Monday, January 5, 2026

*Vấn Đề IV: Những Trụ Đá Của Vua A-Dục.


Nhiều người, kể cả các học giả có nhiều thắc mắc về sự biến mất của Đạo Phật ở trên chính quê hương của mình, đến đỗi có nhiều ngộ nhận: Đức Phật như chỉ là một nhân vật không thật, và chỉ có trong các câu chuyện thần thoại mà thôi. Rồi, người ta cũng tìm thấy hình ảnh Đức Phật hiện diện trong Ấn Độ Giáo như là một hóa thân của Thần Vishnu. Nhưng về sau khi những nhà thám hiểm, khoa học khám phá ra những trụ đá của vua A Dục để lại, thì người ta có cái nhìn thật hơn về nhân vật Thích Ca được vua A Dục nói đến; và chứng tỏ Đạo Phật đã có một thời sáng rỡ trong cái vương quốc rộng lớn mà nhà vua nầy cai quản. Từ đó, nhiều người lại nghiên cứu xem vì sao Đạo Phật bị mất đi trên vùng đất sản sinh ra chính nó, điều ấy thực là khác biệt với nhiều tôn giáo khác!

Tuy nhiên, có một điều lạ hơn, là người ta lại nghi ngờ vua A Dục chỉ là vị vua không có thật. Vì vào năm 1837, có một nhân viên hành chánh của Thành phố Calcutta là James Princep tìm cách giải đoán những chữ ghi, được khắc trên hai cột trụ bằng đá đã tìm thấy ở Delhi, và Allahabad (thuộc Tiểu bang Uttar Pradesh miền Bắc Ấn). Trong giải đoán đó có tên một vị vua là Devanampiya, mà vị vua ở Tích Lan là Devanampiya Tissa khiến sự giải đoán trở nên khó khăn, khó tìm ra manh mối và có nhiều nghi vấn. Mãi đến năm 1915, có một kỷ sư hầm mỏ người Anh tên là Beadon tìm được một trụ đá khác ở vùng Maski (phía Nam Ấn Độ), trên trụ đá nầy có tên vua Devanampiya Piyadasi của triều đại Maurya với vương hiệu là Ashoka (A Dục). Do đó, việc quay trở lại hai trụ đá trước, người ta mới biết đó chính là vua A Dục. Như vậy vua A Dục nầy là một vị vua lịch sử của triều đại Maurya.

Ashoka là vị vua thứ ba của triều đại Maurya Ấn Độ, sau vua Chandragupta và vua Bindusara; Ông cai trị đế quốc nầy từ năm 273 đến năm 232 trước Tây Lịch. Đế Quốc của ông rộng lớn ở vùng Nam Á kéo dài từ Afghanistan, Iran đến tận miền Nam vùng Mysore, Bengal. Người ta xem triều đại Ông là triều đại sáng chói nhất lịch sử thời cổ của Ấn Độ qua những tài liệu phong phú, chính xác được ghi lại bằng chữ viết lưu truyền cho đến ngày nay. Các tài liệu ấy được ghi trên các văn bản qua hai loại: Các văn kiện chính thức của triều đình khắc ghi trên đá; và các tư liệu di tích văn hóa không mang tính cách hành chính. Các văn kiện nầy ghi bằng ngôn ngữ địa phương thời bấy giờ là chữ Brahmi và Karosti.

Theo tài liệu thì khi lên ngôi chừng khoảng 11 năm đầu, vua Ashoka cho khắc các pháp dụ trên vách đá, hay các trụ đá tùy vào nội dung dài hay ngắn, và còn chia ra thành những Đại Thạch Pháp Dụ và Tiểu Thạch Pháp Dụ. Phần lớn các trụ hay vách đá chứa pháp dụ nầy thường bị hư hỏng khá nhiều. Tuy nhiên, với một số còn lại cũng khiến người ta truy cứu đưọc niên kỷ của các sự kiện dưới thời Vua Ashoka trị vì. Đến nay, người ta phát hiện được 14 Đại Thạch Pháp Dụ ở các nơi khác nhau như Sopara (tiểu bang Bombay); Ginar (bang Saurahtra); Mansehra và Shabazgarhi ở vùng tây Pakistan; Kalsi ở phía bắc (bang Uttar Pradesh; một ở phía nam Erragudi (thuộc Andhra Pradesh); và hai pháp dụ Kalinga được tìm thấy ở Dhauli, Jaugada thuộc Orissa gần bờ biển Đông vịnh Bengal.

Còn các Tiểu Thạch Pháp Dụ được tìm thấy ở nhiều nơi thường tập trung ở giữa và phía nam của vương quốc. Người ta chia ra: Tiểu Thạch Pháp Dụ I tìm thấy ở các nơi thuộc phía Bắc như: Bairat, Gavimath, Maski, Palkigundu, Gujarra, Rupnath và Sahasram; Tiểu Thạch Pháp Dụ II được tìm thấy ở miền Nam Ấn như: Brahmagiri, Jatinga-Ramesvara, Siddaoura (bang Mysore); và Erragudi, Rajula-Mandagiri (bang Andhra); Tiểu Thạch Pháp Dụ III được tìm thấy ở Bairat.

Rồi người ta còn ước tính vào những năm thứ 27, 28 của triều Hoàng Đế Ashoka, Ông còn cho dựng các cột đá có khắc pháp dụ được chà bóng loáng, điêu khắc trên đầu trụ với hình sư tử, bò hay ngựa một cách tinh xảo, dựng ở thung lũng sông Hằng hay các đường lớn trong vương quốc; có kích thước khoảng từ 12 đến 15 thước, nặng đến 50 tấn gọi là Thạch Trụ Pháp Dụ. Các trụ nầy lấy từ mỏ đá ở Chunar phía Nam của Varanasi kéo đến. Đến nay chỉ còn tìm thấy được 10 trụ rải rác các nơi trong toàn cõi của đế quốc Maurya như Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Afghanistan.

Với sự hiện diện của những thạch trụ nầy, chúng đã minh chứng có một triều đại huy hoàng cổ xưa của xứ Ấn Độ dưới thời Hoàng Đế Ashoka, và cũng từ đó chứng thực một tôn giáo đã cải hóa một hoàng đế tàn ác trở thành hoàng đế nhân từ trong lịch sử của nhân loại, và ông đã xiển dương chánh pháp một cách tích cực. Nhờ đó mà Đạo Phật hiển hiện chứng minh được phát sinh từ một nhân vật lịch sử, đó là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứ không phải từ câu chuyện thần thoại nào khác!

Tương truyền lúc còn trẻ Ashoka là hoàng tử xuất sắc trong lĩnh vực quân sự và các khả năng khác. Khi trưởng thành Ông là vị tướng thông minh và chưa hề chiến bại. Đúng ra, Ông không phải là người kế vị của vua cha, mà là người anh cùng cha khác mẹ là Susima; nhưng vì Susima sợ A Dục được thay thế mình nên tìm cách để vua cha Bindusara đưa A Dục đi đày vào vùng Kalinga. Vì vùng Ujjain có nổi loạn nên A Dục được điều về nơi đó để đánh dẹp. Do sự điều trị bí mật khi bị thương để tránh những ám hại của tay chân Susima, nên Ông đã được tiếp xúc với các nhà sư Phật Giáo và biết đến những lời dạy của Đức Phật.

Khi hoàng đế Bindusara bị bệnh, hấp hối, các vị đại thần chán ghét Susima đã mời A Dục về lên ngôi. Cuộc lên ngôi nầy khiến tình hình trở nên rối loạn và A Dục nổi giận, tương truyền Ông đã giết chết các người anh em cùng cha khác mẹ gồm tới 99 người và bày ra nhiều hình phạt tàn nhẫn giống như địa ngục, nên trong giai đoạn nầy ông được gọi là Chanda Ashoka, nghĩa là “Ashoka bất nhân”! Vào thời gian đầu sau khi lên ngôi, Ashoka liên tục tổ chức các chiến dịch, trận đánh khá đẫm máu, tàn khốc để mở rộng lãnh thổ, đế quốc của mình. Nhưng, cuộc chiến ở Kalinga quá khốc liệt khiến mọi thứ bị tàn phá, hàng 100,000 người thiệt mạng và khoảng 150,000 bị trục xuất. Từ đó làm cho vua Ashoka thay đổi và tìm đến với Phật pháp; và với đường lối cai trị nhân đạo nầy nhà vua được gọi lại là Dharmashoka (A Dục sùng đạo). Giáo lý Phật giáo được phổ biến lan truyền trong đế quốc của nhà vua; các chùa chiền được xây cất; cùng các trụ đá được dựng lên khắp nơi trong đế quốc bằng loại đá sa thạch màu đỏ chỉ có ở vùng trung Ấn Độl chứng tỏ chúng được làm ở một nơi rồi mới chuyển đến các nơi khác. Vua Ashoka trở thành phật tử hộ trì Phật pháp, đem chính pháp truyền bá khắp đế quốc của mình; và Ông còn phái các phái đoàn truyền giáo đi khắp nơi để từ đó Phật pháp được truyền về phía Đông sang tận Trung Hoa rồi sang Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam. Về phía Nam thì đã có hai người con của Ông là Hoàng tử Mahinda và Công chúa Sanghamitra đem Phật pháp truyền sang Tích Lan theo phái bộ Theravada để rồi được phát triển ở Miến Điện, Thái Lan và Kampuchia.

Các sử gia đã so sánh sự hộ trì Phật pháp của nhà vua Ashoka giống như là công trình của Đại đế Constantine đối với Thiên Chúa Giáo trong lịch sử. Tuy nhiên, theo chúng tôi thì hộ trì đạo pháp tuy có những công trạng tương đối giống nhau, nhưng có điều khác biệt rất lớn là đối với nhà vua Ashoka là người đã nhận thức được sự tàn ác của chiến tranh, mà ngưng đi các hành động chém giết của mình để trở thành người ăn năn, hối cải mà xiển dương cho một giáo pháp đầy nhân ái trong tinh thần nhân đức, hòa ái … Chứ không nương vào tôn giáo để tiếp tục xây dựng đế chế của mình, biến mọi người trong phạm vi lãnh thổ của mình phải theo cái đạo mà mình mong muốn, hay sử dụng tôn giáo để tạo nên đế chế của mình. Điều ấy, trong lịch sử cũng xảy ra một lần nữa dưới triều đại thời Đại đế Charlemagne của Đế quốc Frank vào nhiều thế kỷ sau đó. Chính vì sự ép chế đó và với những luật lệ nghiêm ngặt của giáo hội, mà tôn giáo ấy đã phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay. Nhưng thông thường với tính tình con người, có áp bức thì sẽ có đấu tranh; cho nên có vài tôn giáo thành hình về sau, đã rút kinh nghiệm và phản kháng bằng tạo nên tôn giáo mới với luật lệ được xây dựng chắc chắn và phát triển bằng hình thức mạnh bạo hơn, phát triển từ trong chiến tranh và bắt người khác phải theo đạo hay là chết. Nên những cuộc chiến về tôn giáo từ đó đã dai dẳng và khủng khiếp nhất liên tiếp trong những thời gian dài; vì chúng là những cuộc chiến về tâm linh với sự dũng mãnh của Đức Tin! Đó cũng là một trong những nguyên nhân mà Đạo Phật phải biến mất khỏi quê hương của nó, mà không một tôn giáo nào giống được!

 

Nguyên Thảo,

06/01/2026.

  

Saturday, January 3, 2026

*Sự Công Bằng Và Bình Đẳng!

 

Trên thế giới, trong thời gian dài người ta đã bỏ nhiều công sức, trí não, thậm chí đến những cuộc đấu tranh đổ máu để đi tìm một sự bình đẳng về giới tính, về cuộc sống con người hay bình đẳng trên bình diện quốc gia và quốc tế. Nếu đứng về lịch sử, từ trong thiên nhiên con người đã có những sự bất bình đẳng về hình thể, sức khỏe hay giới tính vì đó là những bản chất của thiên nhiên. Chẳng hạn như người thì cao, người thì thấp; người khôn ngoan, người đần độn; người sung sướng hạnh phúc, người gian nan nghèo khổ; người bệnh hoạn yếu đuối, người mạnh mẽ yêu đời; kể cả người nam lẫn người nữ… Ấy là những sự bất bình đẳng thiên bẩm mà không ai có thể tránh khỏi khi được sinh ra đời. Chính vì thế mà người ta phải nương tựa lẫn nhau: Đàn bà nương tựa vào đàn ông để trở thành một gia đình, người đàn ông gánh vác những công việc nặng nề, lo lắng cho gia đình; người nữ giữ vai trò nội trợ từ việc sanh đẻ, trông nom con cái, bếp núc, hỗ trợ cho người nam, cột trụ của gia đình. Sự nương tựa vào nhau ấy trở thành nền tảng của một gia đình; nhiều gia đình tập hợp thành một xã hội. Các thành viên trong xã hội nương tựa vào nhau để chống, đối ứng lại những hiện tượng thiên nhiên như bão lụt, động đất, nói chung là thiên tai, kể cả bệnh hoạn và chống chọi lại các thú dữ để làm cho cuộc sống được an toàn hơn. Sự hỗ trợ trong cộng đồng ấy bắt đầu từ đời sống du mục, săn bắn cũng như là bắt cá, sò ốc cho đến khi họ biết định cư sống bằng nông và ngư nghiệp.

Đến thời kỳ con người có quyền tư hữu thì với sự chiếm hữu, xã hội đi vào giai đoạn bất bình đẳng được thể hiện nhiều hơn. Người mạnh hiếp yếu, đông đè ép ít để đem ích lợi về cho mình hay nhóm của mình. Những cuộc tranh giành, chiến đấu để giành thắng lợi về cho mình càng lúc càng nhiều. Tất nhiên những kẻ yếu thế đành phải chịu thua và mất đi các phần của mình có được. Từ đó chế độ phong kiến thành hình. Những vương triều mở các cuộc chiến tranh để càng phát triển thế lực mình càng nhiều và tàn ác để đạt được mục đích to lớn nhất, khởi đầu cho thời kỳ đế quốc! Đó là những thời kỳ mà sự phân tích của Đạo Phật được chứng tỏ do lòng tham lam từ con người càng ngày càng được đẩy cao hơn, vì sự chiếm hữu đem đến nhiều lợi lộc cho chính bản thân, hay nhóm hoặc quốc gia của họ. Sự bất công, áp bức, bốc lột đầy dẫy trong thời kỳ nầy. Chính vì thế mà nhiều phong trào chống đối, đấu tranh từ sự giành lại độc lập cho quốc gia, hay đòi lại quyền sống, chống áp bức, bốc lột công sức đã xảy ra. Cuộc cách mạng kỹ nghệ và sự phát kiến, phát minh ra những phương tiện làm cho đời sống của con người càng lúc càng được phong phú, sung sướng hơn; nhưng cũng là công cuộc làm cho người đàn bà tham gia vào sự sản xuất trong xã hội được tích cực như những người đàn ông, thanh niên. Từ đó phong trào đòi sự bình đẳng giữa nam, nữ giới được tiến hành đẩy cao thêm, rồi sau đó là phong trào đòi hỏi người phụ nữ đi bầu cử như nam giới cũng được tranh đấu, đòi hỏi. Những tính cách tương đối công bằng, bình đẳng ngày nay có được phải trải qua thời gian dài qua những tiến trình của xã hội. Tuy vậy, vẫn không ít tình trạng mạnh hiếp yếu, to lấn nhỏ xảy ra hàng ngày trên thế giới hiện nay.

Đó là những hình ảnh hiển hiện trong xã hội ở những thời gian dài. Còn trong tôn giáo thì cũng có nhiều phức tạp hơn, vì nó là những biểu hiện từ trong tâm tính, đức tin cho nên nó cũng không thoát ra được quan niệm cố hữu bằng những hình thức trói buộc; nên sự bình đẳng, công bằng khó được lạm bàn. Nhưng có những sự kiện khiến chúng ta không thể không lưu tâm từ trong lịch sử: Tôn giáo nào cũng có những giáo lý tốt đẹp, nhằm đem đến cho loài người sự an ổn trong tinh thần, nương tựa vào những Đấng thiêng liêng để được cầu nguyện, giao phó các ưu tư, buồn khổ khi gặp phải tình trạng bất an, gian khó; nhưng do vì con người, người lãnh đạo một khi đặt đức tin của mình quá đáng vào niềm tin tôn giáo đã biến tôn giáo thành điều quá khích bắt buộc người khác phải tin vào tôn giáo mà mình đã tin, ái mộ; đôi khi bằng hình thức ép buộc theo hoặc là chết. Chính vì điều ấy đã khiến có vài tôn giáo được hình thành bằng sự đối kháng, và sáng lập tôn giáo khác với đầy đủ đấu tranh, vũ lực cực đoan. Điều ấy đã tạo nên nhiều cuộc chiến tranh giữa nhiều tôn giáo trong hoàn cảnh tàn khốc và thương đau; mà nhiều lúc nó lại còn tàn nhẫn hơn với những cuộc chiến tranh tiêu diệt lẫn nhau. Nhất là trong tinh thần xem tôn giáo của mình phải thống trị, hơn hẳn các tôn giáo khác. Lịch sử đã chứng minh điều ấy! Vậy thì, tôn giáo làm như thế nào để thể hiện được sự bình đẳng, công bằng và hài hòa trong một thế giới văn minh và tiến bộ?

Sự bất công trong xã hội loài người đó đã khiến nhiều triết gia, những nhà tư tưởng phải nhiều đắn đo, suy nghĩ và phân tích để sản sinh ra nhiều lý thuyết san bằng làm cho con người bớt khổ hơn. Từ những nhà xã hội học; những người đấu tranh cho sự bất công, thiếu bình đẳng đã đưa ra những lý thuyết về một xã hội tiến bộ, công bằng hơn: Đó là cái chủ nghĩa xã hội! Thế nhưng chủ nghĩa xã hội ấy đã làm được những gì và kết quả đã ra sao?

Theo như ở trên, chúng ta đã phân tích lần theo từng giai đoạn khi mà con người có những sự bất bình đẳng từ thiên nhiên, cho đến những nhu cầu cần đấu tranh tạo nên được bình đẳng thêm mỗi khi xã hội được phát triển hơn. Nhưng khi đến thời kỳ chiếm hữu trở nên to lớn, và người ta biết tôn xưng người nào đó có khả năng để lên làm vua, cai trị toàn một vùng lãnh thổ, và rồi gia đình ấy lập nên một triều đình trong thời phong kiến. Trong chế độ ấy lại dần đi đến sự bốc lột và bất bình đẳng thêm nhiều. Khi tới thời kỳ phát triển của kỹ thuật, kỹ nghệ chủ nghĩa tư bản thành hình, phát triển mạnh hơn trở thành đế quốc xâm chiếm các vùng yếu, thì sự đàn áp, bốc lột, bất bình đẳng còn nhiều hơn nữa. Những nơi là thuộc địa lại nghèo khổ, cùng cực thì các đế quốc lại sống sung túc, giàu có; cho nên phát sinh những phong trào tranh đấu chống lại kể cả giành độc lập. Rồi từ đó chủ nghĩa xã hội được phát triển mạnh, nhiều phong trào khắp nơi trên thế giới hợp lực cùng đòi hỏi sự công bằng và bình đẳng. Tuy nhiên, trong các bước thực hiện chủ nghĩa xã hội ấy lại tạo nhiều sự bất công khác. Chúng ta nhớ lại những chuyện kể trong quá khứ như phong trào Robinhood ở Anh hay các chuyện “cướp của nhà giàu, chia cho nhà nghèo” thì nó cũng giống như vậy. Chủ nghĩa xã hội mà chính quyền độc quyền quản lý và phân phối, đã tạo ra nhiều khó khăn khiến mọi sinh hoạt trong xã hội bị đình trệ vì các thủ tục hành chánh giữa các cơ quan, làm cho người dân trở nên chật vật về mọi phương diện, kéo theo dân chúng thiếu thốn mọi nhu cầu; mà chính quyền thì loay hoay giải quyết; khiến tình trạng chẳng đi đến đâu làm cho dân chúng càng ngày càng bị đói khổ, đất nước không thể giàu có; mà nạn cửa quyền tham nhũng, bè phái, hối lộ tràn lan, phá hoại cả một đất nước, lý tưởng mà không phương cứu chữa. Còn xã hội chủ nghĩa qua sự phát triển tư bản thì lại đưa đến tình trạng bốc lột khác: Đó là sự bốc lột người giàu, hay của những kẻ siêng năng đi làm! Tại sao thế? Vì trong nhưng xã hội nầy: Muốn giúp đỡ người tàn tật, cô đơn, những kẻ khó khăn thì chính quyền cần có nhiều tiền, cho nên ngoài tiền tài nguyên quốc gia, đánh thuế ở mọi thứ thuế, người ta còn đánh thuế nặng vào những người đi làm. Nhưng những sự giúp đỡ đó đôi khi bị lợi dụng trầm trọng mà người ta không thể “bắt tội” được. Giống như y tế miễn phí thì người ở không, có những bệnh không cần thiết vẫn đi thăm bác sĩ thường xuyên tạo nên sự lãng phí, khiến tốn tiền ngân sách nhà nước. Sự trợ giúp một người tàn tật, người già trong một năm gần bằng số lương của hai người đi làm. Người thất nghiệp, đơn thân được hưởng nhiều quyền lợi, được chính phủ trợ giúp giảm bớt các chi phí; mà con cái khi vào đại học được cộng thêm nhiều điểm để vào ngành nghề mà con cái của những người làm việc không được hưởng. Rồi người đi làm khi đi khám bệnh phải mua thuốc tốn tiền, đóng tiền bảo hiểm, viện phí, tất cả các hóa đơn không được giúp… Rất nhiều thiệt thòi cho người đi làm, cho nên với đường lối nầy khiến cho người ta phải tính toán lại thiệt hơn, làm cho sự tiêu cực trở nên trầm trọng. Nói một các tổng quát là xã hội chủ nghĩa nầy đưa đến những sự bất công khác mà những nhà xã hội học, những nhà làm cách mạng phải suy nghĩ và điều chỉnh cho hợp lý; để tránh trường hợp “bốc lột người đi làm để tạo điều kiện cho những người không muốn đi làm dễ lợi dụng”. Cho nên một điều quan trọng trong lịch sử mà chúng ta cần lưu ý: “Vì sao cơ cấu xã hội nguyên thủy phải tan rã, có phải là người làm nhiều làm ít; người lười sống bám vào người siêng năng chăng?”. Đâu là sự bình đẳng và công bằng? Xã hội chủ nghĩa ngày nay đã có tạo được sự công bằng cho xã hội hay không? Đó là vấn đề cần nhiều sự truy cứu và sửa sai!

 

Đồ Ngông,

20/11/2025.