Monday, July 30, 2018

*Đường Đến Băng Hà! (11)


Theo lịch trình thì sáng nay du thuyền đến Sitka, và chúng tôi sẽ được đưa đi thăm viếng Thành phố nầy vài tiếng đồng hồ. Trong tờ tài liệu và hành trình của du thuyền mà phòng chúng tôi nhận được hằng ngày cho biết là suốt đêm tàu sẽ đi về hướng Bắc, dọc theo bờ biển của đảo Chichagof, đi qua vịnh Sitka Sound để vào Thành phố nhỏ lịch sử Sitka.
Sitka là Thành phố nằm trên đảo Baranof tức là đảo phía nam của quần đảo Alexander với số dân là 9,895 người, là cộng đồng lớn thứ năm của Tiểu bang Alaska trên một diện tích là 7,434 cây số vuông. Nơi đây là đất sinh sống của người Tlingit từ hơn 10,000 năm trước. Nhưng đến năm 1799, Alexander Baranov và người Nga đến định cư ở Old Sitka. rồi năm 1802 người Tlingit vùng lên phá hủy nơi nầy và giết nhiều người Nga. Hai năm sau Baranov quay trở lại với lực lượng hùng hậu cùng chiến hạm tấn công người Tlingit gần sông Indian, khiến người Tlingit phải đầu hàng và rút đi. Từ đó người Nga định cư thường xuyên ở đây với tên gọi là Novo-Arkhangelsk mà Arkhangelsk là thành phố lớn nhất nơi Baranov được sinh ra.
Sitka còn là nơi đánh dấu sự kiện lịch sử chuyển nhượng Tiểu bang Alaska từ Nga sang Mỹ qua cuộc buôn bán với giá $7.2 million theo trị giá thời bấy giờ, với buổi lễ vào ngày 18 tháng 10 năm 1867 tại Castle Hill. Cho nên nơi nầy được xem là một National Historic Landmark, mà cũng là một National Park nhỏ nhất của cả Tiểu bang Alaska.
Sitka trước kia được xem là Thủ Đô của Alaska trong thời gian từ năm 1867 đến năm 1884 và sau đó thì trở thành khu vực và đến năm 1906 thì thủ đô được Thành lập ở Juneau cho đến ngày nay.
Đó là những tài liệu tổng quát về Sitka, còn chúng tôi thì đang trên du thuyền tiến thẳng về Sitka dù là ban đêm hay ngày. Thật ra thì chúng tôi cũng chẳng biết du thuyền chạy với vận tốc là bao nhiêu Miles hay cây số, và khoảng cách nơi nầy đến nơi kia là bao nhiêu. Không hiểu, những người có trách nhiệm trên tàu không cho chúng tôi biết hay người ta muốn tạo cho chúng tôi sự ngạc nhiên, thích thú khi mà những ngày cuối cùng người ta mới phát cho chúng tôi tờ lịch trình với số liệu đáng ghi nhớ gọi là “Log Of The Cruise”, trong đó từ Vancouver đến Sitka là 723 miles tính theo khoảng cách của hàng hải (Nautical Miles) mà 1 Nautical Mile bằng 1,852 m, tàu chạy với vận tốc là 15,3 Knots. Và trong đó, người ta cũng cho chúng tôi biết là đã đi qua những nơi nào và cần có sự hướng dẫn của người khác (pilotage) như: Vào sáng sớm lúc 5:42 phút du thuyền đi vào Blackney Passage và ra khỏi nơi nầy vào lúc 6 giờ. Rồi sau đó là Pine Island và đến Old Sitka Dock vào lúc 9:57 giờ.
Từ khoảng 9 giờ sáng sau khi chúng tôi đã ăn sáng ở Horizon Court thì trời cũng đã sáng rõ, du thuyền đi vào vùng biển của Sitka nên nhiều người đã lên boong tàu đứng nhìn, ngắm cảnh, chúng tôi cũng vậy với tính tò mò muốn biết đồng thời nhìn xem cảnh đẹp xung quanh. Những đảo với các ngọn núi đóng tuyết ở trên đầu hiện lên đẹp như tranh mà ở trên xứ Úc khó tìm được nếu không đi về đảo Tasmania hoặc lên những núi tuyết ở Victoria hoặc là New South Wales.
Vung bien Sitka voi nui Edgecumbe.

Mặt biển buổi sáng sớm phẳng lặng, im lìm thật là hiền từ, dễ thương in hình các ngọn núi, cùng các khu rừng rất rõ khiến chúng tôi ngắm nhìn một cách chăm chú, mà quên đi cái lạnh bên ngoài. Nói thế chứ hồi lâu cũng lạnh quá, khiến chúng tôi phải tìm nơi ẩn hoặc núp sau những tấm kính để tránh gió dù gió vẫn còn nhè nhẹ. Quả thật cảnh đẹp quá, tôi tha hồ ghi hình vào máy quay, thỉnh thoảng nhờ anh Thới chụp dùm vài bôi hình, rồi hai đứa đứng dựa vào lan can tàu vừa ngắm cảnh vừa tán dóc chuyện đời.
Rồi thì du thuyền cũng cặp vào cảng yên lành, sau hồi lâu các nhóm lần lượt rời tàu, xuống đất. Chúng tôi phải đi lên phía dãy nhà ở trên kia, chừng hơn 100m. Thì ra nơi đây là gian hàng bán đồ ăn uống lẫn hàng lưu niệm cho du khách. Nhưng chúng tôi chưa có thì giờ để xem qua vì còn phải đi ra phía sau đón xe buýt để xe đưa vào trung tâm của thành phố Sitka, mà chỉ vội lấy tờ báo quảng cáo Sitka kỷ niệm 150 năm được trao về cho nước Mỹ.

Du thuyen nhin tu Khu ban do luu niem.
Xe buýt đổ chúng tôi xuống trạm nơi có trụ cờ mà 150 năm trước cờ Mỹ được kéo lên ở đây. Và đây có phải là Castle Hill? Là nơi được đánh dấu Lịch sử quốc gia. Sau khi vệ sinh nhóm chúng tôi cùng kéo nhau đi dạo.
Khu Castle Hill.
 Tuy nhiên cảnh sông, núi, ụ thuyền tàu đẹp quá nên lại lẩn quẩn với chụp hình hoặc làm duyên, làm dáng. Rồi kéo nhau đi vào trung tâm thành phố. Đa số cũng là những dịch vụ buôn bán cho khách du lịch là chính. Những gian hàng bán đồ lưu niệm, ăn uống. Nổi bật là hình ảnh, tượng các chú gấu đang ngậm con cá hoặc là các Totem poles.
Canh nui, nuoc o Sitka.

Mặc dù trong tài liệu của du thuyền có giới thiệu đến các nơi hoặc các hoạt động tại Sitka, nhưng mọi người đâu có nhiều thì giờ để tham gia; mà họ chỉ đi nhìn, quan sát, hay ngắm nghía các món đồ trưng bày ở các tiệm bán hàng, quà để rồi mua chút đồ để làm kỷ niệm rằng: “Mình đã đến nơi nầy”! Nếu có đói thì kéo vào quán nào đó gọi là lót dạ.
Không biết Sitka rộng lớn bao nhiêu nhưng nơi nầy đã có thời gian dài được lấy làm thủ đô của Tiểu bang Alaska từ 18/10/1867 đến năm 1906, và sau đó nhường vị trí lại cho Juneau. Nổi bật nhất của Sitka là Thánh Đường Saint Michael’s của Đạo Chính Thống Nga được xây dựng vào năm 1848, là nhà thờ đầu tiên kiểu Nga xây dựng trên Bắc Mỹ có cách kiến trúc với mái vòm hình củ hành. Chúng tôi không đến gần đó để quan sát mà chỉ thấy nó từ đàng xa. Nhà thờ hiện tại là được xây dựng lại sau trận hỏa hoạn thiêu rụi nhà thờ cũ vào năm 1966. Ở Sitka tôi vào tiệm để mua một thẻ nhớ để sử dụng cho việc quay phim, phòng hờ thẻ cũ hết nửa chừng.

Ben thuyen Sitka.
Sau gần hai tiếng đồng hồ đi rong chơi trên đường phố, cửa tiệm ở Sitka và nhìn vào đời sống sinh hoạt của địa phương, tôi cũng mua được cái thẻ nhớ để quay phim và bộ áo mưa để gọi là làm kỷ niệm, rồi chúng tôi lại thả lần ra trạm xe buýt và đón xe trở về bến tàu. Dọc đường tôi mới nhìn và qua sát kỹ ngọn núi tương tự như núi Phú Sĩ của Nhật, theo tài liệu hướng dẫn thì đó là ngọn núi Edgecumbe nằm trên đảo Kruzof của Sitka, nó cũng là một núi lửa ngưng hoạt động cao 976 m. Nhìn trên hình thể thì nó cũng dễ coi, nổi bật, có gần phân nửa trên đầy tuyết nhưng dáng vẻ không cân đối và ngay đỉnh hơi lệch, không đều, Vì vậy dù khá giống nhưng cái nét vẫn không đẹp như núi Phú Sĩ của Nhật.
Xuống xe, chúng tôi vẫn lòng vòng trong khu bán đồ lưu niệm để xem “cho đã con mắt” chứ giá tương đối mắc, với những bộ đồ lông mà chắc trên xứ Úc không cần thiết như ở Alaska nầy. Đến 1 giờ 40 nhóm kéo nhau xuống tàu. Khi lên phải làm thủ tục trình giấy, những đồ đạc được đưa qua máy để kiểm tra. Trước khi về phòng nghỉ ngơi, chúng tôi phải ghé qua Horizon Court để làm một bữa ăn trưa. Đi du thuyền cho tôi một kinh nghiệm là giờ giấc tham quan trên bộ không nhiều vì khi xuống tàu đã tốn tương đối khá nhiều thời gian, rồi cần phải trở về tàu sớm do sợ phải bị trễ giờ mà đến cỡ từ 4, hay 6 giờ là tàu nhổ neo, mình phải có trên tàu. Còn chuyện “book tour” thì tôi chưa biết vì trong chuyến đi nầy tôi chưa từng làm. Nhưng đi tàu thì sướng mấy điều là giá tương đối rẽ, ăn ngon, phủ phê và ngủ bao nhiêu cũng được: Lý tưởng cho việc an dưỡng, nghỉ ngơi hay người ta nói tắt lại là “nghỉ dưỡng”!
Đến 6 giờ rưởi chiều thì tàu nhổ neo, ra khơi trở lại, để rồi đêm đó “tàu cứ đi và chúng tôi cứ ngủ” sau bữa ăn tối ở nhà hàng Botticelli.
Tất nhiên trong phòng chỉ có anh Thới và tôi cho nên trong chuyến đi nầy, tôi và anh tha hồ nói chuyện ngày xưa và cũng có rất nhiều chuyện đời để nói. Nói đã, khi cơn buồn ngủ đến, chúng tôi mới tắt đèn đi ngủ.
Sáng ngày mai, du thuyền sẽ đưa chúng tôi đến khu vực băng hà mà ở đó là nơi có nhiều lưỡi băng hà đổ ra. Như vậy, chúng tôi cũng đang trên đường “Đến Băng Hà”, mà Quý vị cũng đừng nghĩ chúng tôi là những vị Vua Chúa, Nữ Hoàng đang trên đường đi đến “Tiêu Tùng” (Băng Hà) để chấm dứt cuộc đời.
Chiều ngày, những người phục vụ phòng cho khu vực phòng ngủ của chúng tôi cũng đã phân phát cho từng phòng những tài liệu sinh hoạt trong ngày, cùng tài liệu, bản đồ về Glacier Bay National Park nầy với những chi tiết khái quát để du khách có thể mường tượng hiểu băng hà ở đây như thế nào!

Nguyên Thảo,
31/07/2018.



Sunday, July 29, 2018

*Quê Người. (18)


Với khoản tiền nhỏ đầu tiên nầy, tôi phải nghĩ đến những gì cần thiết phải mua: Mua cái sô để giặt đồ, xà bông, bàn chải đánh răng, kem và khăn tắm. Tôi đến phòng Tịnh hỏi nơi nào để mua, Tịnh cũng tính đi mua vài món đồ nên Tịnh sẽ dẫn tôi, Thành đến cái siêu thị gần đây. Chúng tôi băng qua vài con đường đi gần cây số thì đến siêu thị. Dọc đường Tịnh cũng chỉ tôi cái Bưu Điện để bỏ thư, cái Ngân hàng để rút tiền, nơi nầy là tiệm thực phẩm Á châu của người Việt và nơi đó là tiệm bán quần áo cũ. Tịnh nói mình cần biết để khi nào cần cái gì thì mình kiếm cho dễ. Tôi lại nghĩ mình còn phải từng bước học hỏi và chú ý thật nhiều giống như một đứa trẻ thơ mới vừa biết đi: Vừa học hỏi lại vừa nhìn đời, cái gì cũng mới lạ đối với nó. Rốt cuộc tôi cũng mua được những món đồ cần thiết cùng với cái gương, kéo cắt tỉa tóc và cái dao lam để có thể tự cắt hoặc bạn bè giúp dùm giống như thời kỳ đang ở trại tị nạn.
Vừa về đến phòng tiếp cư thì được tin: Ngày mai tại dãy phòng có nhân viên di trú làm việc sẽ có buổi học đời sống mới cho những người đi Kadina do nhân viên người Việt thuộc Sở Di Trú phụ trách. Nghỉ ngơi trong chốc lát thì lại đến giờ ăn trưa.
Trưa nay tôi lại ngồi ăn với Kim. Kim là người tôi quen từ lúc ở trại Sungai Bési, qua Úc cũng cùng chuyến bay (hay cùng List). Kim là người Bắc, nhà ở Tam Hiệp gần Hố Nai, Biên Hòa. Tôi nói chuyện với Kim hồi lâu thì Kim rủ tôi đi đến chùa Việt Nam chơi, vì người ta chỉ Việt Nam có cái chùa gần đây. Tôi với Kim, hai đứa theo sự chỉ dẫn cũng mày mò tìm được cái chùa. Trên bảng thì để tên “Chùa Pháp Hoa”, nhưng hai đứa cứ nhìn nhau: “Biết phải cái chùa đây không, sao giống cái nhà quá vậy?”. Thế rồi hai đứa cứ đứng ngần ngừ trước cửa mà không dám bước vào. Hồi lâu có ông đẩy cửa bước ra hỏi : “Mấy cháu đi chùa hả?”, chúng tôi trả lời thì ông ấy bảo: “Ừ! Thì mấy cháu cứ vô, Ông Phật ngồi ở trỏng đó, vô lễ Phật đi”. Vừa thấy lạ lùng, lại vừa nghe nói vậy thì hai đứa lại càng cảm thấy lạ hơn. Rồi cuối cùng chúng tôi không vào nữa mà quay trở về trại tiếp cư để nghỉ ngơi. Tôi lấy tập vở ghi chép những từ ngữ tiếng Anh từ khi còn ở Sungai Bési coi lại, nhớ được chữ nào hay chữ nấy, chứ học để nhớ nhiều thì tôi đã mất khả năng trí nhớ từ năm còn học lớp Đệ Nhất sau những biến cố do những người lính “hùm xám” của địa phương mang lại. Còn Thành sau khi ăn ở căng-tin thì nó đã đi dạo đến giờ vẫn chưa về. Xem không biết bao lâu thì lại ngủ quên cho đến khi Thành kêu tôi dậy để lên căng-tin ăn bữa chiều.
Ăn xong, tôi trở về phòng để hoàn tất thư gởi về cho gia đình, cùng với ba má tôi, nhằm gởi đi sớm chừng nào hay chừng nấy. Tôi cần có giấy tờ để lo thủ tục bảo lãnh cho gia đình. Mỗi ngày qua đi là mỗi ngày tôi lại bị đè nặng về trách nhiệm với vợ và các con; tôi thừa biết họ đang bị nhiều áp lực trong cuộc sống vì lý do lý lịch và thuộc thành phần mà nhà nước đánh giá. Các điều ấy tôi đã nhận thức được rất rõ từ khi còn đi dạy trong những năm đầu tiên sau ngày “đất nước giải phóng cũng như thống nhất”! Trời chiều nay trở lạnh, tôi mở sưởi để sưởi ấm căn phòng nhỏ và lên giường ngủ sớm. Thành về lúc nào tôi không hay!
Sau bữa ăn sáng, chúng tôi là những người qua Úc cùng chuyến bay, hay nói cách khác là chung một “list” (danh sách) lại kéo nhau lên phòng của nhân viên Sở Di Trú làm việc đợi chờ để đến 9 giờ rưởi có người nói chuyện. Giờ đã đến, nhân viên Sở Di Trú là người Việt, ông tự giới thiệu là Nguyễn Văn Y và chuyện hôm nay ông muốn nói là đôi nét về cách thức giao thiệp với người Úc trong các cuộc tiếp xúc. Ông còn nói thêm: “Đúng ra là ‘lớp đời sống mới’ chưa được bắt đầu, tuy nhiên vì đoàn được Hội Nhà Thờ trên Kadina mời thăm viếng vào ngày mai nên ông phải nói với đoàn về những điều cần biết khi giao tiếp”. Từ giây phút đó, anh Y đã cho chúng tôi những kiến thức căn bản, những điều cần tránh và những điều cần làm khi giao thiệp với những người Úc. Ngồi nghe mà tôi cứ suy nghĩ về “anh Y” nầy, không lẽ anh là người mà tôi đã từng gặp vào những ngày cùng nhau công tác trong trại tiếp cư cho người tị nạn Bình Long, Phước Long, Dầu Tiếng ở Gò Đậu trong thời kỳ chiến tranh ác liệt của năm 1972, mà người ta còn gọi là “Mùa Hè Đỏ Lửa”, “đúng là anh ấy” hay là anh Y nào khác đây? Chẳng lẽ tên lại trùng tên! Tôi nhớ đến anh Y của năm ấy vì tên anh chỉ là một chữ Y. Thôi thì cứ coi như là “tên đã trùng tên”!
Rời Hội Trường, về phòng Bác Vỹ kêu qua phòng Bác và Bác Phương uống trà, nói chuyện chơi. Chuyện chung quanh vẫn là kế hoạch tới sẽ làm gì? Lo làm thủ tục bảo lãnh, chứ chưa nói đến chuyện gởi quà về gia đình để cứu nguy trong hoàn cảnh “nguy khốn” về kinh tế hiện thời, trong cái nền kinh tế èo uột của đất nước của chế độ “Quốc Doanh” và “Bao Cấp”. Nói thì nói, bàn thì bàn, tính thì cứ tính, chứ chưa có điều kiện nào để thực hiện cả. Chúng tôi hiện tại giống như những loài “lột xác”, với thân thể “mềm nhũn” không thể làm được gì cả, mọi thứ đều phải từ từ học hỏi, cái gì cũng xa lạ, ngôn ngữ cũng không đủ để diễn tả một thứ gì nhỏ nhoi thì làm sao nói đến những gì to lớn hơn. Nhiều thứ ưu tư mà chúng tôi cần phải đối phó lẫn vượt qua! Tôi chợt nhớ mình phải gởi thư về cho gia đình nên nói với hai Bác cần phải đi. Vừa ra cửa thì gặp Tịnh, nói chuyện với nhau Tịnh cho biết cần đi Bưu Điện và mua ít đồ. Tôi muốn đi cùng với Tịnh.
Có lẽ gần trung tâm tiếp cư nên thường xuyên có người Việt vì vậy Bưu Điện có nhân viên Việt Nam khiến việc gởi thư của tôi tương đối dễ dàng hơn. Gởi được thư tôi nghe lòng mình nhẹ nhỏm dù cái thư đến gia đình còn theo đoạn đường dài: Vì tôi gởi về Việt Nam nên thư sẽ chậm chạp chẳng biết đến khi nào nó về đến Sài Gòn ở địa chỉ nhà Cô Ba Thưa (chị Cô Cậu với Ba tôi), rồi từ Cô Ba Thưa để về đến gia đình tôi. Nó cũng là một chặng đường đầy cam go!
Trở về đến phòng, tôi cần nghỉ ngơi và lấy những tài liệu học tiếng Anh gom góp được từ bên đảo và trại Sungai Bési xem qua để nhớ được chữ nào hay chữ nấy, vì theo những người đi trước cho biết là sách hay tự điển ở nước thứ ba khá hiếm hoi, rất khó tìm. Thoáng chốc lại đến bữa ăn chiều.
Lên căng-tin những người trong “list” chúng tôi thường bàn đến chuyến đi ngày mai, cần chuẩn bị những gì, nhưng chúng tôi đâu có gì đâu để chuẩn bị, chỉ ngoài quần áo thôi. Nhưng chuyện đi ngày mai không phải là đi từ sáng sớm mà đến khoảng quá trưa mới khởi hành. Như vậy là chúng tôi còn ăn ở căng-tin được bữa ăn trưa.
Tối nay lại có người đến thăm Bác Vỹ, Bác Phương. Hai Bác lại rủ tôi sang chơi, nói chuyện cùng nhau và uống trà. Có lẽ do nơi những người này ngày xưa có ở trong quân đội, nên họ gọi Bác Vỹ là Trung Tá. Bác Vỹ tươi cười: “Thôi! chuyện đó lâu rồi! Bỏ đi! Bây giờ sang đến đây thì tớ cũng bao nhiêu người khác thôi, lãnh trợ cấp, cũng là người tị nạn như nhau. Cứ kêu tôi là anh Vỹ được rồi”! Hai ông ấy lúc đầu hơi ngại, nhưng rồi sau đó cũng theo lời Bác Vỹ, họ gọi Bác Vỹ là anh chứ không còn xưng hô theo kiểu quân đội ngày xưa nữa. Điều ấy làm tôi càng nễ phục Bác Vỹ hơn nữa, ngoài tính điềm đạm, từ tốn vốn có của Bác. Chuyện, tâm tình nhau cho đến khoảng 10 giờ tối thì hai người kia tạ từ. Thực ra tôi chỉ ngồi nghe họ nói chuyện với nhau, chứ tôi chẳng biết gì để nói hay hỏi. Bác Vỹ, Bác Phương hỏi khách về cách sống, cách sinh hoạt ở nơi nầy ra sao, và mình cần chuẩn bị những gì để thích ứng với xã hội, và tình hình người Việt tị nạn của mình thế nào; tức là những vấn đề “muốn biết” và cần tìm hiểu về đời sống trên xứ người mà nó đã vốn rất xa lạ với nếp sống, lẫn sinh hoạt trên quê nhà, hay kể cả ở vài nếp sống của vùng Đông Nam Á.
Sáng rồi, tôi, Thành, Bác Vỹ cùng Bác Phương lại lục tục kéo nhau lên căng-tin để cùng mọi người ăn bữa sáng. Lúc đầu ăn những món ăn của Tây mình còn háo hức, ăn mãi rồi cũng ngán, nhất là món “Jam” (mứt), nó trở nên ngọt quá. Món bánh mì nướng lại khô khan. Thế là kiếm món khác để thay đổi, nhưng rồi lại lòng vòng cũng bao nhiêu đó; giống như cuộc sống hiện tại ở trong trại tiếp cư chẳng có gì để làm ngoài ăn uống, ngủ, đi long nhong. Ừ, mà chiều nay chúng tôi lại có dịp đi xa hơn.
Trong bữa ăn trưa, có người cho hay đoàn chúng tôi sẽ khởi hành vào lúc 2 giờ chiều do cô Tây làm việc ở dưới Cộng Đồng sẽ đưa đi, hình như tên cô là Philippa thì phải. Đúng 2 giờ chuyến xe buýt đến mà người lái là một người phụ nữ. Chúng tôi cứ trầm trồ, cô ấy giỏi quá lái được cả xe buýt lớn nữa! Có người biết giải thích rằng: “Vì đi và ở lại qua đêm, nên cô ấy phải lái đưa đoàn đi, chứ mướn xe có tài xế khá bất tiện, nhưng cố ấy lái cũng giỏi lắm”! Mọi người thán phục vì cô ấy là một người đàn bà mà lại lái xe lớn Thán phục do theo kiểu cách nhìn hay quan niệm ở xứ mình đó mà!

Nguyên Thảo,
22/07/2018.



Monday, July 23, 2018

*Đứng Chựng!


Tôi đứng chựng mười năm
Mười năm tôi đứng chựng
Tôi bước ra khỏi dòng chảy của con người,
Trèo lên đỉnh cao mà đứng
Đứng nhìn thiên hạ cứ mãi qua đi!
Tôi tưởng tôi lên đỉnh cao là hơn cả
Và nghĩ rằng: Ta giống một thiên thần
Vị thiên thần với tất cả quyền năng
Điều khiển cái xã hội xô bồ, xô bộn dưới kia
Trở thành cái trật tự đầy ổn định
Và công bằng, tiến bộ, giống hẳn một Thiên Đường!
Nhưng chuyện đời
Không lạ!
Nói một đàng, nhưng chuyện làm lại chẳng xong
Lý thuyết là mơ, thực hành là thực
Chưa kể chi là chuyện ân oán, hận thù
Sự bực tức tạo nên điều phản ứng.
Mọi rối rắm lại xảy ra
Tôi tối tăm mặt mũi
Luôn tìm đường giải quyết cho xong
Nhưng càng áp bức lại càng thêm nội loạn
Càng chuyên quyền thì lại khiến kiêu căng
Tôi đối tôi mệt mỏi cả rồi
Tôi bước xuống để cho lòng thơi thả
Nhưng tôi lại vào vòng cuốn chơi vơi
Vì tôi đã lâm vào nơi lạc hậu
Người thời tôi đâu mất tự lâu rồi
Tôi lủi thủi, đi phía sau cùng buồn tủi!

Đồ Ngông,
22/07/2018.



Friday, June 22, 2018

*Quê Người. (17)


Theo lịch trình hôm nay chúng tôi được văn phòng trại tiếp cư có xe buýt đưa đến bệnh viện phổi ngoài trung tâm Thành phố Adelaide (mà người ta thường gọi là City) để khám chuyên về phổi. Đó là thủ tục mà mọi người khi đến Úc đều phải trải qua để phòng ngừa bệnh lao và các thứ bệnh về phổi trong kế hoạch phòng chống về các bệnh truyền nhiểm do người mới nhập cư có thể đem vào, vì nước Úc muốn bảo vệ cho mọi người dân không vướng vào những bệnh ấy.
Sau khi ăn sáng xong, chúng tôi tập họp ở phía trước văn phòng của trại để đợi chờ xe buýt đến, kể cả những người đến Úc cùng ngày với chúng tôi, nhưng họ có thân nhân ở ngoài nên không cần ở trong trung tâm tiếp cư.
Đường đi trong khoảng thời gian nầy có nhiều xe, dọc đường thường hay bị kẹt xe ở nhiều đoạn nên xe phải chạy từ từ. Dọc hai bên rất ít các phố lầu, hay những tòa nhà cao ốc, đa số là nhà trệt, có từng vuông đất giống như các khu vực gần trại tiếp cư mà chúng tôi đã thấy, hay các khu vực chúng tôi từng đi qua. Mãi đến khi đến “City” thì mới thấy có nhiều nhà cao tầng nối tiếp trên một khu vực khá lớn với nhiều cây xanh, đường sá rộng rãi và xe cộ tiếp nối nhau trên những trục giao thông, với hệ thống đèn đường tự động. Nhưng dù là nhà trệt hay phố lầu đều theo một thứ tự chứ không hỗn độn như ở bên mình. Nhìn qua hai bên đường tìm mãi chẳng thấy con hẽm nào kể cả những khu vực ở gần trại tiếp cư.
Đến bệnh viện phổi xe vào chỗ đậu, chúng tôi lần lượt xuống. Tất cả hơn 30 người được chị Thông dịch đón tiếp và hướng dẫn, chị tự giới thiệu là chị Hoa có trách nhiệm thông dịch, hướng dẫn cho đoàn trong buổi nầy. Công việc khám và chụp hình phổi cũng khá là bận rộn, chị Hoa phải thông dịch cho từng gia đình, nên thời gian kéo dài cũng khá lâu mới hoàn tất hết. Xong xe buýt đưa đoàn về lại trại tiếp cư còn kịp vào giờ ăn trưa của căng-tin, tức vào khoảng gần 2 giờ. Rồi về phòng nghỉ ngơi, tôi vội lấy thư ra viết tiếp để gởi về cho gia đình, càng sớm càng tốt, nhất là để có những giấy tờ cần thiết để tôi có thể làm hồ sơ bảo lãnh cho gia đình. Riêng Thành còn đi rảo đến các người quen.
Thời gian qua cũng nhanh, chợt một chốc thì lại đến giờ ăn chiều. Tôi đi cùng Bác Vỹ, Bác Phương lên căng-tin. Hàng đã dài vì chiều nay có những người Thổ dân (chủ nhân của đất Úc nầy, mà mọi người thường gọi họ là Úc đen, để phân biệt với những người Úc đến từ Âu Châu hay gọi bằng một danh từ khác là Úc trắng), nghe nói rằng họ từ sa mạc được đưa về đây để tham quan vài nơi trong vài ngày. Phải nói, từ ngày đặt chân lên xứ người tôi đã học và phải học hỏi rất là nhiều điều dù nơi đó là đảo tị nạn Bi-đông, hay trại chuyển tiếp ở Sungai Bési trên đất Mã-Lai; hoặc nhìn lại chính mình trong cuộc sống và nhất là phong thái của những dân tộc mà mình được tiếp xúc, cái nhìn của tôi được vươn ra một không gian rộng lớn hơn và cũng từ đó tôi muốn kiểm nghiệm thực tế những điều đã học, những kiến thức đã tiếp thu lúc còn trên ghế nhà trường, mặc dù trong khoảng thời gian ấy mình vẫn chưa biết tương lai mình sẽ về đâu và như thế nào! Người xưa nói: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” quả là đúng quá đi thôi! Nói chung từ khi từ giã quê hương, mỗi bước đi hay từng ngày tôi phải chứng kiến cùng đối diện với những điều lạ, nhất là trên “xứ người”. Thế cho nên sự học hỏi, chú ý, hay cách hành xử cũng phải ứng biến theo từng thời gian. Với cuộc sống của người Tây Phương trên xứ Úc nầy khiến tôi lại càng thấy mình lạc lỏng hơn nếu không có em tôi, Trọng hay những người vừa quen, cùng những người qua đây chung một chuyến bay.
Lấy thức ăn xong, tôi ngồi cùng bàn với Bác Phương, Bác Vỹ, Thành. Trong lúc đó, Bác Vỹ hỏi tôi: “Chú mầy có dự tính gì về tương lai chưa”? Tôi thành thật trả lời: “Chưa Bác ơi! Để từ từ rồi tính. Ngôn ngữ (tiếng Anh) thì chưa rành, nghề nghiệp coi như không, chắc đành thả trôi theo con nước, tới đâu thì tính tới đó vậy”! Câu chuyện còn đương tiếp nối thì anh Nguyên đến cho hay: “Anh Vỹ, nghe nói cuối tuần nầy, list (những người qua cùng một chuyến bay từ Sungai Bési sang Úc) của mình được cô Tây nào đó làm việc dưới Cộng Đồng (Cộng Đồng Người Việt Tự Do) đại diện cho Hội Nhà Thờ ở đâu đó mời lên đó chơi, anh có biết không”? Chúng tôi hỏi lại, có người biết chỉ bảng dán thông cáo ở văn phòng thông tin. Xong bữa ăn, Bác Vỹ dẫn chúng tôi đến đó để xem thông báo. Bác Vỹ là người tương đối thạo tíếng Anh, Bác dịch lại cho chúng tôi. Như vậy cuối tuần nầy có xe buýt đến rước chúng tôi đến Kadina để tham quan trong hai ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật.
Tôi không về phòng liền mà thả qua phòng của Lê Nguyên Tịnh, anh bạn cùng vượt biên với tôi trên cùng một chuyến, và cùng nhau tát nước khi nước tràn vào trong tàu để ôn lại chuyện ngày xưa. Tịnh qua đây trước tôi cả tháng, vẫn còn ở trong nầy và đợi chờ vào lớp học tiếng Anh cho người mới tới. Còn Thanh Sơn và Hiệp thì đã ra ở bên ngoài, nghe nói Hiệp tính chuyển sang tiểu bang khác “Melbourne” vì phần lớn những người trên chuyến tàu vượt biên của tôi được phái đoàn Úc nhận đều đến Melbourne hơn là Sydney, hay ở các tiểu bang khác. Tôi ngồi với Tịnh cũng khá lâu mới về phòng, đêm nay trời khá lạnh, Thành đã mở lò sưởi tự bao giờ. Tôi nằm trên giường mà trằn trọc không ngủ được, tôi lại nghĩ về gia đình, vợ con tôi!
Sáng hôm sau, tôi dậy khá trễ vì đêm hôm không ngủ được nhiều. Thành đang viết thư cho gia đình, cùng bạn bè của nó. Bác Vỹ gõ cửa rủ đi ăn sáng. Thành dẹp viết thư, tôi ngồi dậy sửa soạn đi vệ sinh ngoài phòng công cộng, rồi mặc quần áo đi lên căng-tin sau.
Bàn Bác Vỹ đã đủ người, các bàn khác thì đã có các người di dân khác ngồi rồi (vì nơi đây là tập trung các người tị nạn từ các nơi khác đến); Họ từ Ba-Lan, Liên Xô hay ở vài nơi nào đó được Úc nhận để định cư ở tiểu bang Nam Úc nầy. Thành kêu tôi đến bàn của nó, ở đó đã có hai người nó quen: Cô Ái và chị Nhi. Được biết anh Thiết Nhi ngày xưa học bên Kiến Trúc, nhưng mấy ngày nay bị bệnh nên còn ở trong nhà thương; còn Ái nhà ở Sài gòn dường Nguyễn Thiện Thuật mà ngày tôi còn đi học ở trường Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn, tôi có ở khu đó. Thành, em tôi nó hay đi vòng vòng và thích ngoại giao nên nó quen nhiều; còn tôi thì tương đối khép kín, lủi thủi nên chẳng quen được bao nhiêu. Chúng tôi ngồi ăn và cùng hỏi thăm nhau vài câu chuyện và hơi bâng quơ về tương lai. Tôi nói “bâng quơ” vì đó là một sự thật, cái sự thật đầy lo âu và toan tính. Bạn thử nghĩ mình đang ở trên xứ người mà ngôn ngữ không đủ để diễn tả cái điều mình muốn, nghề nghiệp thì không thể làm cái nghề mà mình đã làm trước kia, mà cũng chưa chắc người ta cho mình làm; không có tiền, nhà cửa. Mọi thứ gần như là con số không, Mới nhìn sơ qua trong xã hội của người ta, mình đã thấy khác với lề lối sinh hoạt trên xứ mình quá nhiều; cho nên chỉ biết nhìn và quan sát để mình có thể thích nghi vào chỗ nào cho thích hợp. Ái sang đây có một mình và đã trải qua một lớp Anh Văn cho người mới tới.
Về đến phòng không bao lâu, thì Thành ẵm con trai đầu lòng của anh chị Ba Nguyên (qua Úc cùng chuyến bay) ở phòng bên kia đường về chơi. Nó hơi mạnh tay làm đứa nhỏ thích chí cười dòn, còn tôi sợ rủi có chuyện gì cho đứa nhỏ thì phiền không biết là bao nhiêu, nên kêu nó đem về trả cho chị Ba. Nó đem trả đứa bé rồi lại biến đâu mất. Hồi lâu, lại có tiếng chị Ba kêu tôi ra: Thì ra, chị không biết Tiếng Anh mà ông Tây nào đó rượt hai đứa con riêng của anh Ba chạy, chúng nó hoảng quá chạy vào nhà, ông cũng rượt theo. Gặp chị Ba ông nói cái gì đó chị Ba không hiểu nên chị kêu tôi. Tôi chỉ hiểu loáng thoáng là ông chạy xe ngang thì hai thằng nhỏ bắn súng cao su chơi, cây bắn ra bay lên xe ổng; ổng ngừng xe lại và ví hai thằng nhỏ. Theo ổng nói: “Nếu xe ổng bị trầy nước sơn là mất giá trị”. Bằng tiếng Anh ít ỏi của mình, tôi cũng tạm dịch cho hai người và chuyển lời xin lỗi của chị Ba đến ông ta. Ông lái xe đi mà chắc cũng còn ấm ức trong lòng. Còn tôi nghĩ trong bụng: Ngộ, bên mình chú trọng đến cái máy, mà bên nây lại cái nước sơn bề ngoài: Tôi học thêm được một điều mới lạ trên xứ người!
Ở trong trại tiếp cư, thỉnh thoảng có nhiều người đến thăm: Thứ nhất là người Việt đến nơi nầy hãy cón ít, cho nên người tới trước đi tìm người cùng hoàn cảnh để an ủi hay giúp đỡ được chút nào, hoặc ít ra là cho vài kinh nghiệm đi trước. Hai là để tìm xem có những người thân quen nào từ quê nhà đến không? Đó là điều mà từ khi còn ở bên đảo, cứ mỗi lần có tin báo người từ tàu mới lên là mọi người thường chạy ra cầu tàu để xem có người thân quen chăng, thì bây giờ cũng vậy. Thường mỗi thứ năm là người ta đến viếng nơi nầy nhiều cũng không ngoài mục đích ấy. Chính vì vậy, tôi lại được Bác Vỹ rủ sang chơi, uống trà với hai Bác vì có vài người tới thăm. Đây là mấy người thuộc diện cựu quân nhân ngày xưa nên họ hỏi nhau về chuyện lính. Bác Vỹ cũng thành thực kể quá trình của Bác từ bên nhảy dù, rồi sau đó về làm Quận Trưởng quận Bình Chánh như thế nào cho họ nghe, và chức vụ cuối cùng là Trung Tá. Từ đó, mấy ông ấy có vẻ kính trọng Bác Vỹ lắm, còn tôi thì cứ như thường chứ không biết gì cả, vì từ trước tới sau tôi chưa bao giờ vào quân đội.
Trở về phòng thì lại có người gõ cửa, thì ra trên văn phòng trại đem bao thư đến phân phát cho chúng tôi số tiền trợ cấp còn lại sau khi trừ các chi phí trong tuần. Trợ cấp khoảng 61 đô mấy, trừ ăn, ở chi phí còn khoảng 28 đô, số tiền đó được để trong bao thơ và chuyển giao cho chúng tôi qua nhân viên người Việt và cho biết đó là “ân huệ” của tuần đầu tiên khi đến Úc để có chút tiền tiêu xài; và từ đây về sau là cứ hai tuần mới được lãnh chi phiếu và tự mình đến ngân hàng để lãnh tiền mặt ra, Đó là khoảng trợ cấp của “Bộ An Sinh Xã Hội”, hay nói nôm na là trợ cấp “Thất Nghiệp” vậy!

Nguyên Thảo,
14/06/2018.



Wednesday, May 30, 2018

*Quê Người. (16)


Những ngày trải qua trong trại tiếp cư thật là yên tĩnh và cùng nhịp điệu, chúng tôi chưa có việc gì làm chỉ chờ làm cho xong mọi thủ tục để hoàn tất việc định cư. Sáng thức dậy đi lên căng-tin ăn uống, rồi trở về phòng làm vài công việc hoặc bàn tính với nhau làm gì, rồi lại đến ăn trưa. Sau trưa thì lại đến buổi ăn chiều. Ngày nào có lịch đi làm thủ tục thì kéo nhau đi làm cho xong. Thủ tục mở trương mục ngân hàng và y tế kế tiếp. Các nơi đó cử nhân viên vào trung tâm cung cấp tài liệu, giấy tờ và hướng dẫn chúng tôi điền vào đơn, có khi họ cần người thông dịch đi theo nếu không có nhân viên nói tiếng Việt. Hai thủ tục cần thiết để hoàn tất sớm nhất là ngân hàng và y tế. Y tế gồm có thẻ khám bệnh “Medicare” và Thẻ mua thuốc giá thấp được tài trợ của chính phủ là “Health Care Card”. Được biết người dân được giúp đỡ từ chính phủ rất nhiều về vấn đề y tế, với Medicare thì đi khám bệnh với Bác sĩ khỏi phải trả tiền mà chính phủ đài thọ, và mua thuốc thì mỗi món chỉ trả một số tiền nhỏ tượng trưng, còn sai biệt thì chính phủ bù đắp qua thẻ Health Care Card. Như vậy về sức khỏe chúng tôi được yên tâm hơn khi có bệnh, mà bệnh thì đâu biết lúc nào nó tới, cho nên thủ tục đó là thiết yếu phải làm trước để phòng ngừa bất trắc có thể xảy ra.
Tôi là người hay bị bệnh, thân thể yếu đuối từ lâu cho nên tôi rất mừng là từ đây sức khỏe của mình có chỗ dựa tương đối vững chắc và nhất là về tinh thần. Tôi không còn phải lo âu trên bước đường lưu lạc, tha phương nữa vì bây giờ mình đã có bến đỗ và được chính phủ cũng như người dân Úc tận tình giúp đỡ, cung cấp mọi thứ. Nhiệm vụ của tôi là ráng cố gắng giữ gìn sức khỏe cũng như bão toàn mạng sống để hoàn tất nhiệm vụ rước vợ con sang đoàn tụ cho tròn mục đích “trốn chạy” của tôi. Tôi không có đem theo thứ giấy tờ gì trong mình trong chuyến vượt biển, cho nên phải chờ đợi vợ tôi lựa ra và gởi cho tôi. Tôi cũng thừa biết khi tôi ra đi là đã được nhà nước xếp vào thành phần gọi là “phản quốc” thì vợ con tôi sẽ bị xếp vào thành phần xấu và chịu mọi phần đối xử “cay đắng” cũng như bao nhiêu thành phần “ngụy” khác, nhưng điều ấy đối với gia đình tôi chỉ là xấu hơn chút ít thôi, vì bản thân tôi và vợ tôi cũng đã là người của “ngụy quyền” rồi dù chúng tôi chỉ là những giáo viên quèn nơi làng quê.
Những năm còn được “lưu dụng” hay theo một từ ngữ khác đúng hơn là “lưu dung” tức là được “dung tha” mà “sử dụng” trở lại, chúng tôi cũng ráng cố gắng làm tròn nhiệm vụ đối với con em người dân, làm tròn với những chức năng của một nhà giáo, dù đồng lương eo hẹp do tổ chức “bao cấp” và tái cơ cấu tổ chức xã hội theo chế độ mới mà ra. Hồi ấy tôi cũng nghĩ là cố gắng góp phần làm tròn nhiệm vụ nhà giáo của mình để giúp cho đất nước tiến lên sau thời gian dài chiến tranh. Nhưng khi đất nước được hòa bình thì lại đến một cuộc chiến tranh khác khốc liệt và hận thù hơn nhiều, kéo theo hàng triệu người lẫn biết bao nhiêu gia đình tang thương chỉ vì một cuộc “Đấu tranh giai cấp” và nằm trong đối tượng “Ta, Thù”. Tôi thấm thía lời dạy của Đức Phật xưa kia: “Chỉ có tình thương mới xóa bỏ được hận thù”, nhưng trong thế gian nầy mấy ai đã có thể tin ai, cho nên “Chỉ có cách làm cho kẻ thù phải gục, không thể ngóc đầu lên chống đối hay lật ngược trở lại mà thôi” tức là phải “Trấn áp” cho đến tận cùng hoặc “Bạo lực cách mạng” để bảo toàn thành quả!
Thông rủ tôi đi đến Hội ICRA xin đồ để mặc vì thời tiết bây giờ đã bắt đầu lạnh và sẵn nó nhờ Hội làm giấy tờ bảo lãnh gia đình dùm nó. Tôi hỏi: Sao mầy biết? Nó nghe người ta nói và chỉ chỗ rồi. Thế là tôi theo nó vừa kiếm đồ để mặc và cũng để biết chỗ, khi nào giấy tờ tôi đến thì tôi cũng phải nhờ Hội ấy giúp mà thôi. Nhưng giấy tờ tôi bao giờ sẽ đến? Tôi nôn nóng trong lòng, nhưng không biết đến bao giờ. Hiện tại tôi chẳng làm gì được mà chỉ cố gắng suy tư và lo cho bản thân mình, rồi lại nghĩ đến tình cảnh vợ con, gia đình trong tình huống hiện nay, nghĩ mà lại thương cho mình, cho gia đình. Tôi đi với Thông băng qua cửa hông của trung tâm tiếp cư rồi ra đường lớn, quẹo trái và đi đến góc đường và Thông bảo: Người ta chỉ ở khoảng nầy, cái nhà ngay góc đường”. Tôi và Thông cố nhìn để tìm và cuối cùng chúng tôi đã tìm được. Thông vào nhờ giúp. Chúng tôi làm quen với chị Quyên, chị vui vẻ cầm các giấy tờ của Thông xem, rồi lấy ra những tấm đơn bằng tiếng Anh để rồi chị điền vào cho Thông. Thỉnh thoảng chị hỏi các chi tiết, Thông trả lời và chị tiếp tục điền vào đơn. Sau cùng, chị soạn lại các giấy tờ hỏi Thông và điền vào đơn, làm thủ tục hành chánh dùm cho Thông. Chị soạn, sắp xếp lại mọi thứ và giao cho Thông để đi nộp cho cơ quan hữu trách. Thế là xong! Tôi thấy Thông hoàn tất giấy tờ mà tôi thấy trong lòng mình hơi buồn, vì mình còn phải chờ đợi khá lâu và chẳng biết đến bao giờ! Trụ sở của Hội ICRA nầy là một nhà cho mướn, khá cũ nhưng vòng rào tương đối rộng nằm trong vùng Pennington, gần với Trung tâm tiếp cư nên cũng khá thuận tiện cho những người tị nạn, nhất là những người tị nạn từ các nước Đông Dương như Việt, Miên (Kampuchia), Lào. Sau khi làm giấy tờ xong, Thông và tôi đi qua phòng phía sau nơi chứa đồ cũ mà người ta hiến tặng cho Hội để Hội giúp đỡ cho những người chưa đủ điều kiện mua. Chúng tôi lựa một số đồ ấm để mặc, lựa mãi mới có được vài cái áo vì đa số không vừa với mình. Những người lựa trước bỏ vun vãi và không thứ tự cho nên bà giữ kho nầy mãi cằn nhằn không thôi.
Trở về Trung tâm thì đã đến giờ ăn trưa nên phải xếp hàng mãi tuốt đàng sau một hàng dài. Dù vậy, cũng chờ đợi không lâu. Nghĩ lại bên xứ mình sao hỗn độn quá, trình độ, ý thức còn hạn hẹp, nhất là sau 75 người ta lại chen lấn, giành giựt để mua hàng, khiến cho đám đông lại thêm mất trật tự và làm nơi cho kẻ trộm cắp, móc túi thừa cơ hội trà trộn mà hành động. Nói như vậy không có nghĩa là trước 75 là không có. Tôi lại nhớ về những năm 66 khi đi ghi danh vào đại học, cái cảnh sinh viên chen lấn thật là khủng khiếp, người ta thừa cơ hội xô nhau để đụng chạm đến cơ thể những đứa con gái, hay có lần kẻ móc túi mở nút cài túi quần sau của tôi để lấy đồ nhưng tôi hay được. Bây giờ, tôi thấy chuyện xếp hàng đâu có khó, nó vừa trật tự mà lại vừa giúp cho người làm việc thoải mái, không bực bội thì công việc giải quyết đâu có lâu, thế mà tại sao ở nước mình không làm được nhỉ?
Ăn xong, về phòng mình nằm nghỉ, Thành dạo đến các phòng khác đi tìm bạn bè, người quen mà nó biết từ lúc ở đảo và trại Sungai Bési. Hồi lâu chợt nhớ vài điều tôi lấy giấy ra viết thơ về cho gia đình về những giấy tờ cần thiết mà tôi đã biết khi đến Hội ICRA khi Chị Quyên soạn lại cho Thông. Viết thư thật là khó, phải suy nghĩ viết như thế nào cho thích hợp. Mỗi lần viết thư tôi không hoàn tất được trong một buổi hay một ngày mà phải tốn vài ngày mới xong một bức thư, không hiểu sao mà mình lười quá như vậy! Viết chưa được bao lâu thì Bác Vỹ qua phòng gõ cửa vả rủ tôi qua phòng Bác chơi với Bác Phương vì có một người khách đến thăm. Tôi qua ngồi chơi uống nước trà với họ và nghe những chuyện kể về quá khứ, hiện tại. Bác Vỹ, Bác Phương hỏi về những vấn đề thực tế và cuộc sống ở trên đất nầy. Với kinh nghiệm đi trước ông bạn kể đôi nét về những sinh hoạt ở đây. Anh kể ngày anh đến, người Úc rất thân thiết và thương người tị nạn mình lắm, họ đến thăm và giúp đỡ mình nhiều, thậm chí cuối tuần họ đến chỡ mình đi chơi với họ. Có nhiều hãng xưởng vào đây hỏi mình có thích làm với họ không, họ cho mình vào làm. Thế nhưng chỉ mới vài năm thôi, sau nầy họ hơi ngán ngẫm với mình, ra đường thiếu điều họ ra dấu để chửi mình, cũng tại nhóm mình quậy quá, nhất là từ lúc “băng tóc dài” đâm chết người của nhóm “mô tô lòi tói” ở bãi biển Glenelg, và anh dặn chừng chúng tôi khi lãnh tiền thì nên cẩn thận vì có nhiều tay đến vào các ngày đó để hỏi tiền. Nghe chuyện mà tôi lại không biết tương lai mình ở nơi đất khách quê người nầy sẽ như thế nào? Nhưng thôi, đành buông xuôi theo chiều nước trôi, tới đâu thì tới! Câu chuyện kéo dài cũng khá lâu thì đến giờ ăn chiều. Anh bạn từ giả đi về, chúng tôi lại lục tục kéo nhau lên căng-tin.
Thức ăn ở căng-tin không hẳn là cơm, nó vừa là thức ăn Tây cũng là vừa thức ăn Á châu, tùy theo mình chọn, nên tôi cũng dần làm quen với kiểu cách của dân Úc. Chúng tôi ngồi ăn và cùng trao đổi những gì nghe ngóng, điều biết về đời sống của xứ sở nầy để làm hành trang cho mình trong tương lai. Mọi việc đều lạ, cần học hỏi rất nhiều, kể cả đường sá, khu vực, mua đồ đạc, vật dụng cần thiết để xài; đôi lúc cần phải có người biết trước hướng dẫn hay người biết Tiếng Anh nhiều giúp đỡ!
Có một lần, tôi cảm thấy mình bị “quê độ” ở nơi nhà vệ sinh. Vốn phòng tắm, phòng giặt ở khu vực chúng tôi là công cộng, bên ngoài xa nơi mình ở. Việc sử dụng bồn cầu mới nầy phải hỏi nhiều người mới biết cách xài, nhưng một hôm nọ tôi vừa đến nơi thì bị bà dọn dẹp phân bua, la lối um sùm. Té ra anh chàng Kampuchia nào đó thót ngồi chồm hổm trên bờ thành bồn cầu làm dính đất dơ dáy nên bà ta bực mình vừa lau chùi lại vừa la lên cho đỡ bực, nhưng tôi lại là người nghe hết cả vì bà ấy là người Việt.
Vừa nằm xuống nghỉ ngơi để rồi tối nay viết thư tiếp cho gia đình thì Bác Vỹ gõ cửa kêu tôi sang phòng Bác chơi vì có ông anh nào đó đi làm từ sa mạc mới về ghé thăm. Anh Điện qua đây từ lâu và nay có việc làm trên sa mạc cho công ty hầm mỏ nào đó, nay nhân nghỉ phép về ghé qua trại tiếp cư để xem có người nào quen hay không và luôn tiện hỏi thăm người mới tới cùng với vài chai bia anh xách trên tay. Anh tâm tình, kể chuyện đời sống ở Úc nầy khá nhiều, qua đó chúng tôi có thể học được vài kinh nghiệm để thích nghi cuộc sống ở đây. Khi nghe anh nói: “Ở xứ nầy nó buồn lắm, rồi càng ngày càng…” thì tôi bỗng dưng tiếp theo ý nghĩ “càng buồn hơn” rồi nghe lòng não nuột; nhưng may mắn anh đã nói tiếp “mình có công việc làm thì ít buồn hơn, vì làm quần quật nên cũng không cảm thấy buồn”!
Nói chuyện với anh Điện cũng khá khuya, anh từ giã ra về, chừng vài ngày nữa anh mới trở lên sa mạc để làm, còn chúng tôi phải chuẩn bị cho mình một tư thế để đối chọi với một tương lai trong môi trường thật là xa lạ trên đất nước mang dáng dấp Tây Phương nầy.

Nguyên Thảo,
30/05/2018.



Tuesday, May 29, 2018

*Cỏ, Cây Và Tôi!



Trong thế gian nầy có tôi và cây cỏ
Cỏ tràn đầy mọc khắp ở nơi nơi
Màu tươi mát, đem sức sống thêm dầy
Che phủ kín nơi đất còn hoang dã.

Cỏ giữ đất không bào mòn khi gió lớn
Hay mưa nhiều cũng chẳng cuốn đất trôi đi
Giữ độ ẩm cho đất thoát khỏi khô cằn
Nguồn nước ngầm được luôn tồn trữ.

Cỏ vươn lên khi mùa mưa tới
Nuôi thú rừng hay những loại vật nhà
Khi nắng gắt cỏ trở nên tàn lụi
Nhưng cũng là phân bón của thế hệ sinh sau!

Cây đã đến trước tôi và có thể trước cả loài người
Cây hùng dũng hiên ngang cùng trời đất
Cây vươn lên trong bao lần thế kỷ
Tạo thành rừng nối tiếp khắp không gian.

Cây cho bóng mát, cây chắn ánh nắng mặt trời,
Cây giảm sức nước, làm nước đi sâu vào lòng đất
Làm trái đất nầy được tươi mát luôn luôn
Cây hút cả thán khí (CO2) để tạo thành O2 cho người thở.

Cây được xẻ làm vật dụng cho người
Bao nhiêu thứ mà con người cần đến
Cây được đốn làm nhà là nơi nương tựa
Mà người cần thiết có chỗ trú thân.

Tôi là người được sinh ra quả thật muộn màng
Kiếp sống trăm năm đâu có là bao
Nhưng nào đã dễ mấy ai mà có được
Cuộc sống bon chen chen cùng lão, tử, bệnh và sanh.

Tôi là người lặn lội kiếp trần gian
Đầy cả tham ô, hiếp đáp, giành giật, lọc lừa
Lớn lấn nhỏ, mạnh tha hồ áp bức
Cuộc đã khổ lại thêm nhiều cơ cực.

Tôi là người trong cái cõi nhân sinh
Chuyên tạo cho nhau những điều đau khổ
Ít khi đem đến sự sung sướng, hạnh phúc tràn trề
Chỉ tàn phá, biết “Ta” là trên hết!

Tôi đứng đây với nhiều suy nghĩ
Tôi là người hơn hẵn thế giới chung quanh
Hay tôi vẫn là loài không phẩm hạnh
Thua cỏ cây, hay thua những con người!

Sống chi chẳng xứng con người
Thua hàng cây cỏ, chẳng bằng cỏ cây!

Đồ Ngông,
30/05/2018.




Monday, April 23, 2018

*Thiên Đường!



Tôi tự hỏi: Đâu là Thiên Đường?
Và Thiên Đường là gì hỡi anh?
Em có biết thì cho tôi biết với
Tôi cần biết, và muốn biết về một Thiên Đường.

Người ta nói
Về một Thiên Đường: Không khổ đau và ngập tràn hạnh phúc
Tôi cũng mơ và đầy mơ ước
Một Thiên Đường trong cuộc sống lầm than
Tôi đi tìm trên những bước trần gian
Sao khốn khổ, những con người vào cõi thế
Sao họ chẳng rời xa cái chết
Lánh cái già, và những căn bệnh nan y
Họ tranh giành quyền chức để làm chi,
Họ muốn cưỡi trên đầu vạn dân thiên hạ
Họ muốn đem tài
Biến thế giới và người, ai cũng đều thế cả
Đi về đâu? Về đâu? Ở một Thiên Đường!
Một Thiên Đường nơi cõi xa xăm
Tôi mơ ước, nhưng không biết bao giờ chứng thật
Mà tôi vẫn mơ
Và mãi mơ cho đến ngày tôi mất
Dù xuôi tay, tôi vẫn lảm nhảm: Thiên Đường!

Đồ Ngông,
23/04/2018.