Trên thế giới,
trong thời gian dài người ta đã bỏ nhiều công sức, trí não, thậm chí đến những
cuộc đấu tranh đổ máu để đi tìm một sự bình đẳng về giới tính, về cuộc sống con
người hay bình đẳng trên bình diện quốc gia và quốc tế. Nếu đứng về lịch sử, từ
trong thiên nhiên con người đã có những sự bất bình đẳng về hình thể, sức khỏe
hay giới tính vì đó là những bản chất của thiên nhiên. Chẳng hạn như người thì
cao, người thì thấp; người khôn ngoan, người đần độn; người sung sướng hạnh phúc,
người gian nan nghèo khổ; người bệnh hoạn yếu đuối, người mạnh mẽ yêu đời; kể cả
người nam lẫn người nữ… Ấy là những sự bất bình đẳng thiên bẩm mà không ai có
thể tránh khỏi khi được sinh ra đời. Chính vì thế mà người ta phải nương tựa lẫn
nhau: Đàn bà nương tựa vào đàn ông để trở thành một gia đình, người đàn ông gánh
vác những công việc nặng nề, lo lắng cho gia đình; người nữ giữ vai trò nội trợ
từ việc sanh đẻ, trông nom con cái, bếp núc, hỗ trợ cho người nam, cột trụ của
gia đình. Sự nương tựa vào nhau ấy trở thành nền tảng của một gia đình; nhiều
gia đình tập hợp thành một xã hội. Các thành viên trong xã hội nương tựa vào
nhau để chống, đối ứng lại những hiện tượng thiên nhiên như bão lụt, động đất,
nói chung là thiên tai, kể cả bệnh hoạn và chống chọi lại các thú dữ để làm cho
cuộc sống được an toàn hơn. Sự hỗ trợ trong cộng đồng ấy bắt đầu từ đời sống du
mục, săn bắn cũng như là bắt cá, sò ốc cho đến khi họ biết định cư sống bằng nông
và ngư nghiệp.
Đến thời kỳ con
người có quyền tư hữu thì với sự chiếm hữu, xã hội đi vào giai đoạn bất bình đẳng
được thể hiện nhiều hơn. Người mạnh hiếp yếu, đông đè ép ít để đem ích lợi về
cho mình hay nhóm của mình. Những cuộc tranh giành, chiến đấu để giành thắng lợi
về cho mình càng lúc càng nhiều. Tất nhiên những kẻ yếu thế đành phải chịu thua
và mất đi các phần của mình có được. Từ đó chế độ phong kiến thành hình. Những
vương triều mở các cuộc chiến tranh để càng phát triển thế lực mình càng nhiều
và tàn ác để đạt được mục đích to lớn nhất, khởi đầu cho thời kỳ đế quốc! Đó là
những thời kỳ mà sự phân tích của Đạo Phật được chứng tỏ do lòng tham lam từ
con người càng ngày càng được đẩy cao hơn, vì sự chiếm hữu đem đến nhiều lợi lộc
cho chính bản thân, hay nhóm hoặc quốc gia của họ. Sự bất công, áp bức, bốc lột
đầy dẫy trong thời kỳ nầy. Chính vì thế mà nhiều phong trào chống đối, đấu
tranh từ sự giành lại độc lập cho quốc gia, hay đòi lại quyền sống, chống áp bức,
bốc lột công sức đã xảy ra. Cuộc cách mạng kỹ nghệ và sự phát kiến, phát minh
ra những phương tiện làm cho đời sống của con người càng lúc càng được phong phú,
sung sướng hơn; nhưng cũng là công cuộc làm cho người đàn bà tham gia vào sự sản
xuất trong xã hội được tích cực như những người đàn ông, thanh niên. Từ đó
phong trào đòi sự bình đẳng giữa nam, nữ giới được tiến hành đẩy cao thêm, rồi
sau đó là phong trào đòi hỏi người phụ nữ đi bầu cử như nam giới cũng được
tranh đấu, đòi hỏi. Những tính cách tương đối công bằng, bình đẳng ngày nay có được
phải trải qua thời gian dài qua những tiến trình của xã hội. Tuy vậy, vẫn không
ít tình trạng mạnh hiếp yếu, to lấn nhỏ xảy ra hàng ngày trên thế giới hiện nay.
Đó là những hình
ảnh hiển hiện trong xã hội ở những thời gian dài. Còn trong tôn giáo thì cũng có
nhiều phức tạp hơn, vì nó là những biểu hiện từ trong tâm tính, đức tin cho nên
nó cũng không thoát ra được quan niệm cố hữu bằng những hình thức trói buộc; nên
sự bình đẳng, công bằng khó được lạm bàn. Nhưng có những sự kiện khiến chúng ta
không thể không lưu tâm từ trong lịch sử: Tôn giáo nào cũng có những giáo lý tốt
đẹp, nhằm đem đến cho loài người sự an ổn trong tinh thần, nương tựa vào những Đấng
thiêng liêng để được cầu nguyện, giao phó các ưu tư, buồn khổ khi gặp phải tình
trạng bất an, gian khó; nhưng do vì con người, người lãnh đạo một khi đặt đức
tin của mình quá đáng vào niềm tin tôn giáo đã biến tôn giáo thành điều quá khích
bắt buộc người khác phải tin vào tôn giáo mà mình đã tin, ái mộ; đôi khi bằng hình
thức ép buộc theo hoặc là chết. Chính vì điều ấy đã khiến có vài tôn giáo được
hình thành bằng sự đối kháng, và sáng lập tôn giáo khác với đầy đủ đấu tranh, vũ
lực cực đoan. Điều ấy đã tạo nên nhiều cuộc chiến tranh giữa nhiều tôn giáo
trong hoàn cảnh tàn khốc và thương đau; mà nhiều lúc nó lại còn tàn nhẫn hơn với
những cuộc chiến tranh tiêu diệt lẫn nhau. Nhất là trong tinh thần xem tôn giáo
của mình phải thống trị, hơn hẳn các tôn giáo khác. Lịch sử đã chứng minh điều ấy!
Vậy thì, tôn giáo làm như thế nào để thể hiện được sự bình đẳng, công bằng và hài
hòa trong một thế giới văn minh và tiến bộ?
Sự bất công
trong xã hội loài người đó đã khiến nhiều triết gia, những nhà tư tưởng phải
nhiều đắn đo, suy nghĩ và phân tích để sản sinh ra nhiều lý thuyết san bằng làm
cho con người bớt khổ hơn. Từ những nhà xã hội học; những người đấu tranh cho sự
bất công, thiếu bình đẳng đã đưa ra những lý thuyết về một xã hội tiến bộ, công
bằng hơn: Đó là cái chủ nghĩa xã hội! Thế nhưng chủ nghĩa xã hội ấy đã làm được
những gì và kết quả đã ra sao?
Theo như ở trên,
chúng ta đã phân tích lần theo từng giai đoạn khi mà con người có những sự bất
bình đẳng từ thiên nhiên, cho đến những nhu cầu cần đấu tranh tạo nên được bình
đẳng thêm mỗi khi xã hội được phát triển hơn. Nhưng khi đến thời kỳ chiếm hữu
trở nên to lớn, và người ta biết tôn xưng người nào đó có khả năng để lên làm
vua, cai trị toàn một vùng lãnh thổ, và rồi gia đình ấy lập nên một triều đình
trong thời phong kiến. Trong chế độ ấy lại dần đi đến sự bốc lột và bất bình đẳng
thêm nhiều. Khi tới thời kỳ phát triển của kỹ thuật, kỹ nghệ chủ nghĩa tư bản
thành hình, phát triển mạnh hơn trở thành đế quốc xâm chiếm các vùng yếu, thì sự
đàn áp, bốc lột, bất bình đẳng còn nhiều hơn nữa. Những nơi là thuộc địa lại
nghèo khổ, cùng cực thì các đế quốc lại sống sung túc, giàu có; cho nên phát
sinh những phong trào tranh đấu chống lại kể cả giành độc lập. Rồi từ đó chủ
nghĩa xã hội được phát triển mạnh, nhiều phong trào khắp nơi trên thế giới hợp
lực cùng đòi hỏi sự công bằng và bình đẳng. Tuy nhiên, trong các bước thực hiện
chủ nghĩa xã hội ấy lại tạo nhiều sự bất công khác. Chúng ta nhớ lại những chuyện
kể trong quá khứ như phong trào Robinhood ở Anh hay các chuyện “cướp của nhà giàu,
chia cho nhà nghèo” thì nó cũng giống như vậy. Chủ nghĩa xã hội mà chính quyền độc
quyền quản lý và phân phối, đã tạo ra nhiều khó khăn khiến mọi sinh hoạt trong
xã hội bị đình trệ vì các thủ tục hành chánh giữa các cơ quan, làm cho người dân
trở nên chật vật về mọi phương diện, kéo theo dân chúng thiếu thốn mọi nhu cầu;
mà chính quyền thì loay hoay giải quyết; khiến tình trạng chẳng đi đến đâu làm
cho dân chúng càng ngày càng bị đói khổ, đất nước không thể giàu có; mà nạn cửa
quyền tham nhũng, bè phái, hối lộ tràn lan, phá hoại cả một đất nước, lý tưởng
mà không phương cứu chữa. Còn xã hội chủ nghĩa qua sự phát triển tư bản thì lại
đưa đến tình trạng bốc lột khác: Đó là sự bốc lột người giàu, hay của những kẻ
siêng năng đi làm! Tại sao thế? Vì trong nhưng xã hội nầy: Muốn giúp đỡ người tàn
tật, cô đơn, những kẻ khó khăn thì chính quyền cần có nhiều tiền, cho nên ngoài
tiền tài nguyên quốc gia, đánh thuế ở mọi thứ thuế, người ta còn đánh thuế nặng
vào những người đi làm. Nhưng những sự giúp đỡ đó đôi khi bị lợi dụng trầm trọng
mà người ta không thể “bắt tội” được. Giống như y tế miễn phí thì người ở không,
có những bệnh không cần thiết vẫn đi thăm bác sĩ thường xuyên tạo nên sự lãng
phí, khiến tốn tiền ngân sách nhà nước. Sự trợ giúp một người tàn tật, người già
trong một năm gần bằng số lương của hai người đi làm. Người thất nghiệp, đơn thân
được hưởng nhiều quyền lợi, được chính phủ trợ giúp giảm bớt các chi phí; mà
con cái khi vào đại học được cộng thêm nhiều điểm để vào ngành nghề mà con cái
của những người làm việc không được hưởng. Rồi người đi làm khi đi khám bệnh phải
mua thuốc tốn tiền, đóng tiền bảo hiểm, viện phí, tất cả các hóa đơn không được
giúp… Rất nhiều thiệt thòi cho người đi làm, cho nên với đường lối nầy khiến
cho người ta phải tính toán lại thiệt hơn, làm cho sự tiêu cực trở nên trầm trọng.
Nói một các tổng quát là xã hội chủ nghĩa nầy đưa đến những sự bất công khác mà
những nhà xã hội học, những nhà làm cách mạng phải suy nghĩ và điều chỉnh cho hợp
lý; để tránh trường hợp “bốc lột người đi làm để tạo điều kiện cho những người
không muốn đi làm dễ lợi dụng”. Cho nên một điều quan trọng trong lịch sử mà chúng
ta cần lưu ý: “Vì sao cơ cấu xã hội nguyên thủy phải tan rã, có phải là người làm
nhiều làm ít; người lười sống bám vào người siêng năng chăng?”. Đâu là sự bình đẳng
và công bằng? Xã hội chủ nghĩa ngày nay đã có tạo được sự công bằng cho xã hội
hay không? Đó là vấn đề cần nhiều sự truy cứu và sửa sai!
Đồ Ngông,
20/11/2025.
No comments:
Post a Comment