Saturday, June 17, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (18)

 

Lộ trình đi mới nầy có xa thêm đôi chút nhưng tình hình chiến tranh chưa ảnh hưởng đến mấy, bởi do nó là con đường thô sơ, không được sửa chữa sau thời chiến tranh chống Pháp. Thực ra, theo dấu vết cũ ngày xưa con đường cũng được Thực dân Pháp làm tương đối hoàn chỉnh, con đường cũng được đổ cát đá làm nền, đổ đá đỏ lên trên khá rộng. Nhưng có lẽ trong thời gian chống Pháp đường bị phá hư để cản bước tiến các cuộc hành quân của quân lính thực dân, rồi trong mùa mưa lại bị xói mòn nhiều hơn. Sau hòa bình chỉ sửa chữa ở mấy khu có khu dân cư, còn phần băng ruộng qua Khánh Vân không có sửa mà người ta phải đi trên những bờ ruộng lẫn những khoảng đường loang lỗ còn lại. Có hai cầu bị phá hư là cầu Vũng, và cầu Suối Cái, cầu bên Suối Cái nằm dưới suối, sau người dân tìm cách lấy sắt để làm vật dụng hay bán đi. Còn khung sắt bên Cầu Vũng hãy còn chút ít nằm trên khoảng đường đá đỏ còn sót lại. Để tiện việc đi tới lui, người dân làm hai cầu khỉ, bằng hai nửa thân cây dầu cưa đôi nối với nhau. Trên có dàn cây tầm vông để làm tay vịn khi qua cầu. Tất nhiên chúng tôi phải canh thời gian để đi đến trường cho đúng giờ, vì vậy phải đi sớm hơn khá nhiều. Vì đi đám đông nên cũng có nhiều thích thú đôi khi quên hết mệt nhọc, mà lắm lúc lại trở nên vui hơn vì có những chuyện đáng tức cười! Đôi khi nó cũng trở thành cái khó chịu!

Quý vị đã biết đám con nít thường năng động, nhất là tuổi đang lớn thì cũng có nhiều cái “dị kỳ”, người ta nói cái tuổi háo thắng, bồng bột cũng chẳng sai. Đoàn đi đến đâu thì thường nói chuyện ồn ào, lớn tiếng, nói rất nhiều vấn đề giống như một đàn ong đang bay vang tiếng khắp đường. Có lẽ vì vậy mà những nhà ở gần đường không thích mấy. Không biết họ có nói gì không, mà những đứa chăn bò thường hay làm những chuyện mà đám học trò chúng tôi phải phản ứng! Lần đầu tiên khi đám chúng tôi đang cưỡi xe lên dốc sõi bìa xóm Khánh Vân thì bị tụi nó “giựt mìn” bằng cách cột dây vào một trái dưa khô hư để ngang đưòng, chúng tôi không để ý, khi đạp xe ngang qua thì nó giựt dây nghe một cái rột, trái dừa ngang qua xe thằng Huệ, may là nó đi dưới bàn đạp nên không hề hấn gì. Vì bận đi học nên đoàn không có phản ứng. Lần sau nó lấy gai tre đặt dọc theo đường xe đạp lấp đất lại theo kiểu “hầm chông” may mắn chẳng có xe nào bị lủng. Từ đó trong bọn chúng tôi đã để ý đến những đứa đó. Theo như Quý vị biết học trò trong quê thì nó cũng vốn xuất thân từ nhà nông là đa số, tất nhiên chúng có thể cũng đã là “chăn bò, cắt cỏ” thì không lạ gì với những đứa đó. Thế có hôm chúng lại xách dàn thung bắn tới, nhưng còn ngán như thế nào đó mà không dám bắn trúng. Như vậy chúng nó muốn tăng lên độ “phục kích”. Mấy ngày sau khi đi học chúng tôi cũng phải thủ đủ món chơi với tụi nó. Bị bao vây và đuổi bò tụi nó chạy đi xa, do vậy mà về sau nó không dám nữa, vì đón bò tất là không thể đi xa với mấy con bò, nếu chúng tôi đuổi mấy con bò xa chừng nào thì nó lại mệt chừng nấy, không khéo bò ăn lúa hay phá đồ của người ta thì lại càng khó khăn hơn. Vả lại, chúng tôi cũng có ba con bên Khánh Vân nầy. Đó là chuyện xung quanh trên đoạn đường Khánh Vân. Có một hôm đi học về qua khoảng ruộng thì đến bìa xóm Phước Lộc gặp một đoàn dân đi rất đông. Không hiểu chuyện gì, hồi lâu mới biết là lính ở đâu bên Hóa Nhựt chuyển đồn sang Khánh Vân thì phải, nhưng mấy ông lính ấy bắt dân chuyển đạn và vật dụng đi thành đoàn rất đông như thế đó để đi qua vùng mất an ninh. Khi đoàn chấm dứt chúng tôi đứng nhìn theo hồi lâu. Lúc ấy có vài tiếng súng nổ và đạn bay trúng mấy cây dừa trong xóm, hoảng hồn bọn tôi vội lên xe cưỡi đi về không còn đứng lóng nhóng nơi đó nữa!

Tình hình chiến sự càng ngày càng tăng tiến lên có hôm có máy bay oanh tạc phía trên Tân Uyên mà ở tại trường học chúng tôi nghe được đạn nổ và trực thăng vần vũ không xa lắm, rồi thỉnh thoảng đại bác ở quận lại bắn đi, ngoài đại bác 105 li, bây giờ có thêm 155 li nữa. Sau mấy ngày có nghe người ta nói đó là cuộc hành quân tiến vào chiến khu D. Nhìn hướng thì rất xa hơn vùng Đất Cuốc rất nhiều. Trên đoạn đường đi học từ Tân Khánh băng qua cánh đồng Phước Lộc đến Khánh Vân, băng thêm đồng ruộng để ra Ngã ba Bình Chánh rồi lên đồi dốc đồi cao nơi có cái nhà sàn cất trên gần đỉnh đồi mà chúng tôi thường gọi nó là “nhà cao cẳng”. Từ đầu dốc nầy đến khi đổ dốc tới ngã ba Bình Hóa là đoạn đường mà chúng tôi e sợ nhất, vì đoạn nầy hay bị “giựt mìn” và đụng độ nhau mặc dù nơi đây có một cái lò chén khá lớn! Và cũng trên đoạn đường nầy chúng tôi thường gặp một ông Giáo già từ trên Tân Uyên xuống dạy ở Trường Bình Chánh. Chúng tôi dở nón chào ông, ông cũng ở nón chào lại giống như phong cách lịch lãm mà chúng tôi đã thấy trong những sách cũ đã dạy hay nói tới. Sự bất ổn nhiều hơn khi báo chí đăng ở Sài Gòn có vụ hai máy bay bỏ bom Dinh Độc Lập làm hư hại khá nhiều, và trên đường đi học thường hay gặp những toán lính hành quân, nhưng bọn học trò chúng tôi cũng không bị làm khó dễ. Có hôm xe hơi của trại cùi Bến Sắn trục trặc giữa đường nước như thế nao đó, mà đã nhờ đến Huệ, Son và tôi chạy vào trong ấy báo tin cho người trong trại biết để có thể ra mà giúp đưa về, may là lúc chúng tôi đi học về nên có thể giúp cho chuyện ấy. Đi đường trên những cánh đồng có nhiều cái thú vị theo từng mùa, như mùa mưa thì phải lo chuẩn bị áo mưa hay những tấm nilông sẵn sàng. Rủi gặp những trận mưa thình lình, một là đụt mưa, hay là phải đội mưa mà đi, cưỡi xe đạp nhanh trong mưa vừa nghe gió, vừa mưa lạnh run phải cố gắng trong ca hát to để cho mình nghe được ấm hơn. Rồi những ngày mùa Thu, có gió heo may, sương lành lạnh, thấm ướt mặt mày, nhìn trên cánh đồng chỉ thấy mờ mờ hình ảnh của người đi chợ hay ra đồng. Có hôm giờ học hơi trễ, khi qua Cầu Vũng Huệ đi trước, rồi Son mới tới tôi. Đi tới giữa cầu. Huệ tự dưng đứng lại. Son hối đi, Huệ nói: “Không được, không được”. Vừa thúc, vừa la: “Gì mà không được! Đâu có gì mà không được”. Huệ trả lời: “Không được, không được, cầu chạy, cầu chạy!”. Tôi và Son cười: “Cầu chạy đâu mà chạy, thôi đi đi”. Nói thế chứ cũng đợi Huệ bình tĩnh lần qua cầu. Quả thật, gió hiu hiu thổi mặt nước lăn tăn gợn sóng chạy về phía sau, nếu mình nhìn xuống kỹ hơn thì giống như cầu chạy thật. Có lẽ Huệ lớn con, cao quá nên nhìn xuống mặt nước thấy hơi sâu, rồi sóng gợn nữa nên có cảm tưởng như vậy; cũng như lúc trước đi đường Tân Long khi các cầu bị đốt cháy, người ta phải lật đà sắt nằm ngang để dễ đi, Huệ cao quá nên nhìn xuống hố thấy sâu quá không dám đi mà phải bò. Cao quá cũng dở, mà lùn như tôi cũng không xong. Ôi mỗi người có một thân thể khác nhau, rồi cái nhìn cũng khác nhau! Rồi cũng trên con đường nầy có mấy lần đi theo vài câu chuyện nữa, sau đó chúng tôi đành từ giã con đường qua vũng, suối nầy để đi con đường mới. Vốn là một lần Phụng bỏ anh em chạy về trước. Khi chúng tôi đi tới thì Phụng vừa đẩy xe vừa khóc, thì ra xe Phụng đã cán gai tre mà nhóm chăn bò gài bẩy ngang đường. Rốt cuộc một đứa phải cưỡi xe vừa dắt xe đạp cho Phụng, và đứa khác phải chở Phụng trên ba-ga ở đàng sau. Rồi lại một lần nữa, không biết Phụng có gây thù hiềm gì với mấy người bạn ở khu Khánh Vân nầy không, mà Lập khi về trước đã cùng với mấy người bạn đón đường Phụng đánh trong khi cả đoàn còn mãi tuốt đàng sau. Khi đoàn tới thì chuyện đã rồi, rốt cuộc tìm cách giải hòa để cho anh em vui vẻ với nhau. Đó là những chuyện trên con đường cũ vì trước đó cả mấy tháng trời lính yểm trợ giữ an ninh để cho đoàn Công binh làm đường mới từ Dĩ An băng qua An Phú, rồi Ngã Ba Nhà Thơ thuộc xã Bình Chuẩn, qua Phước Hải, Hố Đá, Phước Lương để qua phía bên Khánh Vân gần đình. Khi con đường làm tới Khánh Vân, có cầu qua Suối Cái thuận lợi, thì chúng tôi không còn đi đường qua đồng ruộng Phước Lộc mà chỉ qua lò rèn ông Mân thì chúng tôi rẽ qua phải đi ra Gò Sở để ra tới đường mới, nó tiện hơn nhiều. Và từ đó không có chuyện gì xảy ra nữa đối với khu xóm Khánh Vân dù đối với bạn bè hay với nhóm chăn bò, và Huệ cũng chẳng bao giờ nói đến cầu chạy nữa! Khi đoàn làm đường đó làm qua khỏi Khánh Vân chưa bao xa thì đột nhiên dừng lại không làm tiếp, và tình hình chiến sự cũng càng ngày càng sôi động, trong khi đó tình hình chính trị ở Sài Gòn lại có nhiều rắc rối, biến động nhiều hơn. Trong những tháng sau của năm Đệ Ngũ nầy có Thầy Nguyễn Văn Thại về làm Hiệu Trưởng trường và con ông là Nguyễn Thu Thủy vào học chung lớp chúng tôi. Thầy dạy luôn môn Pháp Văn thay thế Thầy Thanh Tuyền, Thầy có một câu mà học trò nào cũng nhớ: “Qui sait, qui sait encore?... Encore?”.  

Thầy Mã Sấm và Thầy Nguyễn Thanh Tuyền chụp
cùng các chị nữ sinh lớp Đệ Ngũ vào Xuân 1961.


Và cũng thời gian nầy chị Út không biết lý do gì chị xin nghỉ luôn hay là chị buồn vì bạn bè cứ ghẹo chị có cái “xái quăn tóc” ở trước trán mà tụi nó nói đó là cái tướng “sát phu”. Đúng là “coi bói ra ma” chưa chi mà đã hại người! Từ ngày trường dời lên địa điểm mới, hôm nào học tới quá trưa chúng tôi tập hợp ăn cơm ở nhà Ông Bà Năm, ngoại thằng Cẩu nhà bên kia đường với nhà Bà Út, trước nhà có cây dương lớn, rất đông vui. Son thường dở cơm bằng lá chuối ăn với đường tán, còn Chi ăn ớt còn hơn là con nhồng. Có hôm biểu diễn, Chi cầm nguyên một chùm ớt hiểm cay khoảng mười mấy trái cắn một lượt. Cả đám thấy mà lắc đầu thán phục. Thế rồi năm học cũng vào Hè và mưa lại đến, chúng tôi được nghỉ vài tháng nghỉ ngơi, phụ công việc nhà!


Nguyên Thảo,

18/06/2023.





Tuesday, June 6, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (17)


Chính vì tình hình càng gay go cho nên nhiều học trò như chúng tôi xin ở trọ càng lúc càng đông hơn vì chuyện đi lại trở nên khó khăn, đôi khi lại gặp nhiều nguy hiểm trên đường đi. Ở lớp nầy phần lớn mấy chị bên nữ đã trở thành các thiếu nữ mặc áo dài trông duyên dáng, thanh lịch hơn; chứ không còn xuông đuột như hồi còn ở lớp Đệ Thất. Còn bên nam một số cũng đã trưởng thành, còn một số lóc nhóc như chúng tôi thì vẫn hãy là như cũ, tánh nào cũng như là tật nấy. Đúng là con nít có khác! Khoảng thời gian nầy Thầy Lê Hữu Ân không biết lý do gì mà Thầy không còn tới Tân Uyên dạy nữa, và Thầy Nguyễn Thanh Tuyền về thay thế. Thầy Tuyền lãnh môn Pháp Văn và Sử Địa. Còn trong đám học trò thì anh Nguyễn Văn Công không còn đi học nữa, có ai đó nói là anh Công đã đi vào trong rừng rồi! Và năm học được kết thúc để bọn học trò chúng tôi được nghỉ vào ba tháng Hè với chiến sự càng gia tăng hơn.  Và cái tin đáng mừng nhất là sang năm học có thể sang học ở trường mới, mà thật sự là phải vậy vì nếu có hai lớp Đệ Thất nữa thì tổng cộng là 5 lớp, một Văn Phòng. Tất nhi ên, Trường Tiểu Học Uyên Hưng không thể có đủ phòng cho Trường Phước Thành mượn nữa rồi. Vả lại, trường Tiểu Học cần phát triển thêm ra, vì số học sinh đi học càng lúc càng gia tăng. Trước khi nghỉ Hè, tôi và chị Thay lại nộp đơn xin chuyển về Trường Trịnh Hoài Đức lần nữa, lúc nầy văn phòng trường vẫn còn nằm chung bên Trường Tiểu Học Cộng Đồng Búng. Đến khi gần đi học, tôi theo chị xuống Văn Phòng hỏi xem kết quả ra sao? Khi nghe nhân viên báo là chị không được, tự dưng tôi nghỉ đến kết quả của mình rồi mới hỏi người nhân viên. Không biết như thế nào mà người nhân viên nhìn tôi mà cười quá chừng, tôi thắc mắc. Đến khi ra ngoài trên đường xuống Búng đón xe tôi hỏi chị Thay: “Làm gì mà bà đó bả cười em dữ vậy?”. Chị Thay nói: “Không biết tại sao lúc đó mặt em xanh dữ vậy?”. Thì ra, khi tôi nghe kết quả của chị Thay không được thì tôi cũng nghĩ và sợ kết quả đơn mình cũng không được, nên lo sợ lộ ra mặt, mà rồi kết quả cũng chẳng được tí nào. Từ lần nầy tôi nghĩ mình không cần làm đơn xin chuyển trường nữa, vì cũng khó mà được.

Sau ba tháng nghỉ Hè, thì đám học trò lo khăn áo, sách vở lại đến trường, tụ tập để nhiều mẫu chuyện được kể cho nhau nghe, nhưng tất cả bây giờ gần như đã lớn hết, không còn có những đứa lẹt đẹt như tôi và Thạch A. Những anh phát triển trước thì chững chạc hơn giống như người lớn. Ngôi trường mới xây cất chưa hoàn thiện lắm ở khu đất kế bên nghĩa địa gần Nhà Bảo Sanh Song Long, và đối diện với rừng tre mà cò thường đậu ở bên kia đường. Trường ở dưới khu hơi trũng, nhưng phía sau là đồng ruộng, nên không bị đọng nước trong những ngày mưa. Trong giai đoạn tạm thời thì Lớp Đệ Ngũ chúng tôi cùng Văn Phòng dời lên trước, còn mấy lớp kia sẽ dời lên sau, nhưng cũng không muộn lắm. Phần chào cờ do lớp chúng tôi phụ trách, Thứ hai mặc quần trắng, giày, áo trắng, còn những ngày khác thì áo trắng, giày trắng, quần xanh. Do số lớp tăng, nên nhiều Thầy Cô được bổ nhiệm về tăng cường. Như tôi được biết thì có Thầy Thạc, Thầy Lịch, Cô Hoan, Cô Hồng, Cô Vân. Số học trò từ Tân Hóa đi lên được tăng thêm, đa số vẫn là cưỡi xe đạp đi về. Năm nầy học trò từ trên Phước Hòa, Phú Giáo hay Phước Vĩnh không còn xuống Tân Uyên nữa mà trên ấy đã có một Trường Chi nhánh của Trường Trung Học Phước Thành mở ra để học trò được thuận lợi đi học hơn, như vậy Tỉnh Bình Dương có hai trường Trung Học Công Lập trước (Trường Trịnh Hoài Đức và chi nhánh ở An Mỹ sau tách ra làm Trường Trung Học Công Lập An Mỹ), và Tỉnh Phước Thành lần nầy có Chi nhánh ở trên Phước Vĩnh. Có thể đó là những bước đầu phát triển Trường Trung Học Công Lập cho học sinh nhiều địa phương thuận lợi hơn và nhu cầu cho trẻ con đi học càng ngày càng nhiều! Thầy Tuyền vẫn phụ trách lớp chúng tôi về môn Pháp Văn, Sử Địa. Thầy thổi harmonica rất hay và dạy cho lớp bài ca Tiếng Pháp “Alouette”, mà cả lớp thích lắm vì mới lạ cùng cái giai điệu nhạc ngoại quốc mà lần đầu chúng tôi mới được tiếp cận. Và để chuẩn bị cho ngày Tết, Mùa Xuân Thầy dạy hát bài “Đón Xuân” của Phạm ình Chương. Còn Thầy Tạ Kim Anh trong giờ hóa học siêng làm, thực hành những phản ứng hóa học cho chúng tôi xem vì lúc đó các trường nhận được nhiều dụng cụ thí nghiệm hóa học để thực tập cho môn học từ phân giải muối thành clor và natri, hay các phản ứng khác trong các bài học. Lúc ấy Trường Trịnh Hoài Đức có phòng Thí Nghiệm lớn, nhưng ngày Lễ Khai Mạc Phòng Thí Nghiệm thì lại có trường hợp quăng lựu đạn nên học sinh, Thầy Cô chạy tán loạn cả lên, may là lựu đạn không nổ; nếu nổ không biết bao nhiêu người bị thương và ngay cả chết nữa. Đúng là thời buổi chiến tranh! Có chuyện may mắn trong đám học trò chúng tôi là anh Nguyễn Văn Đi khi trưa đi tắm ở Bến Cây Sung, không biết anh đi dưới bìa song để tắm, rủi hụt chân như thế nào đó mà nước cuốn đi xuống phía dưới, may là có ông lính quận cũng đang ngồi giặt đồ ở Bên Cây Xanh, thấy vậy ông liền nhảy xuống cặp nách kéo anh vào bờ. Hú hồn, nếu không thì chắc phải chia buồn thôi!

Bắt đầu từ năm học nầy, chiến sự có chiều tăng dần, những vụ đụng độ hai bên thường hơn. Nghe đâu có tin trên Tỉnh lỵ mới bị đánh vào, tù chính trị được thả ra và ông Tỉnh Trưởng đã chết. Tiếng súng đại bác 105 li của cứ điểm ở Quận bắn đi khá nhiều, nhưng tình hình chung quanh thì vẫn yên ổn không có gì là hệ trọng lắm. Tuy nhiên đường đi học có lúc trở nên khó khăn vì các cầu thường bị hư hay đốt phá, đôi khi phải vác xe đạp đi trên những thanh đà hình chữ H lật ngang. Đường đi chính thì bị trở ngại do những cây dầu hay cây sao bị cưa ngã chắn ngang đường từ sở 49 đến Ngã ba Bình Chánh, vì thế mà nhóm anh Năm, Huệ, Son, Sợi, Lực, Em, Ẩn, Phụng, Phùng … phải đi bằng con đường khác từ đầu dốc dài Bình Hóa băng qua sở Bác Vật rồi ra sở 49 mới đi về.

Còn thỉnh thoảng có những vụ thiêu xác của những lính người Miên ở bìa trong sân banh khiến chúng tôi ngồi học mà nghe mùi khét lẹt. Đặng Văn Sính dự thi trong cuộc đua thể thao đi bộ từ ngã ba Bình Hóa lên Tân Uyên do Quận tổ chức được hạng nhì, và trong cuộc tranh túc cầu anh Huỳnh Văn Siêng gặp tai nạn trong khi đấu khiến anh bất tỉnh khá lâu, và từ đó trường ngưng môn túc cầu mà chỉ còn tập chơi môn bóng chuyền, hay vũ cầu với cái sân bên hông văn phòng mà Thầy trò chúng tôi đã làm thay thế cho sân ở nhà của Tô Công Tâm. Do tình hình chiến sự chị Hồng khi đến nhà Bà Út chơi với chúng tôi đã xin trọ, Bà Út chấp nhận; rồi sau đó là Báu và Trí cùng đến trọ chung với tôi và Thạch A, nhưng chúng tôi ngủ trên bộ ván ở nhà phía sau của Bà Út, vì nhà cũ của Bà Út là của Bà và gia đình Út Màu ở từ khi Út Màu có Dượng Út, cùng gia đình Bác Bảy. Còn nhà Bác Hai thì có gia đình Bác cùng gia đình Bác Sáu Bùng. Có những đêm Bác Sáu đàn Vọng Cổ tập cho chúng tôi hát, nhưng chỉ có chị Hồng là hát được thôi, tôi thì giọng thấp quá, mấy bạn khác không muốn học. Lúc mình buồn ngủ, nằm thiu thiu mà nghe đàn Vọng Cổ hay các bản nhỏ thật là thú vị, nghe rất đã. Lạ một điều là bắt đầu năm học, Thạch A bắt đầu học giỏi trên tất cả các bộ môn. Tôi không nghĩ chỉ trong ba tháng Hè mà nó học thêm để giỏi như vậy? Dù cho chú Sáu nó, hay Chú Út có dạy nó cũng không thể tiến nhanh và tiến đồng bộ được. Chỉ có thể là trong tuổi dậy thì của nó có nhiều đột biến về kích thích tố khiến trí não được mở ra để mà học tiến bộ như thế. Chừng vài tháng thì tôi lại không trọ trên nhà Bà Út nữa mà lại theo Huệ, Son và các bạn khác cưỡi xe đạp đi, về mỗi ngày vì lúc nầy các xã Tân Long, Tân Hội phải dời nhà ra Tân Hóa hay Tân Khánh do chiến sự trong các nơi ấy trở nên ác liệt và người dân không thể ở trong đó được do sự đụng độ giữa hai bên càng ngày càng nhiều, đồng thời cũng do Chính sách “dồn dân lập ấp chiến lược” nên họ phải di tản. Chị Thay, anh Năm, anh Sợi, chị Mướp dần nghỉ luôn, nghe các bạn nói là họ đã đi trong rừng. Sở dĩ tôi cưỡi xe đạp đi về theo bạn bè, không ở trọ nữa vì thấy mình có thể đủ sức, thứ hai là bạn bè đi học lúc nầy không đi đường vô Tân Long, Bà Trắng (Bà Trắng là tiếng dân gian gọi cho các nữ tu Thiên chúa giáo làm trong trại cùi Bến Sắn, có địa điểm bệnh viện trong sở cao su số 10, vì các nữ tu ấy mặc đồng phục màu trắng nên người ta gọi “Bà trắng”) nữa mà phải đi ra Tân Khánh, chạy ra Phước Lộc, đi Khánh Vân, Bình Chánh để lên Tân Uyên đi ngang nhà, thành cũng thuận lợi cho tôi, và với những ngày học một buổi tôi có thể phụ giúp cho gia đình được. Thế là khoảng hơn giữa năm Đệ Ngũ tôi theo bạn cưỡi xe đạp đi học và về mỗi ngày. Chính vì tình hình như vậy mà sau nầy những học trò xã Tân Hóa không còn lên Tân Uyên thi nữa mà đổ về thi ở Trường Trung Học Công lập An Mỹ.


Nguyên Thảo,

7/6/2023.


 


Tuesday, May 23, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (16)


Tình hình an ninh không biết như thế nào mà báo chí đưa tin có chuyện đảo chính ở Sài gòn, nhưng cuộc đảo chính ấy không thành công và người ta đồn là ông Thiếu Tá Nguyễn Minh Mẫn của Tỉnh Phước Thành có đem quân về giải cứu, nên được Tổng thống Diệm nhận làm con nuôi. Chúng tôi chỉ nghe đồn như thế, không biết là có đúng không? Nhưng từ sau sự việc ấy ông Tỉnh trưởng thường hay xuất hiện ở nhiều nơi trong Quận. Đã vậy còn xảy ra một chuyện khác khá thương tâm. Vốn là Quận có tổ chức một đoàn đi công tác, không biết đi đến nơi đâu mà đi bằng thuyền theo sông lên miệt trên, hình như Lạc An gì đó, nhưng không biết vì sao có tiếng súng nổ mà người ta nói đó là tiếng súng đại liên, nổ liên hồi. Khoảng một buổi sau có tin là hai Thầy đã chết trong có có Thầy Khuê mà tôi đã từng biết, cùng với mấy người khác làm trong Quận cũng đi trong chuyến cộng tác đó. Người sống sót còn lại cho biết là đoàn đi gặp đoàn thiết giáp bên kia sông có lẽ do bắn lầm mà sinh ra cớ sự. Thật rất thương cho Thầy Khuê, một Thầy trẻ, hiền, rất đẹp trai nhưng không may phải chết sớm mà cũng chẳng biết gia đình Thầy ở đâu? Xác của hai Thầy được đưa về Bến Cây Sung để đưa về nhà, còn Thầy Khuê thì đưa về nơi trọ.

Sông Đồng Nai chảy về đến Tân Uyên thì chảy thành hai nhánh chảy bao bọc một cái cù lao lớn gọi là cù lao 6 xã, gồm có 6 xã trên đó, tôi chỉ biết có hai xã Bình Hưng và Mỹ Quới, còn mấy xã khác thì không nghe nói tới tên nên không biết, cái nầy chắc phải hỏi đến nhà văn Bình Nguyên Lộc… Trước cái cù lao lớn đó, còn một cái cù lao nhỏ, nhưng thường bị xâm thực bởi nước sông vào mùa mưa. Tại Bến Cây Sung nầy có nhiều lần tôi đi tắm ở đây, và thường bơi, nhưng người ta bảo coi chừng đừng bơi ra quá xa nó nguy hiểm lắm nên tôi giới hạn đi tắm ở đây. Bên kia sông ở Bến nầy có một nhà máy cưa, nhìn từ bên nây thấy cây dừa và cái Bến của nó. Tại đoạn sông nầy hằng năm có cuộc đua thuyền tranh giải của các xã do Quận tổ chức. Cuộc đua rất hấp dẫn thu hút nhiều người xem, nhưng trong cuộc đua vừa rồi không hiểu sự xung đột như thế nào đó đã xảy ra vụ cầm cây chèo chém lên đầu của người đội khác khi về gần tới đích. Sự việc xảy ra không biết sau nầy còn có đua thuyền nữa không mà tôi không thấy? Ngoài Bến Cây Sung xuống phía dưới chút nữa là Bến Cây Sanh vì nơi nầy có cây sanh to, bên trên bến là nhà máy xay lúa, tôi cũng từng đến nhà máy xay lúa nầy với Bác Bảy con của Bà Út để xay lúa cho cả nhà. Và ở chợ thì có Bến Đò nơi đò đưa người qua lại giữa bên Cù Lao Sáu Xã và chợ Tân Uyên để mua bán. Nhà cửa phần lớn được tập trung từ Bến Cây Sung trở xuống chợ và trở ra giáp với đường Tỉnh lộ. Hai bên chợ là hai dãy phố cùng các cửa hàng buôn bán. Còn từ chợ trở xuống Cầu Rạch Tre nhà cửa không nhiều, nối dài dọc theo đường và bờ sông, phía đối diện với chợ là dãy phố thuận cho việc buôn bán, hành nghề, còn phía sau đó nhà không nhiều, kéo vô tới bìa ruộng. Rồi tới xóm Chùa nhà phía trong cũng lưa thưa, chạy tới ngã ba trường học.

Sự sinh hoạt ở trường có nhiều năng động hơn, vì năm nầy được thêm hai lớp Đệ Thất nữa nên mấy Thầy có tổ thi đua làm học đường viên cho mãnh đất trống phía sau các lớp, khiến chúng tôi cùng thi đua làm khung vườn mình có nhiều hoa đẹp để chấm điểm. Bọn học trò phải đi xin bông, kiểng từ nhà người dân đem về trồng, có hôm trời mưa lớn, tôi và Thạch A về không kịp nên phải đụt mưa cho đến khi tạnh. Trên đường về thấy mấy con cá nhỏ lách lách trên đường bò vào vũng nước. Thạch A thấy vậy bắt hai con, về nhà nghe nói “Chim sa, cá lặn” xui lắm, có thể bị có tang. Thạch A nghe sợ quá đem cá ra ruộng thả, rồi cứ sợ và khóc hoài. Có những hôm chúng tôi đi từ chợ đi về, dọc đường thấy có lưới nhện từ trong nhà rất xa với đường, thế mà không biết như thế nào mà nhện lại giăng lưới từ mấy cây trong sân nhà ra tới dây điện bên ngoài đường, thật là lạ, hỏi người ta chẳng ai biết vì sao? Đó là câu hỏi, thắc mắc mà chưa tìm được câu trả lời.

Hôm khoảng thời gian cao su rụng lá, những phu cạo mủ có thời gian phải nghỉ ngơi mà thời gian lại gần Tết, nhà máy mủ thiếu người trông coi cơ sở như thế nào đó mà Bác Sáu Bùng, con Bà Út, được nhờ sang đó ngủ một đêm trông chừng dùm. Bác Sáu rủ tôi và Long theo chơi. Ba người cưỡi xe đạp đi về đường đất đỏ chạy vòng quanh theo căn cứ của quân đội để đi qua đường phía bên kia để đi lên hướng Tân Hòa, Tân Tịch. Hồi chưa biết tôi tưởng là Tân Hòa, Tân Tịch xa trường học lắm, nhưng theo phỏng đoán của tôi thì chẳng xa mấy thì đã đến ngã ba, chúng tôi đi theo đường rẽ đó. Đi mãi đến một cái cầu nhỏ có nhà cửa dáng người thấp thoáng thì Bác Sáu nói: “Đã tới rồi!”. Xong chúng tôi đi vào một nhà kho, Bác Sáu nói: “Tối nay mình ngủ ở đây. Nhưng bây giờ còn sớm thôi đi một vòng ra ngoài coi chơi”. Sau khi để để đồ đạc vào vị trí, Bác Sáu đi trước, tôi và Long đi theo sau. Băng một khoảng rừng thưa, ra đến bờ cánh đồng cỏ, nhìn về bên kia nơi có những vuông nhà, Bác Sáu nói: “Người ta đang đánh xe bò chở đồ đạc để dọn nhà đó” theo sau xe là những làn bụi mỏng chắc do chân bò vít bụi theo từng bước đi. Rồi chúng tôi trở về trời cũng vừa tối hẳn. Bác Sáu cho biết đây là vùng Thường Lang, Đất Cuốc. Tôi hỏi: “Thường Lang, Đất Cuốc hả Bác Sáu, hồi trước có nghe mấy ông lớn nói khu nầy hồi xưa là ổ của kháng chiến phải không?”. Bác Sáu cười: “Ừ!”. Tôi lại biết được thêm một nơi nữa! Nhưng chúng tôi chỉ ngủ có một đêm đó thôi, mấy ngày sau đã có người vì người trông coi có công chuyện đi vắng nên chỉ nhờ Bác Sáu trông chừng một đêm thôi! Không ngờ đêm đó là đêm mà tôi với Long đồng hành trong một chuyến đi hơi xa ở Tân Uyên nầy, vì sau Tết Long và Phụng đã được người quen làm ở dưới Bộ Giáo Dục đứng ra xin cho cả hai được chuyển về Trường Trịnh Hoài Đức rồi. Thế là trọ ở nhà Bà Út bây giờ chỉ còn lại tôi và Thạch A.

Chiến sự càng ngày càng tăng tiến hơn, đã có súng nổ vài nơi. Thỉnh thoảng có tiếng cà-nông từ nơi trại lính bắn đi, nhưng không biết có chuyện gì lớn không? Rồi một ngày Ông Đại úy Quận trưởng của Tân Uyên đi xuống Tân Hóa Khánh bị giựt mìn chết ở Cầu Đúc Hố Khởi được đưa về trụ sở Quận. Nghe nói sau đó Ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Minh Mẫn có xuống đó và một số người bị bắt. Nhà cửa bây giờ có nhiều nơi người ta phải đào hầm trở lại để phòng ngừa những khi bất trắc mà có chỗ trú ẩn an toàn. Đường đi có những ngày có nhiều truyền đơn rải dọc theo đường cùng một số sự việc khác, nhưng bọn học trò chúng tôi được tương đối dễ dàng đi đến trường. Riêng tôi thì vẫn theo bạn sáng Thứ Hai đi lên và trưa Thứ Bảy xong buổi học thì theo bạn đi về. Và rồi, một đêm nọ nghe súng nổ văng vẳng ở phía bên sông, bên cù lao sáu xã. Sáng đi học thấy có cột một xác người tại gốc cây dầu bên bìa ruộng ỡ ngã ba đường vô trường học, bên hông có đeo một giỏ đan giống như người đi bắt cá. Những đoàn lính đi hành quân về đóng quanh quận thường xuyên hơn, và số người lính Nùng thưa dần theo ngày tháng. Có mấy người hiểu chuyện họ nói lính Nùng ấy được chuyển từ ngoài Bắc vào sau Hiệp Định Đình Chiến Genève năm 1954, họ là những người lính của Quốc Gia nên phải tập trung về Miền Nam theo Hiệp Định, cũng như Bộ Đội Kháng Chiến phải kéo ra Bắc theo sự phân chia hai miền đợi chờ cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1956.


Nguyên Thảo,

24/05/2023.



Thursday, April 20, 2023

*Khung Trời Kỷ Niệm! (15)


Vào năm học mới (niên học 1960-1961), trưòng có thêm 2 lớp Đệ Thất nữa và số học trò từ Tân Hóa Khánh đều lên thi trên ấy vì thuộc Tỉnh Phước Thành. Đường đi có thêm nhiều bạn bè gồm có Ẩn, Em, Phụng và nhiều bạn nữa mà tôi không biết. Tôi vẫn đi với mấy bạn trong sáng ngày Thứ Hai và về vào trưa Thứ Bảy, còn những ngày khác thì vẫn trọ trên nhà Bà Út. Không bao lâu thì trường có thêm Thầy mới, đó là Thầy Lê Hữu Ân. Thầy trắng trẻo, dong dỏng cao dạy môn Sử Địa, Công Dân, Nhạc ở lớp tôi, không biết Thầy dạy ở mấy lớp khác môn gì. Có lần Thầy dạy cho cả lớp bài hát “Hoài Thu” của nhạc sĩ Văn Trí bắt đầu bằng câu “Mùa Thu năm ấy, trên đường đến miền cao nguyên…” thật là vui mà thơ mộng.

Rồi đến một ngày mấy lớp chúng tôi được thông báo học rút giờ giấc trong ngày để dành thời giờ tập đi diễn hành: Từ sắp xếp đội hình, hai hàng dọc nhỏ trước, lớn sau từ thấp đến cao, có đội trưởng ra ngoài đường đi một hai, một hai; đi, đứng lại; nghỉ nghiêm; bên phải bên trái, đàng sau quay. Mà cũng không phải riêng đám học trò chúng tôi mà nhiều đoàn thể, kể cả lính trong quận cũng vậy, chia nhau những khoảng đường ở trước trường, hay đoạn đường trước quận phía bên kia vũng nước để tập luyện xem ra có vẽ rất là sôi động. Tập như vậy cho thuần thục để đi dự Lễ Khánh Thành Tỉnh lỵ của Tỉnh mới trên Phước Vĩnh, hay đúng hơn là Phú Giáo.

Tình hình an ninh trong thời gian nầy có sôi động hơn chút ít, nhưng chưa đến đỗi là quá lắm, nên đoàn di chuyển lên Phú Giáo theo Tỉnh lộ 16 tức là về hướng lên Dốc Bà Nghĩa cần được giữ an ninh trước, do đó mà phải đợi chờ quân đội đi trước giữ gìn an ninh dọc đường rồi mới bắt đầu đi. Nhiều xe nhà binh được điều động để chở người của các đoàn thể và học trò chúng tôi để tiến về Quận Phú Giáo. Đưòng đi không rộng lắm, chỉ giống như đoạn đường từ Tân Ba đi lên Tân Uyên thôi, hai bên đường có nhiều cỏ tranh, lùm bụi, có nhiều cây cao. Đường len qua các khu rừng lẫn những đồn điền cao su. Nhờ ngồi chung xe với những người lớn mà tôi nghe nói đến những địa danh Bố Mua, Bố Lá, Chánh Lưu, Nhà Đỏ mỗi khi xe đi ngang qua đó, nhất là nhiều sở cao su của ông Nguyễn Đình Quát người đã có ra ứng cử Tổng Thống trong cuộc bầu cử Tổng Thống vừa qua. Nhưng ông đã bị thất cử và có mấy người con gái bị tử nạn khi đi chơi ở Vũng Tàu ở cái cầu nào đó mà báo chí có nhắc đến Miễu Ba Cô. Xe đi khá lâu mới đến sở cao su Phước Hoà, rồi phải đợi qua cầu Sông Bé. Sông Bé đây sao? Ôi cái sông mà bọn con nít tôi từng bị mấy ông thanh niên hù dọa là bắt tụi tôi đem lên Sông Bé câu sấu đây mà! Nhưng chiều muốn tối rồi, tôi đâu thấy rõ Sông Bé thế nào. Chỉ biết là qua cầu mà phía dưới sâu kia nước đang chảy hình như là chảy xiết! Xe qua cầu không xa thì quẹo sang trái trên con đường khá lớn, mấy ông ấy nói đường nầy chắc đi về Tòa hành Chánh Tỉnh. Nhưng đoàn học trò chúng tôi đâu được đi lên tuốt trên kia mà chỉ dừng nửa đường và đổ xuống ở một trường học chưa được kín đáo cho lắm. Sau khi, tìm được chỗ ngủ xong, chúng tôi được phân phát chút thức ăn tối, nhìn quanh các khu nhà được phân thành những lô đất vừa cất nhà có các cây chắn làm hàng rào. Nhà hơi nhô lên phía trước nhiều hơn là chính giữa lô đất. Ngoài trước được trồng hoa, rau cải, phía sau có trồng chuối, cây ăn trái cũng mới vừa lên cao, chứng tỏ nhà chưa xây dựng được bao lâu, gần hàng rào phía trước chất hàng dài đầy củi có bảng để bán, phía sau xen với các cây trồng là những cây to rải rác đó đây, có nơi người ta làm lò hầm than, lò còn khói lên nghi ngút, như vậy chứng tỏ trước đây là khu rừng được khai phá rồi đưa người tới đây định cư ở các lô được phân sẵn. Trời tối hẵn, chúng tôi kê bàn lo giăng mùng để ngủ dưới ánh le lói của mấy cây đèn dầu được cấp phát tạm thời. Bỗng nhiên nghe tiếng gì là lạ ở một ngôi nhà khá lớn kín đáo kế bên, chúng tôi làm lạ, tò mò lần đến. Có người nói mấy người Đạo Thiên Chúa họ đang đọc Kinh làm lễ. Người kia hỏi: “Ủa, sao mà tối thui vậy?”. Không có tiếng trả lời. Nghe hồi lâu sao giọng lạ quá, tôi chưa từng nghe giọng nói nầy bao giờ. Và bao nhiêu người nghe cũng không biết luôn. Thế rồi bèn trở về bàn mà ngủ.

Sáng hôm sau, dậy lo vệ sinh cá nhân, rồi được phân phát cho phần ăn nhẹ, nước uống để chuẩn bị cho giờ hành lễ. Vị trí của đám học trò chúng tôi chỉ cách trường học nơi ngủ tối hôm vài chục thước, nên chuyện tập họp, sắp hàng không phải tốn nhiều công sức chuẩn bị. Hàng ngũ các đoàn thể được xếp theo từng đơn vị và theo quận nên quận Tân Uyên nầy khá xa so với vị trí của khán đài. Đội ngũ chúng tôi quay mặt nhìn ra đường, và chỉ nghe được các nghi lễ qua các loa phóng thanh bắt dọc theo đường cùng với những trụ cờ trang hoàng cho cuộc lễ. Vì thế khi mặt trời lên chiếu thẳng vào mặt khiến bọn nhỏ như chúng tôi có khá nhiều khó chịu. Vả lại đứng để nghe nhiều diễn văn trong thời gian dài, tất nhiên chúng tôi không thể chịu nỗi, vì vậy lúc đầu các bạn phía sau ngồi xuống để tránh nắng, và tránh mỏi chân. Rồi phía trước nhìn thấy vậy cũng không giữ hàng ngũ nữa và bỏ đi về phía sau để tránh nắng. Chỉ tội nghiệp các đoàn người lớn, nhất là những người lính phải nghiêm trang hàng giờ để cho cuộc lễ được nghiêm trang. Cuối cùng buổi lễ cũng đến hồi kết thúc bằng cuộc diễn hành qua khán đài. Bắt đầu bằng các đơn vị quân đội đi theo tiếng nhạc, tiếng trống duyệt binh, kế đến là các đoàn thể. Đội ngũ học trò chúng tôi đang trong tư thế chuẩn bị để đi, nhưng sau cùng được lệnh là miễn, thế là chúng tôi mừng quá chừng, và tan hàng rã ngũ đi vào trường học để lấy đồ lo chuẩn bị cho chuyến hành trình lên xe để trở về Tân Uyên. Đó là sự kiện lên Phước Vĩnh Khánh Thành Tỉnh lỵ mới đã xong, mà chúng tôi cũng chẳng biết vị trí của Tòa Hành chánh Tỉnh ở chỗ nào, và con đường trước mặt đi đến tận nơi đâu? Rồi xe cam nhông nhà binh đến. Tất cả mọi người đến từ hôm trước lên từng chiếc xe để xe đưa quay trở về. Trên đường về tôi lại được ngồi chung xe cùng các ông người lớn nghe họ nói những cái gì họ biết với nhau về những nơi đi qua. Tôi nhìn con Sông Bé nước đỏ, đục ngầu chảy xiết dưới cầu mà nghĩ đến những con cá sấu mà người lớn hăm he đưa mấy đứa nhỏ lên đây “câu sấu, cho sấu ăn”, rồi nhìn qua khu Phước Hòa của đồn điền cao su Phước Hòa. Trong bận về nầy tôi thấy dọc đường có nhiều sở cao su của ông Nguyễn Đình Quát lắm, có lẽ hơn 12 sở, không biết còn ở đâu nữa không? Vậy là trong năm nầy tôi đã biết được con đường Tỉnh lộ 16 đi đến đâu và quận Phú Giáo lẫn Tỉnh lỵ Phước Vĩnh là ở tận nơi nào, nhất là cái con Sông Bé nhiều cá sấu mà người lớn ở làng tôi hay nói để hù bọn con nít chúng tôi sợ vì: Sông Bé có nhiều cá sấu. Về đến trường vào xế chiều, chúng tôi được nghỉ và ngày hôm sau đi học theo thời khóa biểu như thường lệ. 

Saturday, January 21, 2023

*Chúc Tết.

 

Cung kính thân chào, Năm Mới tới

Chúc Mừng Phước Lộc, Thọ lâm môn

Tân Niên mọi thứ đều Như Ý

Xuân đến Tươi Vui, Sức Vẹn Toàn!

 


Tuesday, January 10, 2023

*Khung Trời Kỷ Niệm! (14)


Còn cánh đồng phía sau nhà Bà Út chạy dài tới bìa rừng và đồi Bình Hóa đổ ra gần bờ sông rồi chạy theo con đường lên Tân Uyên lúa đã chín vàng, người ta bắt đầu gặt đập trước khi tới Tết. Bà Út dẫn tôi theo Bà đi chơi trên cánh đồng đó, đi thật xa mới tới, thì ra đó là ruộng của Bà. Tới nơi Bà chỉ cho tôi một ụ cạn nước, cá dồn về đó thật nhiều, Bà kêu tôi xuống bắt bỏ vào hai cái bao đem theo, rồi Bà đi đến những người đang gặt lúa nói những gì đó. Hồi lâu Bà mới quay lại, tôi với Bà đi về cùng với mấy con cá. Có một hôm tôi với Thạch đang học bài ở phía sau nhà trên một cái xe bò thì bỗng đâu có một bầy le le con đi ngang qua, hai đứa rượt bắt được một con, rồi thay phiên nằm trên xe, tay giữ con con cho nó kêu lên để le le mẹ đến mà chọi nhằm bắt le le mẹ. mãi rồi chọi không trúng, thua buồn thả cho nó về với le le mẹ. Nghĩ lại hai đứa cũng ác thiệt! Rồi lại đến Tết, tôi và Thạch hai đứa rủ nhau đón xe đò, xuống Sài Gòn đi kiếm nhà của Thầy Anh để thăm và chúc Tết Thầy cùng gia đình!

Sau ăn Tết xong, bọn chúng tôi lại quy tụ về trường. Chỉ cách có mấy ngày mà thấy đứa nào cũng khác, rồi cùng nhau ghẹo chơi: “Cha, ăn Tết mừng quá, thành ra mau lớn vậy!”. Không biết đúng không? Nhưng quả thật đứa nào trông cũng lớn thêm ra. Kỳ nầy có học bài Giảng Văn “Nhặt Lá Bàng” từ trong tiểu thuyết Đôi Bạn của nhà văn Nhất Linh, may là tôi được biết cây bàng trên sân trường Uyên Hưng nầy, nếu không có lẽ tôi sẽ ngẩn ngơ mà tưởng tượng ra cây bàng như thế nào và ông Thầy sẽ giải thích khó khăn ra sao. Rồi hình ảnh của hai đứa nhỏ trong đêm lạnh chạy ra nhặt những lá bàng rơi vụt nhanh để núp tránh từng cơn gió lạnh. Hình ảnh cũng lý thú thật! Và cái hay của tác giả khi diễn tả cảnh tượng đang xảy ra để độc giả thấy được rõ ràng trong tưởng tượng! Không lâu sau Thầy kêu bọn học trò chúng tôi góp tiền để Thầy mua dùm cho quyển sách: “Những lỗi thông thường trong thuật viết văn” của Nguyễn Văn Hầu để dễ dàng trong việc học về Giảng Văn cũng như luyện về cách viết câu trong cách “Tập làm văn”. Trong thời gian nầy có một chuyện “bất ngờ” mà người nghe không hề đoán ra nổi, đó là chuyện một học trò trai của Lớp Nhứt viết thư tỏ tình đối với một học trò nữ Lớp Năm là lớp còn đang học đánh vần. Khi nghe câu chuyện nầy bọn chúng tôi lắc đầu: “Như vậy làm sao con nhỏ đó biết mình nói gì, sao ngộ vậy!”. Không biết câu chuyện đó nhà trường sẽ giải quyết ra sao? Bọn chúng tôi không được biết!

Như đã nói ở trên là trong tuần tôi ở trọ nhà Bà Út để đi học, cuối tuần cưỡi xe đạp theo mấy anh lớn về nhà và đầu tuần lại theo mấy anh ấy đi lên. Nhưng vì nhà các anh ấy trong xóm không thuận tiện mấy, cho nên thường tôi đi sớm hơn vô trong nhà của Lực trong Tân Hội cạnh con đường đợi chờ ở đó, rồi khi đoàn đi tới tôi và Lực đi cùng. Có hôm trời trăng sáng quá, tôi lại tưởng sắp sáng rồi, nên càng vội vàng đi hơn. Đêm vắng đi từ đầu dốc dài Hóa Nhựt đi qua Cây Trắc đường vắng quá lại vừa sợ ma đành đạp “hết ga”. Vừa chạy vừa lo mong mau qua khỏi, rồi thả dốc, qua cầu lên nửa dốc thì đến nhà Lực. Lúc đó chỉ mới 5 giờ sáng thôi, nhưng cũng may là nhà Lực đã thức rồi. Phải đợi chờ gần đến 7 giờ sáng chúng tôi bắt đầu khởi hành đi lên trường. Có lần nhân dịp nghỉ lễ, tôi đi sớm hơn vô sở cao su số 49 ghé nhà Ông Năm mà ba má tôi quen (vì hai dì, con ông, bán chung với má là dì Ba Đáo, dì Sáu Đài, thỉnh thoảng có dì Út Ngoa và anh Thạch ghé nhà) chơi và ngủ ở đó hai đêm cùng một ngày. Đêm ở sở cao su khá lạnh hơn ở nhà mặc dù thuộc khu nhà công nhân sinh sống. Nơi nầy tôi cũng được một lần nữa làm lại một ít công việc về chế biến mủ và các giai đoạn để làm ra thành phẩm của mủ cao su.

Trong khoảng thời gian nầy tình hình an ninh có sôi động, thỉnh thoảng có vài vụ được báo chí đăng lên nhưng chưa có gì gọi là lớn lắm, chúng tôi vẫn còn đi chơi thoải mái ở chợ Tân Uyên vào những chiều rảnh rỗi. Lúc trước thì nghe nói đến danh từ “Dinh điền” là những nơi mà Chính Phủ khai hoang một phần khu rừng rồi đưa các người di cư từ Bắc vào Nam định cư ở đó, chứ chưa nghe nói đến mấy “Khu Trù Mật”, kỳ nầy được thông báo là chúng tôi sẽ dự Lễ Khánh Thành Khu Trù Mật Khánh Vân. Thực ra tôi chưa tới Khánh Vân lần nào, mặc dù quê cũ tôi là bên ấp Phước Lương của xã Phước Thành, chỉ cần đứng bên nây cánh đồng là nhìn thấy bên kia. Thỉnh thoảng thằng Thạch A cũng có nói: Xã Tân Hóa Khánh sở dĩ có tên như vậy là do lấy chữ đầu của 3 ấp ghép lại, Tân là Tân An, Hóa là Hóa Nhựt, Khánh là Khánh Vân. Tôi hỏi: “Tại sao nó biết?”. Nó bảo là nghe ba, chú nó nói. Ừ thì cũng có lý thiệt! Ngày trước khi chưa thành lập Tỉnh Phước Thành thì Tân Hóa Khánh gọi tắt là Tân Hóa cũng như Tân Khánh (gọi tắt của Tân Phước khánh) đều thuộc Quận Châu Thành của Tỉnh Thủ Dầu Một hay Bình Dương, nhưng khi Tỉnh Phước Thành thành lập thì Tân Hóa Khánh nằm trong Quận Tân Uyên thuộc Tỉnh ấy. Và một lần nữa tôi nghe đến địa danh Khánh Vân nhiều là nó gắn liền đến cứ điểm của Đảng Cướp Rừng Xanh của hai ông Bời, Ông Liễu. Và sắp tới chúng tôi sẽ được đi dự Lễ Khánh Thành Khu Trù Mật ở đó.

Đến ngày, theo thông báo là chúng tôi phải chuẩn bị quần trắng, áo sơ mi trắng, giày trắng để đi dự lễ. Chiều ngày trước bọn học trò chúng tôi tụ tập tại trường học đợi chờ xe cam nhông nhà binh đến chở xuống Khánh Vân. Không phải chỉ học trò chúng tôi không, mà còn rất nhiều thành phần đoàn thể khác. Xe đổ chúng tôi gần một cái chợ trên nổng cao, cạnh con đường rất rộng mới, người ta nói đó là con lộ 50 tức là rộng 50 thước. Chiều được phân phát cho các phần ăn, rồi phân phối đến những nơi để tối ngủ trọ vào các chỗ đó. Nhà cửa ở đây được phân từng lô, họ cất nhà phía trước có sân, trước là đường xe, hai bên hông và phía sau có trồng chuối hay cây ăn trái, nhưng chỉ mới trồng thôi. Nhà nầy nối liền với nhà kia xem có thứ tự lắm. Ra đến đây tôi hỏi mấy người lớn, họ cũng không biết nơi đâu là cứ địa của Đảng Cướp “Rừng Xanh”, nhưng chắc chắn là Đảng Cướp ấy ở tại Khánh Vân nầy! Sáng hôm sau chúng tôi thức sớm, được lịnh tập hợp lại và dẫn đến vị trí mà hàng ngũ học trò chúng tôi được sắp xếp. Đội hình chúng tôi được tiếp nối với các đoàn thể khác trước khi đến các trường Tiểu học của nhiều nơi, vì chúng tôi được đại diện cho Trường Trung Học Công Lập của Tỉnh cơ mà! Rồi đến giờ có máy bay trực thăng đến. Lâu sau loa phóng thanh hô chào mừng mà chúng tôi phải hô theo vì Ngô Tổng Thống (tức Ngô Đình Diệm) đến. Ông đi duyệt qua một số đoàn thể rồi trở về khán đài. Buổi Lễ được khai mạc, đứng nghe đọc diễn văn khá lâu, bọn nhỏ học trò chúng tôi, kể cả các trường khác có vẻ mệt mỏi, hàng ngũ không còn chỉnh tề như trước. Lúc đó, có những cuộc biểu diễn đội hình của lính, xong đến đội hình học trò của trường nào đó mà chúng đi xếp đội hình hay quá khiến chúng tôi đua nhau ra phía trước coi cho đã mắt. Nghĩ lại mình ở trung học mà thua tụi Lớp Nhứt Tiểu học đó quá xa! Dở thiệt! Xong buổi lễ, sau thời gian nghỉ ngơi giải lao, lớp được lịnh tập hợp lại để xe nhà binh chở trở về Tân Uyên. Về đến nơi, chúng tôi được trường cho về nhà nghỉ, sáng mai đi học tiếp. Trong lúc về, tôi mới nghe người ta nói: Khu trù mật Khánh Vân là một trong hai khu thí điểm ở Miền Nam lúc bấy giờ, tức là Khánh Vân và Vị Thanh - Hỏa Lựu ở một nơi nào đó của Miền Tây. Xong kỳ nầy rồi, Phụng mất đi người bạn thân thiết là chị Mỹ Duyên, chị được trường ở Sài Gòn nhận cho về học dưới đó. Từ đó chúng tôi ít đến nhà thuốc tây của anh chị Mỹ Duyên nữa! Rồi bọn chúng tôi cũng cùng nhau làm đơn òn ỉ xin chuyển về Trường Trịnh Hoài Đức học cho gần nhà. Nhưng ít lâu sau đều được trả lời là đơn bị bác! Rồi năm học đầu tiên cũng chóng qua mau. Ba tháng nghỉ Hè ở nhà mà nghe ve kêu, nhìn hoa phượng đỏ rực các sân trường vắng lặng. Gần đi học chúng tôi lại làm đơn xin chuyển về Trường Trịnh Hoài Đức một lần nữa, hi vọng là sẽ được nhận vào đầu năm học của niên học sau. Nhưng rồi đơn cũng đều bị bác! Thế là đành tiếp tục đi học trên Tân Uyên!


Nguyên Thảo,

10/01/2023.




Friday, December 30, 2022

 

  Happy New Year 2023:     

 

Kính Chúc Mọi Người Luôn Hạnh Phúc  

Cầu Mong Khắp Chốn Được Bình An