Saturday, July 27, 2024

*Cuốn Theo Chiều Gió! (1)


Điều tôi muốn nói “Cuốn theo Chiều Gió” ở đây là vì chúng tôi đang được cuốn theo một trào lưu, và trào lưu ấy đã, đang hiển hiện ra trên đất nước Việt Nam, cũng như trên cộng đồng mạng một cách sôi nổi, cuồng nhiệt mà không một ai tránh khỏi sự quan tâm. Chúng tôi là một nhóm bạn bè trong lúc “trà dư, tửu hậu” cùng họp bàn, bàn luận xôn xao cái hiện tượng đó, dù số vốn hiểu biết về Phật pháp hay Đạo Phật của mình chẳng là bao nhiêu. Và bây giờ, tôi cũng mạo muội tích góp vài tài liệu, ý niệm, suy nghĩ đưa đến với mọi người để cùng nhau chiêm nghiệm, hầu tìm được một vài giải thích thỏa đáng nào đó xem coi có được hay chăng?

Nói đến hiện tượng “Sư Thích Minh Tuệ” thì quả thật là hiện tượng “Ngàn năm có một” mà đến đỗi có vạn người tin, nhưng cũng không phải không có người chẳng tin. Ông ấy có phải là người chứng quả Phật hay không? Hay ông ấy chỉ đang trên hành trình tu chứng? Chắc chắn những nhà tu “Học cao hiểu rộng” không thể không còn những nghi ngờ nào đó về trình độ giáo lý, giới luật, chắc gì hơn họ? Nhưng đối với Phật tử hay quần chúng, Sư đã được tôn vinh như là vị Phật sống để mọi người săn đón, lễ lạy và cầu mong được chút ít phước báu từ Sư. Cũng từ sự tôn kính đó mà mảnh đất Gia Lai được người ta đến thăm viếng đông đảo như hiện nay; hay nhiều người theo Sư để thực hành Hạnh tu Đầu Đà mà Sư đang theo đuổi. Đoàn người từ vài người thuở đầu kéo theo hơn bảy mươi người trước khi người ta tìm phương cách để giải tán, do sự tập trung đông đảo làm cản trở giao thông, lẫn không tốt cho tình hình an ninh. Sư thực hành hạnh tu trong nhiều năm đơn độc sau khi từ giã ngôi chùa mà Sư tu trong lúc đầu, để rồi lên núi ẩn tu trên núi và cuối cùng Sư chọn phương thức đi khất thực khắp nơi từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam; đi khắp các nẻo đường đất nước, đặc biệt là đi trong mọi điều kiện thời tiết với đầu trần, chân đất dù cho những ai khinh khi, chế nhạo hoặc hành hung; mà Sư coi đó là những phương thức để mình học sự buông bỏ, nhẫn nhục và trì giới của những 13 hạnh khó khăn của người tu theo Hạnh Đầu Đà.

Thú thật, chúng tôi không biết về lối tu theo Hạnh Đầu Đà cho lắm, và do từ phong trào qua hiện tượng của Sư mà chúng tôi có thể hiểu khá hơn về Hạnh nầy. Trước khi phong trào nở rộ, trên cộng đồng mạng có nói đến nhà Sư kèm theo hình ảnh với bộ áo “phấn tảo” nhiều màu chấp vá lủi thủi, đơn độc đi trên đường trong mưa nắng với đầu trần, chân đất, chúng tôi cũng không để ý gì nhiều: Vì trong quan niệm mỗi người có một cách tu, tu như thế nào thì họ làm theo cách họ thích. Đó là sự tự do trong Đạo Phật! Và sự tự do ấy khiến nhiều người không để ý đến cách thức mà họ tu. Thông thường người ta chỉ để ý đến phương thức lập am, cốc hay cảnh chùa để tu theo Phật giáo Bắc Tông; hay những vị Sư đi khất thực có Tịnh Thất, hoặc tu ẩn trong các núi của nhiều vị theo phái Nam Tông. Theo ý kiến của vài bạn khá biết về Đạo Phật thì ngày xưa khi Thái Tử Siddhattha từ bỏ cung điện, đời sống Hoàng gia để đi tu thì Ngài cũng hành đạo theo cách của những người trước đó như Đạo Sĩ Alara Kalama, Đạo Sư Uddaka Ramaputta để học đạo. Có lúc Ngài nhịn ăn theo lối sống cực kỳ kham khổ, ép xác khổ hạnh cùng năm anh em Kondanna (Kiều Trần Như) trong suốt sáu năm trường, đến đỗi thân xác chỉ còn da bọc xương mà vẫn chưa tìm được Đạo, thỏa đáng theo như ý nguyện. Rồi Ngài bỏ đi đến một nơi và tu tập một mình, nghiền ngẫm đến con đường giải thoát; thân hình càng ngày càng tiều tụy, yếu đuối và ngã quỵ trên cỏ. Một thôn nữ tên Sujata đến cúng dường đổ sữa cho Ngài tỉnh lại. Từ đó Ngài nhận thức được rằng con đường quá khổ hạnh không phải là con đường giải thoát, mà cần phải bảo dưỡng thân mạng, giữ lại mạng sống mới đi tìm đến được sự giải thoát khổ đau! Cho nên Ngài đến nhập định dưới gốc cây, mà ngày nay người ta gọi là cây Bồ Đề, quyết không rời xa nếu chưa tìm được Chân Lý. Sau 49 ngày, Ngài đột nhiên Đại Ngộ, biết rõ những gì trong thiên nhiên, vũ trụ và con người mà sau nầy trong Kinh Sách gọi là “Tri Kiến Phật” (tức những gì mà Phật đã thấy và nhận biết) qua Lậu Tận Thông.

Theo như câu chuyện được kể lại thì sau khi Đại Ngộ, Ngài thấy biết chúng sinh rất là khó khăn để độ được họ (chúng sinh khó độ), nên Ngài muốn nhập diệt. Tuy nhiên vì Chư Thiên yêu cầu nên Ngài phải dấn thân vào con đường hành đạo trong suốt hơn 45 năm và tùy theo căn cơ của chúng sinh mà nói Pháp để giúp chúng sinh được hiểu mà thực hành các bước, hầu tiến đến được con đường giải thoát cho chính mình (Tự thấp đuốc lên mà đi). Chính vì thế mà cõi Ta Bà nầy mới có Phật Pháp và Ngài được xem như là Giáo Chủ. Điều đáng chú ý là tất cả chúng sinh nào trong sáu cõi Luân Hồi muốn thành Phật đều phải tái sinh vào cõi Ta Bà nầy cả, vì chỉ ở cõi nầy mới có Phật Pháp để hành giả tu và thành Phật. Như vậy “kiếp con người” thật là “Đáng Quý” (Nhân thân nan đắc – Thân người khó được), cũng là kiếp may mắn nhất của chúng sinh để có thể tu thành Phật, thoát khỏi sáu cõi trầm luân trong đau khổ, khổ đau. Và “kiếp con người” cũng là những kiếp cuối cùng trong Vòng Luân Hồi của chúng sinh vì con người đang đứng tại cửa thoát ra của Vòng ấy! Còn chúng sinh ở các cõi khác dù sung sướng như Cõi Trời, hoặc ít hay không đau khổ như A-Tu-La, hoặc đầy đau khổ như Súc Sanh, Ngạ Quỷ và Địa Ngục thì không hề có Phật Pháp bao giờ!

Su Minh Tue





Những gì Đức Phật khám phá được trong lúc Thiền và Nhập Định, sau được Ngài thuyết giảng và trở thành Học Thuyết, hay đúng hơn là những Giáo Pháp của Đạo Phật lưu truyền cho đến ngày nay. Theo nhiều người, kể cả nhiều học giả đều nghĩ rằng: “Đạo Phật không phải là một Tôn Giáo” mà chỉ là những “Triết Lý Giải Thoát”, vì trong Đạo Phật không đề cập đến Thần Quyền của những Vị Thần ban phước, giáng họa. Điều ấy cũng đúng một phần, theo quan điểm tư tưởng phương Tây, vì Đạo Phật không có chuyện “Đấng Thần quyền Tối Cao” nào đó có khả năng cứu rỗi người khác. Tuy nhiên, người ta quên rằng: Đạo Phật đang cung cấp phương pháp cứu rỗi cho từng con người, tự biết cứu rỗi chính mình bằng những phương pháp rất là khoa học và đúng theo cái luận chứng của thế gian. Trong Đạo Phật có điều đặc biệt hơn mọi tôn giáo khác là sự giải thích con người đến từ đâu và khi chết sẽ đi về đâu tùy theo nghiệp lực của mình. Không những thế mà Đức Phật còn đề cập đến những thế giới khác rất xa xôi trong vũ trụ mà khoa học ngày nay chưa thể đạt đến, mà cũng chẳng biết đến bao giờ mới đạt đến được; hoặc những cõi Vô Sắc Giới mà Khoa học Huyền bí chưa hề nghiên cứu, giải thích hết được. Vả lại, theo tinh thần của phương Đông, Đạo Phật cũng có cả một quy trình, hệ thống tôn chỉ Đạo giáo giống các Tôn Giáo khác như Đạo Lão hay Đạo Khổng của Trung Hoa, vậy thì với Phương Đông, Đạo Phật chẳng phải là một Đạo sao?

 

Nguyên Thảo,

28/07/2024.

 

 

Monday, July 22, 2024

*Nói Để Mà Nói!


Ngày xưa đi làm chung với tôi, có anh bạn khá vui tính, nhưng mà mỗi lần nói đến câu chuyện gì thì anh hay mở đầu bằng câu: “Nói để mà nói…”, lúc đầu tôi nghe hơi lạ nhưng rồi cũng quen dần. Anh không kể câu chuyện nào là không tưởng hay để nói chơi cả, mà là những câu chuyện thật trong đời hay góp ý với nhau trong những mẫu chuyện vào lúc trà dư tửu hậu. Đó cũng là đặc điểm con người của anh. Đúng là anh nói nhưng không phải là nói để chơi, mà anh nói thật sự, cho nên có người bạn ghẹo anh “Ông nói để mà nói, vậy thì ông không nói có sao không?”, để rồi cả đám đông xúm nhau cười đùa vui vẻ, và anh cũng cười, chẳng giận hờn. Mỗi con người có một hay vài cái tật, mà những cái đó là đặc điểm của họ, tựu chung lại là những cái vô hại cho người khác. Anh bạn nầy nói thế chứ anh rất chân thật và nhiệt tình trong nhiều vấn đề kể cả góp ý và làm việc. Nhân chuyện nầy tôi lại nhớ đến chuyện trong thế gian cũng có những con người ngược lại: Họ tỏ ra sốt sắng, tình cảm giống như lúc nào họ cũng rộng mở, sẵn sàng giúp, quan tâm người khác, nhưng rồi họ chỉ nói để chiếm lấy cảm tình, chứ thật sự đến sự giúp đỡ hay thực hành thì chẳng có gì. Họ chỉ qua loa trong lúc họ nói, rồi phớt lờ và lắm lúc họ quên bẵng đã nói hay hứa những gì trước đó. Hoặc giả, có những lý do nào đó khiến họ quên đi, hay không thể thực hành được, giống như “Em tính lên thăm anh chị, nhưng chưa lên thì anh chị đã tới em rồi”!

Trong cuộc đời có những chuyện vừa vui, vừa buồn khi người ta cần để “lấy lòng” lẫn nhau, nên cái chuyện “nói cho có nói” là chuyện bình thường. Thực sự, đó không là vấn đề mà mình phải quan tâm nhiều cho lắm, vì thế gian có nhiều mẫu con người khác lạ, nhưng chung qui tùy theo bản chất của họ mà thôi, hay đúng hơn là làm theo cái bản năng “cái Ta” của họ. Nếu mình lặng yên, bình tâm suy nghĩ thì ai cũng có cái “Ta” riêng lẽ, với cái Ta to lớn ấy nếu không được người khác nuông chìu, nghe lời làm theo, hoặc sai ý thì họ sẽ nỗi “tam bành, lục tặc” mà tháo quát, sân hận, trù yếm…khiến cho người khác không thể ngóc đầu lên được. Cho nên câu chuyện Đức Phật khi giáng sinh thì đi 7 bước trên các tòa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất mà thốt lên câu “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” không phải là không có lý. Sau nhiều thời gian tìm hiểu thì tôi mới nghiệm được ra rằng: Tại sao thế nhỉ? Đức Phật là cao ngạo ư? Nhưng trong con đường nhiều năm gian khó tu hành để đạt đến “Giác Ngộ”, thì Đức Phật đã đề cập đến “Vô Ngã”? Kỳ lạ đến thế là cùng! Vấn đề khiến cho tôi cũng như nhiều người thắc mắc mãi mà chưa tìm lời giải đáp được. Rồi một ngày nọ, có anh bạn muốn nhờ tôi làm cho họ một việc mà tôi phải bận vào một việc khác nên không thể giúp họ được; họ lại xem như là tôi không muốn giúp họ thế là họ đem tâm oán ghét, và đâm thọc với bạn bè để bạn bè “chơi” lại tôi cho bỏ ghét. Từ đó tôi mới thấy “cái Ta” là quan trọng và có vẻ “dị hợm”! Thế là tôi bắt đầu để ý trong cuộc sống: Nhìn từ những đứa trẻ mới biết ngồi đã biết giành thứ gì đó mà xô đẩy, đánh nhau; đến người trong gia đình cũng phật ý mà đưa đến cãi cọ, dỗi hờn; kể cả mọi người trong thế gian hay đến các chủng tộc, quốc gia khác nhau cũng vì “cái Ta” mà thành “cái của Ta, hay Chúng Ta mà tranh hơn thua, thắng bại” từ lời ăn tiếng nói, cử chỉ, hành động lẫn chưởi bới, gậy gộc, vũ khí để đánh, chiến tranh cùng nhau để mong cầu thắng lợi. À! Thì ra thế! Cho nên Đức Phật đề cập đến Vô Ngã! Vô Ngã là không coi cái của Ta, chúng ta là quan trọng, phải hơn cái của Người nữa, mà Người cũng như Ta, Ta Người hài hòa như nhau, chia sẻ cho nhau thì mới sống chung, hòa bình, êm ấm trong cùng một nơi, một thế giới! Đến một ngày ngồi ngẫm nghĩ: Vậy thì Đức Phật lúc ra đời đề cao cái Ta, đến khi thành đạo lại làm cho cái Ta biến mất, thế nên “Duy Ngã” độc tôn không phải là Ông Phật cao ngạo, coi mình hơn hẵn bao nhiêu người khác, mà chính là nói lên cái “Bản Ngã” trong mỗi con người. Và nếu ai cũng quên đi cái Ta, của Chúng Ta, mà thấy một sự bình đẳng, tương thân tương ái giữa những con người, chúng sinh thì thế giới nầy đầy an lạc, vui sướng của một cõi Thiên Đường!

Đồ Ngông tôi đi quá xa vấn đề rồi, thôi thì quanh trở lại vậy! Nhân nhắc đến anh bạn “nói để mà nói” cho vui vậy thôi, chứ không có ý gì để xoi mói về anh ấy cả mà chỉ thấy ảnh nói chân thật và làm, làm thực sự như những con người nhiệt tình đầy tâm huyết, đáng mến. Rồi nghĩ đến nhiều người trong xã hội chỉ nói “để mà chơi, hay là lấy lòng” thật không thiếu gì: Không phải chỉ ở cá nhân con người, mà nó còn thể hiện trong những tổ chức, đoàn thể, hay ở cả những bộ phận, tổ chức lớn hơn như quốc gia, hoặc là quốc tế, hoặc ngay cả những chủ thuyết “không tưởng”, ngưòi ta cũng chỉ nói mà để chơi, không bao giờ thực hiện được để lừa phỉnh những người nhẹ dạ, thích mơ tưởng không thôi. Nếu Quý vị không tin thì cứ thử nghiền ngẫm, suy tư một chút để mà xem!

 

Đồ Ngông,

15/07/2024.

 

 

*Nổi Trôi!


Thế sự thăng trầm như thoáng qua

Trần gian trôi nổi cõi Ta Bà

Mang thân lăn lộn trong Tam Giới

Giải thoát mong tìm được lối ra!

 

Đồ Ngông,

23/07/2024.

 

 

Wednesday, June 19, 2024

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (31)


Nghe Thầy Ba nói an ủi như vậy, thì tôi cũng nghĩ rằng mình cũng không nên hệ trọng quá vấn đề xem bói ấy, mà cứ sống từng thời gian theo hoàn cảnh của mình, rồi chuyện gì tới sẽ tính sau. Với những năm qua rồi, tôi chẳng đã từng phấn đấu vượt qua những khó khăn của mình sao? Từ vấn đề tinh thần cho đến vật chất, mà chuyện tôi phải đi Ban A là một yếu tố quyết định “bất khả kháng”. Thế rồi tôi vẫn lo học một cách đều đặn, chuẩn bị cho kỳ thi trong mùa Hè cuối năm học. Chúng tôi vẫn năm đứa ngồi dưới ánh đèn dầu để học bài cùng nhau, thỉnh thoảng Lịnh lên tụng Kinh “Vu Lan Bồn” trên Chánh điện thế Cô Ba khi Thầy có chuyện cần đi vắng, và tôi là người dọng chuông.

Sau Tết, tình hình an ninh trong xã lại sôi động, người dân lại tản cư, ba tôi lo đi buôn bán, má tôi và gia đình lại chạy ra Phú Lợi tá túc ở nhà Dì Năm, kỳ nầy có cả anh chị bên Dì Tư cùng con của Cậu Sáu nữa, nên nhà khá đông. Má tôi lại tới ngày sanh đứa em út, mà lại phải sanh mổ, nên tôi đành từ giã ở trọ chùa Phước Tường, từ giã Thầy Trụ Trì, Cô Ba, Thầy Ba, Bà Sáu, Bữu Châu cùng mọi người, từ giã Niềm, Hồng, Lịnh và Bác Cỏi để về lo cho má sau giờ học. Sáng tôi đi học, trưa về dở cơm ra nhà thương cho má, rồi tới cơm chiều cũng vậy. Cơm do Dì Năm nấu dùm. Một ngày nọ, tôi đang bữa củi ở vườn bên hông nhà, thì nghe có tiếng súng nổ kiểu người ta bắn chim, rồi không ngờ người bắn chim lại là ông Chét, ông dân vệ khét tiếng ở Phú Lợi nầy, thấy dáng ông tôi đã sợ, mà ông lại đi về phía tôi với kiểu cách của người say rượu. Tôi không dám nhìn ông và lui cui bữa củi, đợi ông đi qua. Nhưng không, ông lại đứng ở chỗ tôi, đột nhiên ông thụt lui, rồi ông bồng súng lên chỉa vào tôi và nói: “Mầy nói vậy hả mậy, mầy nói vậy hả mậy?”. Tôi nhìn ông không nói được gì. Dì Năm nghe chuyện chạy đến hỏi: “Nó nói gì hả Chét?”, vì ông Chét nầy là cháu của Dượng Năm. Ông Chét nói: “Nó nói tôi là ai mà dám hỏi nó”. Dì Năm quay lại hỏi tôi; “Con có nói như vậy không?”. “Con đâu có nói gì”. Rồi Dì Năm nói chuyện với Ông Chét, sau đó ông đòi lấy thẻ học sinh của tôi. Tôi đưa thẻ cho ông. Ông biểu: “Lên xã lấy”, rồi ông bỏ đi. Sau đó Dì Năm nói với Dượng Năm lên xã lấy lại Thẻ Học Sinh dùm tôi. Chuyện chỉ vậy thôi, nhưng không biết vì sao tự nhiên sự học của tôi biến đổi lạ lùng: Nếu lúc trước tôi học bài dễ nhớ giống như mình ghi lên bảng đen, thì bây giờ học thêm vào hay xem lại thì y như mình cầm nùi lau xóa đi những gì mình đã ghi, càng học thì đầu óc lại càng trống hơn. Tôi cố gắng mãi mà không tài nào níu kéo lại được. Sự học của tôi càng gặp nhiều khó khăn, với tình trạng nầy tôi khá bi quan. Trong lúc ấy thì sự giảng dạy trong lớp của các Thầy Cô cũng có nhiều thay đổi: Thầy Nguyễn Ngọc Thạch hình như từ Phú Giáo về dạy môn Pháp Văn thay Thầy Nguyễn Thanh Trừng; Cô Kim Hưng đổi đi nơi khác và Thầy Nguyễn Trí Lục về dạy môn Vạn Vật, Thầy Trần Quang Tuấn về thay thế Thầy Phạm Ngọc Em.

Một ngày nọ, tôi ra chợ Thủ mua ít đồ nhưng không đi xe đạp, và chuyến về đón xe đò về Phú Lợi, nhưng vừa lên đứng trên phía sau xe đò vì xe đông người, không hiểu sao trong đầu óc nghĩ rằng năm nay mình có thể thi rớt, nhưng nếu mà có đậu thì phải mất cái gì đó. Thế rồi khi xuống xe, xem lại trong túi quần sau đã bị mất cái thẻ Học Sinh với vài đồng bạc, như vậy là đã bị người ta móc túi lấy mất rồi. Qua ngày sau, khi xuống trường tôi vào văn phòng báo mất Thẻ Học Sinh và xin một Thẻ khác. Tôi đến gặp người xin mà tôi cứ nghĩ Thầy ấy là một Giám Học hay Giám Thị gì đó, nhưng không ngờ Ông làm liền cho tôi, rồi ký tên và đóng dấu. Tôi xem lại không phải là Thầy Hiệu Trưởng Đặng Trần Thường nữa mà Thầy Hiệu Trưởng nầy lại là Nguyễn Đức Lâm. Trường đổi Hiệu Trưởng và Thầy Nguyễn Đức Lâm thay thế tự lúc nào mà chúng tôi không hay biết hay là lỗi ở cá nhân tôi chẳng để ý gì chăng?

Nếu ngày xưa khi còn học trên Tân Uyên tôi đã ngạc nhiên với Thạch A vì cái học của nó từ học trung bình ở các lớp khác cho đến năm Đệ Lục, nhưng chỉ sau ba tháng Hè đột nhiên nó giỏi toàn các bộ môn vào đầu năm Đệ Ngũ, thì ở trong lớp nầy tôi phải nễ phục hai bạn Nguyễn Ngọc Cẩn và Ngô Trọng Hải, quả thật là xuất sắc, giỏi mọi bộ môn từ Vạn Vật cho đến Anh, Pháp Văn, còn Thạch A ở vào độ giỏi thôi, cũng như Thái Văn Bạn có cách nói chuyện khôi hài mà lại thông minh. Vui hơn là anh chàng Lê Minh Văn từ Lái Thiêu lên hay đọc thơ của mình, của người cho các bạn nghe, nhưng có lúc nổi nóng lại rượt bạn đồng hành Nguyễn Văn Hải chạy khắp sân trường. Thỉnh thoảng khi nào tương đối rỗi rảnh tôi mới ghé qua Chùa thăm Bà Sáu, Cô Ba, Thầy Ba và mọi người. Nhưng chắc tình hình ở Mỹ Tho khá ổn định nên những người thân của Thầy Trụ Trì đã trở về quê hết rồi. Mấy ngày gần đây, rộ tin đồn từ những học sinh lớp khác nói rằng: Thầy Thạch khi dạy ở lớp Đệ Tam gặp một em phá phách sao đó, Thầy đuổi em ấy ra khỏi lớp. Em đó có người thân làm dân vệ ở dưới Búng nhờ mấy người bạn cùng lên làm dữ, khiến nhiều Thầy đón xe đò về Sài Gòn bị nhóm đó níu áo lôi xuống để hỏi có phải là Thầy Thạch không? Nhưng bữa đó thì không gặp. Mấy bữa sau Thầy Nguyễn Huy đứng ra hòa giải. Sự hòa giải xong xuôi thì họ biết mặt, và sau đó thì họ có tổ chức đánh Thầy Thạch. Chuyện đồn là như vậy, nhưng chúng tôi không được rõ lắm. Các bạn am tường nói Thầy Thạch là bạn với nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang, thơ của thầy được nhạc sĩ phổ nhạc ở bản nào mà bắt đầu bằng “Đừng kể Bắc, đừng kể Nam….” gì đó mà tôi không nhớ được cái tựa bài! Càng gần ngày Hè chúng tôi càng cố gắng lo học hơn, không dám đi chơi nhiều, thỉnh thoảng chỉ đến nhà người bạn nào thân thì ngủ một đêm như là để níu kéo những kỷ niệm trước lúc mình phải xa nhau. Và sau nầy chỉ còn có Lịnh ở lại chùa với bác Cỏi, còn Hồng và Niềm thì sang ở trọ gần Trường nữ bên kia cánh đồng. Khoảng thời gian nầy tôi cố gắng tập lại trí nhớ bằng phương pháp mà tôi đã áp dụng khi học thi Tú Tài I. Nhưng thật là khó khăn!

Tình hình ở Tân Khánh khá được yên ổn, mọi người kéo nhau về từ từ. Ở trên sân bay quân đội Mỹ thành lập căn cứ của Sư Đoàn I Không Kỵ thường phối hợp với Tỉnh hành quân chung quanh, do đó chiến trận không sôi động lắm. Tôi cùng gia đình trở về nhà, lúc nầy có Đức, con Bác Tư, ở với Ông Nội nên tôi không ở trên đó nữa. Lắm lúc tôi xuống nhà bạn Em để học bài thi cùng với Em. Nhưng một ngày nọ, tôi lại gặp một chuyện khác khiến đầu óc lại càng có vấn đề hơn thêm. Vốn là ở đồn Tân Khánh có ba người lính Địa Phương có tiếng là “dữ dằn” là ông Trâu, Danh mũi gãy, và Hùng mặt đỏ, họ hay đi ruồng trong xóm và hoạnh hoẹ. Vào một ngày nọ, họ đi xuống phía Cầu Đúc nầy thấy Bạch Tuyết em của thằng Em loáng thoáng thì họ muốn trêu ghẹo, nên đến nhà gặp Em và tôi đang học bài. Họ kêu Em ra một góc nói chuyện và rồi kêu tôi ra chỗ xe của Ông năm bán nước đá nói chuyện. Họ hỏi chuyện nầy chuyện kia giống như là điều tra mình vậy trong hồi lâu rồi thôi. Thế mà sau trận ấy đầu óc tôi lại có hiện tượng giống như khi tôi bị Ông Chét ở Phú Lợi: Học sao không vô, mà đôi khi cảm thấy mình lại quên hơn. Tôi nghĩ kỳ thi tới với kiểu nầy khó mà đậu được!

Rồi kỳ thi tới, ba dẫn xuống nhà Bác Hai Nguyệt ở chợ Vườn Chuối – Sài Gòn để xin cho tôi ở trọ vài ngày đi thi. Kỳ nầy tôi thi ở Trường Trung Học Nguyễn Thái Học ở góc đường Trần Hưng Đạo cùng với Lực và Thạch. Trường nầy ở đầu đường còn Trường Cô Giang mà tôi thi tú Tài I ở trong kia gần Chợ Cầu Muối cách nhau không xa lắm. Kỳ thi cũng giống như đợt thi Tú Tài I năm trước. Cũng có hai vòng và hai kỳ. Vì Trường không có tổ chức chỗ để xe đạp, nên tự thí sinh kiếm chỗ gửi xe. Tôi và Lực khóa xe với nhau để bên cạnh cửa ra vào cùng với một số thí sinh khác, ngày nào cũng như ngày nấy. Xong buổi thi cuối mà môn Công Dân là môn chót. Vừa ra đến cửa để lấy xe đạp thì: Hỡi ơi! “Xe mầy đâu rồi Thạch?”. Tôi và Lực nhìn kỹ lại ống khóa vòng của hai đứa bị mở, xe tôi ở phía trong xe Lực đã biến mất. Thế là xe tôi đã bị tụi ăn cắp lấy đi mất tiêu rồi. Lực và mấy bạn kêu tôi báo Cảnh Sát. Cảnh sát nói: “Em báo thì báo, tôi lập biên bản, nhưng nói thật rất khó kiếm lại, năm khi mười họa hên lắm mới lấy lại được, cái đó thì tùy em!”. Nghe thế thì tôi cũng không muốn làm biên bản nữa. Dù tiếc nuối một chiếc xe nó đã gắn bó với mình trong suốt bảy năm trường khi bắt đầu lên học ở bậc Trung Học trên Tân Uyên, nay ngày kết thúc tôi lại bị mất nó đi. Sự thân thương trở thành luyến tiếc! Lực nói: “Thôi, mầy lên xe tao chở mầy qua Cầu Sắt Đa Kao, rồi đón xe đò đi về!”. Tôi ngồi sau lưng Lực với nỗi buồn, nhưng tôi kể cho Lực nghe về chuyện tôi “đột nhiên nghĩ đến chuyện mất cái gì đó, nếu tôi đậu phần II” ở vài tháng trước. Lực nghe thì nghe, tôi nói thì nói. Nhưng chuyện đậu rớt là về sau! Những ngày sau khi thi lo nghĩ ngơi, đi chơi cho thoải mái trước đã, nhưng dù gì vẫn phải coi lại bài và nhiểu lần tôi đã kiểm lại những bài mình đã làm. Tính theo thang điểm cực gắt thì tôi hi vọng đậu, còn tính thoải mái thì điểm số có thể gần đến điểm Bình Thứ là thứ hạng cao hơn. Đi thi mà đậu được đã là mừng lắm rồi. Và đến kết quả kỳ thi trên bảng niêm yết ở Trường Chu Văn An trong Chợ Lớn, tôi đã đậu hoàn toàn sau kỳ thi vấn đáp môn Pháp Văn ở Trường nữ Gia Long. Ôi! Bảy năm trời ròng rã với ba kỳ thi mệt nhoài! Nhưng còn một vấn đề khó cho tôi trước mắt là với khai sinh sinh năm 1949, mặc dù chỉ trễ hơn có 9 ngày nhưng các kỳ thi vào các ngành đều đòi sinh năm 1948 thì tôi phải làm sao đây? Nhưng với đầu óc của tôi trong năm nầy chắc gì tôi được đậu vào nghề. Ôi! Bôn ba chẳng qua thời vận, đúng là cái số, hay đúng hơn là Định Mệnh của mình theo Nhân Quả đã gieo!

 

Nguyên Thảo,

20/06/2024.

 

  

Sunday, May 5, 2024

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (30)


Vào một ngày cuối tuần, sau khi bãi học tôi về ghé chùa trước khi cưỡi xe đạp về trong Tân Khánh để lấy sách vở cho cho mấy tiết học trong tuần sau. Xong mới đạp xe về ngõ Thuận giao, nhưng vừa qua cây chai, đến khoảng đất trống thì gặp anh On, con của ông Năm Bột cưỡi xe chạy tới kêu tôi “Đừng vô trổng”, tôi không biết như thế nào nhưng anh đã chạy mất rồi, tôi dí theo không kịp nên vẫn tiếp tục đi tới mà lòng phân vân. May lúc đó, Hoa, con bà chủ quán cà phê tại ngã tư Bình Chuẩn chạy tới cùng vài người bạn, Hoa kêu tôi: “Anh đừng vô trổng nữa, lính bắn người ta chết đó, anh quay lại đi”. Tôi nghe mà hoảng hồn, đành quay lại trở về Búng và đi đường về Phú Văn, Phú Lợi mà về trong nhà. Tuy nhiên đến bình Quới thuộc xã Bình chuẩn thì gặp người quen kêu đừng chạy xuống ngã tư mà đi đường tắt về trong Tân Khánh. Lúc nầy đường sân bay đã đóng lại vì trại lính đã chiếm cứ rồi, nên qua khỏi Bình Quới một đoạn thì có đường mòn băng đồng để về đầu dưới vườn Bà Đôn mà về Bình Hòa rồi Chợ Tân Khánh. Qua ngày Thứ Hai tôi đi học không dám đi đường Bình Chuẩn nữa vì không biết tình hình thế nào, nên đi về Phú Lợi xong xuống trường bằng ngõ Phú Văn. Học xong về chùa lo cơm nước, chiều đi chợ Búng mua ít đồ ăn, về dọc đường thì lại thấy cái xe Lam trên đó có Chú Ba Oanh ba của Nghĩa, cả ba tôi nữa. Ba tôi không nói nhiều, kêu tôi chạy lên nhà thương Thủ (Dầu Một). Tôi không biết thế nào, về chùa cất đồ xong chạy lên nhà thương. Đến nơi mới biết rằng Chú Sáu Tò, con ông Chín tôi đã bị bắn chết ở Bình Chuẩn vào ngày Thứ Bảy vừa qua, sau khi chú từ Sài Gòn về chơi cuối tuần; cùng với một người nữa từ trên lò chén Bình Hòa có công việc đi ngang qua xã nầy. May là xác không được chôn cất mà chỉ đem bỏ gần đất Thánh Tây đường từ Búng qua An Phú Xã, nên gia đình mới tìm được xác. Đến chiều tối tôi mới trở về chùa để học bài cho các giờ học ngày mai, vừa ngẫm nghĩ mình cũng may nếu không mình cũng đã bỏ mạng theo cùng chú Sáu của mỉnh. Bốn chúng tôi cùng quay quần quanh cây đèn dầu để học, thỉnh thoảng kể vài chuyện cho nhau nghe như là giờ giải lao. Hồng, Lịnh cho hay vài bữa nữa có Niềm sang ở chung. Niềm là bà con của Hồng, Lịnh cũng từ bên Bến Cỏ sang nhưng đang ở trọ bên xóm Gò Đình, nay Niềm muốn sang ở chung bên nây, như vậy là nhóm chúng tôi sẽ là năm người. Thầy Trụ Trì đã đồng ý rồi!

Thế rồi, không biết tình hình vài vùng ở Mỹ Tho như thế nào mà một số bà con của Thầy Trụ Trì khoảng chừng bốn người đến tá túc ở chùa nên bây giờ rất đông vui. Họ cùng phụ giúp công việc trong chùa, cùng phòng thuốc Từ Thiện của Thầy Ba. Có người muốn học nghề hốt thuốc nam, nên đôi lúc tôi có thì giờ giúp họ sao chép các vị thuốc và công dụng của chúng. Lúc trước có Cô Ba, đệ tử của Thầy từ lúc ở Sài Gòn, thỉnh thoảng lên thăm Thầy, nay chùa đông người cần có người phụ giúp nấu nướng, lo việc bếp, nên Cô Ba nay cũng ở lại hẵn tại chùa cho tiện việc. Chùa có thêm người nhưng vẫn đủ chỗ nghỉ ngơi vì có rất nhiều bộ ván để phụng sự cho việc cúng tế từ hậu liêu cho đến nhà dưới. Như vậy, việc ở trọ học của tôi trong năm nầy đã được ổn định. Chúng tôi chỉ còn lo học hành cho tốt nữa thôi.

Nhưng một ngày nọ khiến tôi trở nên buồn và rất là ân hận cho chính mình, có thể là trong suốt cuộc đời nầy. Số là, má của Hồng sang thăm con và cháu, tức là Lịnh kể cả Niềm nữa. Sau khi ăn uống vui vẻ xong xuôi thì chúng tôi cùng ra ngoài giếng lo rửa chén bát, trò chuyện. Không may tôi không để ý vừa kéo tay quay của bộ phận quay nước để đưa thùng xuống giếng thì tay quay ấy trúng lên đầu của Hồng khiến Hồng chạy la thất thanh. Thế là một chuyện buồn xảy ra: Hồng đau đớn về thể xác, má Hồng đau về tình thương, còn tôi cảm thấy có nhiều ân hận chẳng biết đến bao giờ. Dù vậy, những ngày sau cũng không khiến Hồng phải đau đớn nhiều và không có chuyện gì hệ trọng xảy ra. Nhưng trong lòng tôi chỉ sợ về sau, trong tương lai thôi.

Ở trường, với môn Vạn Vật, Cô Kim Hưng dạy về những Bộ Thần Kinh của con người phát sinh từ xương sống có nhiều khó nhớ, nhưng Cô đã có mẹo khiến cho chúng tôi dễ nhớ hơn. Với Pháp Văn, Thầy Thanh Trừng dạy qua quyển sách do hai Ông Bà soạn trong đó tôi thích nhất là đoạn văn của Anatole France mà tôi chỉ nhớ thoang thoáng như sau: “Je vais vous dire ce que me rappelle tous les ans les premiers dinners à la lamp et les feuilles qui jauner dans les arbres” (lâu quá chắc viết lại không đúng rồi), giống như tôi đã thích câu của nhà văn Thanh Tịnh: “Hàng năm, cứ vào cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều, và trên không có những đám mây bàng bạc lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường”… Thầy Trần Văn Hải dạy Anh Văn và dạy luôn ba bài hát “Tạm Biệt” bằng ba ngôn ngữ Anh, Pháp, Việt. Với Triết thì thầy Nguyễn Văn Phúc có lẽ vì mới ra trường nên trong giờ giảng bài Thầy thường đi từ bàn ra cửa, xong lại quay trở vào giống như một con thoi, nhưng các bài của Thầy rất hay và dễ hiểu nhất là bọn chúng tôi mới làm quen các môn Triết nầy. Còn Thầy Em thì rất nhiệt tình, giảng dạy dễ hiểu nhưng tội cho Thầy, sau giờ dạy quần Thầy đầy phấn trắng. Lạ hơn là Thầy Phó Đức Long, Thầy thì hiền nhưng có một cái điều là trong giờ giảng mà Thầy nghe ồn là Thầy hay chắc lưỡi, không nói gì mà lại hay nhìn lên trần nhà cuối lớp. Thế cho nên một hôm trong lúc Thầy chắc lưỡi và nhìn lên trần, khiến cả lớp quay lại nhìn theo, khiến Thầy không biết gì, và tức cười. Cái cười của Thầy rất đẹp và có duyên, có bạn bảo: “Có lẽ vì cái cười duyên dáng ấy mà Thầy có vợ đẹp đó chăng?”. Riêng các Thầy khác cũng vẫn bình thường, nhưng đối với Thầy Nguyễn Vũ Hải, công nhận Thầy dạy rất hay, tuy nhiên Thầy có vẽ “hơi gàn” thì phải, hay là Thầy đóng vai để khiến học trò lo sợ mà học. Có lần Thầy đuổi Nguyễn Thành Tri từ bảng đen về chỗ, nhưng khi Tri vừa đặt đít lên chỗ ngồi, Thầy quát: “Tao bảo mầy về, ôm cặp đi về!”, khiến cả lớp ngơ ngác chẳng biết vì sao? Rồi Thành Tri cũng phải ôm cặp ra ngoài, đợi tời giờ học sau mới vào lớp. Từ chuyện nầy tôi đã hiểu được tính của Thầy Vũ Hải nên không còn ấm ức của chuyện ở đầu năm học. Rồi một hôm không biết đường từ Sài Gòn lên có chuyện gì đó mà Thầy phải lên trễ hơn nửa tiếng đồng hồ, thế rồi Thầy tâm sự: “Muốn đi làm tài xế xích lô, coi ngon hơn là đi dạy trong cái thời buổi nhiễu nhương, loạn lạc mà người ta nói Nhất đĩ, Nhì Sư, Tam Cha, Tứ Tướng nầy”, rồi tiếp theo Thầy tràn đầy tâm sự. Từ buổi tâm sự ấy lớp chúng tôi cảm thông và rất mến Thầy, tình cảm của tôi cũng thay đổi hẵn từ đó. Trong giai đoạn nầy sự học hành của tôi trở nên thuận lợi và nhớ rất nhiều, chắc do ảnh hưởng từ lúc tôi học thi cho kỳ thi Tú Tài I vừa qua. Tôi vẫn tưởng năm nầy thật là ổn định!

Nhưng không, mỗi con người có một cái số, cái số của tôi có phải chăng theo như người ta nói: “Là sanh ra dưới vì sao xấu”. Mà có thể là như thế thật! Một buổi chiều Chủ Nhật, sau khi hớt tóc thì tôi ra lại ra chùa sớm để học bài vì tôi quên đem vở về. Khi đứng ở cửa hậu lieu cùng với Thầy Ba và Lịnh, thì đột nhiên Thầy Ba thốt lên: “Ủa, sao chú mầy kỳ vậy?”, tôi nhìn Thầy: “Mặt con dính lọ hả Thầy?”. “Không, mà sao kỳ vậy?”. Thầy tỏ vẽ ngạc nhiên và tôi trở nên bối rối: “Chứ gì vậy Thầy?”. Thầy không trả lời mà cứ: “Sao kỳ vậy nè, kỳ thiệt!”, rồi Thầy vạch mí lỗ tai của tôi, nhìn kỹ. Thầy nói mụt ruồi nầy không tốt đó nhe”. Nói xong, Thầy kêu tôi vào trong bàn của Thầy đưa bàn tay ra cho Thầy xem, Thầy xem hồi lâu từ bàn tay trái sang tay phải, Thầy vẫn lắc đầu. Tôi không hiểu gì hết vì Thầy chưa đưa ra lời đoán. Rồi Thầy lại lấy ra một bộ bài, Bây giờ Thầy lại chuyển sang bói bài. Thầy nói: “Bây giờ Thầy xem cho chú mầy ba quẻ, để xem coi như thế nào, rồi Thầy sẽ nói điều Thầy thấy trong các kiểu bói cho chú mầy biết. Đây là bộ bài chú mầy xào bài cho nhiều lần, trước khi bắt con bài chú mầy muốn van vái thầm trong lòng cái gì cũng được, rồi bắt con bài, lật ra cho Thầy coi. Lần đầu tôi bắt ra con Mụ Bích, lần sau lại là 10 Bích và lần nữa lại là con Già Bích, Thầy Ba thấy Thầy thở dài, rồi Thầy bảo: “Đúng là cái số của chú mầy!”, “Lúc đầu Thầy thấy mụt ruồi ấy Thầy không nghĩ nó như vậy, nhưng sau khi xem hai bàn tay của chú mầy thì Thầy lại ngỡ ngàng hơn. Nhưng lần nầy sau ba lần xào, bắt con bài thì nó đều không tốt. Đó là tại cái số chú mầy thôi!”. Tôi thắc mắc, không rõ như thế nào nên hỏi Thầy: “Cái gì vậy Thầy?”. Thầy nói: “Không biết về sau như thế nào đó mà chú mầy có nhiều suy nghĩ lắm, gần như quẩn trí lận. Sau trận đó thì chú mầy mới khá hơn. Khoảng ấy chừng 40 tuổi trở đi. Qua mấy cách xem, Thầy chỉ thấy và nói như vậy thôi. Về sau chú mầy cẩn thận và đừng quá lo lắng, có thể mấy quẻ bói đó sai”.

 

Nguyên Thảo,

05/05/2024.

 

  

Sunday, April 21, 2024

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (29)

 

*Về Trường Trung Học Trịnh Hoài Đức (Búng)

Đúng ra khi tôi viết về chuyện học ở Trường Trung Học An Mỹ là tôi đã giới thiệu với Quý vị cái quá trình của trường Trung Học Công Lập nầy, mà thế hệ chúng tôi là lớp đầu đàn, nhưng điều ấy vẫn chưa đúng, vì tôi chỉ về Trường vào năm Đệ Tam sau 4 năm trường thành hình. Thực ra, khi tôi và các bạn rời trường Tiểu Học Cộng Đồng Búng để xin về học ở trường An Mỹ tư thục của ông Dân Biểu Luật Sư Trần Văn Trai là để mong cầu may khi trường nầy chuyển sang trường công, là chi nhánh của Trường Trịnh Hoài Đức. Nhưng thực sự, Trường Tư của Ông Trần Văn Trai vẫn còn nguyên, không chuyển đổi thành trường công, mà lại có thêm Chi nhánh của Trường Trịnh Hoài Đức được mở ra ở trên đó, với số học trò lấy từ danh sách đậu dự khuyết của kỳ thi tuyển của Trường năm ấy. Tôi chỉ thường nghe nói đến Cô Oanh là Giám Thị cùng dạy môn Nữ Công Gia Chánh ở trường. Sau nầy tôi về học thì trong lớp đã có Chị Khởi, chị Mới, chị Ánh, Trương văn Lập, anh Đức, To… thì có thể họ đã đậu được dự khuyết từ trước. Còn chuyện trường chuyển đổi từ Chi Nhánh Trịnh Hoài Đức sang Trung Học Công Lập An Mỹ từ lúc nào thì tôi không rõ lắm. Nhưng sau năm khi tôi thi vào Đệ Thất thì năm sau số học trò thi vào Trường An Mỹ cũng khá hơn, và hai năm sau nữa thì số học sinh thi vào Trường Trung Học An Mỹ lại đông hơn nữa vì số học sinh ở Tân Hóa Khánh, Tân Hiệp xã, không thể lên học trên Tân Uyên do đường đi ở giai đoạn nầy có nhiều khó khăn, trắc trở vì chiến tranh; mặc dù các xã ấy thuộc về Quận Tân Uyên. Và khi tôi về Trường An Mỹ thì nó đã là một Trường Trung Học hẵn hoi, không lệ thuộc vào Trường Trịnh Hoài Đức nữa. Như vậy ở An Mỹ lúc đó có Trường Tiểu Học, và hai trường Trung Học Công, Tư song hành. Trường Trung Học Công Lập An Mỹ có cơ sở chung dãy lớp với trường Tiểu Học, và cơ sở Trường Tư xây phía trong sân banh với cơ sở khá khang trang với phần chính là một khung lầu ở chính giữa, hai bên là trệt. Theo suy nghĩ của tôi, có thể từ niên học 1961-1962 khi mà bên tỉnh Phước Thành mở thêm Trường Trung Học riêng cho những học sinh ở vùng Phú Giáo, thì trường An Mỹ Công Lập cũng tách ra khỏi Trường Trịnh Hoài Đức theo sự phát triển của nền giáo dục lúc bấy giờ. Như vậy từ trước mỗi tỉnh chỉ có một Trường Trung Học Công Lập thì đến năm nầy ở Phước Thành cũng như Bình Dương có đến hai Trường. Đó là điều mà tôi biết, còn mấy Tỉnh khác thì tôi chịu thua, không hiểu rõ lắm!

Như ở trên tôi đã nói vì Trường Trung Học Công Lập An Mỹ không có lớp Đệ Nhứt, nên bọn chúng tôi được chuyển về trường Công lập Trịnh Hoài Đức để hoàn tất Bậc Trung Học (nếu vượt qua được Kỳ thi Tú Tài II cuối năm). Gần đến ngày tựu trường chúng tôi nhận giấy giới thiệu từ Văn Phòng Trường để xuống xin nhập học ở Trường Trịnh Hoài Đức.

Do vì tình hình chiến tranh khá sôi động, cộng thêm phải lo học tập cho năm cuối nặng nề nên tôi đã nhờ đến ba tôi, ông phụ giúp ra nói Chùa Phước Tường cho tôi được ở trọ cho tiện việc học hành. Lúc đầu, Thầy Trụ Trì không muốn cho tôi ở vì trước đó có một người ở trọ đã lừa bắt con chó của Chùa để đi làm thịt, khiến Thầy không muốn nhận cho người ở nữa. Tuy nhiên vì có Bác Cỏi (bà con nhà Cô, nhà Cậu với ba tôi và vai lớn hơn mặc dù bác chỉ lớn hơn tôi vài tuổi) đã ở đó từ trước nên Thầy vị tình mà cho tôi ở. Lo chỗ ở xong xuôi tôi nhẹ lo, và như vậy là tôi không còn ở chung với Ông Nội nữa mà đi ở trọ ngoài Búng để đi học. Ngoài tôi và Bác Cỏi, chùa còn có Lịnh, Hồng từ Phú Hòa Đông (Bến Cỏ) cũng đến ở trọ do sự giới thiệu của Sư Thầy từ Chùa bên Bến Cỏ. Đó là chuyện vào niên học 1965-1966.

Ngày đầu tiên nhập học của Lớp Đệ Nhứt đúng vào giờ của Ông Thầy Nguyễn Vũ Hải, không biết Ông có khó không và như thế nào mà tính của Ông khá nghiêm khắc, hơi kỳ kỳ. Lúc đó tôi ngồi trên dãy bàn đầu tiên phía bên trong, kế bên bạn Từ Văn Nhung, bạn ngồi phía trong cạnh cửa sổ. Thầy Hải đến trước hai đứa tụi tôi nói một điều gì đó mà thực sự tôi cũng chẳng hiểu rõ ý của Thầy, thế mà Thầy bảo: “Sao mầy ngu thế, thế mà cũng đậu Tú Tài à”! Tôi không hiểu là Thầy nói tôi hay là nói Nhung, nhưng trong tâm tôi không hài lòng với Ông Thầy nầy cho lắm mà cũng chẳng dám tỏ cử chỉ nào. Thế rồi chúng tôi ghi chép Thời Khóa Biểu cho những ngày học. Các môn của Lớp Đệ Nhứt Ban A của chúng tôi là: Vạn Vật (Cô Nguyễn Kim Hưng), Toán (Thầy Nguyễn Vũ Hải, Phó Đức Long), Lý Hóa (Thầy Phạm Ngọc Em), Sử Địa (Thầy Nguyễn Huy), Công Dân (Thầy Nguyễn Tăng Huyên), Pháp Văn (Thầy Nguyễn Thanh Trừng), Anh Văn (Thầy Trần Văn Hải), Triết (Thầy Nguyễn Văn Phúc). Trong giờ học nầy vì lo ổn định lớp, chép Thời Khóa Biểu thì đã gần hết giờ cho nên bài học hẹn đến kỳ tới.

Mặc dù vừa trải qua kỳ thi Tú Tài I mà bọn học trò chúng tôi chưa hoàn hồn vì mãi vùi đầu vào học bài thi, lo âu đậu rớt, thế mà năm nay phải lo chuẩn bị tiếp một kỳ thi khác đang đợi chờ, đó là Kỳ thi Tú Tài II vào cuối năm. Do vậy ngay từ đầu năm đã cho thấy đám học sinh nầy phải sẵn sàng cho bước tiếp theo, mà không dám thờ ơ. Trường có 3 Lớp Đệ Nhứt: Một Ban B và 2 lớp Ban A. Đệ Nhứt A1 bên Trường Nữ (Cơ sở trường Bá Nghệ ngày xưa ở Thạnh Bình), Đệ Nhứt A2 là của chúng tôi và Lớp Đệ Nhứt B. Bên Lớp B vì không có riêng cho nữ nên bên ấy có khoảng bốn chị nữ là Chị Muối, chị Hài và hai chị Hường nữa thì phải học chung cùng bọn con trai. Bạn bè tôi bên Ban B có Nguyễn Văn Huệ, Trương Văn Lập, Nguyễn Văn Nghĩa, Thái Văn Tâm, Lưu Văn Hòa và một số bạn từ An Mỹ chuyển xuống. Còn bên nây số An Mỹ có Bùi Văn Cư, Phan Thanh Diệp, tôi và Trần Văn Riếng, Nguyễn Văn Lé, Nguyễn Hữu Lễ. Ở đây tôi lại nhập chung với hai người bạn học nhiều năm từ Tân Khánh cho đến Tân Uyên, rồì lại chốn nầy là Trần Tấn Lực và Nguyễn Ngọc Thạch. Thế cho nên tôi lại là Thạch B và Thạch cũng là Thạch A. Lớp cũng khá đông, tất nhiên là có những anh từ khoá trước vì không vượt qua được kỳ thi cuối năm ngoái đành ngồi học trở lại cho kỳ thi năm nầy. Biết như vậy, nhưng tôi cũng chẳng biết rõ là ai, vì mình cũng mới tới đây thôi, quá còn lạ nước, lạ cái. Thế rồi, dần dần cũng là bạn bè, cũng biết nhiều bạn từ từ mặc dù không có tiếp xúc nhiều lắm từ ông bác Bùi Văn Cỏi, Nguyễn Ngọc Cẩn, Ngô Trọng Hải, đến Lê Kế Vui, Lê Minh Văn, Nguyễn Văn Hải, Từ Văn Nhung, Thái Văn Bạn; rồi đến các anh ngồi ở những băng học sau như Lê Thành nghiêm, La Văn Mẫn, Nguyễn Thành Tri, Phạm Văn Hoa, Nguyễn Văn Bằng, Trần Công Tế, Nguyễn Văn Tám. Còn mấy dãy bàn khác như Đỗ Văn Minh, Trần Minh Tâm, Tạ Ngọc Quý, Phạm Hoàng Minh, Nguyễn Văn Hoàng, Trần Văn Hoàng, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Kim Hiệp… Và nhiều bạn khác mà tôi không thể nhớ hết. Chuyện vui là mấy bạn thấy anh Tạ Ngọc Quý là em vợ Thầy Phạm Ngọc Em liền bầu cho Quý làm trưởng lớp để điều hành lớp trong năm học nầy. Tất nhiên Thầy Em là thầy dạy về Lý Hóa nhưng Thầy cũng là Giám Học của trường, dưới quyền Điều Hành của Thầy Hiệu Trưởng Đặng Trần Thường.

Trở lại chuyện đám học trò ở trọ tại chùa Phước Tường thì có Bác Bùi Văn Cỏi là “lão làng” tại nơi nầy, còn tôi cũng như Nguyễn Hữu Lịnh, Lê Thị Hồng đều là những “tân binh” được sự ưu ái giúp đỡ của Thầy Trụ Trì cho trọ tiếp tục sau biến cố một anh ở trọ trước kia đã lợi dụng tình trìu mến của con chó mà bắt con chó đó để đi làm thịt. Bốn chúng tôi mỗi tối chong đèn cùng ngồi học ở một bàn dài dưới hậu liêu. Hồng và Lịnh mới vào Lớp Đệ Thất. Tới cuối tuần Bác Cỏi cũng như tôi đều về nhà rồi trở lại đầu tuần. Lịnh và Hồng không về thường xuyên vì hãy còn nhỏ mà nhà thì ở mãi tận bên Bến Cỏ hay là Phú Hòa Đông khá xa, và đường đi thiếu vắng sự an ninh. Trong chùa thì có Bà Sáu là vợ của Thầy trước thầy Trụ Trì nầy, vì Thầy ấy chỉ tu sau khi lớn tuổi, khi Thầy mất đi Bà Sáu vẫn ở trong chùa. Bà có cháu cũng tu đang đi học đạo ở dưới Sài Gòn mà chúng tôi gọi là huynh Bảo Châu. Trong chùa còn có Thầy Ba là một cư sĩ, nghe nói vốn là người giữ phòng thuốc Từ Thiện ở đường Lê Văn Duyệt gần chợ Vườn Chuối (Sài Gòn), nhân một chuyến đi cho khuây khỏa sau cơn bệnh thì Thầy đến nơi đây thấy phong cảnh, cũng như cảnh chùa, Thầy thích và xin ở lại đây cùng mở phòng thuốc Từ Thiện chuyên hốt thuốc nam trị cho bệnh nhân. Chúng tôi tự túc nấu ăn, không nhất thiết là món ăn mặn hay ăn chay, thứ nào cũng được.

 

Nguyên Thảo,

22/04/2024.

 


Saturday, March 23, 2024

*Những Khung Trời Kỷ Niệm! (28)

 

Sau khi, tìm được địa điểm mình dự thi, To đưa tôi về nhà người quen ở khu nhà bên trong Đường Nguyễn Thiện Thuật, gần chợ Bàn Cờ để nói với vợ chồng anh Tư Hoa cho chúng tôi ở đỡ trong những ngày thi. Anh chị vui lòng sẵn sàng cho ở, thế là chúng tôi an lòng với mọi chuyện về thi cử. Hai đứa cuỡi xe ra đến bến xe, nhờ chất xe đạp lên xe đò và đi về Bình Dương để trở về nhà. Cuộc học thi ráo riết cho đến gần ngày đi thi, có khi phải thức suốt đêm để học bài. Đối với tôi học bài lâu nhớ thì lại vất vả hơn nhiều, nhưng vẫn đành phải cố gắng thôi. Tôi không dám uống nước trà đậm để thức như vài bạn đã làm vì mình vốn thường xuyên mất ngủ, mà cũng không nấu bí rợ với đường ăn cho bổ óc. Chính có lẽ do thức khuya học bài nhiều ngày mà sĩ tử nào cũng xanh xao, vàng vọt, ốm đi ngó thấy. Thế rồi trước ngày thi đôi ba ngày, tất cả đều mệt mỏi, phải gát lại mọi bài để nghỉ ngơi, lấy sức cho ngày thi. Đa số đều chỉ coi lại những gì cần thiết mà họ cho là những điều quan trọng. Có bạn thì đến nhờ các thầy bói xem khoa nầy mình như thế nào. Cũng có bạn còn cần đến các người khuất mặt bằng những “con cơ” tức là cầu cơ. Thôi thì đành liều cho số mạng “Học tài thi phận” vậy!

Ngày chuẩn bị đi thi, tôi dự trù đến trưa lên nhà To rồi hai đứa cưỡi xe đạp lên Bình Dương đón xe đò để đi xuống Sài Gòn. Nhưng không ngờ mới sáng sớm không biết có chuyện gì mà người dưới chợ có vẽ nhốn nháo, khiến Ông Nội tôi hối thúc tôi soạn đi nhanh nhanh lên để rủi có chuyện gì xảy ra mà đi không được. Thấy tình hình báo động tôi soạn vội sách vở đem theo cùng những hành trang chuẩn bị, xách tụng đệm chứa đồ vội cưỡi xe đạp, giã từ Ông Nội rồi lên nhà To trên Vĩnh Trường. Lên đến nơi thì To chưa chuẩn bị gì hết vì chưa tới giờ để đi, tại tôi đi lên sớm thôi! Nói vậy, chứ To cũng bắt đầu khăn gói, sách vở cần thiết đem theo, rồi tắm rửa, ăn chút gì trước khi đi. Hai đứa khởi hành cưỡi xe đạp xuyên qua sân máy bay, đi lên Bình Quới. Vừa tới bìa xóm Bình Thoại thì có tiếng súng nổ từ phía dưới hố` trũng dưới kia bắn lên. To vội vàng kêu tôi bỏ xe nằm xuống đất. Vừa bỏ xe dự định nằm xuống thì To nghĩ sao vội la lên: “Không được! không được, thôi lấy xe đạp chạy nhanh đi mầy, không khéo hai bên đụng độ thì mình kẹt bây giờ”! Thế là tôi đành nghe theo lời nó, vội dựng xe dậy rồi nhảy thót lên yên. Hai đứa đạp chạy có cờ! To nói: “Mấy chả bắn sẻ đó mầy”! Hú vía, vì đạn rớt cách nơi hai đứa không xa lắm! Không biết kỳ thi nầy như thế nào, chứ mới vừa xuất hành đã gặp nhiều điều không may lắm! Thôi thì cứ kệ nó đi! Suy nghĩ nhiều mệt quá! Đến bến xe Bình Dương, hai đứa chất xe đạp lên xe đò để đi Sài gòn. Tới ngã Bảy đường Phan Thanh Giản chúng tôi xuống xe, cưỡi xe đạp đi về nhà anh Tư Hoa. Sau khi sắp xếp chỗ nghỉ ngơi xong, tôi và To nói với anh chị Tư đi xuống trường thi ở Cầu Muối xem có gì thay đổi không. Mọi việc không có gì thay đổi, giờ giấc được quy định hẳn hòi theo lịch trình thông báo ở trước Trường. Chúng tôi đi về, ăn uống và nghỉ ngơi, nhưng đêm đến vẫn nghe khó ngủ: Một phần vì lạ nhà, hai là trong lòng vẫn có nhiều lo âu! Tuy nhiên cuối cùng thì chúng tôi cũng ngủ được chút ít.

Sáng thức dậy sớm nhưng nhà anh chị Tư cũng thức rồi vì nhà anh chị may nhiều thứ đồ, quần áo lẫn đồ lót để bán. Chúng tôi thi cả ngày, nên trưa kiếm ăn ở các tiệm ăn chung quanh trường. Ngày đầu chúng tôi thi môn thi chính của Ban mình, tức là Ban A thì chúng tôi sẽ thi môn Vạn Vật và môn phụ; còn Ban B thì thi môn Toán trước. Ngày sau thi môn Giảng Văn và môn phụ khác. Đó là những môn của Vòng 1. Và các ngày kế tiếp chúng tôi Ban A sẽ thi môn Toán cộng với môn phụ khác, và ngày sau nữa thì có Lý Hóa và môn phụ (những môn phụ thi kèm theo môn chính như là Anh Văn, Sử Địa, Pháp Văn, Công Dân) Đó là các môn thi của Vòng 2. Sở dĩ có Vòng 1 và Vòng 2 là vì: Nếu thí sinh nào đậu được Vòng 1, thì các bài của Vòng 2 được chấm tiếp để quyết định “Đậu hay Rớt”. Nhưng trong Kỳ thi Tú Tài I nầy sẽ được tổ chức thi hai lần trong kỳ Hè. Nếu Lần 1 rớt thì có thể tham dự lại kỳ thi sau tức là lần 2 cách sau kết quả Lần 1 không lâu. Xong các ngày thi, tôi có hỏi phụ tiền chi phí ăn ở với anh chị Tư, nhưng anh chị không lấy tiền mà chỉ giúp cho tôi và To không thôi, vì To cũng rất thân tình với anh chị. Xong cuộc thi rồi, chúng tôi thấy tương đối nhẹ nhõm người ra, nhưng cũng hãy còn chưa yên, mà còn phải xem lại bài lần nữa để phòng hờ bị rớt ở chặng nào và phải thi lại phần đó nữa. Tuy nhiên, việc học không còn nặng nề như lần trước. Tôi thường kiểm điểm lại các bài làm của mình, và tùy theo điểm số quy định từng câu hỏi và bài làm mà tự mình đánh giá bài đã làm xem như thế nào. Tôi lượng ước gắt gao nhất thì số điểm của tôi có thể vượt được điểm để đậu chút ít nhưng không thể tới thứ hạng “Bình Thứ”: Nếu được đậu cũng là may lắm rồi! Trong hoàn cảnh trong những năm qua mà không bị rớt là sự cố gắng vượt bực, nên tôi không thể đòi hỏi gì nhiều hơn.

Thế rồi ngày có kết quả cũng đến, chúng tôi lần lượt xuống Sài Gòn đến những trung tâm và trường mình thi hôm trước để xem kết quả. Tất nhiên là tôi phải đến Trường Trung Học Cô Giang ở chợ Cầu Muối để xem. To mắc bận ngày ấy không đi được, tôi phải đi một mình. Ở bảng có kết quả khá đông người vì là những ngày đầu, nên sự chen lấn không thể tránh khỏi. Người tốt ngưòi xấu xen lẫn nhau, mà thành ra có vài câu tiếng qua tiếng lại, nhưng rồi cũng yên đi để nhường lại cho những kết quả hồi hộp, lo âu, vui mừng hay buồn bã. Khi đến gần được bảng danh sách kết quả thì theo bản năng là mình lo tìm đến mẫu tự tên mình trước. Sự vui mừng không thể tả khi mình đã có tên trong danh sách đậu hẳn, kế đến là tên của Thạch cũng gần với tên tôi, thế là Thạch cũng đậu rồi. Tôi tìm đến tên của To, nhưng xem đi xem lại cũng không có tên của nó. Vậy là To rớt! Dù biết như vậy tôi cũng không dám xác định kết quả ấy mà chỉ để To xác nhận lại về sau thôi. Trong kỳ thi ấy Son chỉ đậu được vòng 1, như vậy là trong kỳ thi thứ hai nó phải thi lại các môn của vòng 2, lúc đó mới quyết định là nó đậu hay rớt. Còn To phải ôn lại bài để thi tất cả các môn trong cả hai vòng. Tính ra ở Tân Khánh trong năm đó chúng tôi đậu được cũng tương đối khá như Thái văn Tâm, Nguyễn Văn Nghĩa, Lưu Văn Hòa và tôi; và bạn bè có Nguyễn Văn Huệ cùng Trần Tấn Lực, Trần văn Riếng, Bùi Văn Cư. Tính ra Riếng rất giỏi, nó học nhảy lớp mà vẫn vượt qua được các kỳ thi. Theo bạn bè kể thì nó bỏ học lớp Đệ Ngũ nhảy lên học Lớp Đệ Tứ rồi thi đậu kỳ thi Trung Học, rồi bỏ năm Đệ Tam, học Đệ Nhị, bây giờ đậu luôn bằng Tú Tài I, quả là giỏi thật! Rồi lại tới thời gian thi đợt 2 To vẫn không vượt qua được, và Son cũng bị rớt ở Vòng 2 lần nữa. Thế là qua một đợt thi thì nhóm chúng tôi học ở trên Tân Uyên bị rơi rụng từ từ. Lúc đầu lên trên ấy đậu được khá đông, qua một thời gian thì nghỉ học vài đứa, xong vài người thoát ly đi vào bên trong thêm vài mạng như anh Năm, chị Thay, anh Sợi chỉ còn lại có 5 đứa vào năm Đệ Tứ là Thạch A, Lực, Tôi, Son, Huệ. Qua kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp anh Chi bị rớt. Thạch A, Lực chuyển về học ở Trường Trịnh Hoài Đức vì lúc đó Lực chuyển nhà về ở Bình Nhâm, và Thạch A về ở Búng. Riêng bộ ba tôi, Huệ, Son xin chuyển về Trường An Mỹ. Bộ ba nầy gắn kết từ cuối năm học lớp Đệ Ngũ trên mọi khoảng đường, mà trong đó tôi là thằng lùn, Son cao khoảng thước 65 hay hơn, còn Huệ thì quá cao khoảng 1 mét 78. Như vậy bộ ba nầy chẳng cân xứng theo thước tấc chút nào. Bây giờ Son bị rớt trong kỳ thi Tú Tài I nầy chỉ còn tôi với Huệ. Tôi thật sự không ngờ Son nó còn yếu Toán, Lý Hóa hơn tôi. Nó rất có khiếu về văn chương nên vòng 1 nó vượt qua được, nhưng khi đến Vòng 2 có các bộ môn Toán, Lý Hóa thì nó không vượt qua được. Còn To ngày trước nó học rất giỏi, nhưng từ khi tôi về An Mỹ và thân với nó, thì có lẽ do nó có nhiều vấn đề mà việc học bị trở ngại đến đỗi bây giờ bị rớt chăng? Tôi không ngờ To lại là anh em họ với Lực nhân một ngày tôi gặp chị của Lực trên nhà To. Và qua mùa Hè, tôi và Huệ được chuyển về Trường Trung Học Trịnh Hoài Đức (vì Trường An Mỹ chưa có thể mở được lớp Đệ Nhất) là ngôi trường mà 6 năm trước tôi đã ước mơ được vào để học, nhưng rồi bị rớt để sau thời gian chạy vòng quanh lên Tân Uyên, An Mỹ và cuối cùng cũng về được nơi mình mơ ước, mặc dù chỉ có một năm để gọi là an ủi, vá víu những kỷ niệm thời còn đi học.

 

Nguyên Thảo,

24/03/2024.