá vỡ sự Viên dung của mọi chúng sinh trong cõi Chơn Tâm. Điều mà Đức Phật giải thích là “Vô Minh” để nói lên vì chúng sinh không biết “Những gì sẽ xảy ra trong tương lai” mà đã có “Vọng tưởng” và Tâm phân biệt” để cùng nhau rời khỏi “Chơn Tâm”.

III/ Sự rời cõi “Chơn Tâm” đó của chúng sinh được Đức Phật giải thích rõ trong Kinh Lăng Nghiêm: Khi chúng sinh rời cõi Chơn Tâm thì phá vỡ sự viên dung của 6 Đại khác bằng cách mượn Đất, Lửa, Gió, Nước để cấu tạo thành thân thể, hình hài của mình; mượn Kiến Đại để thành những giác quan, nhận thức: Thấy, Nghe, Hay Biết; mượn Không Đại để thân thể của mình được tăng trưởng và lớn lên. Khi đã thành hình, Đức Phật giải thích như sau: “Cái có hình tướng và sanh diệt là thế giới, cái không hình tướng và yên tịnh là hư không; khác với hư không, thế giới là chúng sanh vậy!”. “Bước” mà chúng sinh khởi đầu được Đức Phật ví như là mọi người bắt đầu bước vào “Bến Mê” để dấn thân vào cõi Luân Hồi (Dòng sông).

IV/ Khi chúng sinh có hình tướng, hình hài thì sự “Sáng suốt, chiếu soi” thuở còn trong Chơn Tâm bị mất đi, và hoàn toàn bị giới hạn “chỉ còn” trong thân xác mà thôi; và rồi với những nhu cầu để nuôi dưỡng hình hài ấy đã phải xảy ra: Để đáp ứng nhu cầu ăn, ngủ, sinh sống, tăng trưởng thì chúng sinh phải làm, tìm kiếm, hoặc tranh giành, giết hại lẫn nhau để sống, thỏa mãn những nhu cầu mình cần hay muốn (Ái dục). Càng muốn thì lại muốn nhiều hơn (Tham); muốn mà không được thì giận, hờn, thù hằn, nỗi nóng (Sân); có lúc nghĩ quẩn, không kiếm soát được hành động (Si) mà đi đến những tội lỗi bằng Sát, Đạo, Dâm, Vọng. Đó là “Ba thứ” mà Đức Phật gọi là “Ba Món Độc” để thôi thúc chúng sinh “Tạo Nghiệp”, rồi nương theo nghiệp (Nhân) mà chúng sinh phải trả “Quả” tương tục không biết đến bao giờ; bởi vì trong “kiếp này” thì vừa trả nghiệp cũ, nhưng đồng thời cũng tạo nên “nghiệp mới”, rồi kiếp sau cũng vừa trả nghiệp cũng vừa tạo thêm nghiệp mới nữa; cho nên cứ thế mà tiếp diễn cho đến vô cùng tận.

Tùy theo nghiệp nặng hay nghiệp nhẹ mà chúng sinh Luân hồi trong sáu đường (Lục Đạo Luân Hồi): Nặng thì bị chìm dưới đáy sông (Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc sinh); nhẹ hơn thì ở lưng chừng sông (Người, A-Tu-La); và có Phước đức thì nổi trên mặt nước (Trời). Trong các đường Luân Hồi đó chúng sinh được thể hiện dưới những hình thức của Tam Giới: Dục Giới (cõi có Ham muốn, Dục lạc), cõi có hình tướng (Sắc Giới) và cõi không có hình tướng (Vô Sắc Giới).

Nhưng chung quy dòng ấy (Cõi Luân Hồi) cũng chỉ là những cõi “Đau khổ”, có nhiều khổ hơn vui; cho nên Đức Phật mới gọi đó là “Biển Khổ” hay “Khổ Hải”.

Trong “Khổ Hải” có chúng sinh chán chường không thích lội xa bờ, có chúng sinh ham thích thì lội càng ngày càng xa bờ; nhưng nếu càng xa bờ chừng nào thì sự trở về càng lắm gian nan chừng nấy!

V/ Có nhiều chúng sinh, trong một lúc nào đó, đột nhiên gặp những biến cố trong cuộc đời hay có lúc tự suy ngẫm rồi biến chuyển không thích chơi trong cõi Luân Hồi nữa. Họ biết “dừng lại” (Phiền Não Thị Bồ Đề) hay là họ đã có được sự “Ngộ” (Giác, hay Bồ Đề), và bắt đầu “Quay trở lại” để bơi vào “Bờ” (Hồi Đầu Thị Ngạn). Khi Đức Phật Thích Ca chưa truyền bá giáo pháp thì con đường đó tự khởi, tự chúng sinh “ngộ” ấy tìm lấy con đường cho chính mình để “lội” được vào đến bến. Nhưng con đường đó thật là gian nan và lắm chông gai. Đôi khi chúng sinh lọt vào con đường “Ma Đạo” cũng không chừng!

Khi Đức Phật Thích Ca đã chứng ngộ và truyền bá giáo pháp, Đức Phật đã chỉ rõ và nói đến con đường, qua kinh nghiệm của chính mình để giúp cho chúng sinh nương vào con đường “kiểu mẫu” đó để lội vào được đến bờ. Phật đã chỉ rõ: “Chúng sinh đã tự mình tạo nghiệp, thì chỉ có chúng sinh đó mới tự mình dứt nghiệp cho mình mà thôi, không ai dù là Thần Thánh có thể thay thế được!” (Tự mình thấp đuốc lên mà đi).

Giáo pháp của Đức Phật có những điều quan trọng như sau:

a/- Tất cả chúng sinh đều có chủng tử, hạt giống “Phật” như là viên ngọc đã nằm trong chéo áo mà không tự biết, cho nên Đức Phật đã thuyết đến Kinh Pháp Hoa để làm cho chúng sinh “được khai mở và hiểu” (Khai), thấy biết (Thị), và hiểu rõ (Ngộ) mà “Nhập” vào những điều mà Phật đã biết (Phật Tri Kiến); để rồi đi vào con đường giải thoát mà Đức Phật đã hướng dẫn (Đạo Sư) để tự giải thoát lấy cho mình. Đức Phật cũng không quên nhấn mạnh: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”.

b/- Trong 3 Cõi (Tam Giới: Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới), và Lục Đạo Luân Hồi: Chỉ có con người, hay chúng sinh ở cõi Ta-Bà này mới là chúng sinh duy nhất có thể tu thành Phật, vì chỉ ở cõi này mới có Phật Pháp. Do vậy được làm con người thật là đáng quý (Thân Người Khó Được hay Nhân Thân Nan Đắc), và cũng ở con người mới có đủ trí tuệ để “Tu”. Nhưng Tu bằng cách nào?

Trong hơn 45 năm hành Đạo, Đức Phật đã cố gắng giảng giải về con đường để Ngộ và Tu qua những bài thuyết pháp, các Bộ Kinh tùy theo “Căn Duyên” của nhiều đối tượng mà nói cho thích hợp: “Phật Pháp không sai khác mà vì trình độ chúng sinh có sai khác nên Phật pháp có sai khác” (Kinh Kim Cang).

Con đường đó được Đức Phật thuyết giảng như sau:

*- Chúng sinh cần hiểu rõ rằng: Cuộc đời trong Vòng Luân Hồi giống như một bể khổ mênh mông, trong đó chúng sinh tương tục gây nên những tội lỗi bằng những hành động: Sát, Đạo, Dâm, Vọng để thỏa mãn mọi Tham Lam, Ước muốn của mình bởi ở ba điều: Tham, Sân, Si. Chính các nhân tố đó đã tạo thành Nghiệp và phải Trả Nghiệp mà chúng sinh mãi ở trong vòng Luân Hồi. Muốn thoát ra được, chúng sinh phải dừng lại những hành động Sát, Đạo, Dâm, Vọng; không làm thêm điều ác; giảm thiểu sự Ham muốn, Tham, Sân, Si; biết sợ “gây nhân”, biết làm điều thiện, và chỉ còn đợi chờ trả hết quả mà thôi!

*- Đức Phật giảng đến “Tứ Diệu Đế” để chúng sinh nhận thức được sự khổ của thế gian mà con người và chúng sinh đã phải nhận lãnh từ trong cõi Luân Hồi (Khổ Đế), và Đức Phật chỉ rõ nguyên nhân của sự khổ là gì? (Tập Đế); để từ đó muốn chấm dứt sự khổ (Diệt Đế) chỉ có con thực hiện con đường đạo (Đạo Đế).

*- Để thực hiện con đường Đạo Đế, Đức Phật đã dẫn ra 6 bước thực hiện, tức là Lục Độ Ba-La-Mật: Bố Thí, Trì Giới, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục, Thiền Định và Trí Huệ. Trong đó Bố Thí là để tạo nên nghiệp lành, nghiệp thiện; Trì Giới để đình chỉ mọi nghiệp ác, bất thiện; Tinh Tấn để nuôi dưỡng sự tiến bộ gieo nhân lành, chấm dứt sự ác; Nhẫn Nhục để dần tiêu tan Tham, Sân, Si nguyên nhân của những nhân xấu; Thiền Định là để tìm lại được và phát triển chủng tử Phật Tánh của mình và đạt đến sự Giác Ngộ; và khi đạt đến Giác Ngộ tức là Sự Sáng Suốt, Chiếu Soi đã tìm lại được tức là đã có được “Trí Huệ” vậy!

*- Trong Kinh Lăng Nghiêm Đức Phật đã đề cập đến những cách “Tu” để đạt đến giải thoát của những vị “Bồ Tát” tùy theo bản thể của người đó, nhưng chung quy vẫn là nương 25 “Pháp Thế Gian” để thoát khỏi Thế gian như dựa trên 6 Trần (Thanh, Sắc, Hương, Vị, Xúc, Pháp); 6 Căn (Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân, Ý Căn); 6 Thức (Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân, Ý Thức); 7 Đại (Đất, Nước, Lửa, Gió, Hư Không, Thức Đại, Kiến Đại).
Đó là những pháp tùy theo từng cá nhân mà có những pháp thích hợp với chính họ. Tuy nhiên, Đức Phật cũng hướng dẫn để giúp những người Tu vượt khó bằng 37 cách được gọi là 37 pháp “Trợ Đạo” gồm: Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, và Bát Chánh Đạo.

Và Trong Kinh A-Di-Đà, Đức Phật đã đề cập đến hạnh nguyện của Đức Phật A-Di-Đà và cõi Tịnh Độ, nhưng đó cũng là một hình thức “Quán Niệm” vì niệm 6 chữ: “Nam Mô A Di Đà Phật” cho đến chỗ Vô Niệm và Nhất Tâm Bất Loạn thì cũng không khác mấy với Thiền. Nhưng, ở phương pháp Tịnh Độ này: Ngoại cảnh, tiếng động khó khiến người tu “Đi sai đường” hay nói cách khác là bị “Tẩu hỏa nhập ma” trong lúc người tu thực hiện tu tập; và đường lối tu này dễ thực hiện hơn dù bất cứ ở nơi đâu không kể đến không gian và thời gian nào.

Khi người “Tu” thực hiện sự tu tập của mình đến khi nhân duyên đủ, tức là “Nhân không còn, quả đã hết” thì họ đã đến được bờ để chuẩn bị ra khỏi dòng sông luân hồi, chỗ đó ngày trước gọi là “Mê Tân hay Bến Mê”, bây giờ được gọi là “Giác Ngạn hay là Bờ Giác” hay còn gọi là “Bờ Bên Kia” giống như vượt qua sông khổ để sang được đến bờ bên kia, nơi an lạc, tự tại, vô ngại.

VI/ Nhưng có vài điều quan trọng mà Đức Phật đã dặn dò rằng:


"Dầu cho ông (A Nan) hiện tiền đặng nhiều trí huệ và thiền định":
-Đoạn dâm dục:
"Nếu tâm dâm dục không trừ" thì "cũng sẽ đọa vào ma đạo. Thượng phẩm làm ma chúa, trung phẩm làm ma dân, hạ phẩm làm ma nữ".
"Ông đem tâm dâm dục để cầu quả Phật, dầu cho ông có được diệu ngộ đi nữa, cũng không ra khỏi tam giới, vì gốc của nó là dâm thì làm sao ra khỏi sanh tử luân hồi được; huống chi quả Niết bàn của Phật, ông làm sao chứng được.
Nên quyết định phải đoạn trừ dâm cơ; trong tâm ngoài thân đều đoạn, cho đến cái biết đoạn cũng không còn, được như thế thì đối quả Phật Bồ đề, ông mới có hi vọng".
-Đoạn lòng sát hại:
"Nếu không đoạn tâm sát hại, thì ông chỉ đọa vào thần đạo. Bực thượng làm Đại lực quỷ, bực trung làm phi hành dọa xoa và các loài quỷ soái, bực hạ làm Địa hành La sát và các quỷ thần."
"A Nan, những người ăn thịt, dầu cho có đặng tâm trí khai ngộ, cũng thành quỷ Đại la sát, đến khi mãn kiếp quủ La sát rồi, quyết định phải trầm luân trong biển khổ sanh tử. Giết hại ăn thịt lẫn nhau, thì làm sao ra khỏi sanh tử luân hồi được."
-Đoạn trừ trộm cướp:
"Nếu không đoạn tâm trộm cướp thì quyết định đọa vào tà đạo. Bực thượng làm loài tinh linh, bực trung làm loài yêu mỵ, bực hạ làm người tà, bị các loài tinh yêu này nhập".
-Đoạn trừ vọng ngữ:
"A Nan, nếu các chúng sanh, đã giữ hoàn toàn ba hạnh trên là không sát, đạo, dâm rồi mà còn đại vọng ngữ, thì tâm cũng không thanh tịnh, mất hột giống Phật thành ma ái kiến


Đó là Đức Phật đề cập đến người Tu “diệu ngộ” (trí huệ và thiền định) mà chưa dứt được với Sát, Đạo, Dâm, Vọng thì chưa thể chứng ngộ được hoàn toàn. Cũng như, với cái “Tâm Phân biệt” giữa Ta, Người, Chúng sinh và Thọ Mạng Tướng thì người Tu cũng chưa chứng được Thánh Quả như trong các đoạn Kinh sau:

-Nầy Thiện nam! Các chúng sanh đời sau, bởi không rời được bốn tướng, nên tuy trải qua nhiều kiếp, siêng năng tu hành khổ hạnh, nhưng chỉ thành hữu vi mà thôi, chớ không thể chứng được Thánh quả" (Viên Giác, trang 167).

Và trong Kinh Kim Cang (Phật Học Phổ Thông Khóa XII), Đức Phật cũng có thuyết như sau:

-"Phải xa lìa tất cả các chấp tướng, mới gọi là chư Phật" (trang 109). Hay:

-"Phật dạy:"Tu Bồ Đề! Nếu có người phát tâm Bồ Đề, thì phải dụng tâm như vầy: Ta hóa độ tất cả chúng sanh, nhưng không thấy có mình độ và chúng sanh được độ. Tại sao vậy? Nếu Bồ Tát còn thấy mình độ và chúng sanh được độ, thì Bồ Tát còn tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh và tướng thọ giả, tức nhiên không phải là Bồ Tát". (Trang 134-135). Và:

-"Phật dạy: "Tu Bồ Đề! Pháp này bình đẳng không có cao thấp, không ngã, không nhơn, không chúng sanh và không thọ giả, tạm gọi là Đạo Vô Thượng Bồ Đề" (Trang 164).

Hoặc:

-"Phật dạy: "Tu Bồ Đề! Ông chớ lầm tưởng: Như Lai nghĩ rằng: "Ta độ chúng sanh". Tại sao vậy? Nếu Như Lai có nghĩ: "Ta độ chúng sanh", thì Như Lai còn chấp bốn tướng Ngã, Nhơn, Chúng sanh và Thọ giả, tức nhiên không phải Như Lai. Bởi thế nên, Như Lai thật không có độ chúng sanh nào cả." (Trang 168).


Tại sao như vậy? Chúng ta hãy nhớ lại: Lúc khởi đầu Đức Phật đã giải thích vì “Vô Minh” tức là vì “Không Biết hay Si Mê, Mê mờ” mà chúng sinh đã có “Vọng Tưởng” cùng “Tâm Phân Biệt” (Ta, Người,...) để từ đó chúng sinh đã phải rời cõi Chơn Tâm và đi vào cõi Luân Hồi. Nay người Tu muốn đạt Đạo Vô Thượng Bồ Đề để trở về với cõi Chơn Tâm thì không thể còn cái Ngã, vì với cái Ngã người Tu vẫn còn “Ngã Kiến” quá nặng, chứ chưa là “Vô Ngã”. Vô Ngã là gì? Vô Ngã được diễn nôm na là: “Ta” không khác, không nặng hơn “Người”, với “Chúng sinh” khác, mà “Ta, Người, Chúng sinh như là Một: “Tất cả cũng như là Một, nhưng Một cũng lại là Tất Cả”. Có như vậy “Tất cả đều sống chung hòa bình (Viên dung) trong cùng một cõi “Chơn Như”, mọi người đều là Phật không khác, không có một cái thứ hai nào cả. Đó là cõi “Bất Nhị” vậy!
Lúc người “Tu” đã đạt được Đạo và trở về với Chơn Tâm ngày trước (bây giờ được gọi là Niết Bàn) thì lúc đó mới thấy mình như đã rời khỏi “giấc mộng đêm qua” để trở về với thực tế; và cũng vào lúc ấy sẽ không còn những “vọng tưởng vô minh” nữa như Đức Phật đã diễn tả như trong các đoạn Kinh sau:

-Bởi thế nên biết "Sanh tử và Niết Bàn" cũng đều như giấc mộng hôm qua, vì chúng sanh vốn đã thành Phật từ xưa đến giờ. (VG, 56).

-Này Thiện nam! Thí như chất kim khoáng, sau khi được nấu lọc, bỏ hết quặng rồi, thì chỉ còn vàng y, chất vàng này không phải do nấu lọc mới sanh, vì nó có sẵn từ trước kia rồi; và khi đã thành vàng y, cũng không bao giờ trở lại thành quặng nữa, dầu trải qua bao nhiêu năm, nó cũng không hư hoại.
Tánh viên giác thanh tịnh của Như Lai cũng thế. (VG, 70).



Nguyên Thảo,
25/10/10.

Tuesday, June 28, 2011

*Đạo Phật 18: Giá Trị Của Đạo Phật.

Vì Đạo Phật không phát xuất, và cũng không dựa vào một câu chuyện thần thoại nào để khởi sinh, cho nên chúng ta muốn tìm hiểu hay nghiên cứu về Đạo Phật thì chúng ta cũng cần chú trọng đến tính chất “lý trí” của nó. Đức Phật nhiều lần cảnh báo với người tiếp cận, tin theo hay hành trì nên hiểu đây là một con đường hành trì hướng dẫn đến sự giải thoát cho chính mình trong vòng sinh tử luân hồi của lục đạo, chứ không phải chỉ để tin.
Theo như chúng ta đã biết Đức Phật chỉ là một con người bình thường, được sinh ra từ trong hoàng cung, có một đời sống sung sướng. Nhưng vì “duyên” nên Ngài đã từ bỏ những điều kiện ưu đãi ấy, để đi tìm con đường đạo mà Ngài đã suy tư ngay từ thuở thiếu thời. Ngài cũng đã tìm đến học hỏi cùng với những vị thầy có tiếng thời bấy giờ như Alarama Kalama, Uddaka Ramaputta. Nhưng Ngài vẫn chưa thỏa mãn với những điều đã chứng ngộ được qua sự theo học với các bậc thầy. Do đó, Ngài đã đi đến thị trấn Uruvela của xứ Senani để tham thiền nhập định trong sáu năm dài khổ hạnh trong một khu rừng cùng với nhóm Kiều Trần Như. Trong thời gian dài ấy Ngài vẫn chưa tìm thấy đạo mà thân Ngài càng tiều tụy, cho nên quan niệm Ngài có thay đổi bằng con đường trung đạo, con đường không khổ hạnh mà cũng không lợi dưỡng, vừa đủ để nuôi thân xác mà dưỡng tinh thần. Cuối cùng với sự quyết tâm mãnh liệt Ngài đã chứng ngộ sau 49 ngày thiền định dưới cội Bồ Đề.
Sự chứng ngộ của Ngài không từ trên trời xuống, không từ một câu chuyện thần thoại nào có trước, hoặc khởi nguồn từ một tôn giáo khác; mà là kết quả từ sự suy niệm của tri giác, của lý trí, hay trí khôn của con người. Ngài suy niệm về cuộc đời: Cuộc đời nhiều khổ! Tại sao lại khổ? Làm sao để tránh khổ? Có con đường thoát khổ hay không? Muốn thoát khổ phải như thế nào? Thoát khổ sẽ về đâu? Đó là khởi nguồn của những chân lý tối thượng: Tứ Diệu Đế hay còn gọi là Tứ thánh Đế! Chắc chắn không một ai trong cuộc đời này hay bất cứ một tín đồ của tôn giáo, hoặc một giáo chủ hay giới chức cao cấp của tôn giáo nào khác mà có thể phủ bác những điều ấy, nhất là sinh, lão, bệnh, tử. Nếu cuộc đời không khổ tại sao con người lại tìm đến tôn giáo, nương tựa vào đó để lấy đó làm chỗ an ủi tinh thần cho mình trong lúc đau khổ? Nhưng tôn giáo nào thực sự là cứu tinh, là để cứu rỗi cho chính mình hay người khác, đó mới là quan trọng mà chúng ta cần phải suy ngẫm và tìm hiểu thật nhiều, thật chính chắn để đi vào con đường đúng!
Có nhiều người, ngay cả những nhà nghiên cứu, không hiểu vì lầm lẫn, hay cố tình gán ghép những kiến thức ở các tôn giáo khác để làm nền tảng bắt đầu cho những giáo lý của đạo Phật. Chúng tôi thì không nghĩ vậy! Nếu chúng ta chú tâm kỹ hơn, thì những chiêm nghiệm của Đức Phật trong khi tìm được con đường đạo cho chính Ngài, là chính những chiêm nghiệm của một con người bình thường. Nếu những người khác cũng biết chiêm nghiệm, và chiêm nghiệm đúng hướng thì sẽ đi về chung một điểm, một cứu cánh tối hậu. Cứu cánh đó sẽ như nhau hoặc là giống nhau. Nếu không, Đức Phật đã chẳng bao giờ nói đến câu “Ta là Phật đã thành và chúng sinh là Phật sẽ thành”. Tất Đạt Đa đã đi từ con người như bao nhiêu con người khác, cũng với thân xác, cũng với tri giác, lý trí, trí khôn bình thường của con người; mà Ngài đã đạt đến mức độ như vậy thì người khác tất cũng phải được như vậy, không thể sai khác. Nhưng, điều quan trọng là họ có đi hay không? Nếu muốn đi thì tự họ phải đi, họ phải chính mình hành trì về mục tiêu chân lý đó: “Tự thấp đuốc lên mà đi!”.
Vì sao Đức Phật nói: “Tự thấp đuốc lên mà đi”? Đức Phật sau khi thành đạo, chứng nghiệm rằng: Mỗi chúng sinh đều có những “tạo nghiệp”, từ những nghiệp ấy mà “tâm” sẽ thể hiện, biến hiện thành những cảnh vui sướng, cảnh địa ngục, cảnh đau khổ hay sinh vào những cảnh tương ứng với nghiệp đã tạo ra trong quá khứ. Họ chỉ thoát khỏi mọi cảnh biến hiện khi nào họ không còn nghiệp nào nữa. Do đó, Ngài thấy chỉ có chúng sinh đó mới giải thoát cho chính họ mà thôi! Ngài không thể cứu họ thoát khỏi nhân quả ấy, mà chỉ trợ giúp, giúp hoặc chỉ con đường cho họ đi đúng hướng. Cuộc đời con người như trong một bể khổ mênh mông, với đầy dẫy những tranh giành, chém giết, hận thù; mà những chúng sinh lặn hụp trong đó như những con người đang đi trong đêm tối với nhiều u mê, mê muội, cho nên khi đã hiểu được rồi thì tự họ đốt cho mình ngọn đuốc để tự mình soi đường cho chính mình, nương theo con đường mà Đức Phật đã tìm ra trong khi tìm đạo, để mà đi đến “nơi chốn sau cùng”. Ai nói Đức Phật không có phép tắc, thần thông? Người nào đó nếu nói Đức Phật không có thần thông và cho rằng Đức Phật không thể cứu rỗi chúng sinh là những người hãy còn thiếu sót trong nhận thức rất nhiều! Mục Kiền Liên chỉ chứng được Thiên Nhãn Thông đã thấy mẹ mình đang trong cõi ngạ quỹ; còn Đức Phật đã chứng được Thiên Nhãn Thông, Tha Tâm Thông và cả Lậu Tận Thông. Nếu không thì Đức Phật đã không thể nói đến những cảnh giới, những thế giới,... đến những điều mà khoa học ngày nay cũng phải ngạc nhiên vì tính chính xác của nó. Và nếu Đức Phật không có những thần thông ấy thì cũng không có những Kinh điển của Đạo Phật, nếu ai không tin xin mời Quý vị “ghé mắt” vào các kinh điển để thấy được những điều đó. Nhưng chúng ta cũng cần nhớ lại rằng: Bao nhiêu kinh điển mà Đức Phật thuyết giảng trong hơn 45 năm hành đạo của mình chỉ là nắm lá trong tay, còn tri kiến Phật như lá ở trong rừng.
Thân Phật được tự tại vô ngại, không bị ngăn trở, biến khắp pháp giới hư không, có thể thu tam thiên đại thiên thế giới đem vào trên đầu ngọn lông, mà trong đó Đức Phật đang chuyển đại pháp luân và tất cả chúng sinh trong đó thấy không có sự thay đổi nào cả.
“Còn ta (Phật) thì trái với vọng trần, hiệp với chơn tâm thường trụ bất sanh bất diệt, biến khắp cả pháp giới. Cho nên ta mới được tự tại vô ngại: Ở trong một hiện ra vô lượng, vô lượng hiệp làm một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ; không rời nơi đạo tràng mà hiện khắp cả mười phương thế giới. Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận. Trên đầu một mảy lông hiện ra các cõi nước; ngồi trong hạt bụi, mà chuyển đại pháp luân. Vì ta diệt hết vọng trần, trở lại với bản tâm thanh tịnh trong suốt, nên mới được như vậy” (Phật Học Phổ Thông VI-VII Kinh Lăng Nghiêm, HT. Thích Thiện Hoa, Thành Hội Phật Giáo TP. HCM ấn hành 1997, trang132-133).
Điều đó chắc nhiều người nghiên cứu về Đạo Phật ngạc nhiên, và những người của các tôn giáo khác không thể ngờ được. Vì sao vậy? Tâm của con người khi đạt được đạo và thành Phật thì không còn bị “gò bó” hay bị nhốt trong túi “Tàng thức A lại da” nữa mà hòa đồng khắp pháp giới hư không, chỉ biến hiện ở những nơi nào cần biến hiện, cho nên “Như Lai không từ đâu đến, mà cũng chẳng đi về đâu” (Kinh Kim Cang). Cảnh giới trong Phật không còn vì tâm Phật đã hoàn toàn thanh tịnh, không nghiệp, không nhân thì lấy gì để biến hiện thành cảnh giới sướng vui, đau khổ; tâm Phật bây giờ đã giống như tư tưởng: khi tư tưởng nghĩ đến thế giới vô biên thì nó đã biến hiện khắp thế giới vô biên, khi nghĩ đến thế giới Ta Bà thì nó đã ở thế giới Ta Bà, khi nghĩ đến xứ Mỹ thì đã ở Mỹ... Có cảnh giới còn không ngăn trở được tâm của Phật, thì không cảnh giới lấy gì để ngăn ngại. Tất cả các Phật đều đồng một thể “giống như những ngọn đèn cùng được đốt sang trong cùng căn phòng, cùng chiếu sáng căn phòng nhưng không lộn lạo với nhau” có cùng cái chung nhưng cũng có cái riêng: “Một mà tất cả, tất cả là một” vậy!
Những ai cho rằng Đạo Phật không cứu rỗi thì chúng tôi e rằng họ chưa hiểu chính xác đó chăng? Nhưng sự cứu rỗi trong Đạo Phật không phải là phù phép của những vị Thầy bùa phù phép; hay ‘nói để mà nói’ nhằm hấp dẫn, lôi cuốn người khác mà không cần chứng minh; hoặc như những tư tưởng của những người mà tâm thần có vấn đề! Với tuệ giác Đức Phật thấy “nghiệp” của người nào đó đã gieo dù ở trong kiếp nào, thì cũng là nhân của những quả nhận trong mai sau. Trong Kinh Địa Tạng có ghi:
“Ngài Địa Tạng Bồ Tát nói với ngài Phổ Hiền Bồ Tát rằng: “Thưa Nhơn giả! Đó đều là do chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề làm những điều ác mà tùy nghiệp chiêu cảm ra những địa ngục như thế.
Nghiệp lực rất lớn, có thể sánh với núi Tu Di, có thể sâu dường biển cả, có thể ngăn đạo thánh.
Vì thế chúng sanh chớ khinh điều quấy nhỏ mà cho là không tội, sau khi chết đều có quả báo dầu đến mảy mún đều phải chịu lấy.
Chí thân như cha với con, mỗi người cũng theo nghiệp của mình mà đi khác đường, dầu cho có gặp nhau cũng chẳng bằng lòng chịu khổ cho nhau.
Nay tôi nương oai lực của Đức Phật mà nói sơ lược những sự tội báo nơi địa ngục. Trông mong Nhơn Giả tạm nghe lời đó” (Kinh Địa Tạng, HT. Thích Trí Tịnh dịch, Chùa Pháp Bảo Sydney ấn tống 1944, trang 80-81).
Và trong Kinh Lăng Nghiêm, sau khi được Đức Phật giảng, Ngài A Nan hiểu được rõ ràng và có than rằng:
“Con từ khi xuất gia theo Phật đến nay, vì ỷ lại là em của Phật, tin chắc sẽ nhờ oai thần Phật ban cho đạo quả, chẳng cần tu hành cực nhọc; không ngờ ai tu nấy chứng, không thể thay thế cho nhau được” (Phật Học Phổ Thông, HT. Thích Thiện Hoa, Thành Hội Phật Giáo TP.HCM ấn hành 1997, trang 36).
Chính vì thế mà dù Đức Phật có lắm thần thông cũng không cứu vớt nỗi những nghiệp lực của từng chúng sinh đã làm, mà Đức Phật chỉ giảng dạy, hướng dẫn con đường mà Ngài đã hành trì để đi đến đạo quả cho chúng sinh; và thành hay không là do sự nỗ lực, quyết tâm của chúng sinh ấy mà thôi! Do vậy, Đức Phật chỉ là một Đạo Sư.
Sự “Cứu rỗi” trong Đạo Phật là nhằm cho chúng sinh “hiểu” về chính con người của mình trong cuộc đời này (có nhiều đau khổ, cái khổ đến từ đâu? Làm sao để diệt khổ tìm về con đường an vui!); rồi từ cái hiểu ấy chúng sinh “biết” đến “con đường chuyển biến của mình trong vũ trụ, thế giới” mà mình phải đi qua (vòng luân hồi). Xong, mình chọn con đường tự “cứu rỗi lấy mình” như thế nào! Trong Kinh điển thường nói đến các cảnh giới thế gian, cõi Phật, những cõi khác (như trong “Kinh Thế Ký” của Kinh Trường A Hàm), ngoài những thuyết giảng cho đệ tử và những người khác. Sự thuyết giảng của Đức Phật được “nhất quán” không hề bị mâu thuẫn về những chi tiết dù ở trong nhiều bộ kinh, điều đó chứng tỏ Đức Phật không hề ‘bịa đặt” trong giáo lý của mình (mà chúng ta khó có thể thấy điều ấy trong giáo lý của vài tôn giáo khác). Chính vì muốn chúng sinh hiểu được tường tận về những điều về mình, và để “tự” thực hiện con đường cứu rỗi mà Đức Phật đã thuyết giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Đức Phật muốn chúng sinh được “Khai, thị, ngộ, nhập tri kiến Phật”, để từ đó chúng sinh tu hành, thực hiện con đường cứu rỗi trở thành Phật trong cõi Thường, Lạc, Ngã, Tịnh không còn đau khổ, luân hồi, ấy là cứu cánh của Đạo Vô Thượng Bồ Đề vậy!
Trong Đạo Phật, người ta có thể tìm thấy không những sự phân tích về đời sống con người một cách tỉ mỉ từ những hiện tượng khổ, nguyên nhân khổ, khổ do đâu? Đâu là con đưòng tìm đến sự an vui? Mà người ta còn có thể tìm thấy sự “phân tích tâm lý” độc nhất vô nhị về những tâm lý con người trong “Duy Thức Học”.
Duy Thức đã cho chúng ta biết từ các “căn” tiếp xúc với các “trần” rồi sinh ra các “thức”, và từ “thức”, “ý thức” mà những tâm lý khác nẫy sinh. Nhưng tâm lý này lại đi xa hơn “Tâm lý học của triết Học”, Duy Thức còn có hai thức khác là “Mạt Na Thức” và “A Lại Da Thức”, với hai thức đó giải thích cho chúng ta vì sao con người tạo nghiệp và nghiệp được giữ lại ở đâu để rồi trong những kiếp luân hồi kế tiếp mà chúng sinh phải trả nghiệp như là một hệ “nhân quả”. Và khi tu hành đắc quả những thức ấy sẽ biến thành gì? (A-Lại-Da-Thức thành Đại Viên Cảnh Trí; Mạt-Na-Thức thành Bình Đẳng Tánh Trí; Ý Thức thành Diệu Quan Sát Trí; và Tiền Ngũ Thức thành Thành Sở Tác Trí). Quả là tư tưởng có một không hai, tư tưởng ấy rất thực tế, rất con người; chứ không là tư tưởng từ những câu chuyện thần thoại mơ hồ không đâu (Tin những điều mà mình không thấy, không được chứng minh!)
Chính vì giáo lý của Đạo Phật được khởi nguồn từ con người, nhận định về đời sống tràn đầy đau khổ trong thế gian; suy tư từ trong tư tưởng của một con người; và cũng từ lý trí, tuệ giác con người mà đã phát sáng được những phương pháp, con đường giải thoát. Sau khi thành đạo, chứng nghiệm, Đức Phật đúc kết giáo lý của Ngài để truyền giảng nhằm lôi cuốn chúng sinh vào con đường tự giải thoát cho mình khỏi những nghiệp do chính “Vô minh” của mình đã tạo ra vì “không ai thay thế cho ai được”, cho nên “không ai có thể cứu rỗi cho người khác” cũng là điều mà chúng ta cần suy nghĩ. Và nhất là những điều mà Đức Phật thuyết, càng ngày càng được những nhà khoa học tài danh xác nhận là đúng trong những điều mà khoa học đã khám phá ra, chứ những điều mà Đức Phật đề cập đến hãy còn nhiều và cũng thật là cao xa biết đến bao giờ khoa học mới vươn tới? Viễn vọng kính tối tân còn đang chứng nghiệm con đường thấy của Thiên Nhãn Thông, rồi còn Tha Tâm Thông và nhất là Lậu Tận Thông, biết đến bao giờ? Nhưng con người vốn đã có “Tánh Phật” thì biết, thấy, nhận định như Phật cũng chẳng khó khăn gì vì “Phật là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành” kia mà! Học trò nào muốn thi đỗ, thành danh cũng đều cần đến công phu, phải không Quý vị?

Nguyên Thảo.

Tuesday, June 14, 2011

*Quê Hương 4: Sự Hùng Hồn Của Dân Tộc.

Bạn trẻ ơi!

Em nên có lòng tự hào, vì trong em đã có dòng máu của dân tộc Việt Nam: Một dân tộc hiếm có trên thế gian nầy; Một dân tộc nhỏ bị một nước thật lớn cai trị cả ngàn năm mà không bị đồng hóa và cuối cùng vẫn tự vùng lên giành độc lập; đánh bại các đoàn quân xâm lăng đã từng xâm chiếm từ vùng đất nầy đến vùng đất khác trên quả địa cầu.

Có lẽ em không ngờ dân tộc ta làm nên được điều ấy; và nếu em sinh ra, lớn lên trên xứ người thì em lại thấy đó như là một việc lạ lùng, không thể tưởng tượng nổi; nhưng đấy lại là sự thật, một sự thật thần kỳ.

Bạn trẻ ơi!

Trong các truyện thần thoại lịch sử của ta có truyện Ông Thánh Gióng hay là Phù Đổng Thiên Vương, em đã có nghe kể chưa? Tôi chép lại từ trong quyển “Việt Nam sử lược I” của cụ Trần Trọng Kim cho em đọc nhé!

"Đời Hùng Vương thứ 6 có đám giặc gọi là giặc Ân, hùng mạnh lắm, không ai đánh nổi. Vua mới sai sứ đi rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước. Bấy giờ ở làng Phù Đổng, bộ Võ Ninh (nay là huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh) có đứa trẻ xin đi đánh giặc giúp vua. Sứ giả về tâu vua, vua lấy làm lạ, cho đòi vào chầu. Đứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái roi bằng sắt. Khi ngựa và roi đúc xong thì đứa trẻ ấy vươn vai một cái, tự nhiên người cao lớn lên một trượng, rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc.

"Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn thì biến đi mất. Vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng Phù Đổng, về sau phong là Phù Đổng Thiên Vương... Hiện bây giờ có đền thờ ở làng Gióng tức là làng Phù Đổng. Năm nào đến mồng 8 tháng 4 cũng có Hội vui lắm, tục gọi là Đức Thánh Gióng" (trang 14-15, VNSL.I).

Đó chỉ là một câu chuyện thần thoại, nhưng ít ra trong câu chuyện ấy vẫn có một sự thật, kỳ tích nào đó mới khiến dân gian lập đền thờ thờ phượng và lập lễ ăn mừng tạo thành một ngày Hội vui kéo dài cho mãi đến ngày nay. Cả mấy ngàn năm rồi đó, các em ạ! Và cũng từ trong câu chuyện nầy, cho ta biết ở thời điểm ấy, dân tộc ta đang sinh hoạt ở thời kỳ tiến bộ của đồ sắt nên mới đúc được ngựa sắt và roi sắt. Nền văn minh của dân tộc ta cũng không đến đổi tệ, phải không em?

Ngay từ thời kỳ đầu lập quốc, một đứa trẻ con cũng biết "căm hờn" ra cầm quân đánh giặc, sức lớn như Phù Đổng. Đánh không cần chức vụ, quan tướng hoặc làm vua. Rồi kế tiếp trang nữ lưu như Trưng Trắc, Trưng Nhị cũng "oán hận báo thù chồng, đền nợ nước" xưng vương khởi nghĩa. Và người anh thư Triệu Thị Chinh: "Muốn cởi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng kình ở bể đông, quét sạch bờ cõi, để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tì thiếp người ta".

Những cuộc khởi nghĩa tiếp tục dấy lên với Nam Đế Lý Bôn đánh đuổi Thứ sử Tiêu Tư lập nên nhà Tiền Lý, rồi tới vua Đầm Dạ Trạch Triệu Quang Phục, và Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng khiến quan đô hộ Cao Chính Bình lo sợ thành bệnh mà chết.

Họ Khúc dấy nghiệp. Ngô Quyền giết Kiều Công Tiện báo thù cho chủ là Dương Diên Nghệ, rồi đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, bắt giết Thái Tử Hoằng Tháo, vua Nam Hán khóc và quay trở về; để cho nước Nam ta bước vào thời Tự chủ mãi đến sau nầy, cởi được ách đô hộ cả ngàn năm.

Em hãy tìm hiểu trên lịch sử các nước trên thế giới để tìm ra được một quốc gia, một dân tộc khác bị đô hộ cả ngàn năm mà vẫn tự mình đứng lên phá được ách nô lệ, hiên ngang với sự độc lập của mình. Em muốn bảo là người Do Thái ư? Em lầm rồi! Người Do Thái phải nhờ đến sức mạnh cùng sự giúp đỡ của Anh và Mỹ đấy em ạ! Dù trên huyền thoại người Do Thái là của Đức Chúa Trời tạo ra để cai quản cả loài người trên mặt đất (?)

Dân tộc ta không có những huyền thoại giống như vậy. Nhưng vì hoàn cảnh địa lý khắc nghiệt đã làm cho dân tộc ta luôn phải chiến đấu cùng thiên nhiên. Với hồn thiêng sông núi ấy đã khiến cho dân tộc ta rất yêu mến từng ngọn núi, từng cánh đồng, từng mái đình, từng góc rừng, làng mạc với lũy tre xanh, với tiếng sáo diều vi vút trên không của những buổi chiều về; với từng nấm mộ của Tổ tiên; với bàn thờ Ông Bà, Cửu Huyền Thất Tổ ở căn chính giữa nhà ba gian hai chái... Sự yêu mến ấy trở thành tình yêu quê hương, tình yêu tổ quốc và nghĩa đồng bào. Chính vì thế, theo sử của cụ Trần Trọng Kim ghi "Từ khi vua Vũ Đế nhà Hán sai Lộ Bác Đức sang đánh lấy Nam Việt cho đến đời Ngũ Quí, ông Ngô Quyền đánh đuổi người Tàu về Bắc tính vừa 1050 năm" (VNSL.I, trang 71), dân tộc ta vẫn giành được độc lập.

Rồi sau nhà Ngô đến Đinh, Tiền Lê những cuộc phá Tống, bình Chiêm giữ vững bờ cõi. Trong thời nhà Lý có tướng Lý Thường Kiệt để lại bài thơ danh tiếng:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

mà tôi đã trích dẫn từ bài trước cho em,

Nhưng em ạ!

Trong lịch sử chống giặc của dân tộc ta phải nói thời oanh liệt nhất lại vào thời Trần, vì trong thời kỳ nầy gần như là toàn dân đánh giặc: Từ trẻ (Trần Quốc Toản) cho đến già (Hội nghị bô lão Diên Hồng). Quân Mông Cổ dưới sự điều động của Thành Các Tư Hãn Thiết Mộc Chân đã đánh chiếm đất đai tạo thành một đế quốc lớn từ Á sang Âu. Họ chiếm gần nửa Châu Âu. Theo tôi được đọc trong sách "Văn minh Tây phương" do Phủ Quốc Vụ Khanh xuất bản khoảng giữa những năm 60 ở Sài gòn mà tôi không còn nhớ rõ tên người dịch thuật là ai, đã kể thì người Mông Cổ khi rút ra khỏi Âu Châu đã để lại một số dân và tạo nên dân Hungary ngày nay. Nhưng mấy năm trước đây, trên phương diện làm ăn, tôi có quen với một người Thổ Nhĩ Kỳ, ông ta rất hãnh diện về nguồn gốc Mông Cổ của dân tộc ông ta. Thì thuở ấy, người Mông Cổ đã trên lưng ngựa mà chinh phục các nơi; và triều đại phong kiến phương bắc Tàu cũng bị cai trị hoàn toàn. Nhưng quân Mông Cổ không thể chiếm được nước ta. Với câu nói của Thái Sư Trần Thủ Độ: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo". Thế là quân Mông Cổ bị đánh bại ở Đông Bộ Đầu, rồi đến Qui Hóa phải lui về Vân Nam.

Trong trận chiến thứ hai Hưng Đạo Vương khảng khái: "Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đả, rồi sau sẽ hàng", rồi truyền "Hịch Tướng Sĩ". Trần Nhật Duật phá quân Toa Đô ở Hàm Tử Quan. Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Toản đánh bại Thoát Hoan ở Chương Dương:

Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử Quan
Thái bình nghi nổ lực
Vạn cổ thử giang san.
(Trần Quang Khải)
(Bản dịch:
Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu).

Ở trận Tây Kết, Toa Đô trúng tên chết, Ô Mã Nhi lên thuyền nhỏ thoát thân; và Thoát Hoan phải chun trong ống đồng trốn chạy về Tàu sau trận Vạn Kiếp.
Quân Nguyên tiến đánh lần thứ ba: Trần Khánh Dư cướp lương thực ở trận Vân Đồn; và Ô Mã Nhi bị bắt ở trận Bạch Đằng Giang, còn Thoát Hoan trốn chạy về Tàu.

Thế là ba lần quân Mông Cổ bị đánh bại trên đất nước của ta. Em có thấy Tổ Tiên ta đánh giặc và quyết bảo vệ non sông? Đoàn quân Hung Nô "đến đâu cỏ mọc không được", nhưng đã bị Hưng Đạo Đại Vương, tướng sĩ, quân dân của ta đánh tan tác những ba lần. Ôi! Ta cũng nên tự hào ta có dòng máu Việt, đấy chứ em!

Và sau bọn phong kiến nhà Minh phương Bắc lại chiếm nước ta từ năm 1414 đến năm 1427. Lê Lợi đã khởi nghĩa mười năm để giành độc lập với sự giúp sức của Nguyễn Trãi, người viết nên bài "Bình Ngô Đại Cáo". Được thành công, lập nên nhà Hậu Lê, và mãi sau nầy người Mãn Châu lại chiếm cả nước Tàu to lớn, lập nhà Thanh. Chúng lại bị Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đại phá vào mùa Xuân năm Kỹ Dậu (1789) với những chiến thắng ở Hà Hồi, Ngọc Hồi, Đống Đa khiến Tôn Sĩ Nghị bỏ cả ấn tín mà trốn chạy về Tàu.

Ấy là "Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu" và đến "Trăm năm đô hộ giặc Tây":

Bây giờ, sự việc trở nên phức tạp hơn khi có một số học giả, trí thức nghiên cứu đã tìm được các sử liệu, tài liệu chứng minh: Vì nguyên cớ nào Đế Quốc Pháp đã đánh chiếm Việt Nam? Điều ấy để cho lịch sử phê phán tiếp. Ở đây, tôi sẽ trình bày với các em về việc Chủ nghĩa Thực dân phát triển và Đế quốc Pháp đánh chiếm Việt Nam là một ý muốn, còn việc cấm Đạo của các Triều đình chỉ là một cái cớ mà thôi! Vì đó là một trào lưu do sự phát triển kinh tế, kỹ nghệ, tìm đất và tìm thị trường để chứng tỏ dân tộc, quốc gia của họ là mạnh. Vì vào thời ấy không phải chỉ nước ta bị đế quốc xâm chiếm, mà các nước nhỏ, yếu khác ở khắp các châu từ Châu Mỹ La Tinh, Nam Mỹ, Phi châu, Á châu kể cả các quần đảo xa xôi lần lần thuộc về các đế quốc Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hòa lan...

Cho nên, Đế quốc Pháp bắt đầu bắn phá các đồn lũy ở Đà Nẵng từ tháng 8 năm 1856 với chiến thuyền Catinat. Và tháng 7-1958 lại đến bắn phá Đà Nẵng một lần nữa với lực lượng hùng hậu hơn gồm 14 tàu chiến và 3000 quân của hai nước Pháp và Y Pha Nho (Tây Ban Nha).

Tháng 1-1859 Pháp đánh chiếm thành Gia Định, Định Tường (1861), rồi Biên Hòa, Vĩnh Long (1862). Và với Hòa ước năm Nhâm Tuất 1862, nước ta bị mất 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường. Sau chúng đánh lấy luôn 3 tỉnh Nam Kỳ còn lại là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

Năm 1873 chúng hạ thành Hà Nội, đánh chiếm 4 tỉnh miền trung du. Và với việc ký Hòa ước 1874 Việt Nam nhượng đứt đi sáu tỉnh miền Nam. Sau đó, quân Pháp lại tiến đánh Bắc kỳ lần thứ hai và đưa đến việc ký Hòa ước Patenôtre tháng 5-1884 để từ đó Việt Nam chịu sự cai trị của người Pháp, và lại bị chia làm 3 xứ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ.

Cũng từ đó dân tộc ta bắt đầu cho những cuộc kháng chiến chống Pháp. Từ Phong trào Cần Vương: Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường rồi các tỉnh Quảng Nam, Phú Yên, Bình Định, Bình Thuận, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa đều có người nổi lên. Ở Bắc có Nguyễn Thiện Thuật (Bãi Sậy). Sau Phan Đình Phùng lập Đảng Văn Thân ở vùng Hương Khê. Các vùng Hải Dương, Bắc Ninh cũng có những phong trào. Ở Hà Nội có Đông Kinh Nghĩa Thục; Phan Bội Châu với Phong trào Đông du; Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn, rồi Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Yên Bái và "Đảng Việt Minh dưới quyền lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc -đổi tên là Hồ Chí Minh- thừa cơ nổi lên cướp chính quyền, vua Bảo Đại phải thoái vị và nhường quyền cho Đảng Việt Minh" (VNSL.II, trang 342).

Và cuộc chiến tranh giành độc lập cho đất nước với đế quốc Pháp được kết thúc bằng trận chiến Điện Biên Phủ và ký kết Hiệp Định Genève 1954. Đất nước ta phải bị chia đôi và lại bước vào cuộc nội chiến và chiến tranh ý thức hệ: Một cuộc chiến tàn phá và phân hóa dân tộc ta một cách sâu nặng nhất trong lịch sử vì ý thức hệ Tự do và Cộng sản cho mãi đến bây giờ.

Trong khi đó, Trung Quốc lại được sự nhân nhượng của Mỹ, đang củng cố dần thế mạnh và lăm le nuốt dần đất nước của ta với áp lực của một kẻ mạnh, một đầu đảng, một kẻ "bề trên" đối với “Thể chế Cộng sản Việt Nam”.

Bạn trẻ ơi!

Quê hương ta bất hạnh, nhưng với sự chịu đựng, lòng quả cảm, với ý chí kiên cường, với tinh thần độc lập, và với một sức sống hùng hồn đã vùng lên bẻ gãy tất cả mọi xích xiềng, áp bức để giữ vững đất Tổ quê Cha. Vậy thì, không lẽ hôm nay, ta phải cúi đầu khuất phục sao em? Thời đại có khác. Ta phải đáp ứng với thời đại. Bây giờ cần đến trí óc, tài năng, bản lĩnh, sáng tạo nhất là các tri thức, khả năng để tạo nên tài chánh và các phương tiện có thể bảo vệ được quê hương. Nếu không, một mai ta sẽ trở thành người vong quốc, thì lúc ấy, ai sẽ là người khóc cho ta, em nhỉ? Tôi sẽ viết lại câu nói của Nikita Khruschev: "Muốn hòa bình thì phải củng cố chiến tranh". Các em đã sẵn sàng chưa? Nếu chưa, các em nên suy nghĩ và chọn cho mình một hướng để hoạt động và để đi. Đất nước mất hay còn đều do các em đó, vì thế hệ chúng tôi sẽ "chẳng còn".

Các em hãy hát bài "Hùng Ca" muôn thuở của dân tộc đi em nhé! Nào, hãy vang tiếng lớn lên nào!


Nguyên Thảo,
19/8/02.

Saturday, June 11, 2011

*Quê Hương 3: Quê Hương Ta Bất Hạnh!

Bạn trẻ ơi!
Qua đầu đề nầy tôi muốn nói cùng em về một số điếu không may mà đất nước, dân tộc ta vô tình phải hứng chịu. Tôi muốn bắt chước người Nhật đề cập một cách không né tránh những điểm đau lòng thực tế hiển nhiên đó, để rồi em sẽ thấy một sức sống hùng hồn, một sự đấu tranh mãnh liệt của một dân tộc, mà em là một trong những thành viên của dân tộc ấy.
Em ạ!
Đất nước ta phần lớn diện tích là núi non trải dài từ miền bắc xuống miền nam. Ở miền bắc với 5 dãy núi rẽ ra thành hình cánh quạt mà núi Tam Đảo là hướng đồng qui. Sông Hồng phát nguyên từ cao nguyên Vân Nam bên Tàu, ở trên độ cao cả ngàn thước so với mực nước biển, thì em cứ thử nghĩ khi mùa mưa đến, nước nhiều ở trên độ cao ấy đổ xuống sẽ đem điều gì cho đồng bằng miền bắc? Với đồng bằng của sông Hồng, sông Thái Bình không đủ lương thực để nuôi cho toàn số dân ở miền bắc.
Rồi dãy Trường Sơn nối tiếp chạy dọc suốt miền Trung cho đến tận đầu miền nam, có nơi dãy núi chạy sát với bờ biển, cho nên sông ngòi ở miền Trung đa số là ngắn, đồng bằng nhỏ. Vả lại, vào mùa mưa nước mưa từ trên dãy núi chảy xuống ồ ạt khiến có nhiều cát đá trên những cánh đồng đất bồi, đến mùa nắng thì lưu lượng sông lại ít. Vì vậy, đời sống của người dân miền Trung có lắm phần cơ cực.
Còn miền nam thì cuộc sống tương đối phong phú hơn với cánh đồng phì nhiêu, sông ngòi chằng chịt. Nhưng vài năm sau nầy cũng thường xảy ra nạn lũ lụt nên đời sống có nhiều hồi hộp, lo âu.
Và với địa hình trải dài từ Ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mau trên 1700 cây số, lại nằm trong vùng nhiệt đới thuộc khu vực gió mùa cho nên những cơn bão nhiệt đới ảnh hưởng một cách dữ dội trên đất nước của ta. Vào những tháng 8 tháng 9 âm lịch tương đương với tháng 9 tháng 10 dương lịch, những cơn bão nhiệt đới có trung tâm phát xuất từ Thái Bình Dương bên kia Phi Luật Tân được thành hình và di chuyển dần về phía Tây. Các cơn bão ấy đổ vào Việt Nam với đầy đủ sức mạnh của nó. Năm nào ít thì cũng 5, 6 cơn; năm nào nhiều thì đến 12. Các cơn bão ấy đổ dài từ miền Bắc vào miền Trung. Miền Nam chỉ có những cơn bão rớt. Nhưng những năm trở lại đây do hiện tượng El Nino mà miền Nam cũng chịu ảnh hưởng mạnh của bão như cơn bão Linda chẳng hạn.
Tại sao bão tàn phá trên đất nước ta nhiều dù nó xuất phát từ Thái Bình Dương, bên kia vùng đảo Phi Luật Tân? Nếu ta nói "xe chạy nhanh khi có trớn", thì bão đến Việt Nam khi đã đầy đủ "trớn", sức xoáy của nó rất mạnh và các dãy núi của Việt Nam là các bức tường ngăn cản, nên sức tập trung công phá của bão lại là trên quê hương, xóm làng của ta. Bão kèm theo lượng mưa nhiều, nên "bão lụt" là một từ ngữ đi chung. Đó là về phương diện địa lý, còn về phương diện lịch sử, thì em hãy lật bộ lịch sử Việt Nam của Trần Trọng Kim hay của bất cứ một tác giả nào, em sẽ hiểu. Trịnh Công Sơn đã tóm gọn trong vài câu nhạc "Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày..."
Suốt một lịch sử hơn 4000 năm, đất nước ta luôn phải đối phó với các triều đại phong kiến phương Bắc. Từ khi Kinh Dương Vương Lộc Tục thành lập quốc vào năm 2879 trước Tây Lịch, bắt đầu cho Họ Hồng Bàng, sau truyền ngôi cho con là Lạc Long Quân Sùng Lãm; Sùng Lãm cho người con trưởng làm vua nước Văn Lang xưng là Hùng Vương và đóng đô ở Phong Châu (thuộc địa hạt huyện Bạch Hạc tỉnh Vĩnh Yên ngày nay). Do đó dân tộc ta thường nói là "Con Hồng, cháu Lạc" là như vậy, và Hùng Vương là "Quốc Tổ". Trải qua hai triều đại kế tiếp là nhà Thục rồi nhà Triệu, đến năm 111 trước Tây Lịch nước ta bị nhà Hán bên Tàu đánh chiếm và ta bị Tàu đô hộ 3 lần, kéo dài khoảng 987 năm.
-Từ năm 111 trước Tây Lịch đến năm 39 sau Tây Lịch (150 năm): Bắc thuộc lần thứ nhất và cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được 4 năm.
-Từ năm 43 đến năm 544 (501 năm): Bắc thuộc lần thứ hai: Trong thời gian nầy có cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu Thị Chinh và anh là Triệu Quốc Đạt ở huyện Nông Cống (năm 248). Mãi đến năm 541, Lý Bôn khởi nghĩa ở huyện Thái Bình đánh đuổi được quan lại Tàu, dẹp được quân Lâm Ấp, lập được Triều đại nhà Tiền Lê (544- 602).
-Từ năm 603 đến năm 939 (336 năm): Bắc thuộc lần thứ ba: Trong thời gian nầy có các cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế ở Hà Tĩnh (722): Phùng Hưng ở Sơn Tây (791); Họ Khúc dấy nghiệp ở Hải Dương (907-923); Và sau đó là Dương Diên Nghệ và Kiều Công Tiện (931-938). Đến khi Ngô Quyền người làng Đường Lâm, tỉnh Sơn Tây đại phá được quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 938) và thành lập nhà Ngô (939-965) nước ta mới vào Tự chủ thời đại và cởi được ách đô hộ của các triều đại phong kiến Tàu.
Bạn trẻ ơi!
Em có bao giờ nghe những người đi làm hảng kể lại những thằng chủ khó khăn, chửi công nhân không? Thì dối với người dân trong một nước nô lệ khó khăn đến gấp vạn lần; binh sĩ, quan lại có quyền áp bức, đánh đập, chém giết, đày đọa... Người dân chỉ có biết tuân hành. Trong thời kỳ lệ thuộc, đã biết bao nhiêu người bị bắt phải xuống biển mò ngọc trai, lên rừng chiến đấu với cọp, tê giác, voi để lấy sừng, ngà, da, xương dâng hiến cho bọn cai trị; những ai có tiền của thì bị chúng bắt cống nạp hoặc cướp đi mà không dám nói một lời. Đốt nhà, lấy của, phá tất cả tài sản đều do nơi sự tàn ác của chúng. Bọn quan lại, quân lính phương Bắc như Tô Định, Cao Chính Bình... không thiếu gì. Và bọn Đế quốc Pháp "đè đầu, cỡi cổ", đem những tài sản chiếm được về cho "mẫu quốc" cũng không là ít.
Trong thời gian gần đây, Cộng Sản Trung quốc sợ Việt Nam mạnh lên mà thoát ra khỏi "vòng kiềm tỏa" của họ, ngay từ năm 1975 họ đã xui giục, cung cấp vũ khí, đỡ đầu đám đàn em Polpot ở Kampuchia xây dựng chế độ tàn bạo, giết dân, làm băng hoại đất nước Kampuchia, khơi lòng hận thù đối với Việt Nam và khuyến khích quân Polpot tấn công dọc biên giới miền nam nước ta. Quân Polpot đốt nhà, ruộng lúa, xé xác trẻ thơ, giết đàn bà với cọc nhọn đâm từ phần dưới đóng lên đầu... Ôi! Thật là dã man! Khi Việt Nam giúp dân Kampuchia lật đổ chế độ Polpot, họ đã đánh vào biên giới phía Bắc để gọi là "dạy cho Việt Nam một bài học", chủ nghĩa đế quốc cuối thế kỷ 20 là như vậy đó. Chính quyền Mỹ đã bán đứng chế độ miền Nam Việt Nam và giao luôn đất nước ta cho Trung quốc, vì thế Trung Quốc đã chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 và đang lăm le nuốt trọn quần đảo Trường Sa, mặc cho nước nhỏ "réo gào"!
Cộng sản Trung quốc dùng mọi hình thức, biện pháp để đánh phá đất nước của ta từ việc mua dựng trâu, mắt mèo để các phương tiện sản xuất băng hoại hoặc chuột bọ sinh sản, phá ruộng rẫy hoa màu; bán rẻ từ táo, hột gà, các nông phẩm hay sản phẩm khác để triệt hạ kinh tế của ta. Hoặc đưa các sản phẩm kỹ nghệ lậu vào Việt Nam để làm suy sụp các cơ sở sản xuất trên đất nước. Như vậy Việt Nam phải từ từ hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc. Họ còn độc địa hơn nữa là tổ chức các nhóm lưu hành tiền giả có cơ sở từ bên Trung Quốc, hoặc đưa các độc dược vào đầu độc thế hệ thanh niên hoặc mua chuộc, hối lộ hủ hoá các viên chức Việt Nam. Như vậy tự nhiên không cần đánh chính quyền Việt nam sẽ bị băng hoại, mất lòng dân thì Việt Nam sẽ là "một tỉnh của Trung Quốc" một cách êm dịu mà người ta tưởng chừng như không có.
Bạn trẻ ơi!
Các em có biết không? Tại sao Giang Trạch Dân trong chuyến viếng thăm Việt Nam đầu năm 2002, không tắm biển ở Hải Phòng, ở Đồ Sơn, Sầm Sơn hay Nha Trang, Vũng Tàu mà lại tắm biển ở Đà Nẳng như là một kỳ tích không? Vì bãi biển đó người Mỹ không gọi là Hội An mà là "China beach". Giang Trạch Dân tắm ở bãi biển của Tàu nằm trên đất Việt Nam mà! Như vậy cũng có một ý nghĩa ghê gớm phải không, các em ạ?
Người Mỹ đã hất Đài Loan để đưa Trung Quốc vào ghế Thường Trực Bảo An Liên Hiệp Quốc. Người Mỹ đã thôi can thiệp ở Việt Nam, giao Việt Nam cho Trung Quốc. Các tư bản vì mối lợi đầu tư mạnh trên đất Trung Hoa. Bây giờ, hàng hóa Trung Quốc khắp cùng, đã gây khó khăn cho kinh tế, cơ sở sản xuất của nhiều nước. Trung Quốc bắt đầu hiện đại hóa quân đội, không hải lục một cách âm thầm. Nhưng trong khi đó Trung Quốc lại đánh đòn "lừa" với thế giới rằng "Nước Nhật đang tái võ trang", và Trung Quốc đang “phát triển lực lượng trong hòa bình”. Ôi! Một tay điếm đàng đang "âm thầm" toan tính những âm mưu lớn..!
Trong khi đó, nước Mỹ đang phải đối đầu với đám khủng bố Al Qaeda và kinh tế đang bị suy đồi. Ai dám bảo rằng Trung Quốc không lợi dụng cơ hội nầy để "Ngư ông đắc lợi". Thế giới cảnh giác Trung Quốc một, nhưng Việt Nam nói riêng, khối Đông Nam Á nói chung phải cảnh giác với Trung Quốc đến gấp 5, 6 lần.
Nầy em bạn trẻ ơi!
Quê hương ta không những bất hạnh trên phương diện địa lý, ở bình diện lịch sử không thôi, mà lại còn trên khía cạnh vị trí nữa. Chính vì vị trí nằm trên cửa ngõ quan trọng của Thái Bình Dương từ Nam lên Bắc, từ Tây sang Đông hay ngược lại. Nó có thể làm bàn đạp để kiểm soát được các hoạt động trong vùng dễ dàng. Do điều ấy mà đất nước ta đã là điểm đối đầu của hai thế lực trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Từ cuộc chiến quốc gia trở thành cuộc chiến quốc tế. Từ vũ khí thô sơ, cũ kỹ thành vũ khí tân tiến; và cũng là nơi thí nghiệm của nhiều chiến thuật lẫn các loại vũ khí hiện đại, mà mọi hậu quả hứng chịu vẫn là dân tộc cùng đất nước Việt Nam.
Sau bao nhiêu năm cuộc chiến đã ngã ngũ. Chế độ tự do đã thua trên chiến tranh. Nhưng người thắng đã ngã ngựa trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, sản xuất, quản lý, hành chánh... nhất là trong lòng dân. Số người Việt chạy ra nước ngoài hiện nay khiến cho ta có nhiều suy nghĩ: Tại sao trong chiến tranh ác liệt mà người dân không đi? Đến khi đất nước hòa bình, thống nhất thì ta lại bỏ đi..? Điều ấy người Cộng Sản Việt Nam nên suy lại chủ nghĩa của mình đang theo, hoặc đã thực hiện trên một hướng sai lầm. Trung Quốc cứ mãi chèn ép Việt Nam thì Chủ nghĩa Đại đồng, không biên giới quốc gia của lý thuyết Cộng sản chỉ là một chủ nghĩa "Không tưởng" mà thôi!
Ta nên trở về với Chủ nghĩa Quốc gia, với dân tộc là tốt nhất: Một Ông Vua đại diện cho dân tộc; Một Chính phủ lập hiến với hai thành phần chính trị đối lập.
Ta còn bám theo thằng chồng "vũ phu" thì nó hãy còn ăn hiếp ta mãi, ta không cần nó nữa thì đến lúc nó lại cần đến ta, và không chừng nó lại o bế, chìu chuộng ta cũng "không chừng"!
Các em hãy suy nghĩ thử xem sao?



Nguyên Thảo,
22-7-02.