Sunday, October 11, 2020

*Sang Đức. (4)

 

Xe đi qua Tòa nhà chính Phủ Reichstag, du khách tham quan nhiều bên trong gần building, mà phía bề ngoài lề đường lại có hàng rào dã chiến che chắn không có người qua lại. Đầu Mùa Xuân cây cỏ xanh tươi có màu xanh mát rượi và rạng rỡ mặc dù bây giờ đã quá 3 giờ chiều. Xe đưa đoàn chúng tôi chạy vòng qua những nơi cần thiết cùng với sự thuyết minh, giới thiệu của Bà Hướng Dẫn Viên, giống như những xe chở các đoàn đi Sight Seeing ở các Thành phố lớn của nhiều nơi. Sau khi đánh một vòng ở công viên lớn trong thành phố tức là Grosser Tiergarten, rồi chúng tôi lại lượn qua cái bùng binh có cột chiến thắng cao trên đỉnh có bức tượng màu vàng sáng chói của Victoria. 

Cột Chiến Thắng.


Xong lại chạy về phía sau cổng Brandenburg để vòng qua góc đường có nơi tưởng niệm những người Do Thái đã chết trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến gọi là Holocaust Memorial. Kế đó là đi đến Quảng Trường Gendarmenmarkt Bà Hướng Dẫn giới thiệu Nhà hát Konzerhaus, Nhà thờ Pháp và Nhà Thờ Đức có khoảng 200 năm trong khu vực. Sau cuộc đi rong chừng 15 phút xe dừng lại cho chúng tôi xuống. Bà Hướng Dẫn đưa chúng tôi đến một ngã tư đường. Tôi không hiểu vì sao lại có nhiều người đông ở đây, trong khi có người đàn ông mặc quân phục nước nào đó ỏm tỏi giữa đường. Chúng tôi ngạc nhiên đứng nhìn, hình như ông ta không say, tai nạn hay sự xung đột chăng? Có người đưa máy lên quay cảnh đó, có người chụp hình. Tôi thấy lạ nghĩ rằng tụi Tây cũng ồn ào ngoài đường giống Việt Nam của mình sao? Nhưng khi nhìn lại thì thấy một lô-cốt đề chữ “Check Point”, có vài người mặc quân phục lính với lá cờ Mỹ thì mới giật mình: Thì ra đây là một cảnh đóng lại kiểu lính Nga đang hùng hổ chửi rủa lính Mỹ ở tại điểm kiểm soát của lính Mỹ nầy. Vì sơ ý mà chúng tôi đã bị lừa do một kiểu dàn cảnh cho du khách biết chuyện ngày xưa là như thế đó!



Ở đây không lâu, khoảng chừng nửa tiếng đồng hồ thì chúng tôi lại trở về xe để đi sang khu vực Tường Bá Linh trong thành phố tức là Berliner Mauer để tham quan nơi nầy. 

Berliner Mauer.


Bức tường được đúc bằng bê-tông nhưng thô thiển hơn bên East Side Gallery. Tường cao, nhưng người ta chỉ giữ lại một số đoạn thôi, còn dưới đường thì theo dấu cũ đặt những tấm, hình như bằng đồng để ghi dấu lại nơi bức tường xưa được dựng lên. Chúng tôi chụp hình nơi đây để lưu niệm là đã có đến chỗ nầy. Sau đó  thì xe lại đưa chúng tôi đi trong các phố xá của Thành phố Berlin để Bà Hướng Dẫn Viên giới thiệu tiếp những nơi mà chúng tôi cần biết sơ qua. Quả thật là đoàn đang “cưỡi ngựa xem hoa”! Nói thế chứ đoàn làm gì có nhiều thời giờ để đến từng địa điểm có tiếng của Thành phố mà quan sát cho kỹ, hay là nghêu ngao để tìm hiểu từng chi tiết. Tôi cứ nghĩ ngay cả khu phố mà tôi đang sống trên xứ Úc trong nhiều năm, thế mà tôi còn chưa từng hiểu hết các hóc hẻm thì làm gì với một, hai ngày ngắn ngủi để có thể biết hết các nơi trong thành phố lớn lao như thế nầy! Ừ! Thôi thì cứ đại khái biết và hiểu những gì mình được thấy và được nghe nói để rồi suy ra một cách tổng thể, được như vầy là quý lắm rồi! Ít ra, khi người ta nói đến Berlin thì mình cũng hình dung ra được như thế nào, nhưng cái quan trọng đối với chúng tôi là cái Bức Tường Bá Linh “Ô nhục” mà hiện tại, trong thực tế chúng tôi đã chứng kiến, sờ được; chứ không là những hình ảnh kinh khủng mà chúng tôi đã thấy trên báo chí trước kia hay là trong tưởng tượng xa vời! Nhất là, nó chính là chứng tích của các Chế độ và Chiến Tranh! Với bức tường nầy khiến tôi lại nhớ đến lúc xưa người ta đã bảo rằng: Khi chế độ Cộng Sản cai trị ở vùng đất nào đó thì một “bức màn sắt” luôn được buông xuống. Thuở ấy tôi chẳng biết thế nào là “bức màn sắt”, cũng chẳng biết “Tại sao những người Cộng Sản lại buông màn ấy xuống”, rồi tại sao dân chúng phải “liều sống chết” rời chế độ Cộng Sản trong khi về lý thuyết “đem lại công bằng, bình đẳng, sự sung sướng, ấm no, hạnh phúc, tự do cho mọi người dân, không có cảnh người bốc lột người, không có áp bức, hà hiếp và người dân được thực sự làm chủ đất nước”! Nhưng điều ấy, chúng tôi đã hiểu và cuối cùng chúng tôi phải chọn con đường của những người trước đã đi một khi có điều kiện, và không ít số người phải bỏ mình trên biển cả trong khi số người khác tới bến bờ để được thế giới giúp đỡ trở thành những kẻ “lang thang” không còn có quê hương!

Có lẽ không mấy ai trong cuộc đời mà không yêu quê hương mình, nhất là đối với người Việt Nam của chúng ta. Cái tinh thần “Quê Cha, đất Tổ” lẫn cái tình thương “Quê Mẹ”, “Nơi chôn nhau, cắt rốn”, cây đa, đình làng, lũy tre xanh… đã ôm ấp từng con người khi lớn lên; chính vì những yếu tố ấy mà dù cho chiến tranh khốc liệt như trước kia người dân vẫn cố bám làng, bám đất không rời bỏ quê hương dù khốn khổ, lầm than, hay cái chết cận kề bất cứ lúc nào. Nhưng rồi khi hòa bình đến người ta phải trốn chạy, đó là sự “suy tư” khá nhiều đối với tôi!

Sau thời gian tìm hiểu về lý thuyết ít ỏi, tôi cũng mường tượng được một chút thuộc về lý tưởng của ông Marx và Engels, cũng hình dung được một ít bước đường thực hiện nào đó mà mấy ông ấy vạch ra. Ôi lý thuyết sao mà tốt đẹp vậy! Thế cho nên trên thế giới nầy người ta vẫn mơ mộng, nhất là trong giới trí thức khắp mọi nơi khi người ta đã được đọc nhiều sách về lý thuyết. Và ngay cả trong thời điểm hiện tại, trên thế giới nhiều người theo khuynh hướng “chống bất công, đem bình đẳng” đến cho xã hội, mọi người vẫn còn “ước mơ một xã hội ấm no, công bằng” như thế, nhất là trong giới làm chính trị!

Có những lúc các nhóm bạn bè của chúng tôi ngồi bàn, tìm hiểu cùng nhau sau “trà dư, tữu hậu” đặt vấn đề: “Vì sao phải Chuyên Chính Vô Sản, và vì sao Trấn Áp Bằng Bạo Lực Cách Mạng, rồi Lạc Quan Cách mạng”. Có vài ý kiến giải thích là Mấy Ông Tổ cho là các giai cấp trên, lẫn giai cấp cầm quyền bốc lột áp bức giai cấp công nhân và nông dân lẫn người nghèo khổ, nên các giai cấp nầy phải làm cuộc Cách Mạng bằng bạo lực để lật đổ chúng và giành quyền cai trị. Để giữ vững chế độ thì phải trấn áp kẻ thù bằng Bạo Lực không thương tiếc để các giai cấp ấy không thể vùng dậy mà lật ngược lại. Và dù gặp khó khăn cách mấy hãy “Lạc Quan” vào con đường Tiến lên!

Ừ, thì cũng gọi là hiểu được chút nào đi! Rồi người ta lại tiến thêm bước nữa, chắc Lénin trong khi thực hành lý thuyết của Marx muốn “thúc đẩy” cho nhanh chóng thành công nên tập trung tất cả từ quyền lực, cho đến giáo dục, tuyên truyền, báo chí, đoàn thể, đều phải thực hành theo chỉ thị lãnh đạo của Đảng, bắt buộc ai cũng phải thực hiện theo lệnh và chỉ thị, thống nhất từ trên xuống dưới để mọi người cùng đi về một hướng không khác đi (tiêu cực, chống đối) hay chống lại (phản động). Điều ấy không phải chỉ một nơi mà mọi nơi nào mà người ta có thể làm được các cuộc Cách Mạng như thế theo hệ thống Tổ Chức Quốc Tế (bắt chước theo hệ thống tổ chức chặt chẽ của Đạo Thiên Chúa Giáo). Đó là lý do các Đảng Cộng Sản ở khắp các quốc gia nào có thể phát triển được, và họ liên kết với nhau (ngày xưa do Nga lãnh đạo, nhưng sau Trung Quốc muốn được quyền nên có sự xung đột hai bên và chia thành hai nhóm). Ấy chỉ là sự suy diễn của đám bạn bè chúng tôi qua sự tìm hiểu đó thôi!

Trong lúc đang miên man nhớ lại thì anh Thới kêu tôi là “Họ đi rồi kìa”! Tôi giật mình quay lại cùng đi theo để lên xe. Bà Hướng Dẫn cho chúng tôi đi một vòng nữa trong thành phố để giải thích tiếp những gì mà Bà thấy là chúng tôi cần biết. Xe đi qua khu Bảo Tàng xe hơi hiệu “Trabant” của Đông Đức thời ấy, chỉ  thoáng qua thôi nhưng mọi người cũng thấy được bãng hiệu cùng mẫu xe của nó. 

Bảo tàng xe "Trabant"


Không biết hiệu xe nầy như thế nào chứ trước kia khi mọi người nghe nói xe Molotova của Nga, ai khi chưa biết cũng tưởng nó rất là tân tiến và đặc biệt, nhưng sau ngày 30 tháng Tư thì kiểu xe của nó giống như trong thời Thế Chiến Thứ Hai thôi, chẳng có gì khác xa. Rồi đến khoảng hơn 5 giờ 30 xe đưa chúng tôi tới một khu Thương Mại để xem qua, đồng thời cũng là địa điểm Bà Hướng Dẫn Viên hẹn với chồng để rước Bà về. Chúng tôi từ giã bà, không đi nữa mà lại tắp vào một Tiệm thực phẩm của người Việt làm chủ để mua ít đồ, và cũng là để đợi xe buýt đến chuyển về khách sạn vì bây giờ cũng gần 7 giờ chiều!

Trên đường về Bernard căn dặn cho đoàn những điều cần biết và cần làm khi đến khách sạn và giờ giấc di chuyển cho ngày mai. Sau gần nửa tiếng đồng hồ xe về đến khách sạn, mọi người cứ theo như điều căn dặn của Bernard để nhận chìa khóa phòng, lấy số wifi để sử dụng cho các dụng cụ điện tử của mình. Ổn định phòng xong, chúng tôi lần lượt xuống nhà hàng của khách sạn để dùng bữa ăn tối. Thế là một ngày trôi qua trên vùng đất Thủ Đô nước Đức thống nhất ngày nay. Như vậy, với các vùng đất mà các thế lực thế giới xúm nhau chia đôi đất nước của người ta do hai Thái Cực: Cộng Sản và Tự Do đã được tái hợp lại. Một là Việt Nam được thống nhất bằng một cuộc chiến tranh lâu dài, tàn phá đất nước không thương xót và hậu quả sự thống nhất ấy là các cuộc thương đau khác xảy ra do cơ chế tổ chức xã hội, quan điểm; kéo theo sự suy yếu cùng lệ thuộc nặng nề vào những món nợ chiến tranh mà đất nước đã phải vay mượn! Và sau Việt Nam khoảng hơn 15 năm, nước Đức được thống nhất hòa bình do sự sụp đổ của khối Cộng Sản Đông Âu và Liên Xô trong một biến cố tương đối hòa bình, nhưng không kém phần gay go. Nay chỉ Triều Tiên hãy còn bị chia cắt, và hai bên vẫn xem nhau như hai nước thù địch tức là Đại Hàn và Bắc Triều Tiên vậy!

Trong bữa ăn tối nay đoàn chúng tôi nhận được một tin không vui và khiến cho mọi người hơi bồi hồi chia buồn cùng anh chị Lan Chi của nhóm Melbourne, vì anh vừa nhận được điện thoại của các con báo hình như là mẹ anh mất ở Việt Nam thì phải. Thế là cuộc đi của anh, chị phải dừng nửa chừng để trở về Úc, rồi mới về Việt Nam để lo hậu sự và báo hiếu. Jennifer cùng họp bàn với Bernard tiến hành các thủ tục, vé máy bay cho hai anh chị. Không biết bên các công ty du lịch hỗ trợ như thế nào, chứ đoàn chúng tôi vẫn tiếp tục cuộc hành trình như không bị một trở ngại nào hết. Chúng tôi chỉ nói lời chia buồn cùng gia đình anh chị thôi!

Thực sự trước khi đi chuyến nầy, tôi không hề có ý chú trọng vào vấn đề ảnh hưởng của chế độ Cộng Sản với các nước sẽ đi qua, nhưng khi đến Nga rồi qua sự thuyết minh của Bà Hướng Dẫn kéo tôi về với sự nhận xét, lưu ý hơn về các nước nầy để xem: Vì sao các nước thuộc chế độ Cộng Sản không thể tiến hơn là chế độ ở Tây Phương, mặc dù những người cầm quyền luôn cho “Xã Hội Chủ Nghĩa” là ưu việt, và Cộng Sản Chũ Nghĩa là điểm đích cuối cùng cho một Thế Giới Đại Đồng, là Thiên Đường của loài người trên trái đất nầy, mà tập thể người Cộng Sản lấy làm lý tưởng tranh đấu, thực hiện cho kỳ được!

Tuy nhiên cái lý thuyết nào cũng vậy, lý thuyết luôn vẫn là lý thuyết. Lý thuyết chỉ dựa trên nền tảng của suy tư và suy luận. Ông Marx đã lược qua rất nhiều lý thuyết, triết thuyết trong quá khứ, của những người đi trước, rút kinh nghiệm chúng được thực hiện trong thực tế, trên nhiều bình diện từ Xã Hội, Khoa học, Kỹ thuật, Chính trị, Tôn giáo, Tư tưởng lẫn sự Tiến hóa, kể cả Lý luận và Hệ thống Tổ chức, Quan điểm… tối ưu lúc bấy giờ để đúc kết thành “Hệ Thống Lý thuyết” của ông, mà về sau người ta cứ cho là ông tập hợp “Đỉnh Cao Các Trí Tuệ Của Loài NgườI” để làm Kim Chỉ Nam cho các tín đồ trong tương lai thực hiện đều ông đã vạch ra, để đi tìm “Tối ưu của một thể chế trong tương lai” nhằm đem lại sự tốt đẹp cho cuộc sống loài người trên trái đất! Thế nhưng, “Nó chẳng như là mơ” !

 

Nguyên Thảo,

07/10/2020.

 

 

 


Thursday, October 1, 2020

*Quê Người! (36)

 

Trọng đi làm bắt đầu từ ngày Thứ Hai, sang ngày thứ Ba tôi lái xe của Thành xuống văn phòng Port Adelaide Community nộp bài. Trong lúc nộp bài và đang chờ đợi thì ông thầy dạy lái fort lift cũng đến dẫn theo một anh bạn Việt Nam đang học khóa tiếp theo đến văn phòng. Thì ra số ghi tên học fork lift khá nhiều người nên chia thành vài khóa mà khóa tôi học là khóa đầu tiên. Ông thầy phàn nàn về trình độ Tiếng Anh của anh bạn nầy với nhân viên văn phòng, đại khái là ông ấy nói trình độ tiếng Anh của anh bạn yếu quá mà tại sao trung tâm cho anh ta học. Xong chuyện thì ông ấy lấy bài làm của tôi đi duyệt qua. Anh bạn phân bua với nhân viên văn phòng là ông thầy nói cái gì anh cũng hiểu cả mà khi anh nói tại sao ông Thầy không chịu hiểu mà còn nói Tiếng Anh của anh yếu. Rồi anh quay qua kể cho tôi nghe những gì thầy dạy anh đều hiểu và làm được, thế mà ông thầy nói anh không hiểu và bây giờ không cho anh học tiếp. Anh kể như thế nào thì tôi nghe như thế đó chứ tôi đâu biết “ất giáp” gì mà có ý kiến. Khi anh ra về, ông Thầy cũng chấm bài của tôi xong, ông cho tôi đậu, ông nói văn phòng cho tôi một giấy chứng nhận là tôi đã hoàn thành khóa học với kết quả “vượt qua” (pass). Rồi ông lại nói cho tôi nghe: “Phải chi nó như mầy, Tiếng Anh yếu thì mình cố gắng, làm theo những chỉ dẫn của tao, không hiểu thì hỏi lại; đàng nầy nó không, tao bảo nó lái sang trái thì nó sang phải, bảo sang phải thì nó lại sang trái; kêu nó tới thì nó lui, bảo lui nó lại tới, như vậy thì làm sao tao dạy, mà rủi có tai nạn thì tao phải chịu trách nhiệm sao”? Tôi nghe ông Thầy nói vậy tôi lại giật mình, đây là lần thứ hai tôi được nghe câu chuyện kỳ quái như thế nầy, và mình không thể tin những câu chuyện ấy là có thật, nhưng nó đã xảy ra. Không lẽ thần kinh của họ khác chăng, giống như những người “thuận tay trái”, “thuận tay phải”, hay khác lạ trong cuộc đời! Chuyện trước kia là anh bạn cũng là bà con của tôi với Trọng, khi đi vào quân đội anh được tuyển dụng vào phi công được đưa sang Mỹ huấn luyện về trực thăng. Trước khi đi được học Tiếng Anh ở Trường đặc biệt gần cả năm trời cộng với những năm bậc Trung học anh học sinh ngữ một là Tiếng Anh thì không thể nói là Tiếng Anh của anh dở. Khi anh sang Mỹ được vài tháng. Một hôm tôi, Trọng, Tâm là anh bạn khác cùng ngồi nhậu lai rai ở nhà Trọng ngay góc ngã tư đường. Uống trong chốc lát vụt nhớ đến ông anh bà con, Trọng nói bâng quơ: “Không biết giờ nầy nó ở bên Mỹ có nhậu và nhớ đến mình không”? Vừa nói không bao lâu nó ngó ra đường rồi la lên; “Mới nhắc tới nó, nó lại về kìa”! Tôi và Tâm tưởng Trọng đùa, cùng buộc miệng: “Đừng giỡn mầy”! Trọng: “Tao nói thiệt! Nó kìa”! Lúc đó tôi và Tâm nhìn theo tay của Trọng: “Thì ra, ảnh về thật”! Về sau tôi được nghe cái nguyên nhân “ảnh về sớm” giống trường hợp như hôm nay. Tôi ngậm ngùi cho cái “chuyện Tạo Hóa” trêu ngươi! Và cứ nghĩ Tạo Hóa đã cho mỗi người vài thứ khác nhau, anh bạn nầy và anh bạn bà con của tôi với Trọng có cùng một chứng bệnh như nhau! Tôi có thể giải thích được điều mà anh cho là “anh hiểu mọi thứ Thầy nói” là do tiếng Anh của anh cũng giỏi nên anh hiểu được mọi điều, ít ra cũng giỏi hơn tôi vì tôi đã nghe anh nói với người nhân viên, nhưng anh không để ý cái giọng nói Tiếng Anh của mình vừa cứng, vừa thiếu âm đuôi của chữ thì ông Thầy hiểu thế nào được; giống như tôi một lần nói “excuse me” thế mà Joeff làm bộ đưa hai tay ép vào ngực, sợ sệt và nghiêng mình xa ra.

Trọng và Thành đã đi làm, làm cho tôi cảm thấy nôn nao. Thế rồi một đêm trong lớp học Anh Văn ban đêm trường Parks, tôi nhờ đến Hoàng cùng học chung có thể xin cho tôi vào làm hãng của Hoàng không? Hoàng nói cũng không biết nó có cần không, nhưng nếu anh muốn thì anh theo tụi tôi đến đó rồi xin xem sao? Sau đó Hoàng cho tôi địa chỉ, tôi sẽ lái xe đến đó và đi với nhóm của Hoàng. Cả nhóm với tôi là 5 người, mà xe lại là xe có hai cửa nên người ngồi ở phía trước phải nghiêng ghế cho người ngồi băng sau vào trước, rồi mới ngã ghế vào vị trí ổn định thì mới lái đi được. Từ kinh nghiệm ấy tôi không thích xe hai cửa lắm. Những xe ấy thì thích hợp cho những vợ chồng mới cưới hay bồ bịch thôi, chứ nếu có con thì rất bất tiện. nếu rủi xảy ra tai nạn thì lại nguy hiểm cho người ngồi sau rất nhiều! Nhưng Thành thì lại thích kiểu xe ấy vì nó có vẻ “sport” mà nhiều người trẻ hay ham thích! Đi với nhóm Hoàng khi đến hãng, Hoàng hỏi dùm nhân viên trong đó, họ nói không có việc. Thế là khi mọi người vào trong hãng để làm, thì tôi phải ngồi đợi từ sáng cho đến trưa khi họ ăn trưa thì tôi cũng ăn phía bên ngoài, rồi đợi họ cho tới chiều khi tan hãng thì mới được về nhà. Điều nầy khiến tôi cũng kinh nghiệm một lần cho những lần sau.

Rồi một hôm, Hoàng hỏi tôi: “Hình như lúc trước anh có đi học hàn MIG phải không”? Tôi trả lời có, Hoàng mới nói với tôi là có quen với anh Hòa làm thợ hàn cho một hãng nọ, hãng đó đang cần người để tôi giới thiệu cho anh. Và Hoàng chở tôi đến nhà anh Hòa. Mấy ngày sau tôi theo anh Hòa đến hãng, hãng nhận cho tôi làm ngay ngày đầu trong việc hàn những thùng đựng rác lớn cung cấp cho các tiệm hay các hãng nhỏ. Lúc đầu tôi e ngại việc điện chuyền qua kim loại nên không mạnh dạn tì tay trên các tấm sắt nên mối hàn không được đẹp cho lắm. Sau đó rút kinh nghiệm mối hàn của tôi trở nên nhuyễn và đẹp hơn gần giống với mối hàn của anh Hòa. Trong lúc tôi làm từ bên nầy sang bên kia thì có anh bạn cũng là Việt Nam làm công việc lặt vặt trong hãng, anh lại đến hàn từ phía anh Hòa làm trở đi. Có lẽ anh mới chỉ tập hàn thôi, nên mối hàn trở nên đóng cục. Đang lúc anh lấy máy mài để mài các mối đóng cục ấy thì ông Úc khác đến kêu anh phụ giúp chuyện gì đó; anh nhờ tôi tiếp tục mài cho anh. Và khi đó thì ông chủ hãng đến, nhìn thấy công việc tôi đang làm, ông kêu tôi ngưng và hỏi tôi, tôi bảo của anh kia hàn và anh ấy nhờ tôi mài. Ông chủ hỏi tôi hàn cái nào rồi, tôi chỉ ông nhưng ông không tin, rồi ông dẫn tôi đến tấm bảng. Ông viết lên đó, ông trả cho tôi từ sáng đến giờ mấy tiếng đồng hồ với giá 7 đô, rồi với những mối hàn đó tôi mài phải mấy tiếng nữa như vậy ông bị thất thoát là bao nhiêu tiền. Thế rồi ông không cho tôi hàn nữa, mà chi kêu tôi phụ việc cho những người khác thôi giống như anh bạn Việt Nam kia. Sang ngày hôm sau tôi cũng đi theo anh Hòa một ngày nữa. Không biết anh bạn Việt Nam có còn làm nữa không tôi không thấy, mà tôi đi giúp việc vặt cho những ông thợ khác để làm với lương 5 đô một giờ. Rồi tới xế chiều, ông thợ Úc kêu tôi lấy cái “chisel” tôi không biết là cái gì, khiến ông lắc đầu đành dẫn tôi vào nơi để dụng cụ lấy cái đục để đục sắt. Tôi cảm thấy buồn vì mình không hiểu được nhiều nên không làm được việc cho người khác. Chiều đó tôi gặp ông chủ xin nghỉ, ông kêu nhân viên trả lương cho tôi với mấy giờ làm thợ hàn và bao nhiêu giờ phụ việc, tôi nói tôi sẽ cố gắng học thêm Tiếng Anh để đi làm về sau nầy. Ông chủ vui vẻ, động viên và chúc cho tôi nhiều may mắn trong tương lai! Tính ra hãng tôi làm nầy xa hơn là hãng Holden của Trọng, mặc dù ở cùng khu vực. Nhưng anh Hòa chở tôi thì đi con đường bên ngoài nên vào lúc cao điểm, hãng xưởng, trường học tan ra về nên kẹt xe là chuyện phải gặp. Thời gian di chuyển có khi hơn cả tếng đồng hồ, tôi tính chuyện trả tiền xe cho anh Hòa, nhưng anh không lấy và nói giúp tôi thôi!

Từ lúc đó tôi càng ráng học Anh Văn hơn. Tôi đi mượn băng ở thư viện về nghe, tìm từ ngữ để học nhất là trong quyển “Lexicon” mà anh Hợi đã chỉ cho tôi mua lúc trước. Nhưng đối với người có trí nhớ dở và nói không nhanh nhẹn như tôi thì không đạt được như ước muốn. Dù gì tôi phải cố gắng, tất nhiên là vất vả khá nhiều! Ban đêm cứ mở radio đài Tiếng Anh địa phương mà nghe dù hiểu hay là không hiểu, chỉ cố gắng nghe để phân biệt, khi nghe truyền hình thì tôi chú ý về phần thời tiết vì nó không có nhiều từ ngữ khó, hi vọng là mình bắt được cái nghe tốt hơn từ căn bản ở mục nầy!

Trọng thì vui vẻ với công việc dù phải đi hơi xa, sáng dậy sớm đem thức ăn đi, chiều tan hãng về. Còn Thành thì làm ở hãng gần hơn, vẫn còn ham đi xe đạp; tuy nhiên một hôm thấy có người bị tai nạn nó bắt đầu hơi sợ rồi, nên thỉnh thoảng mới đi xe đạp thôi. Tôi phải chuẩn bị kiếm một chiếc xe cũ để riêng cho mình khi cần đi đây đi đó. Một buổi tối Trọng với chị Yến đi đâu về ngang chỗ nọ thấy có một chiếc xe cũ đề giá 140 đô, Trọng xem thử thấy còn được nên về nói với tôi: “Tao thấy chỗ kia có một chiếc xe Morris nhỏ mầy à, coi cũng còn được để chiều mai đi làm về tao chở mầy lợi đằng đó coi, nếu được mua về chạy đỡ rồi sau nầy mua chiếc khác, tính ra nó còn rẽ hơn chiếc xe đạp của thằng Thành nữa”!

Thế là chiều ngày hôm sau, sau khi đi làm về, tắm rửa xong Trọng vội vã kêu tôi, Thành đi lại chỗ đêm hôm có chiếc xe Morris để bán coi xe còn hay không. Vừa quẹo cua thì chúng tôi đã thấy chiếc xe ở phía đàng xa. Ngừng xe, tôi và Trọng đi đến gần, mở cửa và xem bên trong. Thấy xe cũng còn khá, trong lúc đó thì ông chủ đi ra, Trọng hỏi chuyện ông, ông là một ông Úc già, dáng còn khỏe mạnh, vui vẻ. Sau những câu xã giao, chúng tôi xin ông coi xe, nổ máy và chạy thử. Chạy một hồi trong khu vực của ông là một khu hãng xưởng, nên về chiều không có nhiều xe, vì thế việc thử tương đối dễ dàng. Tôi không cần chạy với vận tốc cao vì xe cũ với giá đó thì tạm gọi là để có xài là quý rồi, còn về sau sẽ tính sau; chỉ có một điều là khi bắt đầu đề nổ máy thì máy hơi run lắc một chút, chứ khi máy chạy thì không có gì phải quan ngại, thuế đường thì hãy còn mới, có lẽ ông chủ đóng thuế 3 tháng rồi mới đề bán. Chung lại máy xe vẫn còn tốt, các bánh xe có thể đi được khoảng một năm nữa mới thay. Trọng hỏi ông chủ có thể bớt không chút nào không vì tôi (Trọng chỉ tôi) mới tới Úc vài tháng thôi. Sau khi suy nghĩ ông nói: “Thôi thì tao bán cho nó 120 đô đó, OK”. Trọng quay lại nói với tôi: “120 tao thấy được à mầy, thôi lấy đi”, tôi thấy giá ấy cũng là được, tôi đồng ý. Vậy là tôi đã có một chiếc xe đầu đời nơi xứ lạ quê người! Lái chiếc xe về nhà để ở phía sau sân cỏ, ngày mai tôi phải đi làm thủ tục đăng bộ, sang tên. Chủ nhà ở phía sau thấy tôi có chiếc xe mới, ông sang chơi hỏi tôi mua xe bao nhiêu, nghe xong ông cười. Trọng hỏi ông vì sao khi đề máy thì máy xe lại run lắc, ông là thợ máy nên ông giải đáp và chỉ cho chúng tôi thấy mấy cục cao su của chân máy bị nhão nên nó không giữ máy chắc chắn khi mới đề nổ; nhưng sau đó thì máy nổ đều nó không còn run lắc nữa. Ông chủ nhà nói cái đó không quan trọng lắm, không thay cũng không sao, nếu muốn thay thì về sau ông sẽ thay cho, cũng khá tốn tiền đó vì công mắc hơn mua đồ phụ tùng. Khi tôi mua được chiếc xe thì Thành cũng thường lấy xe đi làm thay vì đi xe đạp như lúc trước, vì có một lần nó thấy người đi xe đạp bị tai nạn dọc đường, nó thấy nguy hiểm nên không còn ham đi xe đạp nữa. Thế là Trọng, Thành đã ổn định cuộc sống, còn tôi phải tiến thêm một bước nữa mới đủ điều kiện cho chính mình!

 

Nguyên Thảo,

21/08/2020.

 

 

 


*Nghĩ Về Một Ông Tổng Thống!


Viết chuyện nầy, tôi nghĩ rằng tôi có đi quá sự hiểu biết của mình chăng? Và tôi có trở nên lố bịch không? Nhưng rồi tôi lại nghĩ mình chỉ là viết về “chuyện tào lao” thì không phải để đúng, mà chỉ là để nêu lên vài nhận xét riêng hay là để “vui” cùng độc giả, thì chuyện chính xác đâu là chuyện cần thiết. Thôi thì độc giả đã chấp nhận ngày “Cá Tháng Tư” thì chắc cũng không màng đến chuyện tôi viết bài nầy! Như vậy thì cứ xin độc giả thông cảm xem bài nầy như là tôi viết lên cái suy nghĩ ngộ nghĩnh của tôi và đừng quan tâm về nó khi tôi viết những “nhận xét” riệng về một ông Tổng Thống đình đám, nhiều vấn đề xảy ra với ông trên Thế Giới: Đó là chuyện của Tổng Thống xứ Cờ Hoa: "Donald Trump"!

Thú thật với độc giả tôi ít khi chú tâm về chính trị ngay cả trên chính trường của nước Úc là nơi đã cho tôi cùng gia đình được một cuộc sống an thân, một quê hương thứ hai khi tôi phải từ bỏ “quê hương ruồng bỏ” thân phận của mình từ những người chiến thắng, dù những người chiến thắng luôn hô hào “đứng về phía nhân dân, vì dân, sẽ làm cho nhân dân sung sướng, tự do và hạnh phúc; nước giàu dân mạnh”! Kể từ những thời gian đầu sau khi hòa bình tôi cũng như mọi người dân sung sướng, vui mừng vì đất nước không còn chiến tranh, sẽ được êm ấm làm ăn, ai cũng sốt sắng chuẩn bị để xây dựng lại cuộc sống và góp phần cho đất nước. Nhưng cuộc thế dần dần khác xưa, những tổ chức mới được thành hình tạo cho cuộc sống càng ngày càng khó khăn hơn, người dân bị lao vào chính trị cùng những tổ chức thành hình khuôn khổ “đào tạo theo kiểu con người mới” khiến ai cũng giống ai, cùng một suy nghĩ hay hành động, khác hơn sẽ gặp nhiều khó khăn cho chính mình lẫn gia đình, nhất là sẽ ảnh hưởng cho con cháu về sau nầy. Thế là mọi người gần như “yên lặng” để tuân hành, thích thì làm, không thì thôi, không phải chống đối. Từ đó người ta chẳng hề quan tâm đến tuyên truyền, giáo dục lẫn chính sách nữa mà chỉ nghĩ đến lo cho cuộc sống, "chuyện nhà nước cứ để nhà nước lo" vì có lo cũng chẳng thay đổi được gì. Tôi cũng vậy và không hề quan tâm đến chính trị nữa.

Đến khi có cơ hội ra ngoài và bảo lãnh được gia đình sum họp xem như là mục đích của tôi đã hoàn thành trách nhiệm đối với tương lai của các con tôi, tôi không còn thấy cái “trách nhiệm nặng nề” đè lên suy nghĩ của mình nữa. Mỗi lần bầu cử, tôi và vợ cứ bỏ phiếu cho Đảng Lao Động xem như là trả nợ “ân tình” với họ do nơi tôi được đến Úc trong thời kỳ của Đảng Lao Động cầm quyền, còn con cái thích ai thì chúng bỏ theo ý của chúng. Tôi chẳng quan tâm nhiều đến Đảng nào lãnh đạo. Tuy nhiên qua nhiều năm tìm hiểu và nhận xét thì tôi lại nghĩ: Ai đã tạo nên nền chính trị của Úc và những chính sách của nó, nhất là chế độ về An Sinh Xã Hội nhỉ? Tại sao chúng được thực hiện giống như là những gì mà trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa của người Cộng Sản mơ ước, mà người dân vẫn luôn được Tự Do và chính quyền không phải dùng đến “bạo lực cách mạng” trấn áp. Xã Hội như thế nầy có lẽ còn lâu lắm người Cộng Sản vẫn chưa thể thực hiện được! Lý tưởng mãi là lý tưởng, trong khi người ta đã thực hiện được lý tưởng đó từ lâu! Tuy nhiên, chế độ nầy, theo như ý của nhiều người, còn phải điều chỉnh lại giữa sự đóng thuế của người đi làm và những người lạm dụng sự ưu đãi của xã hội, không khéo nó sẽ trở lại giống như sự tách ra khỏi “thời kỳ cộng sản nguyên thủy” để tiến sang “thời kỳ tư hữu” của những thời sơ khai! Nếu không, xã hội ấy vẫn còn sự bất công giữa người “đóng thuế” và “những người hưởng lợi từ thuế của người khác”!

Viết thêm chút để quý độc giả xem chơi, chứ bây giờ tôi lại thương Ông Trump nhiều lắm! Giả sử ông yên phận với cuộc sống giàu sang, danh vọng ở trên Tháp Trump của ông thì ông quá an nhàn hưởng thụ mọi cái gì ông thích khi ông là Tỷ phú, với cơ sở đem đến lợi tức cho ông hàng trăm triệu hay bạc tỷ hàng năm. Ông đâu có thiếu thốn thứ gì: Tiền có, danh vọng đã có, ông chẳng là “Ngôi sao truyền hình” đó sao? Thì có cần gì mà ông phải nhảy ra ứng cử Tổng Thống xứ Hoa Kỳ làm gì cho cực nhọc!

Ngày mà tôi xem tin tức trên truyền hình thấy truyền hình chiếu cả mười mấy ứng cử viên trong Đảng Cộng Hòa cùng nhau trình diện và tranh luận để tranh phần được Đảng đề cử làm Ứng Viên Tổng Thống của Đảng, tôi thấy cũng vui. Lúc ấy họ đứng trên sân khấu, ỏm tỏi cùng nhau khiến tôi lại nghĩ đến các vai trò trong một tuồng hát. Với Ông Trump thuở đó, tôi chẳng biết gì về ông chỉ thấy là “sức nói” của ông rất mạnh, tranh luận rộn ràng, đôi khi trấn áp được đối phương. Dần dần qua các cuộc tranh luận khác ông đánh bại từng ứng viên gạo cội có thành tích chính trị nhiều năm trên chính trường xứ Mỹ. Từ đó tôi mới để ý đến nét “cao bồi” của ông, đôi khi nét mặt ông thể hiện giống như một “chú hề” giúp vui cho thiên hạ; rồi lại thêm bộ tóc màu vàng chải ngược, lông mi vàng khiến tôi lại nghĩ đến nhân vật “Kim Mao Sư Vương” của nhà văn kiếm hiệp Kim Dung.

Đến ngày ông được chính thức đề cử Đại diện cho Đảng Cộng Hòa ứng cử Tổng Thống thì ông phải đấu với bà Hillary Clinton một Cựu Đệ Nhất Phu Nhân, và cũng là một Cựu Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao lừng lẫy trong thời Tổng Thống Barack Obama. Lúc ấy tôi mới thấy được chút ít bản lãnh của Ông, và hiểu rằng vì sao ông đã là Tỷ Phú. Ông đi ra tranh cử chỉ với tiêu đề “Làm Cho Nước Mỹ Vĩ Đại Trở Lại” và “Nước Mỹ Trước Tiên”. Nhưng theo thế và thời cuộc người ta cũng như tôi nghĩ rằng Ông Trump khó mà thắng được Bà Hillary Clinton vì Bà Hillary thật là sáng giá trong cuộc đua ấy mà ông Trump thỉnh thoảng lại vướng vào vài vụ “trouble”!

Thế nhưng, không nhiều ngày trước cuộc bầu cử thì vụ “Email” của Bà Hillary Clinton bùng phát mạnh mẽ trở lại khiến tình hình khác biệt ngó thấy. Kết quả là Ông Trump đã thắng một cách bất ngờ! Tôi không đoán được Ông Trump đã có thuật gì để chiến thắng hay là do sự tình cờ. Mộng làm Nữ Tổng Thống đầu tiên xứ Mỹ của Bà Hillary Clinton trở thành mây khói!

Sau khi Ông Trump nhậm chức Tổng Thống tôi mới nhớ lại vài vấn đề nhất là câu nói của Ông về những khu kỹ nghệ của Hoa Kỳ phải đóng cửa, xúm nhau di dời qua Trung Quốc: “Nhìn vào những khu kỹ nghệ đóng cửa im lìm như những nghĩa địa”. Đó là cái ý, nhận xét chân thật về tình trạng đó vì năm 2001 tôi có dịp đặt chân lên xứ Mỹ, anh bạn tôi có một xưởng nhỏ trong khu kỹ nghệ ở Nam Cali, anh dẫn tôi vào tôi cũng thấy nó vắng lặng im lìm. Điều đó chắc không phải ở Mỹ không thôi, vì vào những năm đầu 1990 khi tôi làm công trong hãng may đã thấy hàng Trung Quốc qua nhiều khiến ngành may ở Úc bị điêu đứng do giá cả rẽ. Rồi những năm sau đó các hãng xưởng khác dần di dời qua Trung Quốc để sinh tồn, khiến khu kỹ nghệ không còn náo nhiệt như xưa. Ở Melbourne, Sydney dân Việt phải chuyển nghề rất nhiều. Đối với Ông Trump là một nhà kinh tế ông mới để ý đến điều đó, còn các đời Tổng Thống khác họ chẳng quan tâm. Nếu họ quan tâm thì đâu đến đỗi tệ hại như sau nầy!

Lại một hôm tôi xem trên truyền hình, người ta nói về Ông Trump và chiếu lại cuộc phỏng vấn của Bà Oprah Winfrey, trong đó Oprah hỏi Ông Trump có dự định sau nầy ông ra ứng cử Tổng Thống không? Hình như Ông trả lời “Chưa tính, nhưng khi nào cần thiết ông sẽ ra”. Hai điều ấy khiến tôi có cái nhìn tích cực về ông! Và rồi tôi lại để ý trong bài diễn văn nhậm chức của ông, ông đã có ý: “…Tuy nhiên, buổi lễ ngày hôm nay có ý nghĩa rất đặc biệt, bởi vì hôm nay chúng ta không chỉ đơn thuần chuyển giao quyền lực từ một chính quyền chính quyền sang chính quyền khác, hay từ một Đảng nầy sang một Đảng khác, chúng ta đang chuyển giao quyền lực từ Washington DC và đưa nó trở lại với các bạn, người dân của chúng ta. Từ lâu một nhóm nhỏ ở Thủ Đô đã thu lợi từ chính phủ trong khi người dân phải chịu thiệt, Washington đã phát triển mạnh mẽ, nhưng người dân không được hưởng lợi chung sự giàu có đó. Các chính trị gia ngày càng thành công phát đạt, nhưng việc làm lại ra đi. Các nhà máy thì đóng cửa, tầng lớp lãnh đạo, bảo vệ chính họ chứ không phải người dân. Chiến thắng của họ không phải là chiến thắng của các bạn. Trong khi họ sung sướng ăn mừng tại Thủ Đô, thì những gia đình đang gặp khó khăn trên khắp đất nước, không có điều gì để vui mừng. Tất cả điều đó sẽ thay đổi ngay tại đây và ngay bây giờ, bởi vì thời điểm nầy là thời điểm của các bạn, nó thuộc về các bạn, nó thuộc về tất cả mọi người chung ở đây hôm nay và những ai đang theo dõi trên khắp đất nước Mỹ. Hôm nay là ngày của các bạn. Đây là đại tiệc của các bạn và đây Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ là đất nước của các bạn. Vấn đề thực sự không phải là Đảng nào kiểm soát chính quyền, mà là chính phủ của chúng ta có được người dân kiểm soát hay không. Ngày 20 tháng 1 năm 2017 sẽ được nhớ đến như là ngày người dân trở lại thành những người cai quản đất nước nầy, những người đàn ông, phụ nữ bị lãng quên của đất nước sẽ không còn bị quên lãng nữa…” (Trích từ bài dịch trên Internet). Những điều tôi chứng kiến, nhận được đó khiến tôi lại suy nghĩ về ông nhiều, và có những điều suy nghĩ khác về một “Con người kỳ lạ” ấy!

Rồi trong thời gian ngắn, ông đã thực hiện từng bước những điều ông đã hứa trong lúc bầu cử, người ta bảo lúc tranh cử ông nói đến chuyện “xây bức tường biên giới phía Nam và bắt Mexico phải trả”, người ta bảo ông nói “khoác”, châm chích ông; nhưng tôi lại thấy ông đã đánh thuế lên hàng hóa Mexico có lẽ còn hơn chi phí đó, thế mà người ta không nghĩ đến. Đối với tôi, ông là người kỳ lạ một nửa giống như cao bồi, dám nghĩ dám làm, dám nói; nhưng một nửa khác ông lại rất trầm tĩnh. Ông là một Tỷ Phú cho nên ông không cần lấy tiền lương của một Tổng Thống, như vậy ông ra tranh cử và thắng cử Tổng Thống để làm gì? Tôi suy nghĩ nhiều vể điều ấy, cuối cùng tôi kiểm chứng lại các điều tôi đã thấy trên truyền hình thì ông không ra ngoài “Tấm lòng yêu nước và muốn xây dựng lại uy thế của nước Mỹ đã mất đi trong nhiều đời Tổng Thống trước, do họ không hiểu về chế độ Cộng Sản Trung Quốc, nên đã bị Trung Quốc “qua mặt”, gian xảo trong việc đánh cắp trí tuệ, ngoại giao, kinh tế, tình báo, mọi thứ của Hoa Kỳ lẫn các nước Tây Phương nhằm trang bị cho chính họ hầu đánh bại mọi nước để có thể thống lĩnh Thế Giới, Thế Giới nầy phải quy phục vào Một Đế Quốc Toàn Cầu: Trung Hoa Vĩ Đại theo chủ thuyết Khổng Tử về một Thế Giới Đại Đồng”. Ông là vị Tổng Thống thứ nhì nước Mỹ không cần lương sau Tổng Thống Herbert Hoover (1929-1933)

Ông Trump với cái nhìn của một nhà làm Kinh Tế đã giải quyết các vấn đề theo kinh tế. Ông đòi hỏi một sự công bình về kinh tế bằng áp thuế hay thay đổi những sự mất cân bằng giữa các giao dịch mà như chúng ta đã thấy và theo dõi. Nhưng cuộc đời cũng không có gì là suông sẽ, có khi từ những kẻ thù hay những người ganh tị từ trong nội bộ, hay những kẻ “muốn phá cho hôi” vì họ không làm được như những gì ông đã làm. Họ có thể “phá hoại, phá đám, gây rối, tạo tình cảnh rối loạn…” để phá ông vì những ích kỷ, âm mưu, cộng thêm ngay thời dịch bệnh Corona Virus phát xuất từ Vũ Hán tự bên Tàu; lại nữa, với cái chết tình cờ của người da đen “George Floyd” khiến Ông phải nhiều “ứng phó khó khăn”, không những cho chính ông mà cả trên thế giới nữa!

Có điều tôi thích nhất với Ông Trump là về những bài nói chuyện của ông, chúng không phải là những vọng động, bất đồng như cái cách ông thường phát ngôn, hay hành động mà người ta coi là thất thường; mà những bài đó lại là sự trầm tỉnh, sâu sắc, chân thật, chính xác khá nhiều khiến cho người nghe đôi khi phải cảm động và cảm phục. Ông nói về Chủ Nghĩa Xã Hội, ông dẫn chứng về chuyện Vi Khuẩn Vũ Hán, ông đề cập đến Trung Cộng lợi dụng sự tin tưởng, dễ dãi của Hoa Kỳ, khối Tây Phương để đưa người len vào các quốc gia nầy vừa lũng đoạn, vừa đánh cắp mọi thứ từ Kỹ thuật, trí tuệ, kinh tế, chất xám…, vừa thực hiện mưu đồ “Tình Báo” mà Chính quyền các nước không hề ngờ tới. Ông cũng không quên nhắc đến Trung Cộng dùng sức mạnh của mình để “áp bức”, hay áp chế các quốc gia nhỏ, yếu thế chung quanh để thực hiện mưu đồ “Lấn dần để mở rộng quyền lực nhằm tóm thâu khu vực, rồi phát triển ra Thế giới” để thực hiện mộng “Làm Bá Chủ Thiên Hạ” của “Trung Hoa Mộng” sau khi triệt hạ được Hoa Kỳ cùng Âu Châu với thái độ trịch thượng, quan thầy cùng ngạo mạn ở khắp nơi nơi!

 Đối với tôi, ông không chỉ là một Nhà Kinh Tế Giỏi, Một Người Có Lòng Yêu Nước Sâu Sắc, mà lại là Một Lãnh Đạo Có Bản Lĩnh, Có Tầm Nhìn cùng Biết Cách Giải Quyết. Đó chỉ là ý của riêng tôi, còn Quý Vị ra sao thì tôi không biết!

Tôi chỉ là một công dân ngoài nước Mỹ, nhưng tôi cũng nhìn thấy những sự cống hiến “tận tình” của ông cho Tổ Quốc; rồi tôi lại nghĩ về một đất nước nghèo nhỏ bé, khốn khổ của tôi để rồì tôi lại mơ ước: “Phải chi đất nước mình có những người tài trí biết lãnh đạo và có kiến thức về “Kinh tế” thì đất nước mình đâu có nghèo, lạc hậu, thua kém người ta đến thế vì “Kinh Tế” là viết tắt của câu “Kinh bang, Tế thế” ấy mà!

 

Đồ Ngông,

02/10/2020.

 

 

 

Saturday, September 26, 2020

*Đám Giỗ!

 

Lúc nhỏ mỗi lần nghe nói “đi ăn đám giỗ” tôi mừng lắm. Vì thời con nít mình “ham ăn”, mà đám giỗ thì có rất nhiều món ăn nên đứa nhỏ nào lớn lên cũng đều khoái: Có cả thịt, cá, nhất là các loại bánh từ bánh cúng, bánh cấp, bánh tét, bánh da lợn, bánh qui, bánh ít, đến nhiều thứ nữa mà tôi không nhớ hết. Điều ngộ hơn là đứa nào cũng ham ăn bánh, do vậy mà đám giỗ là sự mong chờ của đàn con nít chúng tôi! Nhưng, song song vào đó tôi lại cũng sợ đám giỗ khi mà phải “khoanh tay thưa” nhiều người mỗi khi đến hoặc đi về. Tôi sợ vì có nhiều người mà mình không biết kêu vai thứ như thế nào để xưng hô cho đúng; rồi lại mình đứng khoanh tay ở dưới thấp (vì còn nhỏ, thấp bé) trong khi họ mắc nói chuyện ở bên trên, cứ trình thưa hoài mà họ không nghe, đến khi có ai đó báo cho biết thì họ mới nhìn xuống khi ấy bổn phận mình mới được gọi là xong xuôi!

Tôi nhớ lại thì ở nhà Bà Ngoại trong một năm có nhiều đám giỗ, lúc đó tôi chẳng biết là đám giỗ của ai và thực ra cũng không nghe má nói là đám giỗ của người nào nữa. Cứ mỗi lần đám giỗ là má hay mua đồ hay thịt cá gì đó kêu tôi đi xe đạp chở về trên Bà Ngoại trước một ngày. Trên nhà Bà Ngoại khi đó đã có nhiều người từ mấy dì, hay chị con của dì, cậu về trước phụ giúp gói, làm bánh hay nấu nướng thật là nhộn nhịp. Có vài lần má không bận rộn trong việc buôn bán, tôi cũng đang nghỉ hè, má dẫn tôi về nhà Ngoại để phụ lo chuyện đám giỗ. Trong khi các bà đang làm công việc nấu nướng, làm bánh; thì mấy cậu hay đàn ông lo quét dọn sạch sẽ từ bàn thờ đến việc lau chùi chân đèn, mấy khai đựng trái cây, lo bình bông chuẩn bị cho ngày sau. Đám giỗ sao mà bận rộn đến thế! Không biết đám giỗ thế nào mà những chén, dĩa, tô, tộ, đủa, muỗng thật là nhiều, Bà Ngoại phải cất chung vào một cái “chạng” tức là khung củi nhỏ để đựng riêng chúng ra mà chỉ khi nào dám giỗ mới lấy ra sử dụng. Xong rồi thì rửa sạch sẽ chất vào trong đó để khi tới đám giỗ khác thì lại lấy ra xài.

Khi còn nhỏ tôi chỉ biết đám giỗ là cúng kiến những người đã chết từ trước, và trong đám giỗ ấy tôi sẽ được ăn nhiều thức ăn nhất là nhiều loại bánh, có loại tôi thích, có loại không thích. Tôi không thích bánh ít, nhưng lại thích bánh gói là loại bánh bằng bột gạo trộn đường, hình vuông dẹp được gói trong lá chuối, chính giữa là một viên nhân đậu xanh ăn rất ngon, ngọt với đường khạp (đường đựng trong cái khạp nho nhỏ cỡ khoảng chừng mười mấy, 20 lít nước). Với đám giỗ bọn con nít chúng tôi gồm con mấy cậu, mấy dì được dịp kéo về, tụ tập để chơi đùa, giỡn với nhau cho đã. Sau khi cúng xong thì chúng tôi được quay quần bên các chiếc “đệm” (đan bằng lát cọng dẹp cỡ mỗi chiều khoảng hai và ba thước), đệm khác với chiếu, chiếu lót trên giường để ngủ, trên ván để ngồi, còn đệm lót dưới đất để phơi đậu lúa, hay ngồi có khi để ngủ tạm nếu quá đông người) mà ăn đồ ăn được dọn riêng cho bọn con nít. Về sau bọn con trai chúng tôi bắt đầu trưởng thành sau thời kỳ “trổ mã” hay gọi là “nhổ giò” tức là bước qua thời kỳ “tập tành của thanh niên” thì được người lớn cho lên ngồi trên bộ ván bên phía đàn ông, hoặc đôi lúc được các ông Trưởng lão cho ngồi vào vị trí của bàn chính giữa với các ông, nhưng chỉ phía ngoài thôi, còn vị trí phía trong gần bàn thờ Tổ Tiên là của các ông ấy. Đó gọi là “quan niệm” tôn ti trật tự trong một xã hội Việt Nam ngày xưa. Còn bọn con gái khi thành thiếu nữ thì chỉ được ngồi trên bộ ván phía trái, chứ không bao giờ được ngồi ở bàn chính giữa như bọn con trai của chúng tôi. Ấy gọi là “Trọng nam khinh nữ” vậy!

Rồi dần dà theo mức độ trưởng thành của mình, tôi cũng tham gia vào những ngày đám giỗ một cách tích cực, nếu có rảnh cũng về trước phụ giúp cậu để lo chuyện cúng kiến; cũng soạn chén dĩa, tô tộ, đủa muỗng đem ra ngoài cái chạng để mấy dì hay chị lo rửa sạch, phơi khô trước khi múc đồ đem lên cúng; và cũng lo phụ trang hoàng bàn thờ Tổ Tiên. Lúc đó tôi mới hiểu được cách bày trí trong gian nhà gọi là “Ba gian hai chái”, đặc biệt của vùng thôn quê Việt Nam theo tập tục riêng của dân tộc. Như đã có lần tôi trình bày trong bài “Nhà Ba Gian Hai Chái” mà trong phần “Tào lao Thế sự I” tôi đã diễn tả những nhận xét của tôi về cách thức ấy rồi! Do nơi sự cân đối, hài hoà, thế vững chắc và để đủ không gian, nhà thôn quê đã được cất thành ba gian với những hàng cột chống đỡ căn nhà, nên nó đã thành “ba gian”, và hai chái hai bên để che chắn cho vách tường bằng gạch đất không bị nước mưa làm cho thấm ướt, đổ ngã. Rồi để có nhà xe, chuồng trâu bò thì người ta lại cất thêm hai bên là chuồng cùng nhà kho; hoặc ở phía sau hay bên hông thêm căn nhà nhỏ để làm khu nấu ăn cho khỏi phải khói bụi than bám vào nhà chính nên mới có nhà trên nhà dưới. Đó là thành hình khu nhà nông thôn đặc biệt của quê mình. Còn về bên trong ngôi nhà từ khi tôi lớn biết phụ giúp, tham gia vào cúng kiến thì mới thấy cách bày trí gần như thống nhất trong tập tục ngày xưa. Ngay căn giữa là một tủ thờ đơn giản hay cầu kỳ, hoặc đẹp đẽ với cẩn ốc xa cừ tùy theo mức độ tài chánh của gia đình. Trên tủ thờ ở giữa là bộ lư đồng sáng chói, có lư hương, hai bên là hai chưn đèn cũng bằng đồng hay gỗ quý, rồi có “đông bình, tây quả” tức là hướng đông có bình bông, phía tây có dĩa chân cao để chưng trái cây vào ngày cúng. Phía sau tủ thờ là cái bàn thờ để bày trí đồ cúng lên cúng trong ngày đám giỗ. Kế đó là cái vách tường bằng gỗ hay xây gạch về sau nầy treo bãng đề “Tổ Tiên” hay “Tổ Đường” cho biết đó là nơi thờ cúng Tổ Tiên. Phía trước tủ thờ là cái bàn dài dành cho bô lão, người lớn đàn ông ngồi nói chuyện hay bày đồ cúng cho người đã mất trong ngày giỗ của họ. Lúc xưa để che cái bàn nầy khỏi phải trơ trẽn thì phía trong và phía ngoài lại có thêm mấy cái bàn nhỏ chân cao hơn che chắn nó thêm phần kín đáo, long trọng.

Ở hai gian bên thì kê hai bộ ván để người trong nhà hay khi có khách làm chỗ ngủ. Giữa bộ ván và vách ngăn gần giữa căn nhà có bàn thờ cũng được đốt hương, đèn, bày cúng trong ngày đám giỗ. Lúc nhỏ tôi chỉ biết là cúng cả hai bên đó, nhưng không hiểu là cúng cho ai và thế nào; đến khi hiểu được thì bên phải của bàn thờ Tổ Tiên là để cúng cho những người thuộc phái đàn ông đã mất dù lớn hay nhỏ. Còn bên trái là cho những người nữ. Nói cho đúng hơn là bàn thờ nơi gian nhà chính giữa là chỗ cúng cho Tổ Tiên, Ông Bà; bên phải là cho đàn ông quá cố thuộc cấp nhỏ, bên trái là cho giới nữ. Chính vì thế mà khi bày trí đồ cúng người ta thường hay hỏi người lớn của gia tộc là “Bao nhiêu mâm”? “Mâm” có nghĩa “một bộ đầy đủ các món nấu nướng bày ra cúng” thì là một mâm. Lúc đầu tôi không hiểu rõ, sau nhiều lần chiêm nghiệm tôi mới thật sự biết: Tại sao trước khi dọn ra cúng thì chúng tôi phải đem tất cả các món nấu nướng đựng trong chén, dĩa, tô, tộ xếp từng hàng ngang cho đủ số và hàng dọc theo các món. Sau đó thì mới đem đến nơi cúng chẳng hạn ở bàn thờ Tổ Tiên là 2 mâm; ở bàn nơi bô lão 2 mâm; 1 mâm cho đất đai, bên bộ ván dành riêng cho đàn ông là 3 mâm (cho 3 người thuộc nam đã chết), và bên bộ ván nữ là 4 mâm (cho 4 người nữ đã chết), như vậy vị chi là 12 mâm tất cả. Cũng từ đó tôi hiểu được rằng vì sao số tô tộ, chén dĩa, muỗng đủa để cúng kiến ở nhà Bà Ngoại nhiều mà phải đựng trong một cái chạng lớn như vậy! Cúng cho người đã khuất nhất là với ông bà thì phải kính cẩn, trịnh trọng cho nên dù là trên bàn hay trên bộ ván thì phải có những chiếc chiếu dành riêng cho cúng kiến được trải lên trước khi sắp xếp các món đồ cúng lên trên đó. Người đứng ra cúng thường là đàn ông phải mặc áo dài khăn đóng, có khi là Bà Ngoại tôi trong chiếc áo dài đen của bà “lên đèn” (đốt đèn cháy lên), thắp nhang khấn vái vong linh, cầu vong linh về “hưởng thượng và phù hộ cho con cháu”, rồi tới hàng con, mới đến cháu chắt lạy!

Khi còn nhỏ tôi chỉ nghĩ đến đám giỗ là được ăn đồ ăn, ăn bánh ngoài ra chẳng biết gì về sự cúng kiến trong đám giỗ, nhưng đến khi hiểu ra thì nó là cả một triết lý sống của người dân dù là thôn quê hay thành thị. Rồi càng lớn hơn tôi lại hiểu thêm rằng: Chính đám giỗ tụ tập con cháu trở về chung nhau thường xuyên khiến tình thân, dòng họ được kết nối lâu dài hơn trong nhiều thế hệ. Nếu người nào đó có trí nhớ, thích tò mò tìm hiểu hay được cha mẹ giải thích cặn kẽ về bà con, dòng họ như thế nào thì người ta sẽ có thể giải thích hay cho biết rõ với nhau về gia phả của một gia tộc. Đó cũng là một nét hay!

Tuy nhiên, bên cạnh đó có các điều khiến cho tôi có nhiều suy nghĩ vào những khi tôi được chứng kiến, hoặc trầm ngâm về vài vấn đề trong nhiều đám giỗ đã xảy ra từ trong dòng họ, hay ở một vài gia tộc nào đó. Đám giỗ là cơ hội họp mặt những người thân trong dòng họ, cùng nhau tụ tập về để lo cúng kiến, đồng thời tâm tình sau những ngày bươn chải cho cuộc sống cá nhân và gia đình; bên cạnh những nét đẹp về văn hóa, phong tục ấy thì cũng có vài chuyện bất hòa xảy ra. Trong cuộc sống thì không tránh khỏi những điều không vừa ý nhau, đôi khi các điều ấy lâu ngày không được giải tỏa trở thành những mâu thuẫn, gút mắt của cuộc đời, nên thường sau cái đám giỗ khi ngồi cùng nhau tâm tình thì các điểm mâu thuẫn được nêu lên. Từ chỗ “không ai nhường hay nhịn ai” lẫn “không ai thấy mình sai” cho nên hậu đám giỗ thường có những cuộc “cãi lộn” giải bày các tức tối, ấm ức của mình mà càng lúc càng trở nên gay gắt để rồi lần sau có người nầy mà không có người kia. Điều ấy dù không là thường xuyên hay thường có của mọi đám giỗ, nhưng nó cũng là điều khiến cho người khác phải lưu tâm, rút kinh nghiệm để có thể giữ được hòa khí trong dòng họ.

Ngày tôi có gia đình thì tôi lại chứng kiến thêm một điều khác nữa. Vì vốn dĩ gia đình ba mẹ vợ tôi phải là nơi cúng chính trong họ cho nên có rất nhiều đám giỗ trong năm. Cứ tính trung bình gần như tháng nào cũng có đám giỗ cả lớn lẫn nhỏ. Nghĩ mà thương cho hai ông bà: Tuổi thì tương đối cao, công việc kiếm ra tiền lại vất vả, mà đám giỗ thì liên miên cho nên tôi nghĩ tiền kiếm ra vừa gom góp được chút ít thì đã tới đám giỗ rồi; như vậy làm sao mà có dư để góp vốn cho công việc làm ăn, làm sao mà giàu có được. Ôi! đành phải chịu nghèo khó mãi thôi sao? Thế rồi tôi lại có ý nghĩ hơi ngông: Tại sao người xưa không nghĩ đến chuyện chỉ cần hai đám giỗ trong năm, giỗ đầu cho những ai chết nửa năm trước, giỗ sau dành cho những người chết ở thời gian nửa năm sau, như vậy làm cho người lãnh nhiệm vụ cúng kiến sẽ được “dễ thở” hơn nhiều! Nhưng tập tục đã thành nề nếp thì khó mà thay đổi!

Trong vấn đề đám giỗ tôi lại thấy thêm một vấn đề khác nữa, nó không là vấn đề quan trọng trong ngày xưa, nhưng thời nay lại là chuyện mà chúng ta cần lưu ý. Ngày trước xe cộ ít nên đám giỗ dù thường kéo theo nhậu nhẹt, say sưa chút ít nên dù ai đó có quá say vẫn thoải mái đi về không sợ xảy ra tai nạn chết người. Nhưng ngày nay xe máy khá nhiều, nên có nhiều người đi dự đám giỗ xa, trên đường về chẳng về được đến nhà dù là lỗi ở mình hay ở người. Cá nhân tôi cũng mất vài người bạn từ những nguyên nhân như vậy. Có một lần tôi ngồi chung với mấy người bạn, anh nầy nói chuyện chiều nay tao phải đi đám giỗ, anh kia lại nói tao phải đi đám tân gia và ngày mai lại phải đi đám cưới, vợ tao phải đi đám đầy tháng. Tôi nghe mà lạnh người vì ở Việt Nam người quen đầu làng cuối xóm rất nhiều; bà con nội ngoại hai bên: Bên ba lẫn mẹ, bên chồng lẫn bên vợ không là ít, chưa kể láng giềng hàng xóm mà đám thì “hàng khối đám” từ đám giỗ, đám tân gia, đầy tháng, ăn mừng, đám cưới, nay lại có thêm đám sinh nhật nữa thì có lẽ thời gian “đi đám” chiếm mất cả mọi thời gian của đàn ông rồi, làm sao lấy đâu có thời gian để đi làm kiếm tiền trang trải cho cuộc sống. Tôi mới đùa: Sao tao nghe tụi bây nói toàn là chuyện đi đám nầy đám kia, vậy thì mấy bà phải làm sao? Thằng em chú bác họ với tôi nhanh nhẩu: Thì mấy bà cũng được hai đám: Đám con với đám ruộng! Cả đám chúng tôi cười ồ! Nhưng đó cũng là sự chua chát của một cơ chế xã hội cố hữu của mình, nhất là bây giờ người ta đi đám giỗ cũng đi tiền giống như cho tiền ở một cái đám cưới. Vậy thử hỏi tiền đâu để có dư để người dân trở nên giàu có! Thế cho nên, tôi đành chịu thua!

 

Đồ Ngông,

26/09/2020.

 

 

 


Saturday, September 12, 2020

*Sao Không?

 

Sao không ngẫm nghĩ lại mình

Vì đâu thiên hạ khiếp kinh hãi hùng

Lánh xa như thể cùi phung

Thế mà cứ tưởng ta thương mọi người

Đâu rồi những nụ cười tươi

Nét buồn héo hắt, tìm đường trốn xa

Bao năm cũng lại bỏ nhà

Đến nay vẫn có, người ra bên ngoài

Trăm phương nghìn cách cao bay

Để bầy cú vọ xé tan mảnh đời

Thế nào? Có biết ai ơi!

 

Đồ Ngông,

13/09/2020.

 

 

 


Thursday, September 10, 2020

*Sang Đức. (3)


Máy bay vào yên vị trí, đồng hồ chỉ đúng giờ mà lịch trình đã ấn định; nhưng chúng tôi còn phải trải qua thủ tục nhập cảnh từ nước Nga vào lãnh thổ Liên Minh Châu Âu để bắt đầu cho cuộc đi tới các nước còn lại. Hôm nay được đến vùng mà lúc nhỏ tôi đã đọc nhiều tin tức về nó qua sự “đọc ké" các tờ báo của nhà Cậu Ba Hưng, nhà sát vách với nhà ba má tôi. Nói đến đây khiến tôi nhớ đến chuyện từng bị thi rớt trong vài cuộc thi từ học bỗng ở lớp 3 đến lớp Đệ Thất của trường Trung học Trịnh Hoài Đức cũng vì những bài luận tương đối được xem là “lạc đề” do ảnh hưởng “hơi hướng” từ các tờ báo ấy, mặc dù Thầy Cô rất tin tưởng vào việc học của tôi. Có lẽ do vậy nên ngày nay tôi lại “được dịp viết” về những chuyện tào lao chăng? Tôi viết lan man nhiều vấn đề “không được định hướng”, chỉ là “buông lung” theo các đề tài “đụng đâu viết đấy” nhằm mua vui cho chính mình cùng độc giả!

Phi trường Schonefeld.


Đường từ trong phi trường ra đến ngoài chỗ đậu xe buýt khá xa, nên chuyện di chuyển các vali hành lý khá vất vả. Trong lúc đợi tài xế chất hành lý vào khoang xe, tôi lấy máy chụp và quay vài hình ảnh về phi trường nầy để làm kỷ niệm “Flughafen Berlin – Schonefeld”. Đoàn di chuyển đi vào lúc 11 giờ, như vậy qua các thủ tục chúng tôi chỉ tốn hơn 1 tiếng đồng hồ, được xem là gọn và nhanh. Bernard và Jennifer dẫn đoàn làm tôi cảm thấy như thiếu thốn một cái gì đó. À! Thì ra thiếu một người thứ ba như đã từng ở Moscow hay Saint Peterburg. Xe qua những con đường có bảng hướng dẫn bằng các mẫu tự Latin xem dễ chịu hơn là những mẫu tự Nga lúc trước (mà tôi chẳng đọc được gì lại càng thấy tối tăm mặt mày) mặc dù với chữ Đức tôi cũng chẳng biết được chữ nào! Cái khung cảnh bên ngoài thôn quê hay trên đường đi nầy cũng không khác lắm với bên Nga, chỉ có điều là thiếu các cây bạch dương. Xe dần đi vào trong Thành phố mà Bernard giới thiệu đây là khu thuộc Đông Đức hay là đã vào vùng Đông Bá linh trước kia. Tôi cố tìm sự khác biệt nhưng chỉ thấy một sự êm ả, hơi vắng lặng một chút thôi hay là bây giờ hãy còn sớm đối với Thành phố nầy! Đặc biệt là những đèn giao thông có hình dáng người đi ở đèn xanh và người đứng lại ở đèn đỏ. Bernard cho biết đó là cái đặc biệt của vùng Đông Bá Linh, cứ nhìn vào đèn lưu thông ấy thì sẽ biết đâu là Đông và đâu là Tây Bá Linh trước kia. Mặc dù sau nhiều năm đã xóa bỏ ranh giới và thống nhất, người ta vẫn giữ lại như là những chứng tích cùng kỷ niệm của một thời ở Thủ đô nầy. Xe đi qua chiếc cầu mà trên sông phía tay trái có tượng mấy người bằng kim loại được dựng ở đó trông lạ mắt và Bernard cho biết là tượng Molecule Man. Vừa khỏi cầu xe quẹo trái, rồi đi một đoạn khá xa qua một số vách tường cao trên đó có các tranh vẽ của những họa sĩ đường phố. Tôi không thấy các tranh ấy đẹp mà có vẽ “dơ dáy, mất thẩm mỹ” hơn là tài nghệ của họ. Chắc quan niệm của tôi quá hẹp hòi, cổ lỗ khi tôi thấy các nét vẽ nguệch ngoạc, những chữ không ra gì được tay nghề tập sự, bậy bạ trên các nét đẹp đẽ, tinh khôi ở các công trình mà người ta cố làm đẹp cho công chúng chiêm ngưỡng. Còn những họa sĩ lão luyện sao không tạo thành tích gì cho chính mình mà phải mượn cái vách nhà, vách phố, hàng rào, hay những công trình công cộng mà “phóng uế” lên đó. Hiện tượng hay phong trào đó không phải chỉ có ở những đất nước kém cỏi mà cũng phát triển mạnh ở các quốc gia được gọi là phát triển: Không biết đó là nghệ thuật hay là sự phá phách của tuổi trẻ trong thời gian phát triển với một năng lực bùng nổ trong một cơ thể đang bừng dậy! Xe đậu vào một khoảng đường ngắn và kế bên người ta đang xây dựng một công trình gì đó và bên kia là văn phòng của hãng xe BMW. Bernard cho biết là sẽ dẫn chúng tôi tham quan East Side Gallery nằm trên đường Muhlenstrasse. Thì ra các đoạn tường có hình vẽ lại chính là các đoạn của bức tường Bá Linh còn giữ lại như là chứng tích bảo tàng của một thời ngăn cách của Thủ đô nầy qua hai chế độ Tự Do và Cộng Sản. Bây giờ khoảng 12 giờ trưa. Du khách đến đây cũng nhiều, người ta chú ý đến vách tường hơn là những hình vẽ. Bức tường bằng bê tông cao chắc hơn 3 thước, bề dầy khoảng gang tay, đoạn nầy nằm cạnh bờ sông mà bên bờ bên kia là Tây Bá Linh ngày trước, nếu tôi nhớ không lầm thì bức tường nầy trước kia được gọi là “Bức tường ô nhục” của Thành phố Bá Linh! Tất nhiên du khách đến đây là để ngắm nhìn, xem xét, chụp hình cái công trình lẫn suy ngẫm về cái thời đã qua của Đông Đức và Đông Bá Linh. Theo bảng chi tiết ghi nhớ thì bức tường được dựng lên từ năm 1961 và coi như “sụp đổ” vào tháng tháng 11 năm 1989 để chấm dứt vai trò của nó trong lịch sử và đánh dấu nước Đức thống nhất sau đó, tương đối gọi là hòa bình chứ không bằng chiến tranh “tàn khốc”, và khác hơn nữa là nước Đức trở thành nước “Tự Do” chứ không phải là “Cộng Sản” như ở Việt Nam! Còn một nước thứ ba chia đôi mãi đến tận ngày nay chưa đi tới đâu đó là nước Triều Tiên (tên cũ ngày xưa là Cao Ly) mà phía Nam gọi là Đại Hàn và phía Bắc được gọi là Bắc Triều Tiên!

Bức tường Bá Linh.

Bức tường Bá Linh.

Thế rồi đang trong lúc tôi còn ôn về những ký ức của thời bé thơ thì xe đã ngừng lại bên lề đường và chúng tôi phải xuống xe đi bộ, nhìn lại đồng hồ thì đã là hơn 12 giờ 30. Chúng tôi đi ăn trưa ở một nhà hàng Tàu (Ming Dynastie) trong khu vực nầy mà đoàn người đã đi ngang qua tòa Đại Sứ Trung Quốc ở một góc đường.

Sau khoảng một tiếng đồng hồ ăn trưa đoàn quay trở lại xe để tiếp tục cuộc hành trình trong ngày, lúc nầy chúng tôi có thêm sự hướng dẫn của một Bà phụ lực với Bernard để đưa chúng tôi đi. Xe di chuyển vòng trong Thành phố và bà Hướng Dẫn thuyết minh những nơi mà chúng tôi đi qua như St.Nicolas’ Church, Nhà thờ lớn Berlin (Berliner Dom), Tháp Truyền Hình cao 368 m có nhà hàng xoay ở độ 207 m, City Hall, Berlin Palace, Đại Học Humbold… Đến khoảng 2 giờ 30 thì chúng tôi lại được xuống xe để đi tham quan ở một nơi khác. Thì ra tôi đã hiểu rồi, không như ngày trước trong một tour Tây Âu khi đoàn vừa tới phi trường Hòa lan thì có người hướng dẫn đã đón từ ngay phi trường cùng xe buýt để đoàn nhập ngay vào tour với sự hướng dẫn lẫn thuyết minh của anh chàng dẫn tour người Singapore làm việc cho công ty cũng người Hoa ở Luôn Đôn trong suốt chuyến. Lần nầy, có thay đổi như tôi đã thấy, Bernard đón đoàn chúng tôi từ phi trường Domodedovo ở Nga, nhưng sau đó thì có người Hướng Dẫn Viên địa phương phụ giúp Bernard để đưa đoàn đi tham quan các nơi cũng như thuyết minh cho chúng tôi những gì của địa phương hay Thành phố mà chúng tôi nên biết, mặc dù chúng tôi không hiểu nhiều do vấn đề ngôn ngữ yếu kém của mình lẫn lo nhìn, quan sát, quay phim, chụp hình hay lơ đãng chẳng chú tâm. Tất nhiên người Hướng Dẫn lần nầy là người Đức, giỏi Tiếng Anh để có thể giải thích, giới thiệu những gì cho du khách biết. Có lẽ Bà làm cho một hãng du lịch nào đó ở Thành phố Berlin nầy mà công ty của anh Chánh lẫn công ty của Bernard ăn chịu với nhau.

Bà đưa chúng tôi xuống một đường hầm, đi vào một phòng trong đó có màn ảnh và mở màn ảnh để giới thiệu những thông tin trong lịch sử qua đoạn vidéo về bức tường được gọi là “ô nhục” nầy. Đến nay tôi mới thấy được rõ ràng về những hình ảnh, chứ trong quá khứ dù tôi cũng được đọc chút ít trên báo chí hay nghe người lớn “bàn tán” về nó khá nhiều. Đại khái nước Đức bị chia đôi sau Thế Chiến Thứ Hai với sự sụp đổ của Hitler và chế độ Phát Xít thành Đông Đức và Tây Đức, nhưng Thủ Đô cũng lại chia đôi nhưng Tây Bá Linh lại nằm hẳn trong phần Đông Đức. Nó được giao thương với Tây Đức qua giao lộ trên đất liền băng qua lãnh thổ Đông Đức, nên có nhiều rắc rối xảy ra. Nga và Chính quyền Đông Đức nhiều lúc lại chặn tuyến đường bộ, cô lập Tây Bá Linh khiến Mỹ, Anh và Pháp lập cầu không vận để tiếp tế cho phần Tây Bá Linh. Và vì do sự kiểm soát hà khắc của chế độ, người dân Đông Đức cùng đào thoát với dân Đông Bá Linh để tìm một sự sống thoải mái hơn ở phần phía Tây. Theo tài liệu thì có khoảng 2 triệu 6 rời bỏ khu vực và khoảng 5,000 người vượt bức tường trong đó có chừng 86 đến 200 người đã chết! Điều nầy khiến tôi lại nhớ về thân phận của chúng tôi cũng như người dân của nhiều nước khác mà chúng tôi đã gặp nhau trên xứ lạ quê người như Ba lan, Nga, Tân Cương, Tàu, Lào, Kampuchia, kể cả vài quốc gia ở Trung Mỹ.

Brandenburg Tor.


Sau khi khái quát về hình ảnh của video, Bà hướng dẫn đoàn đi lên đường hầm qua các bậc thềm. Khoảng trống phía trước là quảng trường rộng, phía xa kia là cái cổng tượng trưng cho Thành Phố Berlin có tên là Brandenburg Tor. Đứng ở quảng trường nầy tôi lại hình dung về hình ảnh của quân đội Hitler rầm rộ trong các cuốn phim tài liệu được làm về Chế độ của ông ta cùng trận Đệ Nhị Thế Chiến. Chúng tôi được ha hồ quan sát, chụp hình, quay phim nơi đây khoảng 15 phút. Một điều thú vị là trong khoảnh khắc nầy lại có một người đàn ông trần truồng đứng khoe mình trên một khung cao gần cổng. Tôi cũng từng thấy những bức điêu khắc khỏa thân lộ thiên được trưng bày vài nơi vừa của đàn bà lẫn đàn ông để làm cảnh đẹp, hay nghệ thuật cho địa phương, nhưng hôm nay là hình ảnh sống động của một con người. Ở xứ Tây người ta thoải mái, không bị gò bó, họ thích làm những gì họ muốn. Cũng may hình ảnh ấy không được vào hình ảnh đẹp lưu niệm của bọn chúng tôi, nhưng trong clip vidéo thì tất nhiên là hẳn có rồi!

Sau gần nửa tiếng đồng hồ, đoàn chúng tôi lại lần lượt kéo nhau lên xe buýt trở lại để tiếp tục cuộc hành trình trong city của Thành Phố Berlin như là một chuyến “City Tour”.

 

Nguyên Thảo,

06/09/2020.

 

 

  


* Quê Người! (35)

 

Thế là, trong những giờ rỗi rảnh tôi thường lấy xe của Thành ra phía sân cỏ sau nhà mà tập nổ, tắt máy; đạp ămbada, vô số, trả số, đạp thắng nguội tức là trong lúc không nổ máy cho nhuần nhuyễn, đến khi tay chân không còn bị lướng vướng mới thôi, vì những điều kiện đó là tiên quyết. Giống như ngày xưa khi mới bắt đầu học lái xe gắn máy tôi đã dùng phương pháp ấy để học. Huynh, Trí đến chơi nói mình tập xe số tay thì có phần vất vả hơn xe tự động nhiều, nhưng nó có thuận lợi về sau là nếu mình phải đi làm trên núi thì xe mạnh và bền, không yếu nhanh như xe tự động. Với xe tự động vì không phải bận rộn chuyện ămbada, đạp thắng, sang số nên việc tập sẽ có nhiều đơn giản. Tôi ráng tập không lâu thì đã có thể điều khiển xe chạy tới hoặc lui lại tương đối không gặp trở ngại nào. Có lẽ do tôi thường xuyên nổ máy xe khiến ông chủ nhà của chúng tôi ở phía sau nghe lạ nên ông nhìn qua thấy và ông khuyến khích: Ừ! Thì mầy cứ tập đi, cỏ có chết cũng không sao, tao sẽ cho nước mầy tưới để cho nó lên, tao có một “bore” (giếng đóng) ở phía sau nhà. Từ đó tôi mạnh dạn hơn trong việc tập lái bằng xe của Thành mà không phải đụng đến xe Trọng, tuy vậy khi đi ra ngoài tập lái trên đường thì vẫn là xe của Trọng.

Lớp học Tiếng Anh đã đi vào kết thúc, chị Hương và Bác Vỹ, bác Phương cùng nhiều người đồng ý tổ chức tiệc mãn khóa ở nhà chị gần nhà tôi đang ở. Ngày chia tay chúng tôi hùn tiền lại mua một bộ đồ trà lưu niệm cho Thầy Paul. Sau khóa học nầy trung tâm Pennington không còn lớp chính thức ở đó nữa, nếu ai muốn học tiếp thì phải ra ngoài Trung Tâm Rundle Mall của Thành phố Adelaide. Riêng tôi thì chưa tính là học thêm hay không vì nhu cầu về tiền bạc mới là chuyện chính yếu. Tôi cũng cần có tiền cho mình lẫn cho gia đình nữa, mà về năng khiếu ngôn ngữ mình đã không có, thì học nhiều chắc tiến bộ chẳng được bao nhiêu, nên tôi lưỡng lự trong con đường học để làm thông dịch. Trong ngày tiệc tôi hỏi Thầy Paul tại sao Tiểu bang Nam Úc nầy được gọi là Tiểu bang Lễ Hội (Festival State) thì Thầy cho biết là mỗi tiểu bang tự chọn một Danh hiệu tiêu biểu đặt cho Tiểu bang của mình như: Tiểu Bang New South Wales là Tiểu bang đầu tiên họ lấy là Premier State; còn Victoria là Garden State; Nam Úc chắc có nhiều Lễ Hội, và người già thích về đây sống nhiều do không gian yên tĩnh, không náo nhiệt, nên họ chọn là Festival State; giống như Queenland đã chọn là Sunshine State bởi nơi đó nhiều nắng ấm. Từ những giải thích ấy tôi lại nhớ về Cô Giang là cô nàng mà tôi đã gặp bên trại Tị nạn Sungai Besi (cô cùng chung list về Adelaide với tôi và sau mấy ngày làm làm thủ tục giấy tờ xong thì cô đã chuyển về Sydney với người thân) đã nói lúc trước: “Mấy ông về Adelaide giống như đi vào viện dưỡng lão”. Thì ra bây giờ tôi mới hiểu rõ điều cô nói là vì lý do như vậy, giống như có vài người đã so sánh Sydney tương tự Sài Gòn, còn Adelaide như là Thành phố Cần Thơ của Việt Nam. Chứ từ ngày đến Thành Phố Adelaide nầy tôi đâu thấy nó có toàn là người già, nó đâu “quê mùa” đâu. Đối với người dân ở trong quê, làng xã như tôi từ trước thì Adelaide nầy là Thành phố quá đi chứ, có thể là nó không náo nhiệt, năng động giống những Thành Phố đông dân khác như ở Sydney hay Melbourne. Và tôi cũng đã nghe nói ở những thành phố đông dân đó, nhiều người Việt mình lo chạy theo cuộc sống, việc làm nên con cái đã vướng vào nhiều tệ nạn, khiến cho các bậc cha mẹ phải đau đầu, vì thế có nhiều người đã phải chuyển về Thành Phố Adelaide nầy để sinh sống. Điều nầy khiến cho tôi phải có nhiều suy tư, trong khi Trọng lại muốn sau nầy nó sẽ lên Thành Phố Sydney và Thành thì lại muốn đến Melbourne, tôi nghĩ có lẽ tôi phải chọn Thành phố nầy mãi khi vợ con đến rồi sẽ tính sau.

Nhưng chuyện trước mắt là tôi phải cố gắng tập lái xe cái đã, vì ở xứ nầy phương tiện đi lại không phải là chiếc xe đạp hay gắn máy, mà là một chiếc xe hơi. Với xe hơi thì phải tốn nhiều thứ tiền: Vừa xe, vừa xăng, bảo hiểm, thuế đường, bão trì, sửa xe… Cho nên tôi ráng với sự giúp đỡ của Trọng.

Trong khoảng thời gian nầy Trọng cũng đang rỗi rảnh vì công việc làm trên núi đã hết, nên Trọng tập cho tôi lái xe thường xuyên hơn. Còn Thành thì phải đợi cuối tuần vì nó bận đi làm hãng tiện gần City. Cái khó của tập lái xe là “de cọc”. Điều nầy khiến cho tôi phải về nhà tập de nhiều hơn ở sân sau nhà bằng xe của Thành. Tôi de đến đỗi cỏ trên sân chết khá nhiều. Một hôm ông chủ nhà qua chơi thấy như vậy ông cười và kéo dây từ giếng nước của ông qua tưới, nhưng khi tay bị ướt và tôi lại quẹt qua miệng thì nước mặn như là nước biển, thế là đành ngưng không tưới nữa.

Lần nọ sau lần tập lái, Trọng nói: “Tao thấy mầy thi lấy bằng được rồi, thôi để tao chở mầy đi ‘book’ ngày thi luôn”. Tôi chần chờ: “Tao nghĩ để từ từ thêm vài ngày nữa”, nhưng Trọng nói tới đó là vừa, thế là tôi phải nghe theo Trọng. Trọng nghĩ là nó đang rảnh có thể giúp tôi nhanh hơn để sau đó tới thằng Thành. Tới ngày, Trọng đưa tôi đến chỗ đăng bộ xe để thi. Cũng may tôi đã vượt qua được kỳ khảo thí đó, nắm trong tay bằng tạm đợi chờ bằng chính thức gởi về, tôi cảm thấy mình qua được một cửa ải khác ở trên quê người! Bây giờ tôi phải dần dần sắm một chiếc xe, từ nay tôi tạm sử dụng xe của thằng Thành. Một mai nó lấy bằng P xong thì tôi trả xe lại cho nó! Và trong thời gian nầy tôi không còn dự khóa học Anh Văn toàn thời nữa, mà chỉ ghi học ở một lớp đêm ở đằng The Parks Community. Lớp chỉ hai đêm trong tuần. Thế là từ nay chúng tôi gồm Bác Vỹ, Bác Phương, Kim, Liêm, Phương, Huệ, chú Nhiệm, Mẫn, Tú Lâm mỗi người mỗi ngã để mình tự lo cho cuộc sống, ít khi gặp lại nhau! Kể cả những người chung list học Anh Văn lớp bên kia là lớp của Thành. Rồi Thành cũng book thi bằng P và đã đậu, nhưng khi đi làm nó vẫn còn muốn đi xe đạp nên tôi chưa gấp gáp để mua xe, vì thế tôi cố gắng gom góp mua thêm vài món đồ để gởi về cho gia đình cùng đợt với Trọng, chị Yến lẫn Thành. Thành gởi về cho ba má, còn tôi gởi về cho vợ con. Hi vọng với chút quà ấy giúp cho gia đình đỡ túng bấn trong hoàn cảnh kinh tế ngặt nghèo trong thời Xã Hội Chủ Nghĩa.

Từ ngày có được bằng P, tôi và Thành tương đối rộng đường hơn, khi muốn đi đâu thì không phải tốn nhiều thời gian để đón xe buýt hay Trọng chỡ đi, không bị lệ thuộc vào thời tiết nóng hay lạnh. Theo những người tới trước thì thường khi có người quen nên họ thường rủ nhau chơi “hụi” nói theo tiếng miền Nam hoặc “họ” theo ngôn ngữ miền Bắc mỗi tháng 100 đô hay là 200, nhằm góp vốn để khi nào cần thì người ta “hốt” mà mua xe tương đối khá hơn để đi làm. Trọng có nêu ý kiến nhưng tôi chưa có ý định vì mình còn cần chi vài vấn đề cần thiết và nhất là gấp rút chi cho gia đình trong thời gian đầu khá vững vàng rồi sẽ tính sau.

Có chuyện khá tức cười là chuyện đi hớt tóc. Từ ngày ở trên đảo đa số thường không có tiền nên người ta thường giúp nhau để cắt tóc coi cho được, chỉ cần một cái dao lam và cái lược là người ta có thể xén tóc dùm cho nhau. Lúc đó tôi may mắn được ở chung với vợ chồng Anh Thành, chị Dung ngày xưa họ ở Sài Gòn làm cho tiệm Thanh Thảo nào đó thương tình mà cắt dùm đôi lần dù tôi không dám nhờ. Rồi tôi rời đảo trước họ khi sang Besi thì trở lại con đường xưa là mấy đứa giúp nhau bằng cái dao lam, thì sang đến cái xứ Úc nầy vì không rành chuyện gì cả nên tự mình mua dao lam và cái kẹp có bán sẵn ở siêu thị về mà tự cắt qua cái gương. Tất nhiên là chỗ nhiều chỗ ít không giống ai, thế mà cũng chẳng có ai chê. Cứ thế mà làm! Đến một hôm Trọng chở chị Yến đi uốn tóc ở đằng tiệm ông Xuân nào đó, thấy người ta hớt tóc cho nam cũng được, Trọng rủ tôi đi. Hớt xong hai đứa về nhìn nhau cứ cười! Cũng may là tóc của tôi dù nhiều, mau ra; nhưng càng lớn thì nó ra chậm lại nên không cần mười bữa nửa tháng phải hớt giống như thời còn con nít. Không ngờ ở Việt Nam cái nghề hớt tóc không kiếm được nhiều tiền, vậy mà ở xứ người làm nghề hớt tóc tương đối gọi là khá giả và nhàn nhã nữa! Thực là “tréo cẳng ngỗng”! Cũng vậy ở xứ mình rau muống, ổi, xoài, … muối mắm thì rẽ, nhưng sang xứ nầy thì chúng lại mắc; còn táo, lê, nho thì rẽ. Nói chung những sản phẩm nhiệt đới trở nên mắc mỏ và sản phẩm vùng ôn đới thì rẽ. Điều ngộ nhất là người Việt của mình: Ở trong nước thì thích tìm đồ ngoại để xài, nhưng khi ra ngoài nầy thì lại tìm hàng trong nước. Không biết đó là sở thích, lập dị hay do “lòng yêu nước”, hoặc là tinh thần “hướng ngoại”? Tôi cũng không đoán ra được, thôi đành chịu thua!

Ngày nọ, tôi đi đến nhà bạn chơi vừa về Trọng cho hay là dưới Port Adelaide Community gởi thư báo là tuần tới sẽ đi học khoá “fork lift” vì khóa có đủ người, và nó cũng cho hay là sáng nay nó đã đi nộp đơn xin việc trên hãng xe hơi Holden rồi, vì theo ý nó làm trên núi công việc chỉ theo mùa như trong thời gian nầy không có bao nhiêu công việc, làm bữa có bữa không, không có bao nhiêu tiền, thôi thì đi kiếm công việc ổn định hơn!

Một tuần qua mau thật! Thoáng chốc thì đã tới ngày đi học fork lift. Trước tiên Trọng chỡ tôi xuống văn phòng Trung tâm Cộng Đồng Port Adelaide, tất cả học viên đều tập trung ở đó, gồm có 8 người với 5 người từ các sắc dân khác và Trọng, tôi với Hòa. Hòa có quen với Trọng. Sau khi nhân viên văn phòng giới thiệu Thầy dạy và bàn giao học viên xong thì Thầy dẫn chúng tôi đi tới một kho hàng ở bến tàu gần đó với hai chiếc fork lift. Thầy hướng dẫn hai đội, mỗi đội gồm 4 người luân phiên sử dụng một chiếc fork lift. Tất nhiên trong đội Trọng, tôi, Hòa thì Trọng là người chủ yếu vì khá Tiếng Anh, Trọng giải thích lại những gì mà tôi, Hòa không hiểu rõ. Đó là cái cách mà chúng tôi làm trên đất khách quê người. Trừ những trường hợp tiếp xúc cá nhân thì phải cố gắng nghe và hiểu khi tiếp xúc với người Úc hay sắc dân khác bằng Tiếng Anh, còn những trường hợp đi đông thì ráng cùng nhau nghe để hiểu, mỗi người nghe một ít, ai hiểu được nhiều thì giải thích lại cho người hiểu ít để làm đúng công việc được giao. Chuyện học ngoại ngữ không dễ dàng gì, trong một câu chỉ không hiểu được một chữ cũng khiến cho mình khó có thể hiểu được toàn nghĩa của nó, mà tôi lại không có trí nhớ tốt, không có khiếu thì việc học lại càng khó khăn hơn. Qua một ngày, chúng tôi cũng tạm gọi là hiểu về cơ bản cách điều khiển một chiếc fork lift. Sang ngày thứ hai thực hành nhiều hơn: Chạy tới, chạy lui, cách tới để lấy hàng, nâng lên, để xuống sao cho an toàn. Xong ngày về nhà Trọng nhận thư báo của hãng xe Holden nhận đi làm, kêu lên hãng để làm thủ tục và nhận đồ chuẩn bị đi làm. Thế là trong toán 4 người bây giờ chỉ còn 3. Hòa chở tôi đi trong những ngày còn lại. Vào ngày chót nhằm ngày thứ sáu, Thầy đưa cho Hòa và tôi những câu hỏi kêu chúng tôi về nhà làm và trong tuần sau lúc nào đem nộp cũng được. Trọng cũng bắt đầu đi làm vào tuần sau với nhiệm vụ là thợ sơn ở phân xưởng sơn cho xe của hãng Holden.

 

Nguyên Thảo,

16/08/2020.