Sunday, July 16, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (19)


Sau thời gian 3 tháng nghỉ Hè, chúng tôi lại lũ lượt đến trường. Năm nầy là năm cuối của Bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp (niên học 1962-1963), chúng tôi phải dự vào cuộc thi bằng và lên lớp. Thông thường muốn lên lớp Đệ Tam trước kia học sinh phải có bằng Trung Học, nếu không thì phải học lại lớp Đệ Tứ lần nữa. Nhưng không biết năm nay thế nào, nếu có sự thay đổi để học trò được nhẹ nhàng hơn thì bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp không còn quan trọng, dù có hay không vẫn được lên học trên lớp Đệ Tam. Cái điều đó còn trong sự quyết định của Bộ Giáo Dục, nhưng hiện tại là chúng tôi phải cố gắng học cho một kỳ thi vào cuối năm. Các Thầy, Cô có nhiều thay đổi: Năm nay Thầy Mai Văn Phú dạy môn Toán, Cô Mai Thị Hồng dạy Vạn Vật, Cô Trần Kim Vân dạy Công Dân, Thầy Thại vẫn dạy Pháp Văn, Thầy Trần Văn Xuân dạy Sử, Địa. Lý Hóa là Thầy Anh, và môn Giảng Văn vẫn là Thầy Khánh. Cái không khí của một lớp cuối năm sẽ trải qua một “Kỳ Thi” đè nặng lên những đứa học trò như chúng tôi. Nếu không vượt qua được, có thể sẽ gặp lại trường hợp mà chúng tôi đã trải qua như trong kỳ thi tuyển vào lớp Đệ Thất trước kia.

Còn tình hình chiến sự cứ tăng dần, làm trên đường đi học có nhiều âu lo: Chỉ sợ đi đường rủi lọt vô giữa vòng hai bên đụng độ, hoặc khi đoàn xe quân đội bị giựt mìn thì rất nguy hiểm, chứ bình thường thì không đến đổi nào, vì dù gì những đám học trò nhỏ vẫn được nhiều châm chước, ưu đãi để đi học. Thỉnh thoảng gặp những toán hành quân, chúng tôi vẫn được dễ dãi cho đi qua để đến trường hay đi về. Về đường thì lúc nầy tương đối dễ dàng vì chúng tôi không phải băng qua các đồng ruộng, hay cầu khỉ nữa mà đi bằng những con đường mới khá tốt với các đoạn khô ráo, bằng phẳng. Tuy nhiên, dần rồi an ninh không ổn khi các nhà người dân trong xóm bị dời vào tập trung trong khu qui định để thành lập các ấp gọi là “Ấp Chiến Lược”. Giống như khoảng thời gian trước đường lên Tân Uyên qua các xã Tân Hóa, Tân Hội, Tân Long, Sở 49 phải thay đổi khi người dân các nơi đó bị buộc dời nhà ra Tân Khánh hay nơi nào đó mà người ta thích, thì đường đi trở nên nguy hiểm hơn do chiến cuộc: Đường sá bị phá, cầu cây bị đốt và trở thành những nơi có thể đụng độ giữa lực lượng hai bên bất cứ lúc nào, nên chúng tôi phải chuyển hướng, chuyển đường đi để được an toàn cho tính mạng. Thì ở đây, cũng may lần nầy là dân chúng dời đi vào những tháng cuối cùng của năm học, nên sự đi lại của chúng tôi không phải gian nan trong thời gian dài. Nếu không, có lẽ chúng tôi phải tìm nơi ở trọ trên Tân Uyên như tôi đã làm trong những năm trước.

Ở trong cái lớp được gọi là lớp cuối cùng của trường, thường thường nó cũng có những tâm lý tạo nên những kỷ niệm với nhau, nên các chuyện đi thăm viếng nhau thường xuyên hơn hầu như để níu kéo những tình cảm thân thương trong những năm qua; mặc dù sự nổ lực học hành càng lúc càng tăng thêm khi ngày tháng gần về cuối năm. Riêng tôi thì ít dịp đi hơn nhưng cũng có vài lần đi thăm viếng bạn bè như có lần đi với Chi qua bên xã Bình Hưng chơi để rồi Chi hướng dẫn cho cách chèo ghe, dù ráng chèo cho đúng cách mấy mà thuyền cứ quay vòng vòng, cuối cùng phải giao lại cho Chi. Hoặc là đi sang nhà Chị Sương bên Mỹ Quới để ăn trái sấu vị ngọt. Rồi có lúc anh Thông kéo cả đám sang nhà anh ở xóm dưới của Xã Bình Hưng, gần cuối cù lao sáu xã. Chúng tôi cưỡi xe đạp qua đồi Bình Chánh đến phía trước trường học, rồi mới đi đường ruộng xuống tới bờ sông, anh Thông kêu đò bên kia qua rước qua. Đến nhà anh Thông mới thấy cái đặc biệt của những nhà cất ở đây. Có lẽ do thường hay bị ngập và có những năm bị lụt nên nhà có nền rất cao, gần quá đầu người. Và có hôm tôi xuống nhà chị Thu Hồng ở đó một đêm, rồi hôm sau mới về.

Sau khi nhà cửa của xóm Phước Lộc dời hết vào trong khu vực Ấp Chiến Lược Tân Khánh là lúc mà chúng tôi cũng không dám đi con đường băng qua xóm cùng đồng ruộng để qua Khánh Vân nữa, vì có thể gặp những khó khăn khi gặp những người bên nầy hay bên kia hoặc là lọt vào giữa chiến trận thì sao? Do đó đường đi chúng tôi bây giờ lại phải chuyển hướng lần nữa khi mà lớp học chỉ còn khoảng hơn hai tháng. Không lẽ lên xin ở trọ, mà trong khi mấy bạn vẫn đi về, cho nên tôi vẫn đi theo mấy bạn đi về luôn. Đường đi bây giờ phải ra Bình Chuẩn, xuống Tân Ba rồi mới lên Tân Uyên, gần gắp đôi lúc trước. Nhưng nhờ đông vui nên đoạn đường không trở nên mệt nhọc cho lắm. Thời gian nầy, có kỷ niệm mà chúng tôi cũng hoảng hồn không biết sẽ bị phạt lúc nào không hay: Vốn là nhằm ngày chào cờ, thông thường trước khi hát bài “Quốc Ca” thì phải hát bài “Suy Tôn Ngô Tổng Thống”, trong bài có câu “bài phong kiến bốc lột” thì không biết bạn nào đó lại hát bậy là “bốc l..” khiến mấy bạn kế bên tức cười, và rồi cả đám không thể nhịn cười mà ca không được. Thầy Tổng Giám Thị Mã Sấm bắt ca lại, thì đến đoạn đó bạn ấy cũng hát y như vậy khiến cả nhóm lại cười nữa, không tài nào hát được. Thế là bị Thầy mắng cho một chập nữa, rồi buổi chào cờ đành dở dang, chỉ kéo cờ lên mà không hát nữa. Từ đó về sau việc chào cờ dành cho mấy lớp dưới. Lớp chúng tôi bị loại ra rồi. May mắn là không bị hình phạt nào khác! Mà mấy bạn cũng không dám chỉ ra người nào hát như vậy. Đúng là hú hồn! Thế rồi năm tháng cũng qua mau, ngày bãi trường nghỉ Hè cũng đến. Trường thông báo những ngày đến trường để biết tin tức hoặc những giấy tờ về Kỳ Thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Nơi thi của chúng tôi được biết là phải về Biên Hòa nhưng trường nào thì chưa biết. Sau đó không lâu, Trường cho biết ngày để chúng tôi đến để nhận Phiếu Báo Danh để biết chỗ thi của mình ở trường nào, ở đâu ở Biên Hòa và lịch trình của những ngày thi cùng thời gian. Trong những ngày cuối cùng không ai dự tính chụp hình chung của cả lớp, rồi đột nhiên có lời kêu gọi của bạn bè réo nhau để chụp chung làm kỷ niệm, cho nên tấm hình chung ấy còn thiếu khá nhiều, không đủ người! Rồi chuyện trò chia tay, mạnh ai nấy về lo học bài, trau luyện cho ngày đi thi để làm “Sĩ Tử”!

Đến ngày, Son, Huệ, tôi hẹn nhau cùng đi xe đạp đến trường sớm để nhận Số Báo Danh. Chỉ gặp vài người bạn tâm tình đôi chút, rồi cả ba đi luôn xuống Biên Hòa để xem nơi trường nào mà mình dự thí. May mắn là chúng tôi cùng thi tại một trường, chứ không phải khác, thành ra chuyện đi kiếm trường còn tập trung chứ không phải kiếm từng trường. Trường thi là tại Trường Tiểu Học Nguyễn Du. Trường nầy nằm trên đường chính, tại cái bùng binh lớn trên đường vô chợ Biên Hòa và đường đi thẳng lên Trường Trung Học Ngô Quyền. Khi kiếm được chỗ thi của mình xong, chúng tôi ra bờ sông ăn uống, nghỉ ngơi vào giấc trưa để sau đó đi xe đạp về. Nhưng rồi Huệ nói có ông anh ở gần đây, mới kêu tôi và Son đến đó chơi, sẵn hỏi luôn để những ngày thi xuống ở trọ vài ngày. Ông anh họ của Huệ vui lòng cho chúng tôi ở trọ, chỉ cần đem gạo và ít tiền phụ tiền mắm trong mấy ngày đó thôi. Anh chị sẵn sàng giúp cho. Như vậy, là chúng tôi được may mắn thêm một lần nữa! An lòng mọi chuyện, cả ba không tính về thẳng trên nhà mà lại cưỡi xe đánh môt vòng qua Thủ Đức chơi cho biết. Nhưng rồi đường đi Dĩ An, xong tới Thủ Đức xa quá, nhưng lở rồi đành phải đi tiếp. Đạp xe về Ngã Ba Bình Triệu, lại về đồng Chó Ngáp, Hiệp Bình Xã, Lái Thiêu rồi tới Búng mới rẽ về Tân Khánh. Về đến nhà mệt đứ đừ!

 

Nguyên Thảo,

16/07/2023.



Sunday, July 2, 2023

*Một Kho Tàng Văn Nghệ Vĩ Đại!

 

Đọc tựa đề Quý Vị có lẽ ngạc nhiên không cùng, khi tôi viết tựa đề như thế. Nhưng đây không phải là của nước nào khác, mà là của nước ta đó! Bạn không tin tôi ư? Bạn hoài nghi! Bạn cho tôi là người “nổ” cố hữu của những người mình thích nổ chăng? Ừ! Thôi thì cũng được, nhưng mời bạn đi vào những ý kiến của tôi về vấn đề ấy. Bạn đã biết hơn 16 tháng nay, nhìn vào tình hình trên thế giới có khá nhiều bất ổn, nhất là từ ngày 24 tháng 4 năm 2022, sau khi Nga đột ngột nửa đêm đưa quân đánh úp và dự trù thôn tính xứ Ukraina trong chớp mắt, hay vài ngày hoặc trong thời gian ngắn. Nhưng mưu lớn bất thành khiến thiên hạ mấy xứ Âu Châu giật mình tỉnh thức, rồi nhốn nháo cả lên để phải yểm trợ về vũ khí, huấn luyện cho người Ukraina để chống lại quân Nga. Nhưng tội nghiệp cho người dân Ukraina phải bỏ xứ ra đi mà lánh nạn khắp các nước khác, những người còn ở lại phải nhìn những cảnh tàn phá khi Nga tấn công vào các chung cư, tòa nhà, bệnh viện, trường học, những cơ sở điện nước làm cho dân Ukraina khốn khó mọi bề, nhất là thời tiết vào mùa Đông. Thế nhưng lại càng tội hơn khi quân Ukraina được các nước trang bị vũ khí nhưng chỉ được để chống lại quân thù trong phạm vi nước của mình, chứ không được tấn công sang lãnh thổ của đối phương. Đúng là võ sĩ bị trói tay để địch thủ tha hồ đấm đá, quăng ném từ xa mà mình chỉ được quyền chống đỡ không thôi thì chẳng có sự tức tưởi nào hơn! Đã vậy, đối phương còn “điếm đàng” hơn nữa là tìm cách sáp nhập lãnh thổ chiếm được vào lãnh thổ của mình, rồi hăm he dùng đến những vũ khí nặng ký để bảo vệ cho việc làm đó, chứng tỏ tham vọng chiếm đất dần từng bước trong chiến lược chiến tranh. Đúng là “lý lẽ của kẻ mạnh”, vậy thì những nước nhỏ từ nay sẽ làm sao đây? Có lẽ bài học ấy là bài học quý giá cho các nước nhỏ suy ngẫm về thân phận của mình! Nhất là những nước có vị trí kế bên nước lớn và hùng mạnh!

Nhìn vào chuyện người, ta lại nhìn về chuyện của ta. Ukraina chỉ chưa tới một năm rưởi chiến tranh mà bị tàn phá khủng khiếp như vậy, thế mà đất nước Việt Nam nhỏ bé của mình lại trải đến mấy mươi năm. Nếu tính từ năm 1945 đến năm 1975 thì cũng là ngót nghét cả 30 năm. Trong 30 năm đó đã biết bao nhiêu người ngã xuống, bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu người thương tật, và biết bao nhiêu tài sản phải bị tiêu tan, quê hương đầy tàn phá. Chắc chưa ai làm lại một công việc kiểm kê để thấy rằng thiệt hại đã đến mức độ nào ở cả hai Miền Nam Bắc, chỉ vì mấy chữ: Độc Lập, Tự Do và Thống Nhất. Vì Độc Lập toàn dân tộc dấn thân vào cuộc kháng chiến chống Pháp ròng rã 9 năm. Vì Tự Do, Thống Nhất làm một cuộc nội chiến 20 năm. Hai mươi năm dài đăng đẵng, làm thân phận con người của những thanh niên không còn tuổi trẻ mơ mộng, để sống cho xứng đáng với tuổi thanh xuân tươi đẹp nhất của đời người. Nhiều con người chết sớm chưa kịp gây dựng tài năng cống hiến cho gia đình, Tổ Quốc. Có ai đã kết toán được thành quả của 30 năm ấy chưa nhỉ?

Tất nhiên trong hoàn cảnh chiến tranh, nhiều người sẽ có cái nhìn khác nhau. Không biết người Ukraina có diễn tả tâm trạng của mình qua từng trang sách vở, thi ca hay âm nhạc hoặc nghệ thuật nào đó không? Chứ đối với cuộc chiến tranh lâu dài của Việt Nam người dân trở nên chán chường, họ hiểu thân phận của mình, họ hiểu cuộc sống “không chừng không đổi”, “sống nay chết mai” hay chỉ trong vài giờ phút sau đã lìa đời, chưa kịp trối trăn. Cho nên nam thanh niên gần như trưởng thành về suy tư trước tuổi, hoặc học đòi theo kiểu thanh niên Âu châu sau Thế chiến thứ hai, sống vội vã để rồi phải đi vào “lính chiến” tham dự một cuộc chiến tranh tương tàn vì “Chủ Nghĩa Thế Giới”. Ôi trong hoàn cảnh ấy, người ta cần diễn tả các tâm sự, tâm trạng não nề, hay hứng khởi về cho cuộc chiến để khích động tinh thần người ta tiến lên để giành lấy chiến thắng theo cùng các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ đấu tranh. Dĩ nhiên là có những hoàn cảnh “bi hùng” mà nhiều người thích thì những bài ấy được truyền tụng trong dân gian, vượt lên để làm nên lịch sử như các bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan; “Đôi Mắt người Sơn Tây” của Quang Dũng, “Nhà Tôi” của Yên Thao chẳng hạn. Cảm xúc muôn chiều của nhiều con người trong cuộc chiến được diễn tả qua “sự bi thương”, nhưng trong đó cũng có cái “hùng tráng” của nó. Điều ấy được thể hiện qua nhiều tác giả chứ không riêng gì các nhà thơ ấy, mà trong giới nhạc sĩ thì thật là nhiều kể cả ngoài Bắc lẫn trong Nam, dù khuynh hướng đường lối văn nghệ có chiều khác nhau. Nhưng dù gì sau ba mươi năm chiến tranh, trong một cuộc chiến dài như thế đấy và với một dân tộc thích nhạc, thơ thì không thể không có nhiều bài thơ, nhạc hoặc văn phẩm kể cả tư tưởng, tài liệu và triết học nào mà thiếu đề cập tới. Nếu tất cả gom góp lại ở cả hai miền Nam, Bắc thì có thể là cả một gia tài đồ sộ mà không một nước nào trên thế giới có thể có được sưu tập về “văn nghệ chiến tranh” vĩ đại như ở nước ta. Đó là chưa kể đến những kinh nghiệm của một quốc gia có “sự nô lệ cả ngàn năm” với phương Bắc, cả trăm năm với phương Tây, thế mà bây giờ người ta lại nở đành bỏ quên hay ngăn cấm! Thật là tiếc quá phải không Quý Vị?

 

Đồ Ngông,

28/06/2022.

 


Saturday, June 17, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (18)

 

Lộ trình đi mới nầy có xa thêm đôi chút nhưng tình hình chiến tranh chưa ảnh hưởng đến mấy, bởi do nó là con đường thô sơ, không được sửa chữa sau thời chiến tranh chống Pháp. Thực ra, theo dấu vết cũ ngày xưa con đường cũng được Thực dân Pháp làm tương đối hoàn chỉnh, con đường cũng được đổ cát đá làm nền, đổ đá đỏ lên trên khá rộng. Nhưng có lẽ trong thời gian chống Pháp đường bị phá hư để cản bước tiến các cuộc hành quân của quân lính thực dân, rồi trong mùa mưa lại bị xói mòn nhiều hơn. Sau hòa bình chỉ sửa chữa ở mấy khu có khu dân cư, còn phần băng ruộng qua Khánh Vân không có sửa mà người ta phải đi trên những bờ ruộng lẫn những khoảng đường loang lỗ còn lại. Có hai cầu bị phá hư là cầu Vũng, và cầu Suối Cái, cầu bên Suối Cái nằm dưới suối, sau người dân tìm cách lấy sắt để làm vật dụng hay bán đi. Còn khung sắt bên Cầu Vũng hãy còn chút ít nằm trên khoảng đường đá đỏ còn sót lại. Để tiện việc đi tới lui, người dân làm hai cầu khỉ, bằng hai nửa thân cây dầu cưa đôi nối với nhau. Trên có dàn cây tầm vông để làm tay vịn khi qua cầu. Tất nhiên chúng tôi phải canh thời gian để đi đến trường cho đúng giờ, vì vậy phải đi sớm hơn khá nhiều. Vì đi đám đông nên cũng có nhiều thích thú đôi khi quên hết mệt nhọc, mà lắm lúc lại trở nên vui hơn vì có những chuyện đáng tức cười! Đôi khi nó cũng trở thành cái khó chịu!

Quý vị đã biết đám con nít thường năng động, nhất là tuổi đang lớn thì cũng có nhiều cái “dị kỳ”, người ta nói cái tuổi háo thắng, bồng bột cũng chẳng sai. Đoàn đi đến đâu thì thường nói chuyện ồn ào, lớn tiếng, nói rất nhiều vấn đề giống như một đàn ong đang bay vang tiếng khắp đường. Có lẽ vì vậy mà những nhà ở gần đường không thích mấy. Không biết họ có nói gì không, mà những đứa chăn bò thường hay làm những chuyện mà đám học trò chúng tôi phải phản ứng! Lần đầu tiên khi đám chúng tôi đang cưỡi xe lên dốc sõi bìa xóm Khánh Vân thì bị tụi nó “giựt mìn” bằng cách cột dây vào một trái dưa khô hư để ngang đưòng, chúng tôi không để ý, khi đạp xe ngang qua thì nó giựt dây nghe một cái rột, trái dừa ngang qua xe thằng Huệ, may là nó đi dưới bàn đạp nên không hề hấn gì. Vì bận đi học nên đoàn không có phản ứng. Lần sau nó lấy gai tre đặt dọc theo đường xe đạp lấp đất lại theo kiểu “hầm chông” may mắn chẳng có xe nào bị lủng. Từ đó trong bọn chúng tôi đã để ý đến những đứa đó. Theo như Quý vị biết học trò trong quê thì nó cũng vốn xuất thân từ nhà nông là đa số, tất nhiên chúng có thể cũng đã là “chăn bò, cắt cỏ” thì không lạ gì với những đứa đó. Thế có hôm chúng lại xách dàn thung bắn tới, nhưng còn ngán như thế nào đó mà không dám bắn trúng. Như vậy chúng nó muốn tăng lên độ “phục kích”. Mấy ngày sau khi đi học chúng tôi cũng phải thủ đủ món chơi với tụi nó. Bị bao vây và đuổi bò tụi nó chạy đi xa, do vậy mà về sau nó không dám nữa, vì đón bò tất là không thể đi xa với mấy con bò, nếu chúng tôi đuổi mấy con bò xa chừng nào thì nó lại mệt chừng nấy, không khéo bò ăn lúa hay phá đồ của người ta thì lại càng khó khăn hơn. Vả lại, chúng tôi cũng có ba con bên Khánh Vân nầy. Đó là chuyện xung quanh trên đoạn đường Khánh Vân. Có một hôm đi học về qua khoảng ruộng thì đến bìa xóm Phước Lộc gặp một đoàn dân đi rất đông. Không hiểu chuyện gì, hồi lâu mới biết là lính ở đâu bên Hóa Nhựt chuyển đồn sang Khánh Vân thì phải, nhưng mấy ông lính ấy bắt dân chuyển đạn và vật dụng đi thành đoàn rất đông như thế đó để đi qua vùng mất an ninh. Khi đoàn chấm dứt chúng tôi đứng nhìn theo hồi lâu. Lúc ấy có vài tiếng súng nổ và đạn bay trúng mấy cây dừa trong xóm, hoảng hồn bọn tôi vội lên xe cưỡi đi về không còn đứng lóng nhóng nơi đó nữa!

Tình hình chiến sự càng ngày càng tăng tiến lên có hôm có máy bay oanh tạc phía trên Tân Uyên mà ở tại trường học chúng tôi nghe được đạn nổ và trực thăng vần vũ không xa lắm, rồi thỉnh thoảng đại bác ở quận lại bắn đi, ngoài đại bác 105 li, bây giờ có thêm 155 li nữa. Sau mấy ngày có nghe người ta nói đó là cuộc hành quân tiến vào chiến khu D. Nhìn hướng thì rất xa hơn vùng Đất Cuốc rất nhiều. Trên đoạn đường đi học từ Tân Khánh băng qua cánh đồng Phước Lộc đến Khánh Vân, băng thêm đồng ruộng để ra Ngã ba Bình Chánh rồi lên đồi dốc đồi cao nơi có cái nhà sàn cất trên gần đỉnh đồi mà chúng tôi thường gọi nó là “nhà cao cẳng”. Từ đầu dốc nầy đến khi đổ dốc tới ngã ba Bình Hóa là đoạn đường mà chúng tôi e sợ nhất, vì đoạn nầy hay bị “giựt mìn” và đụng độ nhau mặc dù nơi đây có một cái lò chén khá lớn! Và cũng trên đoạn đường nầy chúng tôi thường gặp một ông Giáo già từ trên Tân Uyên xuống dạy ở Trường Bình Chánh. Chúng tôi dở nón chào ông, ông cũng ở nón chào lại giống như phong cách lịch lãm mà chúng tôi đã thấy trong những sách cũ đã dạy hay nói tới. Sự bất ổn nhiều hơn khi báo chí đăng ở Sài Gòn có vụ hai máy bay bỏ bom Dinh Độc Lập làm hư hại khá nhiều, và trên đường đi học thường hay gặp những toán lính hành quân, nhưng bọn học trò chúng tôi cũng không bị làm khó dễ. Có hôm xe hơi của trại cùi Bến Sắn trục trặc giữa đường nước như thế nao đó, mà đã nhờ đến Huệ, Son và tôi chạy vào trong ấy báo tin cho người trong trại biết để có thể ra mà giúp đưa về, may là lúc chúng tôi đi học về nên có thể giúp cho chuyện ấy. Đi đường trên những cánh đồng có nhiều cái thú vị theo từng mùa, như mùa mưa thì phải lo chuẩn bị áo mưa hay những tấm nilông sẵn sàng. Rủi gặp những trận mưa thình lình, một là đụt mưa, hay là phải đội mưa mà đi, cưỡi xe đạp nhanh trong mưa vừa nghe gió, vừa mưa lạnh run phải cố gắng trong ca hát to để cho mình nghe được ấm hơn. Rồi những ngày mùa Thu, có gió heo may, sương lành lạnh, thấm ướt mặt mày, nhìn trên cánh đồng chỉ thấy mờ mờ hình ảnh của người đi chợ hay ra đồng. Có hôm giờ học hơi trễ, khi qua Cầu Vũng Huệ đi trước, rồi Son mới tới tôi. Đi tới giữa cầu. Huệ tự dưng đứng lại. Son hối đi, Huệ nói: “Không được, không được”. Vừa thúc, vừa la: “Gì mà không được! Đâu có gì mà không được”. Huệ trả lời: “Không được, không được, cầu chạy, cầu chạy!”. Tôi và Son cười: “Cầu chạy đâu mà chạy, thôi đi đi”. Nói thế chứ cũng đợi Huệ bình tĩnh lần qua cầu. Quả thật, gió hiu hiu thổi mặt nước lăn tăn gợn sóng chạy về phía sau, nếu mình nhìn xuống kỹ hơn thì giống như cầu chạy thật. Có lẽ Huệ lớn con, cao quá nên nhìn xuống mặt nước thấy hơi sâu, rồi sóng gợn nữa nên có cảm tưởng như vậy; cũng như lúc trước đi đường Tân Long khi các cầu bị đốt cháy, người ta phải lật đà sắt nằm ngang để dễ đi, Huệ cao quá nên nhìn xuống hố thấy sâu quá không dám đi mà phải bò. Cao quá cũng dở, mà lùn như tôi cũng không xong. Ôi mỗi người có một thân thể khác nhau, rồi cái nhìn cũng khác nhau! Rồi cũng trên con đường nầy có mấy lần đi theo vài câu chuyện nữa, sau đó chúng tôi đành từ giã con đường qua vũng, suối nầy để đi con đường mới. Vốn là một lần Phụng bỏ anh em chạy về trước. Khi chúng tôi đi tới thì Phụng vừa đẩy xe vừa khóc, thì ra xe Phụng đã cán gai tre mà nhóm chăn bò gài bẩy ngang đường. Rốt cuộc một đứa phải cưỡi xe vừa dắt xe đạp cho Phụng, và đứa khác phải chở Phụng trên ba-ga ở đàng sau. Rồi lại một lần nữa, không biết Phụng có gây thù hiềm gì với mấy người bạn ở khu Khánh Vân nầy không, mà Lập khi về trước đã cùng với mấy người bạn đón đường Phụng đánh trong khi cả đoàn còn mãi tuốt đàng sau. Khi đoàn tới thì chuyện đã rồi, rốt cuộc tìm cách giải hòa để cho anh em vui vẻ với nhau. Đó là những chuyện trên con đường cũ vì trước đó cả mấy tháng trời lính yểm trợ giữ an ninh để cho đoàn Công binh làm đường mới từ Dĩ An băng qua An Phú, rồi Ngã Ba Nhà Thơ thuộc xã Bình Chuẩn, qua Phước Hải, Hố Đá, Phước Lương để qua phía bên Khánh Vân gần đình. Khi con đường làm tới Khánh Vân, có cầu qua Suối Cái thuận lợi, thì chúng tôi không còn đi đường qua đồng ruộng Phước Lộc mà chỉ qua lò rèn ông Mân thì chúng tôi rẽ qua phải đi ra Gò Sở để ra tới đường mới, nó tiện hơn nhiều. Và từ đó không có chuyện gì xảy ra nữa đối với khu xóm Khánh Vân dù đối với bạn bè hay với nhóm chăn bò, và Huệ cũng chẳng bao giờ nói đến cầu chạy nữa! Khi đoàn làm đường đó làm qua khỏi Khánh Vân chưa bao xa thì đột nhiên dừng lại không làm tiếp, và tình hình chiến sự cũng càng ngày càng sôi động, trong khi đó tình hình chính trị ở Sài Gòn lại có nhiều rắc rối, biến động nhiều hơn. Trong những tháng sau của năm Đệ Ngũ nầy có Thầy Nguyễn Văn Thại về làm Hiệu Trưởng trường và con ông là Nguyễn Thu Thủy vào học chung lớp chúng tôi. Thầy dạy luôn môn Pháp Văn thay thế Thầy Thanh Tuyền, Thầy có một câu mà học trò nào cũng nhớ: “Qui sait, qui sait encore?... Encore?”.  

Thầy Mã Sấm và Thầy Nguyễn Thanh Tuyền chụp
cùng các chị nữ sinh lớp Đệ Ngũ vào Xuân 1961.


Và cũng thời gian nầy chị Út không biết lý do gì chị xin nghỉ luôn hay là chị buồn vì bạn bè cứ ghẹo chị có cái “xái quăn tóc” ở trước trán mà tụi nó nói đó là cái tướng “sát phu”. Đúng là “coi bói ra ma” chưa chi mà đã hại người! Từ ngày trường dời lên địa điểm mới, hôm nào học tới quá trưa chúng tôi tập hợp ăn cơm ở nhà Ông Bà Năm, ngoại thằng Cẩu nhà bên kia đường với nhà Bà Út, trước nhà có cây dương lớn, rất đông vui. Son thường dở cơm bằng lá chuối ăn với đường tán, còn Chi ăn ớt còn hơn là con nhồng. Có hôm biểu diễn, Chi cầm nguyên một chùm ớt hiểm cay khoảng mười mấy trái cắn một lượt. Cả đám thấy mà lắc đầu thán phục. Thế rồi năm học cũng vào Hè và mưa lại đến, chúng tôi được nghỉ vài tháng nghỉ ngơi, phụ công việc nhà!


Nguyên Thảo,

18/06/2023.





Tuesday, June 6, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (17)


Chính vì tình hình càng gay go cho nên nhiều học trò như chúng tôi xin ở trọ càng lúc càng đông hơn vì chuyện đi lại trở nên khó khăn, đôi khi lại gặp nhiều nguy hiểm trên đường đi. Ở lớp nầy phần lớn mấy chị bên nữ đã trở thành các thiếu nữ mặc áo dài trông duyên dáng, thanh lịch hơn; chứ không còn xuông đuột như hồi còn ở lớp Đệ Thất. Còn bên nam một số cũng đã trưởng thành, còn một số lóc nhóc như chúng tôi thì vẫn hãy là như cũ, tánh nào cũng như là tật nấy. Đúng là con nít có khác! Khoảng thời gian nầy Thầy Lê Hữu Ân không biết lý do gì mà Thầy không còn tới Tân Uyên dạy nữa, và Thầy Nguyễn Thanh Tuyền về thay thế. Thầy Tuyền lãnh môn Pháp Văn và Sử Địa. Còn trong đám học trò thì anh Nguyễn Văn Công không còn đi học nữa, có ai đó nói là anh Công đã đi vào trong rừng rồi! Và năm học được kết thúc để bọn học trò chúng tôi được nghỉ vào ba tháng Hè với chiến sự càng gia tăng hơn.  Và cái tin đáng mừng nhất là sang năm học có thể sang học ở trường mới, mà thật sự là phải vậy vì nếu có hai lớp Đệ Thất nữa thì tổng cộng là 5 lớp, một Văn Phòng. Tất nhi ên, Trường Tiểu Học Uyên Hưng không thể có đủ phòng cho Trường Phước Thành mượn nữa rồi. Vả lại, trường Tiểu Học cần phát triển thêm ra, vì số học sinh đi học càng lúc càng gia tăng. Trước khi nghỉ Hè, tôi và chị Thay lại nộp đơn xin chuyển về Trường Trịnh Hoài Đức lần nữa, lúc nầy văn phòng trường vẫn còn nằm chung bên Trường Tiểu Học Cộng Đồng Búng. Đến khi gần đi học, tôi theo chị xuống Văn Phòng hỏi xem kết quả ra sao? Khi nghe nhân viên báo là chị không được, tự dưng tôi nghỉ đến kết quả của mình rồi mới hỏi người nhân viên. Không biết như thế nào mà người nhân viên nhìn tôi mà cười quá chừng, tôi thắc mắc. Đến khi ra ngoài trên đường xuống Búng đón xe tôi hỏi chị Thay: “Làm gì mà bà đó bả cười em dữ vậy?”. Chị Thay nói: “Không biết tại sao lúc đó mặt em xanh dữ vậy?”. Thì ra, khi tôi nghe kết quả của chị Thay không được thì tôi cũng nghĩ và sợ kết quả đơn mình cũng không được, nên lo sợ lộ ra mặt, mà rồi kết quả cũng chẳng được tí nào. Từ lần nầy tôi nghĩ mình không cần làm đơn xin chuyển trường nữa, vì cũng khó mà được.

Sau ba tháng nghỉ Hè, thì đám học trò lo khăn áo, sách vở lại đến trường, tụ tập để nhiều mẫu chuyện được kể cho nhau nghe, nhưng tất cả bây giờ gần như đã lớn hết, không còn có những đứa lẹt đẹt như tôi và Thạch A. Những anh phát triển trước thì chững chạc hơn giống như người lớn. Ngôi trường mới xây cất chưa hoàn thiện lắm ở khu đất kế bên nghĩa địa gần Nhà Bảo Sanh Song Long, và đối diện với rừng tre mà cò thường đậu ở bên kia đường. Trường ở dưới khu hơi trũng, nhưng phía sau là đồng ruộng, nên không bị đọng nước trong những ngày mưa. Trong giai đoạn tạm thời thì Lớp Đệ Ngũ chúng tôi cùng Văn Phòng dời lên trước, còn mấy lớp kia sẽ dời lên sau, nhưng cũng không muộn lắm. Phần chào cờ do lớp chúng tôi phụ trách, Thứ hai mặc quần trắng, giày, áo trắng, còn những ngày khác thì áo trắng, giày trắng, quần xanh. Do số lớp tăng, nên nhiều Thầy Cô được bổ nhiệm về tăng cường. Như tôi được biết thì có Thầy Thạc, Thầy Lịch, Cô Hoan, Cô Hồng, Cô Vân. Số học trò từ Tân Hóa đi lên được tăng thêm, đa số vẫn là cưỡi xe đạp đi về. Năm nầy học trò từ trên Phước Hòa, Phú Giáo hay Phước Vĩnh không còn xuống Tân Uyên nữa mà trên ấy đã có một Trường Chi nhánh của Trường Trung Học Phước Thành mở ra để học trò được thuận lợi đi học hơn, như vậy Tỉnh Bình Dương có hai trường Trung Học Công Lập trước (Trường Trịnh Hoài Đức và chi nhánh ở An Mỹ sau tách ra làm Trường Trung Học Công Lập An Mỹ), và Tỉnh Phước Thành lần nầy có Chi nhánh ở trên Phước Vĩnh. Có thể đó là những bước đầu phát triển Trường Trung Học Công Lập cho học sinh nhiều địa phương thuận lợi hơn và nhu cầu cho trẻ con đi học càng ngày càng nhiều! Thầy Tuyền vẫn phụ trách lớp chúng tôi về môn Pháp Văn, Sử Địa. Thầy thổi harmonica rất hay và dạy cho lớp bài ca Tiếng Pháp “Alouette”, mà cả lớp thích lắm vì mới lạ cùng cái giai điệu nhạc ngoại quốc mà lần đầu chúng tôi mới được tiếp cận. Và để chuẩn bị cho ngày Tết, Mùa Xuân Thầy dạy hát bài “Đón Xuân” của Phạm ình Chương. Còn Thầy Tạ Kim Anh trong giờ hóa học siêng làm, thực hành những phản ứng hóa học cho chúng tôi xem vì lúc đó các trường nhận được nhiều dụng cụ thí nghiệm hóa học để thực tập cho môn học từ phân giải muối thành clor và natri, hay các phản ứng khác trong các bài học. Lúc ấy Trường Trịnh Hoài Đức có phòng Thí Nghiệm lớn, nhưng ngày Lễ Khai Mạc Phòng Thí Nghiệm thì lại có trường hợp quăng lựu đạn nên học sinh, Thầy Cô chạy tán loạn cả lên, may là lựu đạn không nổ; nếu nổ không biết bao nhiêu người bị thương và ngay cả chết nữa. Đúng là thời buổi chiến tranh! Có chuyện may mắn trong đám học trò chúng tôi là anh Nguyễn Văn Đi khi trưa đi tắm ở Bến Cây Sung, không biết anh đi dưới bìa song để tắm, rủi hụt chân như thế nào đó mà nước cuốn đi xuống phía dưới, may là có ông lính quận cũng đang ngồi giặt đồ ở Bên Cây Xanh, thấy vậy ông liền nhảy xuống cặp nách kéo anh vào bờ. Hú hồn, nếu không thì chắc phải chia buồn thôi!

Bắt đầu từ năm học nầy, chiến sự có chiều tăng dần, những vụ đụng độ hai bên thường hơn. Nghe đâu có tin trên Tỉnh lỵ mới bị đánh vào, tù chính trị được thả ra và ông Tỉnh Trưởng đã chết. Tiếng súng đại bác 105 li của cứ điểm ở Quận bắn đi khá nhiều, nhưng tình hình chung quanh thì vẫn yên ổn không có gì là hệ trọng lắm. Tuy nhiên đường đi học có lúc trở nên khó khăn vì các cầu thường bị hư hay đốt phá, đôi khi phải vác xe đạp đi trên những thanh đà hình chữ H lật ngang. Đường đi chính thì bị trở ngại do những cây dầu hay cây sao bị cưa ngã chắn ngang đường từ sở 49 đến Ngã ba Bình Chánh, vì thế mà nhóm anh Năm, Huệ, Son, Sợi, Lực, Em, Ẩn, Phụng, Phùng … phải đi bằng con đường khác từ đầu dốc dài Bình Hóa băng qua sở Bác Vật rồi ra sở 49 mới đi về.

Còn thỉnh thoảng có những vụ thiêu xác của những lính người Miên ở bìa trong sân banh khiến chúng tôi ngồi học mà nghe mùi khét lẹt. Đặng Văn Sính dự thi trong cuộc đua thể thao đi bộ từ ngã ba Bình Hóa lên Tân Uyên do Quận tổ chức được hạng nhì, và trong cuộc tranh túc cầu anh Huỳnh Văn Siêng gặp tai nạn trong khi đấu khiến anh bất tỉnh khá lâu, và từ đó trường ngưng môn túc cầu mà chỉ còn tập chơi môn bóng chuyền, hay vũ cầu với cái sân bên hông văn phòng mà Thầy trò chúng tôi đã làm thay thế cho sân ở nhà của Tô Công Tâm. Do tình hình chiến sự chị Hồng khi đến nhà Bà Út chơi với chúng tôi đã xin trọ, Bà Út chấp nhận; rồi sau đó là Báu và Trí cùng đến trọ chung với tôi và Thạch A, nhưng chúng tôi ngủ trên bộ ván ở nhà phía sau của Bà Út, vì nhà cũ của Bà Út là của Bà và gia đình Út Màu ở từ khi Út Màu có Dượng Út, cùng gia đình Bác Bảy. Còn nhà Bác Hai thì có gia đình Bác cùng gia đình Bác Sáu Bùng. Có những đêm Bác Sáu đàn Vọng Cổ tập cho chúng tôi hát, nhưng chỉ có chị Hồng là hát được thôi, tôi thì giọng thấp quá, mấy bạn khác không muốn học. Lúc mình buồn ngủ, nằm thiu thiu mà nghe đàn Vọng Cổ hay các bản nhỏ thật là thú vị, nghe rất đã. Lạ một điều là bắt đầu năm học, Thạch A bắt đầu học giỏi trên tất cả các bộ môn. Tôi không nghĩ chỉ trong ba tháng Hè mà nó học thêm để giỏi như vậy? Dù cho chú Sáu nó, hay Chú Út có dạy nó cũng không thể tiến nhanh và tiến đồng bộ được. Chỉ có thể là trong tuổi dậy thì của nó có nhiều đột biến về kích thích tố khiến trí não được mở ra để mà học tiến bộ như thế. Chừng vài tháng thì tôi lại không trọ trên nhà Bà Út nữa mà lại theo Huệ, Son và các bạn khác cưỡi xe đạp đi, về mỗi ngày vì lúc nầy các xã Tân Long, Tân Hội phải dời nhà ra Tân Hóa hay Tân Khánh do chiến sự trong các nơi ấy trở nên ác liệt và người dân không thể ở trong đó được do sự đụng độ giữa hai bên càng ngày càng nhiều, đồng thời cũng do Chính sách “dồn dân lập ấp chiến lược” nên họ phải di tản. Chị Thay, anh Năm, anh Sợi, chị Mướp dần nghỉ luôn, nghe các bạn nói là họ đã đi trong rừng. Sở dĩ tôi cưỡi xe đạp đi về theo bạn bè, không ở trọ nữa vì thấy mình có thể đủ sức, thứ hai là bạn bè đi học lúc nầy không đi đường vô Tân Long, Bà Trắng (Bà Trắng là tiếng dân gian gọi cho các nữ tu Thiên chúa giáo làm trong trại cùi Bến Sắn, có địa điểm bệnh viện trong sở cao su số 10, vì các nữ tu ấy mặc đồng phục màu trắng nên người ta gọi “Bà trắng”) nữa mà phải đi ra Tân Khánh, chạy ra Phước Lộc, đi Khánh Vân, Bình Chánh để lên Tân Uyên đi ngang nhà, thành cũng thuận lợi cho tôi, và với những ngày học một buổi tôi có thể phụ giúp cho gia đình được. Thế là khoảng hơn giữa năm Đệ Ngũ tôi theo bạn cưỡi xe đạp đi học và về mỗi ngày. Chính vì tình hình như vậy mà sau nầy những học trò xã Tân Hóa không còn lên Tân Uyên thi nữa mà đổ về thi ở Trường Trung Học Công lập An Mỹ.


Nguyên Thảo,

7/6/2023.


 


Tuesday, May 23, 2023

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (16)


Tình hình an ninh không biết như thế nào mà báo chí đưa tin có chuyện đảo chính ở Sài gòn, nhưng cuộc đảo chính ấy không thành công và người ta đồn là ông Thiếu Tá Nguyễn Minh Mẫn của Tỉnh Phước Thành có đem quân về giải cứu, nên được Tổng thống Diệm nhận làm con nuôi. Chúng tôi chỉ nghe đồn như thế, không biết là có đúng không? Nhưng từ sau sự việc ấy ông Tỉnh trưởng thường hay xuất hiện ở nhiều nơi trong Quận. Đã vậy còn xảy ra một chuyện khác khá thương tâm. Vốn là Quận có tổ chức một đoàn đi công tác, không biết đi đến nơi đâu mà đi bằng thuyền theo sông lên miệt trên, hình như Lạc An gì đó, nhưng không biết vì sao có tiếng súng nổ mà người ta nói đó là tiếng súng đại liên, nổ liên hồi. Khoảng một buổi sau có tin là hai Thầy đã chết trong có có Thầy Khuê mà tôi đã từng biết, cùng với mấy người khác làm trong Quận cũng đi trong chuyến cộng tác đó. Người sống sót còn lại cho biết là đoàn đi gặp đoàn thiết giáp bên kia sông có lẽ do bắn lầm mà sinh ra cớ sự. Thật rất thương cho Thầy Khuê, một Thầy trẻ, hiền, rất đẹp trai nhưng không may phải chết sớm mà cũng chẳng biết gia đình Thầy ở đâu? Xác của hai Thầy được đưa về Bến Cây Sung để đưa về nhà, còn Thầy Khuê thì đưa về nơi trọ.

Sông Đồng Nai chảy về đến Tân Uyên thì chảy thành hai nhánh chảy bao bọc một cái cù lao lớn gọi là cù lao 6 xã, gồm có 6 xã trên đó, tôi chỉ biết có hai xã Bình Hưng và Mỹ Quới, còn mấy xã khác thì không nghe nói tới tên nên không biết, cái nầy chắc phải hỏi đến nhà văn Bình Nguyên Lộc… Trước cái cù lao lớn đó, còn một cái cù lao nhỏ, nhưng thường bị xâm thực bởi nước sông vào mùa mưa. Tại Bến Cây Sung nầy có nhiều lần tôi đi tắm ở đây, và thường bơi, nhưng người ta bảo coi chừng đừng bơi ra quá xa nó nguy hiểm lắm nên tôi giới hạn đi tắm ở đây. Bên kia sông ở Bến nầy có một nhà máy cưa, nhìn từ bên nây thấy cây dừa và cái Bến của nó. Tại đoạn sông nầy hằng năm có cuộc đua thuyền tranh giải của các xã do Quận tổ chức. Cuộc đua rất hấp dẫn thu hút nhiều người xem, nhưng trong cuộc đua vừa rồi không hiểu sự xung đột như thế nào đó đã xảy ra vụ cầm cây chèo chém lên đầu của người đội khác khi về gần tới đích. Sự việc xảy ra không biết sau nầy còn có đua thuyền nữa không mà tôi không thấy? Ngoài Bến Cây Sung xuống phía dưới chút nữa là Bến Cây Sanh vì nơi nầy có cây sanh to, bên trên bến là nhà máy xay lúa, tôi cũng từng đến nhà máy xay lúa nầy với Bác Bảy con của Bà Út để xay lúa cho cả nhà. Và ở chợ thì có Bến Đò nơi đò đưa người qua lại giữa bên Cù Lao Sáu Xã và chợ Tân Uyên để mua bán. Nhà cửa phần lớn được tập trung từ Bến Cây Sung trở xuống chợ và trở ra giáp với đường Tỉnh lộ. Hai bên chợ là hai dãy phố cùng các cửa hàng buôn bán. Còn từ chợ trở xuống Cầu Rạch Tre nhà cửa không nhiều, nối dài dọc theo đường và bờ sông, phía đối diện với chợ là dãy phố thuận cho việc buôn bán, hành nghề, còn phía sau đó nhà không nhiều, kéo vô tới bìa ruộng. Rồi tới xóm Chùa nhà phía trong cũng lưa thưa, chạy tới ngã ba trường học.

Sự sinh hoạt ở trường có nhiều năng động hơn, vì năm nầy được thêm hai lớp Đệ Thất nữa nên mấy Thầy có tổ thi đua làm học đường viên cho mãnh đất trống phía sau các lớp, khiến chúng tôi cùng thi đua làm khung vườn mình có nhiều hoa đẹp để chấm điểm. Bọn học trò phải đi xin bông, kiểng từ nhà người dân đem về trồng, có hôm trời mưa lớn, tôi và Thạch A về không kịp nên phải đụt mưa cho đến khi tạnh. Trên đường về thấy mấy con cá nhỏ lách lách trên đường bò vào vũng nước. Thạch A thấy vậy bắt hai con, về nhà nghe nói “Chim sa, cá lặn” xui lắm, có thể bị có tang. Thạch A nghe sợ quá đem cá ra ruộng thả, rồi cứ sợ và khóc hoài. Có những hôm chúng tôi đi từ chợ đi về, dọc đường thấy có lưới nhện từ trong nhà rất xa với đường, thế mà không biết như thế nào mà nhện lại giăng lưới từ mấy cây trong sân nhà ra tới dây điện bên ngoài đường, thật là lạ, hỏi người ta chẳng ai biết vì sao? Đó là câu hỏi, thắc mắc mà chưa tìm được câu trả lời.

Hôm khoảng thời gian cao su rụng lá, những phu cạo mủ có thời gian phải nghỉ ngơi mà thời gian lại gần Tết, nhà máy mủ thiếu người trông coi cơ sở như thế nào đó mà Bác Sáu Bùng, con Bà Út, được nhờ sang đó ngủ một đêm trông chừng dùm. Bác Sáu rủ tôi và Long theo chơi. Ba người cưỡi xe đạp đi về đường đất đỏ chạy vòng quanh theo căn cứ của quân đội để đi qua đường phía bên kia để đi lên hướng Tân Hòa, Tân Tịch. Hồi chưa biết tôi tưởng là Tân Hòa, Tân Tịch xa trường học lắm, nhưng theo phỏng đoán của tôi thì chẳng xa mấy thì đã đến ngã ba, chúng tôi đi theo đường rẽ đó. Đi mãi đến một cái cầu nhỏ có nhà cửa dáng người thấp thoáng thì Bác Sáu nói: “Đã tới rồi!”. Xong chúng tôi đi vào một nhà kho, Bác Sáu nói: “Tối nay mình ngủ ở đây. Nhưng bây giờ còn sớm thôi đi một vòng ra ngoài coi chơi”. Sau khi để để đồ đạc vào vị trí, Bác Sáu đi trước, tôi và Long đi theo sau. Băng một khoảng rừng thưa, ra đến bờ cánh đồng cỏ, nhìn về bên kia nơi có những vuông nhà, Bác Sáu nói: “Người ta đang đánh xe bò chở đồ đạc để dọn nhà đó” theo sau xe là những làn bụi mỏng chắc do chân bò vít bụi theo từng bước đi. Rồi chúng tôi trở về trời cũng vừa tối hẳn. Bác Sáu cho biết đây là vùng Thường Lang, Đất Cuốc. Tôi hỏi: “Thường Lang, Đất Cuốc hả Bác Sáu, hồi trước có nghe mấy ông lớn nói khu nầy hồi xưa là ổ của kháng chiến phải không?”. Bác Sáu cười: “Ừ!”. Tôi lại biết được thêm một nơi nữa! Nhưng chúng tôi chỉ ngủ có một đêm đó thôi, mấy ngày sau đã có người vì người trông coi có công chuyện đi vắng nên chỉ nhờ Bác Sáu trông chừng một đêm thôi! Không ngờ đêm đó là đêm mà tôi với Long đồng hành trong một chuyến đi hơi xa ở Tân Uyên nầy, vì sau Tết Long và Phụng đã được người quen làm ở dưới Bộ Giáo Dục đứng ra xin cho cả hai được chuyển về Trường Trịnh Hoài Đức rồi. Thế là trọ ở nhà Bà Út bây giờ chỉ còn lại tôi và Thạch A.

Chiến sự càng ngày càng tăng tiến hơn, đã có súng nổ vài nơi. Thỉnh thoảng có tiếng cà-nông từ nơi trại lính bắn đi, nhưng không biết có chuyện gì lớn không? Rồi một ngày Ông Đại úy Quận trưởng của Tân Uyên đi xuống Tân Hóa Khánh bị giựt mìn chết ở Cầu Đúc Hố Khởi được đưa về trụ sở Quận. Nghe nói sau đó Ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Minh Mẫn có xuống đó và một số người bị bắt. Nhà cửa bây giờ có nhiều nơi người ta phải đào hầm trở lại để phòng ngừa những khi bất trắc mà có chỗ trú ẩn an toàn. Đường đi có những ngày có nhiều truyền đơn rải dọc theo đường cùng một số sự việc khác, nhưng bọn học trò chúng tôi được tương đối dễ dàng đi đến trường. Riêng tôi thì vẫn theo bạn sáng Thứ Hai đi lên và trưa Thứ Bảy xong buổi học thì theo bạn đi về. Và rồi, một đêm nọ nghe súng nổ văng vẳng ở phía bên sông, bên cù lao sáu xã. Sáng đi học thấy có cột một xác người tại gốc cây dầu bên bìa ruộng ỡ ngã ba đường vô trường học, bên hông có đeo một giỏ đan giống như người đi bắt cá. Những đoàn lính đi hành quân về đóng quanh quận thường xuyên hơn, và số người lính Nùng thưa dần theo ngày tháng. Có mấy người hiểu chuyện họ nói lính Nùng ấy được chuyển từ ngoài Bắc vào sau Hiệp Định Đình Chiến Genève năm 1954, họ là những người lính của Quốc Gia nên phải tập trung về Miền Nam theo Hiệp Định, cũng như Bộ Đội Kháng Chiến phải kéo ra Bắc theo sự phân chia hai miền đợi chờ cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1956.


Nguyên Thảo,

24/05/2023.



Thursday, April 20, 2023

*Khung Trời Kỷ Niệm! (15)


Vào năm học mới (niên học 1960-1961), trưòng có thêm 2 lớp Đệ Thất nữa và số học trò từ Tân Hóa Khánh đều lên thi trên ấy vì thuộc Tỉnh Phước Thành. Đường đi có thêm nhiều bạn bè gồm có Ẩn, Em, Phụng và nhiều bạn nữa mà tôi không biết. Tôi vẫn đi với mấy bạn trong sáng ngày Thứ Hai và về vào trưa Thứ Bảy, còn những ngày khác thì vẫn trọ trên nhà Bà Út. Không bao lâu thì trường có thêm Thầy mới, đó là Thầy Lê Hữu Ân. Thầy trắng trẻo, dong dỏng cao dạy môn Sử Địa, Công Dân, Nhạc ở lớp tôi, không biết Thầy dạy ở mấy lớp khác môn gì. Có lần Thầy dạy cho cả lớp bài hát “Hoài Thu” của nhạc sĩ Văn Trí bắt đầu bằng câu “Mùa Thu năm ấy, trên đường đến miền cao nguyên…” thật là vui mà thơ mộng.

Rồi đến một ngày mấy lớp chúng tôi được thông báo học rút giờ giấc trong ngày để dành thời giờ tập đi diễn hành: Từ sắp xếp đội hình, hai hàng dọc nhỏ trước, lớn sau từ thấp đến cao, có đội trưởng ra ngoài đường đi một hai, một hai; đi, đứng lại; nghỉ nghiêm; bên phải bên trái, đàng sau quay. Mà cũng không phải riêng đám học trò chúng tôi mà nhiều đoàn thể, kể cả lính trong quận cũng vậy, chia nhau những khoảng đường ở trước trường, hay đoạn đường trước quận phía bên kia vũng nước để tập luyện xem ra có vẽ rất là sôi động. Tập như vậy cho thuần thục để đi dự Lễ Khánh Thành Tỉnh lỵ của Tỉnh mới trên Phước Vĩnh, hay đúng hơn là Phú Giáo.

Tình hình an ninh trong thời gian nầy có sôi động hơn chút ít, nhưng chưa đến đỗi là quá lắm, nên đoàn di chuyển lên Phú Giáo theo Tỉnh lộ 16 tức là về hướng lên Dốc Bà Nghĩa cần được giữ an ninh trước, do đó mà phải đợi chờ quân đội đi trước giữ gìn an ninh dọc đường rồi mới bắt đầu đi. Nhiều xe nhà binh được điều động để chở người của các đoàn thể và học trò chúng tôi để tiến về Quận Phú Giáo. Đưòng đi không rộng lắm, chỉ giống như đoạn đường từ Tân Ba đi lên Tân Uyên thôi, hai bên đường có nhiều cỏ tranh, lùm bụi, có nhiều cây cao. Đường len qua các khu rừng lẫn những đồn điền cao su. Nhờ ngồi chung xe với những người lớn mà tôi nghe nói đến những địa danh Bố Mua, Bố Lá, Chánh Lưu, Nhà Đỏ mỗi khi xe đi ngang qua đó, nhất là nhiều sở cao su của ông Nguyễn Đình Quát người đã có ra ứng cử Tổng Thống trong cuộc bầu cử Tổng Thống vừa qua. Nhưng ông đã bị thất cử và có mấy người con gái bị tử nạn khi đi chơi ở Vũng Tàu ở cái cầu nào đó mà báo chí có nhắc đến Miễu Ba Cô. Xe đi khá lâu mới đến sở cao su Phước Hoà, rồi phải đợi qua cầu Sông Bé. Sông Bé đây sao? Ôi cái sông mà bọn con nít tôi từng bị mấy ông thanh niên hù dọa là bắt tụi tôi đem lên Sông Bé câu sấu đây mà! Nhưng chiều muốn tối rồi, tôi đâu thấy rõ Sông Bé thế nào. Chỉ biết là qua cầu mà phía dưới sâu kia nước đang chảy hình như là chảy xiết! Xe qua cầu không xa thì quẹo sang trái trên con đường khá lớn, mấy ông ấy nói đường nầy chắc đi về Tòa hành Chánh Tỉnh. Nhưng đoàn học trò chúng tôi đâu được đi lên tuốt trên kia mà chỉ dừng nửa đường và đổ xuống ở một trường học chưa được kín đáo cho lắm. Sau khi, tìm được chỗ ngủ xong, chúng tôi được phân phát chút thức ăn tối, nhìn quanh các khu nhà được phân thành những lô đất vừa cất nhà có các cây chắn làm hàng rào. Nhà hơi nhô lên phía trước nhiều hơn là chính giữa lô đất. Ngoài trước được trồng hoa, rau cải, phía sau có trồng chuối, cây ăn trái cũng mới vừa lên cao, chứng tỏ nhà chưa xây dựng được bao lâu, gần hàng rào phía trước chất hàng dài đầy củi có bảng để bán, phía sau xen với các cây trồng là những cây to rải rác đó đây, có nơi người ta làm lò hầm than, lò còn khói lên nghi ngút, như vậy chứng tỏ trước đây là khu rừng được khai phá rồi đưa người tới đây định cư ở các lô được phân sẵn. Trời tối hẵn, chúng tôi kê bàn lo giăng mùng để ngủ dưới ánh le lói của mấy cây đèn dầu được cấp phát tạm thời. Bỗng nhiên nghe tiếng gì là lạ ở một ngôi nhà khá lớn kín đáo kế bên, chúng tôi làm lạ, tò mò lần đến. Có người nói mấy người Đạo Thiên Chúa họ đang đọc Kinh làm lễ. Người kia hỏi: “Ủa, sao mà tối thui vậy?”. Không có tiếng trả lời. Nghe hồi lâu sao giọng lạ quá, tôi chưa từng nghe giọng nói nầy bao giờ. Và bao nhiêu người nghe cũng không biết luôn. Thế rồi bèn trở về bàn mà ngủ.

Sáng hôm sau, dậy lo vệ sinh cá nhân, rồi được phân phát cho phần ăn nhẹ, nước uống để chuẩn bị cho giờ hành lễ. Vị trí của đám học trò chúng tôi chỉ cách trường học nơi ngủ tối hôm vài chục thước, nên chuyện tập họp, sắp hàng không phải tốn nhiều công sức chuẩn bị. Hàng ngũ các đoàn thể được xếp theo từng đơn vị và theo quận nên quận Tân Uyên nầy khá xa so với vị trí của khán đài. Đội ngũ chúng tôi quay mặt nhìn ra đường, và chỉ nghe được các nghi lễ qua các loa phóng thanh bắt dọc theo đường cùng với những trụ cờ trang hoàng cho cuộc lễ. Vì thế khi mặt trời lên chiếu thẳng vào mặt khiến bọn nhỏ như chúng tôi có khá nhiều khó chịu. Vả lại đứng để nghe nhiều diễn văn trong thời gian dài, tất nhiên chúng tôi không thể chịu nỗi, vì vậy lúc đầu các bạn phía sau ngồi xuống để tránh nắng, và tránh mỏi chân. Rồi phía trước nhìn thấy vậy cũng không giữ hàng ngũ nữa và bỏ đi về phía sau để tránh nắng. Chỉ tội nghiệp các đoàn người lớn, nhất là những người lính phải nghiêm trang hàng giờ để cho cuộc lễ được nghiêm trang. Cuối cùng buổi lễ cũng đến hồi kết thúc bằng cuộc diễn hành qua khán đài. Bắt đầu bằng các đơn vị quân đội đi theo tiếng nhạc, tiếng trống duyệt binh, kế đến là các đoàn thể. Đội ngũ học trò chúng tôi đang trong tư thế chuẩn bị để đi, nhưng sau cùng được lệnh là miễn, thế là chúng tôi mừng quá chừng, và tan hàng rã ngũ đi vào trường học để lấy đồ lo chuẩn bị cho chuyến hành trình lên xe để trở về Tân Uyên. Đó là sự kiện lên Phước Vĩnh Khánh Thành Tỉnh lỵ mới đã xong, mà chúng tôi cũng chẳng biết vị trí của Tòa Hành chánh Tỉnh ở chỗ nào, và con đường trước mặt đi đến tận nơi đâu? Rồi xe cam nhông nhà binh đến. Tất cả mọi người đến từ hôm trước lên từng chiếc xe để xe đưa quay trở về. Trên đường về tôi lại được ngồi chung xe cùng các ông người lớn nghe họ nói những cái gì họ biết với nhau về những nơi đi qua. Tôi nhìn con Sông Bé nước đỏ, đục ngầu chảy xiết dưới cầu mà nghĩ đến những con cá sấu mà người lớn hăm he đưa mấy đứa nhỏ lên đây “câu sấu, cho sấu ăn”, rồi nhìn qua khu Phước Hòa của đồn điền cao su Phước Hòa. Trong bận về nầy tôi thấy dọc đường có nhiều sở cao su của ông Nguyễn Đình Quát lắm, có lẽ hơn 12 sở, không biết còn ở đâu nữa không? Vậy là trong năm nầy tôi đã biết được con đường Tỉnh lộ 16 đi đến đâu và quận Phú Giáo lẫn Tỉnh lỵ Phước Vĩnh là ở tận nơi nào, nhất là cái con Sông Bé nhiều cá sấu mà người lớn ở làng tôi hay nói để hù bọn con nít chúng tôi sợ vì: Sông Bé có nhiều cá sấu. Về đến trường vào xế chiều, chúng tôi được nghỉ và ngày hôm sau đi học theo thời khóa biểu như thường lệ. 

Saturday, January 21, 2023

*Chúc Tết.

 

Cung kính thân chào, Năm Mới tới

Chúc Mừng Phước Lộc, Thọ lâm môn

Tân Niên mọi thứ đều Như Ý

Xuân đến Tươi Vui, Sức Vẹn Toàn!