Sunday, February 3, 2019
*Kính Chúc!
(Thay lời Chúc Tết, Xuân Kỷ Hợi 2019)
Kính chúc gia đình ở mọi nơi
An khang, thịnh vượng, sống vui đời
Xuân về nắng ấm hoa đua nở
Tết đến thênh thang lòng thảnh thơi
Quên hết ưu phiền luôn rối rắm
Bỏ qua chán nản chẳng nên lời
Vươn lên ý chí hồi gian khó
Hứa hẹn tương lai đẹp cuộc đời!
Nguyên Thảo,
03/02/2019.
Sunday, January 13, 2019
*Chuyện Ngày Con Nít!
Chuyện ngày xưa hay là chuyện của “thời con nít” Ngông tôi cũng có nhiều kỷ niệm, những kỷ niệm ấy cho đến tận bây giờ vẫn còn thấy ngất ngây, ngầy ngật vì mang dấu ấn của một quãng đời. Đôi khi Ngông tôi nhớ lại, lại tìm thấy một chút Triết Lý sống gì gì trong đó, không biết đó là sự thực hay là tôi có quá nhiều tưởng tượng, hoặc là Ngông tôi lâu ngày đã bị bệnh hoang tưởng rồi chăng? Nhưng dù gì đi nữa tôi cũng phải kể lại để người đọc đánh giá dùm sự “ngông ngông” của Đồ Ngông tôi.
Số là khi ba má tôi khi quyết định dời nhà về chợ Tân Khánh ở, thì lúc đó Ngông tôi chỉ là “thằng con nít, mũi dãi lòng thòng” vì mới chỉ 7 tuổi ta, hay đúng hơn là 6 tuổi tây, thân hình lại nhỏ con. Đêm đầu tiên, mấy đứa của nhà kế bên hỏi qua cửa sổ: “Ê thằng nhỏ, mầy tên gì vậy mậy”? Tao tên Thạch, tụi bây tên gì vậy: Tụi nó cũng vui vẻ kể: Tao tên Tự; tao tên Hoàng. Đó là lần thứ nhứt Ngông tôi được trò chuyện với người hàng xóm qua cửa sổ, và tôi phải đứng trên mấy hàng gạch đất được chất bên cạnh cửa sổ.
Thế rồi qua mấy ngày sau, đúng là chuyện con nít; Con nít làm quen với nhau lẹ lắm, tôi quen được đứa nầy, rồi đi chơi với nó lại quen thêm vài đứa khác, nên chẳng bao lâu đã có bạn bè đi chơi với nhau. Ba má tôi lại dần gầy dựng ở nhà thành một tiệm tạp hóa để bán. Do nơi bận rộn, hai ông bà thấy tôi đi chơi quá nên ông quyết định dẫn tôi lên trường học xin cho tôi vào lớp Vỡ Lòng (Đồng Ấu) học với ông thầy Giáo Sáu ở Trường Cây Gòn của Ông Khai. Tôi bị chê là quá nhỏ, nhưng ba tôi năn nỉ mãi ông thầy Giáo Sáu mới cho tôi học. Về sau tôi bị “máng vốn” là vô lớp ngủ hoài. Nhưng rồi không biết học đến khi nào thì tôi cũng “thuần” giống như một con ngựa được người ta huấn luyện trở nên nhuần nhuyễn. Từ trong lớp học tôi được quen thêm nhiều thằng, con bạn, hoặc các anh chị lớn hơn. Tôi trở nên hiền lành, không trở chứng.
Vào thời điểm đó, tình hình chiến sự trở nên thúc giục, dập dồn. Phe kháng chiến Việt Minh về hàng đêm phát loa, rải truyền đơn. Trong đồn xây một cái “tha la” (trạm gát) rất cao, người ta nói đứng trên đó có thể thấy rất xa, đến bìa Vĩnh Trường hay những xóm cách đó vài cây số. Đồn do đội quân Cao Đài đóng, nhưng trong đồn có một Thằng Tây mà thiên hạ nói với nhau là chính nó mới là người bắn moọc-chê hay gọi cà-nông bắn tới, còn phóng lựu (tăm-long) thì lính bắn. Do vậy, mà bọn con nít chúng tôi chỉ đi chơi lúc ban ngày, còn ban đêm thì rúc vào trong nhà để phòng hờ có lộn xộn thì chun xuống hầm, tránh đạn, tránh bom. Có những ngày lính Tây đi bố, sáng đoàn xe chạy chầm chậm sau những người lính cầm máy rà mìn ở hai bên đường, để rồi trưa hay chiều về ghé qua khu đất trống gần Trường Tàu nghỉ ngơi, lúc đó là dịp bọn con nít chúng tôi đến xin bánh, xin sô-cô-la. Có hôm có xe bị giật mìn ở đâu phía trong gò Hóa Nhựt khiến người bị thương, chết khá nhiều đem về để lên những sạp của chợ, coi thật là ghê.
Rồi vài năm qua đi, chừng khoảng hai năm rưỡi, tiếng súng ngưng, hòa bình lập lại. Những người theo Việt Minh được tập trung đưa ra Bắc, có những chiếc xe bò chở các thương binh đi dần ra trong buổi chiều mưa thật là ảm đạm và thương tâm. Lại có những đoàn người Bắc vào Nam và họ được tái định cư ở những vùng rừng, núi, bỏ hoang được khai phá do chính quyền làm sẵn. Ngông tôi không biết tình trạng ấy kéo dài trong bao lâu, nhưng sự yên bình của một đất nước làm cho “bọn con nít” chúng tôi được thoải mái vui chơi trong nhiều năm.
Sự học của tôi cũng thay đổi, ông Thầy Khai không còn ở trong đồn nữa mà sang cất nhà ở bên khuôn viên Thánh Thất Đạo Cao Đài và điều hành Trường Cây Gòn thêm vài năm nữa. Đến một ngày Chính Phủ trưng dụng cơ sở trường của ông để thành lập trường công lập Sơ Cấp Tân Phước Khánh (chỉ có tới Lớp Ba), học sinh đi học không phải đóng tiền học phí, chỉ đóng một số tiền niên liễm đầu năm vào niên học 1956-1957. Theo tuổi khai sanh tôi được theo học lớp Ba, lớp đầu đàn, theo sau là hai Lớp Tư và hai lớp Năm. Lúc đó, Thầy Khai được coi như là thành phần trí thức của xã, ông vận động xây rạp hát để cho gánh hát về mướn chỗ để hát. Tân Khánh có phần sung túc hơn. Vòng đai đồn được phá bớt, con đường ra Búng khai thông, chợ được xây dựng ở khu mới, có những dãy phố bên đường, có cả vài căn lầu. Xe đò từ Thủ Dầu Một vô để đưa khách về Tân Long hay lên Tân Uyên; hoặc đi sang Biên Hoà qua ngõ Bình Chuẩn, Tân Ba, Chợ Đồn.
Thời gian đó là thời gian mà bọn con nít chúng tôi được nhiều hạnh phúc và sống trọn với tuổi thơ nhiều nhứt. Ngoài những giờ đi học, phụ giúp gia đình, là những giờ, ngày mà chúng tôi kết bè, kết lũ đi lang thang từ đầu làng, cuối xóm, có khi đi suốt ra mãi tận bưng biền để bắt cá, mò cua. Tất nhiên, Ngông tôi không phải là người đầu đàn mà chỉ làm “tà lọt” vì thân đã nhỏ mà tuổi cũng lại là nhỏ hơn.
Cái anh có tài và khả năng lãnh đạo, có uy tín nhứt đối với con nít chúng tôi là anh Mười Lớn (lớn lên là Nguyễn Văn Là), anh và người cháu cùng lứa tuổi là anh Vân rất có khả năng tổ chức, hay bày ra nhiều trò để hướng dẫn chúng tôi chơi, hoặc làm đầu đàn cho những buổi đi tát cá, đi rừng hái trái cây, đi bắt dế, hay đi tắm ở các hầm đất ở trên Bình Hòa thật là vui thú. Các hóc hẻm nơi làng quê gần như chúng tôi đều đi qua. Ban đêm thì tụ tập đi chơi, hay tổ chức u bắt mọi, kéo co, nhứt là những lúc kể chuyện ma của anh Mười khiến chúng tôi thích nghe, nhưng tối về ngủ lại trùm mền kín đầu, lâu lâu lại hé ra để xem có ma không.
Đó là những thời buổi ban đầu khi hòa bình, chưa có gánh hát về hát ở Tân Khánh đến khi có gánh hát về chúng tôi tối lại tụ tập theo gánh hát để nghe âm nhạc, bài hát phát trên những loa lớn phía trước của rạp như các bài “Gạo Trắng Trăng Thanh, Trăng Rụng Xuống Cầu, Tía Em – Má Em vân vân…” Nhiều lắm, tôi không nhớ hết. Thời buổi đó thì trò chơi cũng khác đi, anh Mười Lớn với khả năng thiên phú, cùng với anh Vân bắt chước các đoàn hát, cùng phong trào văn nghệ lúc bấy giờ ở Tân Khánh do ông Út Canh Hòa khởi xướng, đã tập hợp bọn con nít chúng tôi lại hát theo các tuồng được in bán ra bằng những cuốn sách nhỏ, gọn. Thế là chúng tôi cũng tập tuồng, cũng có vua quan, có văn võ, nịnh trung. Cũng có đánh kiếm và kép độc. Còn ở trường học khi cô Thọ, cùng với Thầy Lý Văn Trọng về cũng văn nghệ hát hò tưng bừng tạo một khí thế cho một năm học đáng nhớ cho chúng tôi thời ấu thơ. Ban đêm thì cứ đến rạp hát “nắm đuôi” xin người lớn cho theo vào xem hát. Thực sự thì chẳng xem được bao nhiêu, một chút thôi thì đi về hay lắm lúc ngủ quên trong rạp khiến ba má phải đốt đèn đi đến rạp kiếm đem về. Thời điểm ấy chúng tôi đã lên Lớp Nhì và Trường Sơ Cấp Tân Phước Khánh đã trở thành Trường Tiểu Học rồi vì có thêm lớp Nhì.
Trong cuộc chơi nào cũng vậy, có khi thì thích nhau, có khi bất đồng chuyện gì đó, hay không hợp nữa thì đều có sự rạn nứt đưa đến chỗ không thể tương nhượng nhau, thì phải xé lẽ và chia phe. Điều đó bọn con nít, lũ “lâu la, tà lọt” như chúng tôi không quyết định mà là do những người cầm đầu, cùng những ông lớn quyết định. Họ hợp nhau thì hai bên chơi chung. Họ ganh tị nhau thì chúng tôi cũng phân ra, đôi khi đánh lộn nhau, nói xấu, chửi rủa là chuyện thường. Tiến xa hơn là họ muốn sanh chuyện để đánh nhau thì cứ xúi mấy thằng nhỏ phe mình khiêu khích để lấy cớ đánh. Giống như: “Ê, Thằng Rờn mầy ra đánh thằng Thạch cho tao. Mầy không đánh hả? Thì không cho mầy chơi nữa, loại mầy ra”. Thế là Thằng Rờn nhảy ra khêu khích tôi. Tôi biết mình đánh không lại, nhưng cũng gù nắm tay lo thủ thế. Thằng Rờn cũng không dám nhảy vào, mà cứ se se như hai con gà trống vờn nhau. Có thằng đến xô Thằng Rờn ngã vô mình tôi để tôi nổi nóng đánh, rồi tụi nó có cớ để đánh. Tôi không đánh, rồi tụi nó lại bên ngoài cổ vũ thêm lên: “Thằng nào đánh trước làm cha, thằng nào đánh sau làm con”. Rồi ngay trong lúc đó có người quen với má tôi đi ngang, tôi bỏ đi xê ra bên ngoài, bà nói nhỏ với tôi: “Mầy là Thằng Thạch con chị bảy phải không, tao nói chị bảy cho mầy đi đánh lộn nghen”! Tôi nghe đến đó lại nhớ đến cái roi, đành thôi chịu thua lẻn đi luôn. Có những lúc tôi không còn đi chơi nữa đang ngồi trên ghế thì tụi phe kia lại vẽ một cái vòng đến sát chân ghế: “Đây là vùng của tao, mầy không được bước chưn vô, mầy mà bỏ chưn xuống là tao đánh mầy liền”! Ngồi hồi lâu, tôi thua buồn quay chân lại phía sau đi về. Từ đó tôi không tham gia chơi với phe nào nữa cả. Và hoàn cảnh của tôi cũng không cho phép tôi đi chơi vì hai đứa em kế của tôi đã mất sau một cơn nóng sốt, nên tôi phải giữ đứa em nhỏ phụ ba má, chỉ biết giữ nhà, giữ em cùng đi chơi với những đứa con gái cùng lứa tuổi cũng giữ em như tôi. Tôi biết chơi sò, đánh đủa, những thứ trò chơi nhẹ nhàng. Khi đưa em ngủ trên võng tôi lấy vở để học bài, hoặc hát những bài hát trong trường đã dạy cho tôi. Chắc vì vậy mà dù trí nhớ dở dang, tôi cũng trở thành một học sinh khá trong trường.
Bây giờ ngẫm nghĩ lại những chuyện ngày xưa, thời con nít, thì thời cuộc ngày nay trên thế gian nầy cũng chẳng khác với chuyện con nít ngày xưa là bao nhiêu. Không biết nước nhỏ có quay về củng cố chính mình như là tôi không?
Đồ Ngông,
18/11/2018.
Thursday, November 15, 2018
*Đường Đến Băng Hà! (14)
Đoạn hành trình từ Point Gustavus, tức là điểm cửa ngõ đi vào Glacier Bay, cho đến Juneau cũng khá xa. Theo số liệu của Du thuyền thì cách đến 217 Nautical Miles (mỗi Nautical Mile = 1.852 Km), trong khi đó vận tốc du thuyền chỉ là 18.9 Knots. Đường đi được cho biết là từ Point Gustavus sẽ đi qua Icy Strait, rồi lên phần trên của Lynn Canal, xong tàu xuôi về hướng Nam dọc vòng theo đảo Douglas, rồi từ đó mới chuyển sang hướng Bắc vào Gastineau Channel để tới Juneau. Ở Juneau du thuyền sẽ trở đầu để trở ra đi vào giai đoạn sau sau chuyến thăm viếng thủ đô của Alaska nầy. Tất nhiên là trong khi tàu đi theo lộ trình thì chúng tôi tha hồ ngủ vì trời đã vào đêm.
Juneau được chọn làm Thủ đô của Alaska sau khi được Quốc Hội Hoa Kỳ phê chuẩn vào năm 1900, và chính quyền di dời từ Sitka về đây từ năm 1906. Số dân theo thống kê của năm 2013 là 32,660 người. Juneau không có đường bộ để đi đến các vùng khác của tiểu bang hay phụ cận, mà người hoặc hàng hóa chỉ có thể vận chuyển đến bằng đường thủy hay hàng không do nơi địa hình hiểm trở.
| Mot goc Juneau. |
Du thuyền đưa chúng tôi đến Juneau vào lúc 6 giờ sáng, nhưng tôi và Anh Thới đã dậy từ lúc 5.30 giờ. Do đó khi nhóm chúng tôi lên ăn trên Horizon Court vào lúc 6 giờ rưỡi thì cũng nhìn thấy tỏ rõ quang cảnh hai bên Gastineau Channel và loáng thoáng cái Thành phố Juneau. Chiếc Cruise đi vào chỗ đậu. Xa kia là chiếc tàu chiến nho nhỏ ở phía dưới. Tôi không biết là chiếc tàu chiến ấy là loại nhỏ, hay là do nơi chiếc du thuyền nầy quá lớn mà tôi có cảm tưởng tàu chiến giống như đồ chơi bằng nhựa của trẻ con.
Du thuyền cập bến vững vàng xong thì du khách được lần lượt rời tàu để lên bờ tham quan, ngắm nghía, mua sắm, giúp cho nền kinh tế của xứ xa xôi nầy thêm có phần thịnh vượng.
| Thanh pho Juneau nhin tu boong tau. |
Đối với những du khách đã đăng ký “tour” ở trên tàu thì được ưu tiên để đi tour ở đây cho đúng giờ. Còn những người “gà mờ” không biết đăng ký, hay không đăng ký thì từ từ đi theo các hành lang để rời tàu với những giấy tờ cần thiết được căn dặn phòng khi được hỏi đến, hay đưa ra để chứng minh mình là khách của tàu. Một điều được nhắc nhở kỹ càng là “Đừng nhận, hay mang hàng gì của người lạ lên tàu”, và những thịt, gà, thức ăn, trái cây.
Riêng chúng tôi cũng lũ lượt xếp hàng xuống tàu, nhưng ra khỏi tàu xuống phố thì đã 8 giờ 30. Lúc ấy có cửa hàng mở cửa, nhưng đa số đều đến 9 giờ mới khởi đầu buôn bán. Chúng tôi được thời gian thả rông trên đường phố để ngắm cảnh hai bên, cùng số ít xe cộ chạy qua đường. Trời sáng còn lạnh nhưng thời tiết vào thời gian nầy (vào Tháng 5) không lạnh lắm, nên chúng tôi còn cảm thấy thoải mái, chứ không bị run lẩy bẩy. Đến 9 giờ mình được chun vào những gian hàng để ngắm nghía, lựa chọn xem những gì mình thích mà có thể mua được hầu làm vật kỷ niệm của một chuyến đi không? Tôi muốn mua những viên đá Nam châm trong các bịt nhỏ, nhưng ngần ngại sẽ không đem vào Úc được, nên đành đứng lưỡng lự, và cuối cùng là “không dám mua”. An ủi là mình không bị tốn tiền! Nhưng ngẫm nghĩ hoài, không lẽ mình đã đến Thủ đô của Tiểu bang Alaska tận vùng Bắc xa xôi của quả địa cầu mà về không, không có vật gì thì uổng quá, đành kiếm một cái áo ấm mùa Đông, có thêu chữ Juneau với giá là 19.99 chứ không phải là 20 đô-la. Rồi đi dọc theo đường chính qua gian hàng làm kẹo bánh, đứng nhìn ông Tây đang trình bày cách làm Chocolate qua khung kính của tiệm. Bên trong nhiều khách hàng nhất là trẻ con đang đợi mua nườm nượp. Đến ngã ba đường chính thì tiếng ồn ào lẫn máy móc đang sửa đường của phu kiều lộ âm vang, nhiều người tránh sang con đường khác. Tôi xem bản đồ, rồi cùng vợ tôi với cô em vợ thả lần lên phía trên qua các ngã tư để lên con đường số 4 cắt ngang. Tôi muốn lên con đường ấy vì ở đó có “State Capitol” để xem cái hình dáng nó ra sao. Nó có cái hình dáng của vài “State Capitol” mà tôi đã thấy hay không như ở Washington hay ở Utah? Đường lên dốc khiến sự đi bộ có nhiều cố gắng, nhưng đường đó cũng không xa. Cuối cùng chúng tôi cũng đã đến trước tòa building “State Capitol”.
| State Capitol. |
Nó chỉ với hình dáng bình thường như các building khác, lớn hơn và có hàng chữ “Alaska State Capitol”, phía trước sân là đường lót gạch, chứ không tráng nhựa, thành ra trông khuôn viên khá rộng rãi. Chúng tôi chụp hình ở đây vài tấm để làm lưu niệm, rồi kéo qua công viên nhỏ có tượng một con gấu đen, chân đang chận một con cá salmon mà nó đã bắt được. Hình ảnh con gấu và cá salmon được phổ biến ở Vancouver cùng trên đất Alaska nầy, nó có thể được xem là biểu tượng thiên nhiên được vẽ trên tranh, hay làm những tượng nhỏ bằng nhựa, thủy tinh để bán cho du khách, kể cả các đồ trang sức bằng bạc, vàng hoặc bạch kim.
| Bieu tuong Con Gau va ca Salmon. |
Chúng tôi thả lần xuống bến tàu, hình ảnh chiếc du thuyền sừng sững trên cao xuyên qua các buiding, phố lầu, tôi mới thấy rõ cái tầm cao của nó. Đến 1 giờ, bọn chúng tôi thấy xem bao nhiêu đó cũng đủ rồi cho nên thôi thì kéo nhau lên tàu để ăn uống và nghỉ ngơi. Lúc trở về tàu, chúng tôi cũng mang thẻ tàu trên ngực, hành lý phải qua máy kiểm soát kỹ càng giống như ở nơi phi trường mà người ta đã làm.
Kéo nhau lên thẳng trên Horizon Court ăn uống xong, ai về phòng nấy nghỉ ngơi, để rồi lại tới bữa ăn chiều. Nằm nghỉ trong chốc lát thì tôi và Anh Thới đều ngủ quên, mà không dễ đi vào giấc ngủ sao được khi mà phòng mù mù tối mặc dù có đèn, cộng thêm vào đó là những mệt mỏi từ những ngày trước. Cũng tại mình thôi! Vì sợ tốn nhiều tiền nên mình đã chọn phòng ở chính giữa, thì tất nhiên nó phải tối. Nếu mình chọn phòng ở balcon, hay những loại phòng hạng sang khác thì nó đã khác đi rồi.
Đi cruise, nếu mình chịu bỏ ra nhiều tiền thì có rất nhiều điều giải trí làm cho mình thích thú: Ăn uống thoải mái, nghỉ ngơi an dưỡng rất tốt, thở hít khí trời trong lành, có massage, Tai chi, casino … kể cả Bible Study cùng với những phương tiện giải trí không phải trả tiền như xem phim, xem hát, khiêu vũ vân vân… Chỉ trừ trường hợp tàu gặp thời tiết xấu như chúng tôi đã gặp lúc đi cruise từ Adelaide lên Melbourne và trở về như chuyến trước cách đây vài tháng.
| Du thuyen sau duong pho. |
Hàng ngày tàu đều có chương trình để mình có thể tham gia vào tiết mục và giờ giấc nào mà mình thích. Còn như chúng tôi thì do ngôn ngữ không hiểu được nhiều nên không tha thiết các tiết mục, do đó mình cảm thấy không mấy hứng thú đi trên tàu vì chỉ có ăn ngủ, rồi ngắm trời trăng, mây nước. Nó có vẽ nhàm chán hơn!
Đến khoảng 4 giờ thì tôi và Anh Thới kéo nhau lên sân thượng để chụp vài bôi hình để làm kỷ niệm, đồng thời ngắm nhìn toàn cảnh cái Thành phố Thủ đô của Tiểu bang Alaska.
Thành phố Juneau trải dài dưới chân núi Juneau, mặt hướng về Gastineau Channel. Nơi đây là quê hương của người Tlingit, dân bản địa đã sống ở đây bằng nghề săn bắn và bắt cá trong nhiều ngàn năm trước do nguồn cá salmon phong phú của Gastineau Channel.
Nhưng đến những năm 1870 George Pitz, viên kỷ sư hầm mỏ từ Sitka treo thưởng cho ai đem cho ông ta được quặng vàng. Trưởng bộ tộc Auk Tlingit là Kowee ở Gastineau Channel đem quặng đến. George Pitz gởi Richard T. Harris và Joseph Juneau đến đó thăm dò. Hai ông đến nơi vào Tháng 8 năm 1880, nhưng đến Tháng 10 mới xây dựng khu làng khoảng 160-acre ở bên bờ, lúc đầu làng nầy được gọi tên là Rockwell, sau đó là Harrisburg nhưng người địa phương lại đổi tên là Juneau theo tên của Joseph Juneau. Và Juneau được ra đời! Rồi đến năm 1906, Juneau được chọn làm Thủ đô của Alaska, và đến 1/7/1970 với sự sáp nhập của Douglas và vùng phụ cận Juneau trở thành Thành phố có diện tích đất lớn thứ nhì ở Hoa Kỳ.
Chúng tôi vừa chụp hình, vừa ngắm nhìn toàn cảnh của Thành phố từ trên độ cao của boong tàu, đồng thời quan sát chiếc du thuyền từ từ trở đầu đổi hướng để rời bến. Nó phải mất cả tiếng đồng hồ để hoàn tất giai đoạn ấy từ lúc 5 giờ rưỡi đến 6 giờ 30 và tàu ra khơi. Đến 7 giờ rưỡi nhóm chúng tôi đi xuống nhà hàng Botticelli để ăn tối. Xong rồi còn đi ruồng ở khu Hội Trường, lẫn nhiếp ảnh, cùng gian hàng bán đồ lưu niệm trước khi về phòng vào lúc 10 giờ 15. Ngày mai du thuyền sẽ đến Ketchikan.
Nguyên Thảo,
15/11/2018.
Wednesday, November 7, 2018
*Người Muốn Hóa Thành Robot.
Trong xu thời hiện đại
Người muốn tạo rô-bô
Để làm nhiều công việc
Thay thế sức con người.
Càng ngày càng tân tiến
Rô-bô lại tinh vi
Mang nặng lên cầu thang
Làm xướng ngôn truyền hình.
Nhưng chuyện đời quái ác
Nhà khoa học tiến lên
Nghiên cứu để văn minh
Con người vơi gánh nặng.
Thì chính trị mở đường
Cho hàng loạt con người
Biến thành loại rô-bô
Để xây thành Chủ Nghĩa.
Ai mộng hay ai mơ
Một Thiên Đường Lý Tưởng
Nhưng chỉ khổ con người
Trong khốn cùng Địa Ngục!
Đồ Ngông,
08/11/2018.
*Quê Người! (22)
Hôm nay cuối tuần chẳng có gì để làm, tôi vào phòng lấy mấy chữ Tiếng Anh ra để xem, còn Thành thì đi rảo vòng quanh trong trại. Nhưng chợt nhớ đến Bác Phạm Văn Tuynh, người tôi quen trong thời gian đi vào thư viện ở trại Sungai Bési, nên vội viết vài chữ gởi thư cho Bác. Bác đi định cư ở Sydney trước tôi khoảng nửa tháng, do được con bảo lãnh. Trước khi đi Bác cho tôi địa chỉ để liên lạc. Viết thư cho Bác thì dễ, nhưng chẳng biết viết gì nhiều chỉ hỏi thăm sức khỏe cùng cho bác biết là tôi đã đến Adelaide rồi. Thư ngắn gọn, nhưng không biết mình sẽ lấy địa chỉ nào đây, ở trong trại nầy chăng? Thôi để đến sau sẽ tính.
Lẩn quẩn lại đến giờ ăn trưa ở căng-tin. Tôi đi cùng Bác Vỹ và Bác Phương. Căng-tin vào trưa ngày Chủ Nhật thường vắng vì có nhiều người đi ra ngoài chơi, hay ai đến chở đi ăn ở đâu đó. Tôi cùng hai Bác vừa ăn, vừa tính chuyện tương lai. Chỉ ước lượng hướng đi, chứ tình hình như thế nào thì chưa nắm rõ, nên định hướng còn là cả một vấn đề.
Về phòng, tôi không biết gì làm nên lấy cái bản đồ Nam Úc của Anh Nhu cho ra xem qua coi cái tiểu bang mình đang định cư có gì đặc biệt. Xem đại khái, chứ Tiếng Anh có chữ biết chữ không đành cứ đoán mò thêm thôi. Lúc đó, tôi mới thấy rõ Tiếng Anh là rất cần thiết trong mọi vấn đề, nhất là trong hoàn cảnh “Ăn nhờ ở đậu nơi quê người, mà quê hương đó lại là sử dụng tiếng Anh”. Tôi nghĩ mình phải nỗ lực hơn nhiều! Cái vốn của mình tiếp thu lúc còn học trong trường chẳng thấm vào đâu. Ngay lúc đó thì có tiếng xe đậu bên ngoài, thì ra Trọng vào thăm tôi và thằng Thành. Hôm nay Trọng không có làm, rảnh rang nên vào chơi, tôi hỏi Trọng nếu mình viết thư ở đây thì nên lấy địa chỉ nào? Trọng cho biết nếu mình lấy địa chỉ ở đây về sau mình đi ra ngoài thì sẽ mất công hơn nhiều, thôi thì lấy địa chỉ của Trọng qua hộp thư mà nó đã mướn ở Bưu Điện thì tiện hơn. Nó nói: “Mình chỉ tốn mười mấy, hai chục đồng mà tiện được nhiều thứ, thứ nhất là mình dời nhà đi đâu thì thư cũng về hộp thư của mình, thứ hai là khi nào mình rảnh thì đến lấy, thư không bị thất lạc”. Tôi còn hỏi Trọng nhiều vấn đề khác, nhờ Trọng cho thêm vài ý kiến. Chúng tôi ngồi nói chuyện cũng khá lâu, rồi khi về Trọng cho biết tối nay sẽ đến rước tôi, Thành đến nhà Huynh để xem phim vidéo.
Tôi đang tò mò về bản đồ Nam Úc thì có tiếng gõ cửa phòng. Thì ra Bác Vỹ lại rủ tôi sang uống nước trà cùng chuyện trò với anh bạn mới vào ghé thăm. Bác Vỹ giới thiệu: “Đây là Anh Vũ Minh, chủ nhân võ đường Thái Cực Đạo Hắc Long đến thăm bọn mình đấy”! Tôi chào anh Vũ Minh rồi cùng vào chuyện với nhau. Tất nhiên là chúng tôi hỏi anh Vũ Minh nhiều hơn là anh tìm hiểu ở chúng tôi, vì dù sao anh tới trước cũng đã quen với cách sinh hoạt, nếp sống ở Úc rồi; còn chúng tôi là những người mới tới, chân ướt chân ráo nên cần phải tìm hiểu, học hỏi rất nhiều thứ, cái gì cũng mới lạ, đôi khi lại trái hẳn với sinh hoạt ở quê mình. Đến gần đến giờ ăn ở căng-tin, anh Vũ Minh mới ra về để chúng tôi đi ăn và hứa hẹn sẽ đến thăm. Phòng tôi và Thành ở kế bên phòng của Bác Phương, Bác Vỹ cũng là điều may mắn, vì những người đến thăm thường ghé thăm hai Bác, do nơi hai Bác lớn tuổi, phong cách chững chạc, mà lại có nhiều nhận xét hay của người từng trải, nhất là cái chức vụ của Bác Vỹ lúc còn trong quân đội khiến nhiều người đến thăm kính nể. Tôi được hưởng “ké” cái ân huệ ấy là mỗi khi có người đến, Bác Vỹ thường hay rủ tôi qua chơi, do vậy mà tôi cũng học được nhiều thứ, và mình không phải cảm thấy cô đơn! Nhất là đối với cái tính của tôi ít có giao lưu với bạn bè, mà lại chẳng có khiếu về ngoại giao, thường sống về nội tâm.
Chiều nay ngồi ăn với Tịnh, tôi hỏi thử Tịnh có dự tính gì chưa. Tịnh nói cũng chưa tính được gì cả, vì bây giờ đợi học Anh Văn rồi hay: “Học Anh Văn giống như mình lấy thời gian đó câu giờ để mình toan tính cho bước đường kế tiếp, chứ bây giờ mình chưa nắm bắt được gì cả thì làm sao tính tới những chuyện tiếp theo”. Tôi đồng ý với Tịnh về quan điểm đó. Tôi có hỏi Tịnh về chuyện làm giấy tờ bảo lãnh vợ con, Tịnh cho biết là đang đợi giấy tờ cũng như tôi dù khi đi Tịnh có chuẩn bị một số nhưng vẫn chưa đủ. Có lẽ với Tịnh khiến tôi ấm lòng nhất, vì hai đứa đã cùng một chuyến đi vượt biên, chia sẻ nhau trong cùng một hoàn cảnh, rồi cùng đến đây, nhất là “cái củ sắn” mà Tịnh đã trao cho tôi với câu nói: “Lúc tát nước, tôi có lượm được hai củ sắn, bây giờ anh một củ, tôi một củ” khiến tôi không thể nào quên được, dù mai nầy tôi và Tịnh không có còn gặp nhau!
Ăn xong, tôi cho Thành hay chiều tối Trọng vô rước mình đến nhà Huynh để xem vidéo, đừng đi đâu. Thế là Thành không đi rảo nữa mà về phòng viết thư cho tụi thằng Tiết Ên, Chót Ên bên Mỹ. Không biết nó viết được bao nhiêu thì trời chạng vạng tối, Trọng chỡ chị Yến vào để rước chúng tôi đến nhà Huynh.
Phải công nhận những người qua chung list với Trọng thật là thân thiết, họ về đây cùng lúc, cùng hoàn cảnh, rồi cùng nhau thỉnh thoảng tập họp đông vui. Huynh đến đây cùng với vợ con, nên mướn cái nhà có dư phòng nhỏ cho anh Sa, người cùng quê Trà Vinh chia phòng, để nhẹ đóng tiền nhà. Huynh nhảy ra đi làm sớm, và vốn thích xem phim nên mua được đầu máy xem băng hình trước, từ đó kêu bạn bè đến xem phim. Từ chỗ đó, Trọng rủ thêm tôi và Thành khiến anh em tôi đốt được nhiều giai đoạn trên xứ người trong cuộc sống. Trong lần trước cũng như lần nầy tôi quen thêm được cha con anh Hiệp, vợ chồng Trí, Mai, ngoài gia đình Kiệt, Hường. Riêng Anh Hiệp thì tôi ngờ ngợ với Anh khi biết Anh đã từng dạy ở Trường Bán Công Lái Thiêu, và quê Anh ở Hiệp Bình Xã gần đồng Chó Ngáp trên đường từ Bình Dương về Cầu Bình Triệu. Hỏi ra thì anh cũng chẳng lạ, vì trong mùa Hè đỏ lửa của năm 1972, anh cũng đã từng về công tác ở Trại Tiếp Cư Gò Đậu cùng khu B với tôi. Trong đợt đó, do chiến sự ác liệt dân các vùng cao từ Bình Long, Phước Long, Dầu tiếng, Chơn Thành phải chạy lánh nạn nên tập trung về Bình Dương, do vậy mà Trại Tiếp Cư được thành lập ở Gò Đậu nơi Trung Tâm Huấn Luyện Huỳnh Văn Lương trước kia, khi Trại Huỳnh Văn Lương được dời về Bình Hòa gần Lái Thiêu.
Tôi nhớ có đêm trực rất đông giáo viên, có hai người được kêu tên rất đặc biệt là ông “Hiệp lùn” thuộc nhân sự trường Bán Công Lái Thiêu, người thứ hai là “ông Y” của Trường Trung Học Chơn Thành từ Bình Long dời về vì tên ông chỉ có một chữ “Y dài”. Ai ngờ ông “Hiệp lùn” ấy bây giờ tôi lại gặp trên “đất khách quê người” trong nhà của Huynh. Còn ông Y, tôi chỉ ngờ ngợ là ông Y của Sở Di Trú, sẽ dạy môn “Đời Sống Mới” trong nay mai! Khi nào có dịp tôi sẽ hỏi ông Y ấy xem sao.
Vì chưa biết nên xem phim gì, nên Huynh cũng chưa mướn phim. Khi họp đông rồi mới hỏi ý kiến thì đồng ý nhau là xem phim cao bồi. Trọng lãnh nhiệm vụ chở tôi, Thành, Huynh đến tiệm cho mướn phim để tìm phim. Tiếng Anh của Trọng rất khá, mà lại với khả năng thiên phú về ăn nói, nên ông chủ Tây vui thích nói chuyện với Trọng lắm.
Có lẽ Trí, Mai là người am tường về loại phim nầy nhất. Trí biết nhiều tài tử đóng phim cao-bồi, Trí nói mà tôi đã mê rồi chứ chưa nói đến là xem phim. Coi thì coi, chỉ coi hình mà đoán chứ Tiếng Anh không đủ để hiểu về nội dung, hoặc hiểu hết nghĩa của một câu nói. Tôi nghĩ kiểu nầy chắc mình sẽ gặp nhiều khó khăn lắm trong cuộc sống sắp tới. Ngày nào đó tôi phải hỏi Anh Hiệp xem chuyện đi học lớp Thông dịch của anh như thế nào để mình biết tự sức mình mà lo liệu, hoặc xem mình có đủ sức để theo đuổi không?
Chúng tôi vừa coi phim, vừa chuyện trò đôi khi câu chuyện lại chính hơn là chuyện xem phim. Nhưng trong những câu chuyện đó khiến tôi học được nhiều điều để ứng xử về sau nầy, vì những câu chuyện ấy là những câu chuyện của họ trong việc làm, hoặc thực tế mà họ đã gặp trong đời sống. Thế cũng vui, đi làm khi rỗi rảnh lại họp nhau xem phim, ăn uống; còn các bà cùng nhau nấu nướng; có chuyện kể, trao đổi kinh nghiệm trong việc học từng bước về Tiếng Anh trong trường học hay học lóm những từ ngữ trong các siêu thị mà từng món đồ đều có ghi, mặc dù trong các tờ quảng cáo có đề cập đến nhưng ít ai để ý vì chỉ coi đến giá tiền và hình của món đồ.
Phim chấm dứt, chúng tôi còn ngồi tán gẫu hồi lâu mới “vãn tuồng” để ra về. Trọng và Chị Yến đưa tôi, Thành trở về Pennington rồi mới quay trở về nhà. Thêm một ngày mới qua đi! Bỗng chốc tôi lại nhớ về vợ con mà cảm thấy trong lòng buồn buồn!
Nguyên Thảo,
04/11/2018.
Sunday, October 28, 2018
*Quê Người! (21)
Ở trong trại Tiếp Cư dù chưa lâu, nhưng chưa có gì để làm khiến mình thấy thời gian dài ra, và tôi lại càng nghĩ miên man về gia đình, vợ con: Chắc giờ nầy họ phải chịu nhiều cay đắng đối xử của những người có quyền thế và chủ trương, chính sách của chính quyền một khi gia đình bị xếp vào thành phần có người “phản quốc” vì đi “vượt biên”. Sau mấy năm đi dạy tiếp tục trong chế độ mới, tôi không còn lạ gì với những chính sách ấy. Nhất là trong niên khóa đầu tiên khi tôi phải dạy Sử Địa lớp 9, có nhiều vấn đề tôi không thể hiểu được về “Lý thuyết” nên đã phải cố gắng tìm hiểu, đọc sách về chính trị thật nhiều, và ráng vận dụng kiến thức vốn có về xã hội để hiểu được phần nào kết cấu chế độ mới. Với mỗi lần làm lại lý lịch là mỗi lần nhắc nhở “giai cấp” của mình ở đâu và sự ảnh hưởng đến con cái như thế nào thì tôi lại càng buồn hơn. Bây giờ ở đây, tôi chưa làm được gì cho họ, mà chính bản thân lại càng phải phấn đấu, học hỏi gấp nhiều lần, dù chẳng ai bắt buộc mình cả.
Trời vào Thu thời tiết trở lạnh khá nhiều, những quần áo xin ở Hội ICRA hôm trước không đủ ấm, tôi lại rủ Thông, Kim đi Hội lần nữa để kiếm thêm quần áo ấm cũ để mặc. Ba đứa thả lần ra cổng đi về hướng Hội. Những quần áo cũ lớp thì treo ở trên, nhưng đa số lại bỏ ngổn ngang ở dưới nền thảm. Trong lúc chúng tôi đang lựa tìm kiếm và thử cái nào mặc vừa, thì có một Bà đi vào, bà than phiền ỏm tỏi. Té ra người ta đi lựa quần áo, rồi vung vãi, khiến Bà ta phải luôn xếp lại cho ngăn nắp, nên phải có nhiều bực bội. Bà ấy chỉ làm thiện nguyện ở đây thôi. Cuối cùng chúng tôi cũng tìm được cho mình mỗi đứa vài cái để mặc.
Mọi thủ tục giấy tờ cá nhân của chúng tôi như nhập cư, xã hội, sức khỏe, y tế, ngân hàng đã cơ bản hoàn tất, kể cả vé được đi xe buýt miễn phí nữa. Không ngờ chính phủ lại lo cho người dân chu đáo đến vậy. Cái lạ là những nhân viên thi hành công việc lúc nào cũng vui vẻ, thân thiện, giúp đỡ chứ không quạu quọ, hoạnh họe, làm khó khăn như ở bên mình. Họ tận tình lắm, xong công việc họ lại cám ơn mình khiến mình cũng không thể nào không cám ơn lại họ. Việt Nam mình chắc phải nhiều năm học hỏi mới theo kịp người ta.
Lúc còn bên trại Tị Nạn Sungai Bési có vài người bạn nhận được thư của bạn bè đi định cư trước ở Úc, thư viết họ kể là tha hồ đi xe buýt, mà không phải trả tiền, đi vòng vòng khắp nơi. Bây giờ tôi mới biết, nhưng vì quá e ngại nên không thể lên ngồi trên xe buýt để đi tìm hiểu vì nhiều lẽ: Vừa ngôn ngữ, vì màu da, sắc tộc và nhất là phong trào kỳ thị đang dâng lên. Mình là dân tha phương, ăn nhờ ở đậu, lại mới đến nhà người thì cái gì cẩn thận là hơn. Mình dễ nổi bật trong môi trường đa số là người da trắng. Trong số người tị nạn vẫn có người từ Ba Lan, Tân Cương, Liên Xô, Trung Đông, hay vài xứ khác ở châu Âu, nhưng họ không lạc lỏng vì họ là người da trắng. Tôi vốn đã là nhút nhát cho nên càng bị nhút nhát hơn lên dù bên tôi có nhiều đồng hương, cùng hoàn cảnh. Cũng may tôi đến đây gặp Trọng, chị Yến khiến tôi có phần yên tâm.
Những lớp học Anh Văn trong trại đang dần vào cuối học kỳ nên chúng tôi chưa được tham dự mà chỉ đợi chờ vào học kỳ mới. Trại có nơi sinh hoạt có thể đến đó xem truyền hình, chơi bida. Có nơi huấn luyện võ Thái Cực Đạo do người Việt hướng dẫn. Thỉnh thoảng tôi đến Câu Lạc Bộ chơi vào ban đêm như là giải trí, hay đến người quen nói chuyện chơi. Bác Phương, Bác Vỹ còn thích khám phá nên hai Bác đã kéo nhau đi bộ xuống phía gọi là Port Adelaide, hoặc đi tuốt ra ngoài Chợ Biển.
Mỗi ngày cứ đều đều nhịp độ, hết đi ăn sáng, lại đến ăn trưa, rồi đến ăn chiều. Thành thì năng hoạt động, nên hay đi đây đi đó, lòng vòng tìm người quen nhất là xem những người mới tới có ai quen không, rồi ngồi nói chuyện. Riêng tôi thì lo xem lại mấy từ ngữ Tiếng Anh, viết thư cho gia đình, nhưng chưa biết bao giờ nó mới tới. Viết thư sao mà khó quá, phải tốn rất nhiều ngày để hoàn tất, và xem rất kỹ để tránh sự kiểm duyệt ở Việt Nam mà họ có thể ghép tội đến với vợ con của mình. Tại sao trong xứ Cộng Sản người dân phải bị kiểm soát và e dè nhiều thứ như vậy? Xây dựng con đường theo Chủ Nghĩa tốt đẹp, ưu việt là phải như vậy sao? Tôi không thể hiểu được!
Đến ngày Thứ Năm, tôi lại được tới phiên mình đi khám sức khỏe tổng quát với Bác sĩ Lê Công Phước ở trong phòng Y Tế của Trại. Ông từ ngoài đi vào khám chứ không phải phòng mạch của ông ở trong nầy. Nghe nói ông là một trong vài Bác sĩ người Việt hiếm hoi được xét cho hành nghề ở Nam Úc. Tôi vốn là người yếu đuối, sức khỏe không tốt, nên khi gặp ông tôi đã khai nhiều về tình hình sức khỏe cũng như bệnh hoạn khiến Ông buột miệng “Ở đây không có nói nhiều mà chỉ làm nhiều thôi!” làm tôi hết hứng thú để kể lể cho đến hết cuộc khám. Nhưng cũng từ câu nói đó, tôi mới để ý về cách làm việc nơi quê người.
Vào buổi chiều ngày Thứ Sáu, sau khi ăn xong, Liêm, Kim và tôi đi đến phòng điện thoại dự tính gọi điện thoại cho Ông Bà LaWood để hỏi thăm. Về chuyện điện thoại thì tôi thật là dốt, vả lại tiếng Anh tôi lại không rành nên nhờ Liêm điện hỏi thăm luôn dùm, giống như Liêm đã làm thông dịch khi tạm ngụ qua đêm ở nhà hai Ông Bà lúc ở Kadina.
Về đến phòng thì lại được tin từ Anh Ba Nguyên đến thông báo cùng Bác Phương, Bác Vỹ tối nay ở nhà của anh Sáu Sâu gần đây có anh Nhu, đại diện cho Cộng Đồng người Việt ở Nam Úc muốn tiếp xúc, nói chuyện với những người mới tới.
Gần tới giờ Bác Phương cùng bác Vỹ sang rủ tôi, Thành cùng đi đến nhà của anh Sáu Sâu. Nhà không xa chỉ bước ra ngoài cổng thì đã tới rồi. Tất cả cũng được mười mấy người. Anh Nhu dáng người mập mạp, tươi cười chào đón, xã giao giới thiệu anh là Đại Diện cho Cộng Đồng người Việt tự do ở đây chào mừng những người mới tới. Vì bận rộn công việc nên Anh có cuộc tiếp xúc hơi trễ. Rồi Anh tâm tình về cuộc sống và vài kinh nghiệm để động viên tinh thần cho chúng tôi trên xứ người. Sau đó thì gia đình anh Sáu Sâu có nước trà, bánh ngọt để là đãi khách. Anh Nhu cho biết Anh đang làm cho ngân hàng Tiểu bang là State Bank, nếu sau nầy có cần gì thì đến gặp Anh. Cuối cùng anh phân phát cho mỗi người một bản đồ Nam Úc với nhiều thông tin về các nơi, hay sự kiện quan trọng của tiểu bang trên đó. Nhìn sơ qua tôi thấy hàng chữ: “South Autralia” và hàng chữ nhỏ ở dưới là “The Festival State”. Tự dưng tôi có ý nghĩ liên kết với điều gì đó mà Cô Giang đã “chọc quê” tôi khi còn ở bên trại Sungai Bési là “Mấy ông mà đến Nam Úc giống như đi vào Viện dưỡng lão”. Tuy nhiên, về sau tôi cũng sẽ cố gắng tìm hiểu xem tại sao người ta lại quan niệm như vậy. Tánh tôi có điều lạ là hay thắc mắc, tìm cho ra lẽ; cho nên đầu óc tôi không được thoải mái, lắm ưu tư buồn phiền. Nhưng nó lại là bản chất, khó mà từ bỏ. Không biết đến bao giờ tôi sẽ tìm được sự an nhiên trong tâm hồn. Cũng như trong hiện tại dù chưa làm được gì hoặc lo cho mình chưa tròn, tôi vẫn nghĩ về gia đình con cái, cùng bao nhiêu hậu quả mà họ đành phải cam chịu, hay bị o ép. Không ngờ trên con đường dựng xây một chủ nghĩa tốt đẹp, con người lại bị khốn khổ đến như thế!
Sáng ngày thứ bảy trong buổi ăn sáng Thành dẫn tôi đến bàn của anh chị Kỳ. Chúng tôi cùng ngồi ăn, nhắc lại chuyện ngày xưa. Quả đúng là anh Kỳ của nhà Bác Bảy, chị Liêng Hương, Ngọc Em. Tôi chỉ gặp Anh có một lần vào những ngày đám cưới của Văn, Ngọc Em. Anh về trên Dầu Tiếng với vợ con, nhưng anh vẫn kín đáo ít đi ra ngoài. Xong đám cưới rồi, lâu lắm chẳng gặp nhau cho đến bây giờ: Trong tình cờ chúng tôi lại hội ngộ ở đây. Anh chị qua trước tôi khoảng tháng, từ bên trại Thái Lan. Cuộc tâm tình, hỏi han nhau khá lâu, cho đến khi trong phòng căng-tin thưa bớt người mới từ giả nhau đi. Về đến sân lại họp bạn ở đó, mấy người ở gần quay quần nhau nói chuyện, đùa với những con hải âu. Hải âu ở đây dạn thật, mình chỉ cần cầm đưa miếng bánh mì lên là nó bay đến há mỏ xớt miếng bánh mì mất rồi, còn các con khác la lên rền trời, trông thật là vui. Chim chóc xứ nầy không phải sợ hải, bắn giết như ở xứ mình nên nó thật là dạn, ngay cả những con cu có mồng cũng thường hay lân la dọc theo đường bên cạnh hàng rào của trung tâm. Khi chúng tôi tan hàng sửa soạn vào phòng thì có một anh cầm túi xách ni lông đi ngang qua. Thành vội kêu: “Thầy Hùng”. Anh ấy chợt dừng lại và hỏi chuyện. Thì ra, đó là thầy Hùng ngày trước, sau 30 Tháng Tư 75, thầy từ trong đội ngũ sinh viên được điều động ra dạy học, có về Trường Trung Học Châu Thành xã Tân Phước Khánh. Thầy dạy lớp của Thành nên nó nhớ, và Thầy trò lại gặp nhau. Cũng hỏi chuyện đến đây hồi nào, tình hình vượt biên ra sao, rồi lại từ giả. Trong cuộc đời có lắm những sự tình cờ, khiến mình không thể không ngạc nhiên!
Nguyên Thảo,
28/10/2018.
Wednesday, October 10, 2018
*Chiếc Vỏ Chai!
*Nói Dễ Hơn Làm!
Có những triết lý
Bám sát vào cuộc sống con người
Dựa theo đó, tạo nên đường tốt đẹp
Để đi lên
Xóa bỏ những bất công, áp bức
Mọi con người ai cũng như ai.
Rồi cùng nhau đóng góp
Đem tất cả sức lẫn tài
Tạo nên nhiều vật chất.
Một xã hội dư thừa
Thì không còn đau khổ
Thế giới tiến đến một Thiên Đường!
Nhưng đời không phải dễ
Cũng chẳng một, hai ngày
Cũng chẳng là vũ lực, cùng áp bức
Cũng chẳng là quan điểm, với hận thù
Mà thứ ấy chỉ là
Phương cách để người: “Yên lặng, chịu đựng,
Để trở nên Vô cảm, Chai lì
Rồi “mặc xác” cho những kẻ bề trên!”
Họ trở về sống với bản năng,
Không màng đạo đức
Không cần thiết đường đi hay lý tưởng.
Sống, sống…Chỉ làm sao để sống
Thế cho nên tệ nạn tất xảy ra
Ôi! Một xã hội tan hoang vì “Lạc bước”!
Đồ Ngông,
11/11/2018.
*Chiếc Vỏ Chai!
Nhìn qua ánh sáng
Chiếc vỏ chai trở nên xinh đẹp
Lóng lánh muôn màu như thế giới Thần Tiên
Người ta ước mơ
Và tạo điều hiện thực
Để mọi người hưởng được chốn Thiên Đường.
Họ chui rúc vào trong đó
Xa lìa thế gian và xã hội
Dẫn đoàn người lủ khủ
Rồi cùng nhau lam lụ
Vạch bước kiếm con đường
Kiếm mãi chẳng thấy đâu
Đường lên, xa hun hút…!
Đói khổ,
Lừa đảo
Tham ô
Giành giựt
Cướp nhau
Đời gian nan như “Thực Chất” của con người
Kính Vạn Hoa là ảo tưởng xinh tươi
Họ vẫn tưởng
Con đường chưa đi tới
Mà chẳng nhìn lại
Người theo mình đã “Chết lặng” tự bao giờ
Vì đau khổ, thiếu ăn, bệnh tật
Không còn hơi để thở hay than
Dù Lý Tưởng có là “Hư” hay Thực”!
Đồ Ngông,
11/11/2018.
Subscribe to:
Posts (Atom)